Luận văn: Hoạt động mua bán nợ xấu tại Công ty quản lý tài sản

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Hoạt động mua bán nợ xấu tại Công ty quản lý tài sản hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Hoạt động mua bán nợ xấu tại Công ty quản lý tài sản (VAMC) dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Tên đề tài: Hoạt động mua bán nợ xấu tại Công ty quản lý tài sản (VAMC)

Tóm tắt:

Để tìm hiểu về mua bán nợ xấu, nghiên cứu đã trình bày và mô tả lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức, nguyên tắc hoạt động, cơ chế mua bán nợ xấu và môi trường mua bán nợ xấu giai đoạn 2019 đến 2023 tại công ty quản lý tài sản (VAMC).

Đánh giá hiệu quả của hoạt động mua bán nợ xấu của các công ty quản lý tài sản đối với các tổ chức tài chính Việt Nam nhận thấy rằng, giai đoạn 2019 – 2023, VAMC đã và đang thực hiện tốt nhiệm vụ của mình như mua bán, xử lý nợ kịp thời, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức tín dụng và các bên có liên quan; bảo vệ các mục tiêu mà Chính phủ và Ngân hàng nhà nước đề ra. Để tận dụng những ưu điểm đặc biệt của VAMC, hình thức mua nợ đã được triển Khách hàng đối với Khách hàng khoản nợ được mua bằng trái phiếu đặc biệt. VAMC đã thực hiện, áp dụng các chiến lược xử lý nợ như thúc đẩy mua bán nợ, bán tài sản cố định, thu giữ tài sản, bán đấu giá nợ và bảo đảm nợ, tái cơ cấu nợ.

Dựa trên kết quả phân tích, tác giả đưa ra các nhận định và Khách hàn khuyến nghị, đề xuất đối với VAMC, Quốc hội, Chính phủ và các Cơ quan nhà nước nhằm nâng cao hoạt động mua bán xử lý nợ xấu tại Việt Nam.

Từ hàng hóa: mua bán nợ xấu, công ty quản lý tài sản, tổ chức tín dụng, trái phiếu đặc biệt, giá trị thị trường.

ABSTRACT Luận văn: Hoạt động mua bán nợ xấu tại Công ty quản lý tài sản.

Title: Bad Debt Trading Activities at Vietnam Asset Management Company (VAMC)

Summary:

To investigate bad debt trading activities, the study presented and described the history, organizational structure, operating principles, mechanism and environment of bad debt trading activities during the period 2019 – 2023 at Vietnam Asset Management Company (VAMC). The evaluation of the effectiveness of bad debt trading activities of asset management companies towards Vietnamese financial institutions showed that during the period 2019-2023, VAMC has performed well in its tasks such as timely purchasing and processing bad debts, protecting the interests of the state, credit organizations and related parties, and achieving the objectives set by the Government and the State Bank of Vietnam. To make use of the special advantages of VAMC, the form of debt purchase has been implemented for debts purchased through special bonds. VAMC has implemented debt processing strategies such as promoting debt trading, selling fixed assets, seizing assets, auctioning debts and ensuring debts, and restructuring debts. Based on the analysis results, the author provides comments and recommendations for VAMC, the National Assembly, the Government, and state agencies to enhance bad debt trading activities in Vietnam.

Keywords: bad debt trading, asset management company, credit organization, special bonds, market value.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong những thập kỉ gần đây, kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, nợ xấu đã và đang trở thành “nỗi lo sợ” của các tổ chức ngân hàng tại Việt Nam nói riêng, mà đã trở thành “căn bệnh” đe dọa đễn “tính mạng” của cả ngành ngân hàng – tài chính trên toàn cầu. Thuật ngữ “nợ xấu” đã trở thành chủ đề được đề cập đến tại nhiều nghiên ở các nước phát triển và các nước mới nổi, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, khi nghiên cứu các tác giả tập trung chủ yếu đến việc đề xuất các phương pháp nhằm ngăn chặn, khống chế tối đa rủi ro do nợ xấu mang tới, cũng như đưa ra giải pháp giảm thiểu tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống các ngân hàng – các tổ chức tài chính thông qua đề xuất… Tăng trưởng tín dụng luôn tiềm ẩn rủi ro, trong đó phát sinh nợ xấu chính là điều không thể tránh khỏi trong Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại (NHTM). Trong trường hợp tỷ lệ nợ xấu quá cao, hoạt động kinh doanh của ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng vì không có đủ vốn để thanh toán cho người gửi khi đến hạn, bên cạnh đó còn rất nhiều những rủi. Trong suốt 10 năm qua kể từ khi được thành lập, VAMC luôn thể hiện tốt vai trò của mình trong công cuộc mua bán nợ xấu, hạn chế và giảm thiểu tối đa rủi ro tín dụng cho các Ngân hàng thương mại, Tổ chức tín dụng và KH doanh nghiệp với mục đích ổn định thị trường tài chính, thúc đẩy sự tăng trưởng tín dụng, kiểm soát tỷ lệ nợ xấu ở mức dưới 3%. Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực, song VAMC vẫn tồn tại khó khăn, ảnh hưởng tới tốc độ và hiệu quả mua bán nợ xấu. Từ năm 2022 đến nay, đặc biệt tỏng 5 tháng gần đây, VAMC đã gặp nhiều khó khăn, thách thức do chịu ảnh hưởng tiêu cực, trực tiếp của đại dịch Covid-19. Số liệu cập nhật đến 31/10/2023 cho thấy, cơ quan này đã mua 1.922 tỷ đồng nợ xấu, bằng 38,44% kế hoạch cả năm 2023. Đáng chú ý, VAMC cho biết, kết quả này được thực hiện chỉ trong 5 tháng đầu năm (giai đoạn Việt Nam đang cơ bản kiểm soát được dịch bệnh). Sang giai đoạn từ tháng 6/2023 đến nay, dịch bệnh diễn biến phức tạp, việc thực hiện giãn cách xã hội dẫn đến hoạt động mua bán, xử lý nợ của VAMC không đạt được thành tựu cụ thể trong thời gian này. Luận văn: Hoạt động mua bán nợ xấu tại Công ty quản lý tài sản.

Chính vì những lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài nghiên cứu “Hoạt động mua bán nợ xấu tại Công ty Quản lý Tài sản (VAMC)” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Đề xuất các chính sách, các giải pháp để tăng cường và nâng cao hiệu quả của HĐMBN xấu tại VAMC.

2.2 Mục tiêu cụ thể

Căn cứ theo các mục tiêu tổng quát, các mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài được triển khai như sau:

  • Nghiên cứu và phân tích tình hình nợ xấu của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam.
  • Thực trạng HĐMBN của VAMC giai đoạn 2019 đến 2023.
  • Tham khảo mô hình mua bán nợ xấu của các nước đang phát triển nhằm khai thác, đưa ra các gợi ý để nâng cao, phát huy hiệu quả HĐMBN tại VAMC.

3. Câu hỏi nghiên cứu

Dựa trên mục đích đã đặt ra ở phần trên, nghiên cứu sẽ lần lượt đặt ra 3 câu hỏi tương ứng nhằm giải quyết 3 mục tiêu cụ thể:

  • Thứ nhất, Cơ sở lý luận về nợ xấu, mua bán nợ xấu và quản lý HĐMBN là gì?
  • Thứ hai, Thực trạng HĐMBN tại VAMC trong giai đoạn 2019 – 2023? Đưa ra các kết quả đạt được, hạn chế tồn đọng và nguyên nhân.
  • Thứ ba, Định hướng của VAMC trong tương lai về HĐMBN và những giải pháp nào để cải thiện hiệu quả của hoạt động này tại VAMC?

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn: Hoạt động mua bán nợ xấu tại Công ty quản lý tài sản.

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung phân tích hiệu quả của HĐMBN xấu tại VAMC trong giai đoạn năm 2019 – 2023, đặc biệt là những ảnh hưởng do dịch bệnh Covid 19.

4.2 Phạm vi nghiên cứu

  • Phạm vi về nội dung: HĐMBN xấu tại Công ty Quản lý tài sản. Đi vào chi tiết là luận văn sẽ nghiên cứu hiệu quả trong quá trình mua bán nợ của VAMC (chỉ nghiên cứu phương thức mua và bán các KN xấu, không đề cập đến các phương thức xử lý nợ khác).
  • Phạm vi về thời gian: Giai đoạn từ năm 2019 đến

5. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Hoạt động mua bán nợ xấu tại Công ty quản lý tài sản.

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra, phương pháp chính được tác giả sử dụng phân tích đề tài là nghiên cứu định tính, cụ thể:

  • Phương pháp phân tích thống kê.
  • Phương pháp phân tích tổng hợp.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu.

6. Nội dung nghiên cứu

Để thực hiện, triển khai được các mục tiêu nghiên cứu dựa theo các căn cứ đã đề ra, đề tài tập trung theo sát các vấn đề chính sau đây:

  • Bức tranh toàn cảnh về nợ xấu tại hệ thống ngân hàng tại Việt Nam.
  • Phân tích thực trạng của HĐMBN tại VAMC.
  • Kinh nghiệm mua bán nợ xấu tại một số quốc gia trên thế giới.
  • Giải pháp nâng cao hiệu quả của HĐMBN tại VAMC.

7. Đóng góp của đề tài

Từ hệ thống cơ sở lý luận, tác giả đã đưa ra quan điểm cá nhân về nợ xấu, hiệu quả xử lý nợ xấu và mua bán nợ xấu. Bên cạnh đó đóng góp của đề tài thông qua việc phân tích thực tiễn về nợ xấu và HĐMBN. Làm rõ nội hàm về việc mua bán nợ ở cấp độ vi mô và vĩ mô, cách đánh giá hiệu quả mua bán nợ xấu.

Phân tích và đánh giá thực trạng về mô hình cấu trúc hoạt động của Công ty quản lý tài sản, cấu trúc quản trị. Nghiên cứu kinh nghiệm của các nước phát triển và đang phát triển. Tìm ra các ưu và khuyết điểm của từng phương pháp để tìm ra mô hình phù hợp tại Việt Nam. Từ đó, đưa ra chính sách phù hợp cho VAMC để nâng cao hiệu quả hoạt động trong quá trình mua bán nợ xấu.

8. Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm 3 chương:

  • Chương 1: Tổng quan về nợ xấu và hoạt động mua bán nợ xấu của VAMC
  • Chương 2: Thực trạng hoạt động mua bán nợ xấu của VAMC
  • Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động mua bán nợ xấu của VAMC

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU VÀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN NỢ XẤU CỦA VAMC

1.1. Tổng quan về nợ xấu Luận văn: Hoạt động mua bán nợ xấu tại Công ty quản lý tài sản.

1.1.1. Khái niệm về nợ xấu

Theo tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá của mỗi quốc gia là khác nhau nên sẽ dẫn tới sự khác biệt về phương thức, cách phân loại các loại nợ và tiêu chuẩn để xác định nợ xấu là khác nhau. Đó là bởi sự không đồng nhất, không nhất quán về trình độ, tốc độ phát triển của nền kinh tế, chính sách tiền tệ của mỗi quốc gia cũng như trình độ nhận thức, trình độ dân trí của các chủ thể trong nền kinh tế. Vì vậy, nợ xấu cũng thế, giống như các phương diện kinh tế pháp lý khác, luôn là một khía cạnh mang tính quốc nội.

Đối với Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng (BCBS) xác định “Việc KN bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: (i) ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi ví dụ như giải chấp chứng khoán đang nắm giữ; (ii) người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày”.

Theo Nghị quyết số 42/2019/QH14 ngày 21/6/2019 của Quốc Hội, nợ xấu gồm: “(i) KN đang hạch toán trong, ngoài Bảng cân đối kế toán của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và được xác định là nợ xấu theo quy định tại Phụ lục về xác định nợ xấu ban hành kèm theo Nghị quyết, KN xấu mà AMC đã mua của của Tổ chức tín dụng; (ii) KN xấu phát sinh từ 09 hoạt động sau: Cho vay, cho thuê tài chính, chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, bao thanh toán, cấp tín dụng dưới hình thức phát hành thẻ tín dụng, trả thay theo cám kết ngoại bảng, ủy thác cấp tín dụng, HĐMBN, hoạt động mua, ủy thác trái phiếu doanh nghiệp chưa niêm yết trên Thị trường chứng khoán hoặc chưa đăng ký giao dịch trên thị trường giao dịch các công ty đại chúng chưa niêm yết. Được xác định là nợ nhóm 3, 4, 5 theo phương pháp định lượng hoặc phương pháp định tính.” Luận văn: Hoạt động mua bán nợ xấu tại Công ty quản lý tài sản.

Theo đó, khi vấn đề về nợ xấu được đề cập đến, cần thiết phải nhìn nhận đúng đắn về mặt bản chất của khái niệm bởi nợ xấu theo thông lệ quốc tế là một ý niệm được nhận định cả về mặt định lượng và mặt định tính. Định nghĩa về khái niệm nợ xấu của pháp luật nước ta trong thời kì hiện tại khá gần với thông lệ quốc tế xét theo yếu tố định lượng, còn yếu tố định tính dù đã được ứng dụng hiệu quả hơn giai đoạn trước nhưng vẫn còn những hạn chế, chưa triển khai được triệt để, cho nên thực tiễn xác định và quản lý nợ xấu tại các Tổ chức tín dụng của Việt Nam vẫn còn khá xa lạ với thông lệ quốc tế.

1.1.2. Phân loại nợ xấu

Bảng 1.1: Phân loại nợ xấu

Việc phân loại nợ xấu được quy định tại khoản 1 Điều 10 Thông tư 02/2015/TTNHNN. Hiện nợ xấu được phân loại cụ thể trên CIC – Tổ chức tín dụng quốc gia Việt Nam.

Cụ thể về các nhóm nợ xấu như sau:

Nợ xấu nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn

  • Các KN trong hạn có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi khi đến hạn.
  • Các KN quá hạn dưới 10 ngày có thể thu hồi hết nợ gốc và lãi khi đến hạn.

Nợ xấu nhóm 2: Nợ cần chú ý

  • Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày.
  • Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu.

Nợ xấu nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn

  • Nợ quá hạn trong khoảng từ 91 ngày tới 180 ngày.
  • Theo điều kiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, các KN được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu nếu quá hạn dưới 30 ngày.
  • Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần hai.
  • KH không có khả năng trả lãi đầy đủ theo HĐ tín dụng nên được miễn hoặc giảm lãi cho KN.

Nợ xấu nhóm 4: Nợ nghi ngờ

  • Nợ quá hạn trong khoảng từ 181 ngày tới 360 ngày.
  • Theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu, các KN có thời hạn trả nợ đó đã quá hạn từ 30 ngày đến dưới 90 ngày.
  • Cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai áp dụng đối với các KN đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ hai lần và quá hạn dưới 30 ngày.

Nợ xấu nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn

  • Nợ quá hạn trên 360 ngày.
  • Căn cứ vào thời hạn hoàn vốn được cơ cấu lại lần đầu tiên, các KN có thời hạn đã quá hạn từ 90 ngày trở lên.
  • Cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai áp dụng đối với các KN đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ hai lần và quá hạn từ 30 ngày trở lên. Luận văn: Hoạt động mua bán nợ xấu tại Công ty quản lý tài sản.
  • Các KN đã hoãn từ ba lần trở lên, không phân biệt là nợ trong hạn hay quá hạn.

1.1.3. Ảnh hưởng của nợ xấu đến Nền kinh tế

Sự ảnh hưởng của nợ xấu đối với các đơn vị, doanh nghiệp hiện đang có nợ tồn đọng. Đối với một đơn vị có nợ tồn đọng mà nói, áp lực là vô cùng lớn vì các KN lúc này theo nó là một loạt hệ quả đi cùng như phí phạt chậm trả lớn, ảnh hướng đến dòng vốn của doanh nghiệp trong khi chưa thanh toán được khoản lãi vay bình thường thì lúc này khả năng để chi trả cho khoản lãi phạt dường như sẽ là một thách thức.

Không chỉ vậy, thường thì đối với một đơn vị kinh doanh, việc vay vốn không chỉ diễn ra ở một Ngân hàng thương mại mà đi vay ở nhiều nơi khác, khi đó khả năng chi trả cho một khoản vay nhất định gặp khó khăn sẽ dễ dẫn đến các khoản vay khác bị kéo theo, ngay lúc này doanh nghiệp phải đối mặt với vô vàn vấn đề về vốn cũng như việc thanh toán cho các chủ nợ, do đó mọi quyết định và Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều bị ảnh hưởng không nhỏ từ việc tắc nghẽn dòng vốn. Điều đó cho thấy một thực tế dù các chủ nợ rõ ràng không có quyền quyết định trong hoạt động của doanh nghiệp, song họ lại có ảnh hưởng không nhỏ bởi đứng trước vấn đề đặt ra về khả năng thanh toán nợ đến hạn của doanh nghiệp cho các chủ nợ. Họ cũng sẽ tìm những cách khác nhau để giảm thiểu rủi ro không thu hồi được nợ, đối mặt với nguy cơ này các chủ nợ cũng khó lòng nhân nhượng đối với doanh nghiệp trong việc Thu hồi nợ, áp lực này càng lớn họ càng có nguy cơ có thể dồn doanh nghiệp đến phá sản.

Trong trường hợp này theo quy định của Pháp Luật, với sức ép của ngân hàng, của các chủ nợ khác, một khi doanh nghiệp buộc bị tuyên bố phá sản, họ được trả nợ trước, đó sẽ là cơ hội tốt đối với các chủ nợ để Thu hồi nợ, tuy nhiên hậu quả của việc phá sản doanh nghiệp là rất lớn, nó sẽ tạo gánh nặng cho gia đình và cho cả xã hội.

  • Những ảnh hưởng đối với Hoạt động kinh doanh của các Tổ chức tín dụng

Những tác động tiêu cực nợ xấu đến các Tổ chức tín dụng có thể thấy là rất lớn, một sự ảnh hưởng lớn đối với các tổ chức này khi có nợ xấu đó chính là làm giảm hiệu quả của hoạt động cấp tín dụng và một cách gián tiếp làm gia tăng các chi phí cho Tổ chức tín dụng.  

Nợ xấu gây ra một số những cản trở nhất định trong quá trình tiến hành định giá giá trị của Ngân hàng thương mại, đó là một bước quan trọng để tham gia cổ phần hóa, nó đồng thời cũng sẽ làm giảm tính thu hút, hấp dẫn đối với các nhà đầu tư quan tâm. Câu chuyện cổ phần hóa của các doanh nghiệp nhà nước bắt nguồn từ mục tiêu thúc đẩy Hoạt động kinh doanh cũng như góp phần tạo nên một nền kinh thế vững mạnh về mọi mặt, tuy nhiên trong tiến trình thực hiện hóa mục tiêu đề ra hiện đang gặp nhiều trở ngại chưa được giải quyết đến từ khâu định giá doanh nghiệp. Trên thực tế của các Ngân hàng thương mại hiện nay thì lượng nợ xấu tồn đọng là quá lớn, rất khó để giải quyết triệt để hay để loại trừ nó hoàn toàn ra khỏi giá trị doanh nghiệp. Hơn thế nữa, nợ xấu giờ đây là một tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng của các Tổ chức tín dụng, nhìn nhận từ tiêu chí này có thể đánh giá được sức khỏe tài chính và hiệu quả quản lý doanh nghiệp, năng lực quản trị rủi ro của các Ngân hàng thương mại đó. Luận văn: Hoạt động mua bán nợ xấu tại Công ty quản lý tài sản.

Ngân hàng là một trong những ngành kinh tế trọng điểm, có độ nhạy cảm cao với Nền kinh tế, là ngành kinh tế phụ thuộc vào độ tin cậy của người dùng nên khi có thông tin tiêu cực về tình hình của ngân hàng, lập tức nó sẽ ảnh hưởng đến tâm lý KH lo sợ đến khả năng thanh khoản của các sản phẩm, dịch vụ mà ngân hàng cung cấp, cũng như nghi ngờ về tính an toàn và ổn định của ngân hàng. Không khó để diễn ra hiện tượng người gửi đổ xô đi rút tiền. Ngoài ra, nếu Tỷ lệ nợ xấu lớn, lượng nợ xấu hiện hữu lớn điều đó đồng nghĩa với khả năng thu hồi các KN này, khả năng thanh toán của KH là thấp. Vì vậy, ngân hàng phải thực hiện các khoản trích lập Dự phòng rủi ro từ chính nguồn vốn của mình để trang trải cho những thất thoát này đến một giới hạn nào đó sẽ không thể tiếp tục “xóa sổ” chúng, khi đó ngân hàng có thể bị rơi vào tình trạng mất khả nang thanh toán cho người gửi tiền.

  • Ảnh hưởng đối với NKT

Trong thời kì hiện nay, sự liên quan, gắn kết giữa KH với ngân hàng và Nền kinh tế là vô cùng chặt chẽ và không thể tách rời. Do đó, khi nợ xấu phát sinh sẽ ngay lập tức kéo theo những ảnh hưởng, tác động trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp, ngân hàng, đồng thời sự phát triển của Nền kinh tế cũng bị ảnh hưởng.

Tóm lại, nợ xấu là một nguyên nhân trọng yếu cản trở sự luân chuyển, dòng chảy của vốn, ảnh hưởng đến sự ổn định về mặt tài chính, sự lành mạnh của hệ thống các Tổ chức tín dụng.

1.2. Tổng quan các nghiên cứu trước Luận văn: Hoạt động mua bán nợ xấu tại Công ty quản lý tài sản.

1.2.1. Nghiên cứu nước ngoài

Sau các cuộc khủng hoảng nợ ở nhiều quốc gia và gần nhất là khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp, các nhà khoa học ở một số nước ngày càng quan tâm nghiên cứu về nợ xấu và HĐMBN, mô hình các Công ty mua bán nợ quốc gia, các công cụ và phương thức tái cấu trúc tài chính, cụ thể qua các nghiên cứu như sau:

Theo nghiên cứu của tác giả Claessens & Klingebiel (1999) về “Tái cấu trúc tài chính ở Đông Á: Nửa đường?” (“Financial Restructuring in East Asia: Halfway there?”), để tái cấu trúc doanh nghiệp sau khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á 1997-1998 cũng như phát triển thị trường mua bán nợ thì nhiều quốc gia đã sử dụng Công ty mua bán nợ quốc gia như Hàn Quốc, Malaysia.

Nghiên cứu của tác giả De Luna – Martinez, J. (2000) về “Quản lý và giải quyết khủng hoảng ngân hàng” (“Management and Resolution of Banking Crises”) có nêu kinh nghiệm của Hàn quốc và Mêhicô cho thấy giải pháp phát triển thị trường mua bán nợ và các công cụ xử lý nợ xấu lại không giống nhau giữa các quốc gia.

Bing Wang and Richard Peiser (2005) cho rằng sự thành công của xử lý nợ xấu cần sử dụng đa dạng phương thức trong đó cho thấy mức độ quyết tâm, kiên quyết của Chính phủ. Giống như Ernst and Young (2013) đã chỉ ra rằng ngân sách tham gia xử lý nợ của Chính phủ.

European Banking Coordination “Vienna” Initiative (2014), nghiên cứu việc xử lý nợ xấu ở khu vực Trung, Đông và Đông Nam Châu Âu. Nghiên cứu nhận định nợ xấu khu vực Châu Âu chủ yếu đến từ các chu kì kinh tế đặc trưng của chủ nghĩa tư bản (boom-bust cycle) và có khả năng trở thành yếu tố cản trở tăng trưởng kinh tế khu vực.

1.2.2. Nghiên cứu trong nước Luận văn: Hoạt động mua bán nợ xấu tại Công ty quản lý tài sản.

Ở Việt Nam, mua bán nợ là chủ đề nhận được rất nhiều sự quan tâm từ cuối những năm 1990. Cho đến nay đã có một số các đề tài nghiên cứu tiêu biểu về thị trường mua bán nợ xấu trên các khía cạnh, phương diện khác nhau. Kể tới sau đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến nội dung của luận văn.

Đề tài cấp Bộ (2016) của PGS.TS. Hoàng Trần Hậu về “Phát triển thị trường mua bán nợ ở Việt Nam phục vụ tái cơ cấu doanh nghiệp“. Nghiên cứu này đang tập trung vào mục tiêu tái cấu trúc cho các doanh nghiệp từ việc thống kê rồi phân tích đánh giá làm rõ những khía cạnh của thị trường mua bán nợ để từ đó đưa ra các giải pháp. Đề tài cấp Bộ (2016) “Hoàn thiện cơ chế tài chính trong xử lý nợ xấu ngân hàng thúc đẩy tái cấu trúc doanh nghiệp” của ThS. Phạm Mạnh Thường: từ thực tiễn của thị trường mua bán nợ của Việt Nam được nhìn nhận hiện còn chưa thực sự phát triển nên công tác xử lý nợ xấu vướng phải nhiều hạn chế trong quá trình triển khai. Tác giá đã tìm ra lỗ hổng trên tuy nhiên các giải pháp được đề xuất chưa có được phương thức cụ thể để áp dụng thực tiễn.

Tác giả Quách Mạnh Hào (2014), “Thực trạng bài toán nợ xấu“, đề tài nhấn mạnh một vấn đề cốt lõi của việc phát triển thị trường cho hoạt động mua bán nợ xấu nằm ở yếu tố thiếu nguồn nhân lực chuyên nghiệp, do phạm vi hoạt động hiện nay mới chỉ dành cho chủ yếu là nợ xấu tồn đọng của nền kinh tế.

Nghiên cứu của TS. Nguyễn Quốc Hùng (2016) về “Đánh giá sự phù hợp trong lộ trình, cách thức và hoàn thiện cơ cấu cho AMC”, nghiên cứu của TS. Lê Thị Thùy Vân và Ths. Vương Duy Lâm (2017) về “AMC và vấn đề xử lý nợ xấu”, như các nghiên cứu trước, tác giả cũng đã nhận định và chỉ ra những khó khắn thách thức của thị trường mua bán nợ nói chung, đặc biệt nghiên cứu cho VAMC từ đó đưa ra các giải pháp để việc xử lý nợ xấu trên thị trường thuận lợi, hiệu quả hơn.

1.2.3. Khoảng trống trong các nghiên cứu trước

Từ trước tới nay, hiện có không ít các bài nghiên cứu về nợ xấu, HĐMBN xấu tại Ngân hàng thương mại và tổ chức chuyên môn trên thế giới cũng như ở Việt Nam, tuy nhiên chưa có nhiều tác giả quan tâm đến HĐMBN xấu tại Việt Nam nói chung và VAMC nói tiêng. Đặc biệt trong giai đoạn 2021-2023 vừa qua, Nền kinh tế đã trải qua rất nhiều biến động do dịch bệnh Covid 19 kéo dài, nguồn thu của KH để thanh toán và chi trả các khoản tín dụng đến hạn, chính vì vậy, số lượng nợ xấu, nợ tiềm ẩn nợ xấu là rất lớn tại các Tổ chức tín dụng. Tại VAMC, tính đến thời điểm hiện tại, chưa có một công trình nghiên cứu nào về nợ xấu và quản lý mua bán nợ xấu tại đây và đặc biệt là cập nhật tình hình hiện tại sau làn sóng Covid 19. Dựa trên các kết quả nghiên cứu đã nêu trong các công trình trên, tác giả nhận thấy khoảng trống cần được tiếp tục khai thác, nghiên cứu là: (i) Nghiên cứu cần đề xuất, đưa ra các biện pháp thực tế phù hợp với thực trạng, tình hình nợ xấu và khả năng quản lý quá trình mua bán nợ xấu của VAMC; (ii) Cập nhật các văn bản chỉ đạo mới nhất của các cấp lãnh đạo về hoạt động mua bán nợ xấu, (iii) Đánh giá và xây dựng các định hướng hoạt động trong thời gian tới.

1.3. Hoạt động mua bán nợ xấu tại VAMC Luận văn: Hoạt động mua bán nợ xấu tại Công ty quản lý tài sản.

1.3.1. Khái niệm mua bán nợ xấu

Nhiệm vụ trọng tâm được hệ thống Tổ chức tín dụng hướng tới là giải quyết nợ xấu nhằm đưa Tỷ lệ nợ xấu về mức an toàn tối thiểu. Khi các khoản cho vay không được KH thanh toán đầy đủ và đúng hạn, Tổ chức tín dụng có thể sử dụng kỹ thuật nghiệp vụ thanh toán nợ như bán đấu giá Tài sản bảo đảm để Thu hồi nợ hoặc chứng khoán hóa nợ xấu, tức là chuyển nợ xấu thành phần vốn góp vào doanh nghiệp hoặc bán nợ xấu cho các công ty mua bán nợ hoặc các đối tượng khác.

So với các giải pháp khác mà bản thân Tổ chức tín dụng phải tự Thu hồi nợ xấu, bán nợ xấu cho các công ty mua bán nợ hoặc tổ chức, cá nhân có nhu cầu mua nợ có thể được xem là giải pháp xử lý nợ xấu nhanh chóng và hiệu quả. Sở dĩ giải pháp này được nhận định là có khả năng giải quyết nhanh chóng và hiệu quả hơn vì khi quan hệ mua bán nợ xấu được xác lập thông qua việc giao kết HĐ mua bán nợ xấu, nợ xấu sẽ được chuyển giao từ Tổ chức tín dụng bán nợ sang bên mua nợ, thay vì Tổ chức tín dụng phải tự mình xử lý tài sản để Thu hồi nợ. Nhờ đó, Tổ chức tín dụng bán nợ nhanh chóng hồi phục được nguồn vốn để phục vụ cho Hoạt động kinh doanh.

Dưới góc độ pháp luật dân sự, HĐMBN nảy sinh từ hoạt động cho vay của các Tổ chức tín dụng là một bộ phận của mua bán tài sản vì nợ xấu là tài sản hay cụ thể hơn là quyền tài sản. Điều đó có nghĩa, quan hệ này được hình thành trên cơ sở thống nhất ý chí giữa bên bán nợ và bên mua nợ, theo đó, bên bán nợ (là Tổ chức tín dụng sở hữu nợ xấu) bán KN cho bên mua nợ. Quan hệ mua bán nợ được xác định là quan hệ song vụ vì cả Tổ chức tín dụng bán nợ và tổ chức cá nhân mua nợ đều có quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Tổ chức tín dụng có nghĩa vụ chuyển giao KN xấu và có quyền yêu cầu bên mua nợ thanh toán tiền mua KN xấu đó, còn bên mua nợ có nghĩa vụ thanh toán giá trị KN xấu đã mua và có quyền nhận chuyển giao KN xấu từ bên bán nợ là các Tổ chức tín dụng.

Trong khi đó, khi chuyển giao KN và nhận thanh toán từ bên mua nợ, Tổ chức tín dụng được xóa KN xấu trong Bảng cân đối kế toán, đồng thời được giải phóng nguồn vốn bị đóng băng do nợ xấu và phần vốn tỷ lệ Dự phòng rủi ro tín dụng. Như vậy, có thể thấy, mua bán nợ xấu có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động của các Tổ chức tín dụng.

Tóm lại, thông qua việc phân tích quan hệ mua bán nợ từ những góc độ khác nhau, có thể thấy nội hàm của khái niệm này bao gồm những vấn đề sau đây: Luận văn: Hoạt động mua bán nợ xấu tại Công ty quản lý tài sản.

Đối tượng chuyển giao: là các KN xấu xuất hiện từ hoạt động cho vay của các Tổ chức tín dụng đối với KH;

Đối tượng tham gia: là các Tổ chức tín dụng bán nợ xấu (bên bán nợ) và các tổ chức, cá nhân có nhu cầu mua nợ xấu (bên mua nợ).

Vậy có thể hiểu mua bán nợ xấu như sau: “Mua bán nợ xấu là việc chuyển nhượng KN xấu xuất hiện từ hoạt động cho vay của các Tổ chức tín dụng (bên bán nợ) đối với KH sang các tổ chức, cá nhân có nhu cầu mua nợ (bên mua nợ) theo những phương thức do các bên thỏa thuận trên cơ sở quy định của pháp luật.”

1.3.2. Phương thức mua bán nợ xấu

  • Mua bán nợ xấu bằng Trái phiếu đặc biệt

Theo Khoản 1, Điều 16, Thông tư 19/2015/TT-NHNN “KN xấu được Công ty quản lý tài sản mua bằng Trái phiếu đặc biệt phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:

  • Phạm vi các KN xấu được mua:

Các KN khó đòi phát sinh trong hoạt động cấp tín dụng như cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán và các KN khó đòi khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước;

Khoản mua trái phiếu doanh nghiệp chưa niêm yết trên Thị trường chứng khoán hoặc chưa đăng ký giao dịch trên thị trường của các công ty đại chúng chưa niêm yết (sau đây gọi là trái phiếu doanh nghiệp chưa niêm yết) do tổ chức tín dụng bán nợ mua đã quá hạn thanh toán một phần hoặc toàn bộ nợ gốc, lãi từ 90 ngày trở lên; hoặc chưa quá hạn hoặc quá hạn dưới 90 ngày nhưng doanh nghiệp phát hành trái phiếu có nợ xấu tại tổ chức tín dụng đó; Khoản ủy thác mua trái phiếu doanh nghiệp chưa niêm yết, ủy thác cấp tín dụng mà Tổ chức tín dụng bán nợ chịu rủi ro đã quá hạn thanh toán một phần hoặc toàn bộ nợ gốc, lãi từ 90 ngày trở lên; hoặc chưa quá hạn hoặc quá hạn dưới 90 ngày nhưng doanh nghiệp phát hành trái phiếu, bên nhận ủy thác, đối tượng thụ hưởng của ủy thác có nợ xấu tại Tổ chức tín dụng đó.

  • KN xấu có tài sản bảo đảm;
  • KN xấu, tài sản bảo đảm của KN xấu phải hợp pháp và có hồ sơ, giấy tờ hợp lệ, cụ thể: HĐ tín dụng, HĐ ủy thác, HĐ mua trái phiếu doanh nghiệp, HĐ bảo đảm phải thể hiện rõ các quyền chủ nợ của tổ chức tín dụng, trách nhiệm và nghĩa vụ trả nợ của KH vay, bên bảo đảm, bên có nghĩa vụ trả nợ đối với tổ chức tín dụng;  KN xấu chưa dùng để bảo đảm nghĩa vụ của tổ chức tín dụng; Tài sản bảo đảm của KN xấu không có mâu thuẫn tại thời điểm mua, bán nợ.
  • KH vay còn tồn tại; Luận văn: Hoạt động mua bán nợ xấu tại Công ty quản lý tài sản.
  • Tại thời điểm bán nợ, giá trị ghi sổ của dư nợ gốc của một KN xấu hoặc của một loạt KN xấu quy định tại Khoản 4 Điều 8 Thông tư này tối thiểu là 3 tỷ đồng đối với nhóm KH vay là tổ chức và tối thiểu 1 tỷ đồng đối với cá nhân hoặc mức khác do

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định.”

  • Mua bán nợ xấu theo Giá trị thị trường 

Việt Nam đã bắt tay vào chương trình tái cấu trúc các Tổ chức tín dụng do Chính phủ phê chuẩn vào tháng 3/2014. Một cấu phần then chốt của việc tái cấu trúc này chính là xử lý nợ xấu. Nhằm đẩy nhanh quá trình này, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 843/QĐTTg thành lập AMC vào ngày 31/5/2015. Khuôn khổ pháp lý cho AMC được thiết lập trong Nghị định 53/2015/NĐ-CP và Quyết định số 483/2015 phê duyệt Đề án xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng. Vào đầu tháng 9/2015, thông qua Thông tư số 19/TT-NHNN về việc hướng dẫn cho mua và bán nợ xấu của ngân hàng và Thông tư số 20/TT-NHNN về cơ chế tái cấp vốn đối với trái phiếu AMC.

VAMC bắt đầu hoạt động từ ngày 1/10/2015, với chủ trương tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, giúp xử lý nhanh và dứt điểm nợ xấu của các Tổ chức tín dụng trong giai đoạn 2018 – 2022. Ngân hàng Nhà nước đã xác định việc kiện toàn về việc cơ cấu lại các Tổ chức tín dụng yếu kém là nhiệm vụ trọng tâm của giai đoạn này.

Về nguyên tắc, các Ngân hàng thương mại có Tỷ lệ nợ xấu cao hơn 3% buộc phải bán nợ xấu cho AMC để nhận Trái phiếu đặc biệt. Trái phiếu có kỳ hạn 5 năm và lãi suất 0%/năm. Trong báo cáo số 224 gửi Quốc hội mới đây, Ngân hàng Nhà nước cho biết, AMC mua được lượng nợ xấu lên tới 348.500 tỉ đồng từ 2015-08/2021. Tính đến 31/12/2021, AMC mua được 55 KN với dư nợ gốc đạt 6.724 tỉ đồng và giá mua nợ đạt 6.821 tỉ đồng; từ 15/08/2019 đến 31/05/2022 tổng số nợ xấu được xử lý trung bình đạt 7.150 tỉ đồng/tháng.

1.3.3. Mục đích của hoạt động mua bán nợ xấu

  • Một là, mua bán nợ xấu là hoạt động riêng có của Nền kinh tế thị trường.

Việc lựa chọn một mô hình kinh tế phù hợp để xây dựng có vai trò quan trọng thúc  đẩy quốc gia đó đi lên hoặc tụt lại so với thế giới. Theo GS Nguyễn Văn Tiến “Một quốc gia vận hành theo cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung thì mọi hoạt động Sản xuất kinh doanh của các chủ thể đều chịu sự chi phối trực tiếp của Nhà nước. Ở đó, nợ xấu và mua bán nợ từ hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng dường như là những khái niệm không hề tồn tại. Sự bảo hộ của Nhà nước với cơ chế bù đắp thua lỗ đối với các doanh nghiệp quốc doanh nói chung và ngân hàng quốc doanh nói riêng dẫn tới các KN được xử lý ngay từ ban đầu, vì vậy, các ngân hàng quốc doanh không phải băn khoăn xem phải bán các KN này cho ai, bán như thế nào để thu hồi phần vốn của mình” Tuy nhiên, khi phát triển Nền kinh tế thị trường, cơ chế bù lỗ của Nhà nước bị xóa bỏ, Tổ chức tín dụng phải tự tìm cách xử lý các KN xấu đã phát sinh. Trong đó, bán nợ xấu là một trong những phương pháp Tổ chức tín dụng có thể lựa chọn để nhanh chóng thu hồi phần gốc đã cho KH vay. Luận văn: Hoạt động mua bán nợ xấu tại Công ty quản lý tài sản.

  • Hai là, đối tượng của mua bán nợ xấu là loại hàng hóa đảm bảo

Dưới góc độ pháp luật dân sự, có thể thấy rằng các KN xấu được chuyển giao chính là một loại tài sản mà theo nghĩa thông thường, tài sản bao gồm tiền, vật, giấy tờ có giá và quyền tài sản, ở đó, nợ xấu được xem là một loại tài sản đặc biệt tồn tại dưới dạng quyền tài sản. Theo đó, nợ xấu là một nghĩa vụ nảy sinh từ hoạt động tín dụng của Tổ chức tín dụng với KH, khi một bên có nghĩa vụ phải thanh toán cho phía bên kia một số tiền nhất định, nghĩa vụ đó được hình thành trên cơ sở HĐ vay tài sản giữa hai bên. Đồng thời cũng có thể hiểu nợ xấu là trách nhiệm pháp lý theo đó bên vay (KH) thanh toán theo HĐ tín dụng đã quy định. Tuy nhiên, khi nghĩa vụ trả nợ này không được thực hiện theo đúng thỏa thuận làm cho KN này thành nợ “xấu”.

  • Ba là, Tổ chức tín dụng luôn là một bên chủ thể tham gia giao dịch mua bán nợ xấu từ chính hoạt động cho vay của các Tổ chức tín dụng (bên bán nợ) và các tổ chức, cá nhân có nhu cầu mua nợ xấu (bên mua nợ).

Vì đối tượng của giao dịch mua bán này là các KN xấu từ hoạt động cho vay của các Tổ chức tín dụng nên các Tổ chức tín dụng bao giờ cũng trở thành một bên chủ thể; tuy nhiên, bên mua nợ rất đa dạng, đó có thể là các Tổ chức tín dụng được pháp luật cho phép thực hiện nghiệp vụ mua bán nợ, các công ty mua bán nợ tập trung, các công ty mua bán nợ có thể là tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có nhu cầu. Trong thời kỳ hệ thống Tổ chức tín dụng phát triển ổn định, nợ xấu trên thị trường có quy mô nhỏ, các chính phủ sẽ để cho thị trường tự điều tiết thông qua vai trò của các công ty kinh doanh dịch vụ mua bán nợ còn khi thị trường bộc lộ những dấu hiệu tiêu cực, nợ xấu tăng cao đến mức báo động, các công ty mua bán nợ tập trung hoạt động với nguồn vốn được cấp từ ngân sách nhà nước sẽ được thành lập và tham gia mua nợ xấu của các Tổ chức tín dụng.

  • Bốn là, mua bán nợ xấu là hoạt động mang tính rủi ro cao.

Tính rủi ro của hoạt động này xuất phát tính chất đặc biệt của KN là đối tượng mua bán giữa các bên. Nợ xấu hình thành khi KH vay không thể thanh toán khi đến hạn, thậm chí còn bị quá hạn dài. Vì vậy, khả năng thu hồi vốn của loại tài sản rất thấp, thậm chí trong nhiều trường hợp không có khả năng thu hồi. Khi nợ xấu hình thành, rủi ro thuộc về các Tổ chức tín dụng. Để ngăn chặn rủi ro, một mặt Tổ chức tín dụng phải sử dụng tài sản của mình để Dự phòng rủi ro, một mặt phải dùng các phương thức khác nhau để xử lý rủi ro đó, trong đó, bán nợ là một trong những phương thức chuyển rủi ro hiệu quả. Khi quan hệ mua bán nợ được xác lập, rủi ro sẽ được chuyển từ Tổ chức tín dụng bán nợ sang bên mua nợ hay có thể nói, khi quyết định mua nợ xấu của Tổ chức tín dụng, bên bán nợ chấp nhận rủi ro về phía mình.

  • Năm là, về nguyên tắc, mua bán nợ xấu được triển khai theo nguyên tắc Giá trị thị trường tuy nhiên đối với một số trường hợp đặc thù, cần thiết phải có sự can thiệp, điều hành từ Nhà nước.

Mọi quan hệ mua bán đều phải được xây dựng dựa trên nguyên tắc cơ bản của thị trường, đó là quy luật cung – cầu; quy luật cạnh tranh… Mua bán nợ xấu từ hoạt động cho vay của các Tổ chức tín dụng cũng không nằm ngoài những nguyên tắc đó. Theo đó, việc mua bán nợ phải được xác lập và thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa bên bán nợ và bên mua nợ. Có nghĩa là khi tham gia ký kết và thực hiện HĐ mua bán nợ xấu, các bên phải đảm bảo tôn trọng sự thỏa thuận, sự tự do ý chí, không bên nào được ép buộc hay lừa dối bên nào. Luận văn: Hoạt động mua bán nợ xấu tại Công ty quản lý tài sản.

Tuy nhiên, xuất phát từ tính chất đặc biệt của loại tài sản là đối tượng mua bán trong giao dịch loại này, các bên tham gia và mục đích mua bán nợ chịu sự can thiệp của Nhà nước với những quy định mang tính bắt buộc các Tổ chức tín dụng ở vào những điều kiện nhất định phải tuân theo. Theo nguyên tắc này, khi Nền kinh tế có những dấu hiệu khủng hoảng làm cho Tỷ lệ nợ xấu trên hệ thống ngân hàng tăng cao ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển của Nền kinh tế, tới niềm tin của người dân vào hệ thống ngân hàng và tới sự an toàn vốn của các ngân hàng, Nhà nước sẽ thành lập một hoặc một số công ty mua bán nợ đặc biệt để trực tiếp tham gia mua bán nợ xấu của các Tổ chức tín dụng nhằm kéo mức nợ xấu của cả hệ thống Tổ chức tín dụng về ngưỡng an toàn. Để hoạt động này phát huy hiệu quả tối đa thì các Tổ chức tín dụng có Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ vượt mức an toàn tối thiểu sẽ buộc phải bán nợ xấu cho công ty mua bán nợ do Nhà nước thành lập.

  • Sáu là, các đối tượng tham gia vào HĐMBN đều cùng hướng đến mục đích vì lợi nhuận hoặc muốn kiểm soát Tỷ lệ nợ xấu ở mức an toàn.

Đối với giao dịch mua bán tài sản như thường lệ, đôi bên đều tham gia nhằm thỏa mãn những lợi ích nhất định của mình về vật chất hoặc tinh thần. Với các chủ thể kinh doanh, mục đích tìm kiếm lợi nhuận là động lực quan trọng thúc đẩy họ tham gia giao kết và thực hiện các quan hệ mua bán. Đối với quan hệ mua bán nợ xấu từ hoạt động cho vay của các Tổ chức tín dụng, mục đích tìm kiếm lợi nhuận cũng không loại trừ, đặc biệt đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ. Sau khi thực hiện mua lại KN xấu từ các Tổ chức tín dụng, lúc này KH mua nợ sẽ là chủ sở hữu mới cua KN đó và có nhiều cơ hội để thu về khoản lợi nhuận lớn từ việc bán các KN xấu đó trên thị trường thứ cấp hoặc trực tiếp Thu hồi nợ từ con nợ. Sự phát triển của hệ thống ngân hàng trong Nền kinh tế dẫn tới sự hình thành các KN xấu và nhu cầu mua nợ của các Tổ chức tín dụng để tìm kiếm lợi nhuận ngày càng phát triển. Đặc biệt với các quốc gia xây dựng được thị trường mua bán nợ, việc giao dịch các KN xấu được các nhà đầu tư thực hiện không khác gì mua bán cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường vốn, ở đó, mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận được đặt ra như động lực thúc đẩy các bên mua bán nợ xấu trên thị trường.

Bảy là, hình thức pháp lý của quan hệ mua bán nợ xấu là HĐ mua bán nợ xấu. HĐ mua bán nợ xấu là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa bên bán nợ và bên mua nợ, theo đó, bên bán nợ chuyển quyền sở hữu KN, mà thực chất là quyền đòi nợ và các lợi ích khác sang cho bên mua nợ theo những điều kiện và trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Có thể coi HĐ mua bán nợ xấu là cơ sở quan trọng để ghi nhận sự thỏa thuận của các bên và đảm bảo tính thực thi của những thỏa thuận đó.

Như vậy, dưới góc độ pháp lý, sự việc chuyển quyền sở hữu KN xấu phải được thực hiện bằng văn bản. Việc thể hiện dưới các hình thức khác như lời nói hoặc hành vi pháp lý cụ thể sẽ làm cho thỏa thuận không có giá trị pháp lý.

Bên cạnh đó, nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng, HĐ mua bán nợ phải phù hợp với điều lệ, quy định nội bộ về HĐMBN do các Tổ chức tín dụng tự ban hành trên cơ sở quy định của pháp luật.

Đối với các quan hệ mua bán nợ xấu phát sinh giữa Tổ chức tín dụng bán nợ với bên mua nợ là công ty quản lý tài sản do Nhà nước thành lập, mặc dù chịu sự can thiệp của Nhà nước khi buộc Tổ chức tín dụng có Tỷ lệ nợ xấu vượt mức an toàn tối thiểu phải bán nợ, tuy nhiên, quan hệ này vẫn được xác lập dưới hình thức HĐ mua bán nợ xấu. Mặc dù HĐ mua bán nợ xấu vẫn chứa đựng đầy đủ những điều khoản về đối tượng của HĐ, về giá trị HĐ, về công cụ thanh toán…tuy nhiên, thực chất, HĐ này chỉ là hình thức để hợp pháp hóa sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động xử lý nợ xấu của Tổ chức tín dụng.

  • Đối với các bên bán nợ xấu, HĐMBN xấu giúp các Tổ chức tín dụng kiểm soát tỷ lệ này ở ngưỡng an toàn, từ đó các Tổ chức tín dụng có thể tiếp tục cung ứng vốn cho Nền kinh tế thay vì dùng vốn đó để trích lập Dự phòng rủi ro tín dụng.

Hiện nay có rất nhiều Tổ chức tín dụng đang phải đối mặt với mức độ rủi ro tín dụng cao, trong đó rủi ro về nợ xấu, nợ khó đòi là một trong những yếu tố cần được kiểm soát chặt chẽ. Trong bối cảnh này, mua bán nợ xấu được xem là công cụ quan trọng giúp cho Tổ chức tín dụng tháo gỡ được nút thắt trong hoạt động thu hồi và xử lý nợ xấu.

Đối với các Tổ chức tín dụng, vai trò của việc bán nợ xấu cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu có thể được khái quát như sau:

Một là, khi bán nợ, áp lực về các KN xấu của Tổ chức tín dụng được giảm đi đáng kể, đưa Tỷ lệ nợ xấu về mức an toàn, góp phần làm sạch bảng cân đối tài sản. Luận văn: Hoạt động mua bán nợ xấu tại Công ty quản lý tài sản.

HĐKD của các Tổ chức tín dụng chịu áp lực nặng nề của Tỷ lệ nợ xấu bởi nó phản ánh trực tiếp “sức khỏe” Tổ chức tín dụng. Vì vậy, khi nợ xấu được bán cho các bên mua nợ góp phần quan trọng giúp giảm bớt áp lực cho các Tổ chức tín dụng, đồng thời lấy lại hình ảnh và niềm tin của khách hành đối với Tổ chức tín dụng. Như trường hợp của Sacombank, số liệu nợ xấu của ngân hàng này ghi trong bản BCTC năm 2018 vào khoảng 20.000 tỷ đồng, chiếm 6,9% dư nợ tín dụng đẩy ngân hàng này vào top những ngân hàng có Tỷ lệ nợ xấu cao nhất ngành ngân hàng

Với tính chất của Hoạt động kinh doanh mang tính rủi ro lớn, buộc các Tổ chức tín dụng phải tỷ lệ Dự phòng rủi ro bằng tài sản có đối với các khoản cho vay đã quá hạn. Thời gian quá hạn thanh toán nợ gốc và lãi càng dài thì mức trích lập càng lớn. Mặc dù đã áp dụng trích lập dự phòng nhưng những KN xấu vẫn nằm trong Bảng cân đối kế toán của Tổ chức tín dụng.

Hai là, khi bán nợ xấu, Tổ chức tín dụng có cơ hội cải thiện, nâng cao mức xếp hạng tín nhiệm.  Khi Tổ chức tín dụng bán nợ xấu cho bên mua nợ sẽ keo Tỷ lệ nợ xấu giảm, đồng thời đẩy mức độ tín nhiệm của các Tổ chức tín dụng lên cao, từ đó sẽ góp phần nâng cao và củng cố lòng tin của người gửi tiền đối với các khoản tiền gửi tại Tổ chức tín dụng. Như vậy, mức độ xếp hạng tín nhiệm. Tỷ lệ nợ xấu tăng cao sẽ kéo mức xếp hạng tín nhiệm của Tổ chức tín dụng xuống thấp và điều đó gây ra một số ảnh hưởng tới tâm lý của KH gửi tiền. Trong tình huống đó, những KH đang gửi tiền tại Tổ chức tín dụng sẽ không yên tâm về khoản tiền của họ và nảy sinh nhu cầu rút tiền trước hạn. Đối với những KH tiềm năng chưa gửi tiền tại Tổ chức tín dụng, mức xếp hạng tín nhiệm của Tổ chức tín dụng thấp sẽ đẩy KH đến với Tổ chức tín dụng khác hoặc kênh đầu tư khác an toàn, ổn định hơn.

Ba là, khi bán nợ xấu, giúp cho dòng vốn của các Tổ chức tín dụng luân chuyển nhanh hơn, thúc đẩy tiến trình lưu thông dòng tiền trong hệ thống Tổ chức tín dụng.

Như đã phân tích, khi các KN gốc và lãi quá hạn, Tổ chức tín dụng phải tỷ lệ Dự phòng rủi ro, có nghĩa là một lượng vốn lớn của Tổ chức tín dụng không được đưa vào kinh doanh. Khi nợ xấu được bán cho bên mua nợ, vốn trích lập dự phòng sẽ được giải phóng từ đó làm tăng vốn khả dụng của Tổ chức tín dụng, đồng thời đảm bảo vai trò luân chuyển vốn của Tổ chức tín dụng trên thị trường.

Như vậy, khi bán nợ xấu cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu mua nợ, Tổ chức tín dụng có khả năng xoay vòng vốn tốt hơn, hiệu quả hơn, từ đó không những giảm áp lực trong Hoạt động kinh doanh mà còn có thể thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, nâng cao lợi nhuận kinh doanh của Tổ chức tín dụng.

  • Đối với bên mua nợ, HĐMBN xấu mở ra một lĩnh vực kinh doanh mới, tạo điều kiện để các chủ thể mua nợ tìm kiếm lợi nhuận Luận văn: Hoạt động mua bán nợ xấu tại Công ty quản lý tài sản.

Mục tiêu trước hết mà bất kỳ chủ thể kinh doanh nào cũng muốn đạt được đó là tìm kiếm lợi nhuận, HĐMBN xấu cũng không loại trừ mục tiêu đó. Mặc dù những rủi ro có nguy cơ xảy ra tuy nhiên nợ xấu lại có thể đem đến cho bên KH mua nợ nguồn lợi nhuận lớn. Bên cạnh các ngành nghề đầu tư truyền thống như kinh doanh sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ, các nhà đầu tư sẽ có thêm lựa chọn là mua bán nợ xấu của các Tổ chức tín dụng. Đây chính là những nguyên nhân dẫn tới sự ra đời của loại hình kinh doanh mới ở Việt Nam, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ theo quy định của Nghị định 69/2018/NĐ-CP hay sự quan tâm của các đối tác nước ngoài với các KN xấu được giao bán của các Tổ chức tín dụng.

Do đó, các nhà đầu tư giờ đây có thêm một lựa chọn mới khi lựa chọn một ngành rủi ro để theo đuổi lợi nhuận lớn hơn, đó là mua bán nợ xấu. Tuy nhiên, với tính chất rủi ro của KN xấu đòi hỏi bên mua nợ không những có nguồn vốn lớn mà còn phải có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thực tế dày dặn hơn so với kinh doanh các ngành nghề khác.

  • Đối với Nền kinh tế, mua bán nợ xấu giúp khơi thông dòng vốn chảy vào khu vực Sản xuất kinh doanh, thúc đẩy Nền kinh tế phát triển

Dưới góc độ kinh tế vĩ mô, khi nợ xấu tăng cao, Tổ chức tín dụng phải tăng mức tỷ lệ Dự phòng rủi ro từ đó làm giảm nguồn vốn cung ứng ra Nền kinh tế. Đồng thời sự gia tăng của nợ xấu làm giảm khả năng tiếp cận vốn của KH. Hệ quả tiêu cực của quá trình này là tác động trực tiếp tới các doanh nghiệp, các nhà đầu tư cũng như các chủ thể kinh doanh khác do sự hạn hẹp của các khoản tiền vay có thể tiếp cận từ phía các Tổ chức tín dụng, từ đó kéo theo sự suy giảm tăng trưởng của Nền kinh tế.

Đồng thời, việc xử lý các KN xấu thông qua hoạt động mua bán giữa bên bán nợ và bên mua nợ được xem như là một biện pháp cấp thiết để đối phó với tình trạng nợ xấu tăng cao. Từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống Tổ chức tín dụng nói riêng và của Nền kinh tế nói chung. Luận văn: Hoạt động mua bán nợ xấu tại Công ty quản lý tài sản.

Bên cạnh đó, như đã phân tích, khi HĐMBN xấu phát triển sẽ thúc đẩy quá trình hình thành thị trường mua bán nợ xấu. Sự hình thành của thị trường mua bán nợ xấu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá trình ngăn chặn, đẩy lùi và xử lý nợ xấu từ hoạt động cho vay của các Tổ chức tín dụng. Nhà nước sẽ không cần phải can thiệp mạnh mẽ vào vấn đề xử lý nợ xấu tại hệ thống Tổ chức tín dụng mà để cho thị trường tự điều tiết theo những quy luật của kinh tế thị trường.

1.3.4. Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động mua bán nợ xấu tại VAMC

  • Các tiêu chuẩn đo lường số lượng các chủ thể tham gia mua bán nợ xấu

Đây là tập hợp dữ liệu tính toán có bao nhiêu cá nhân tham gia giao dịch trong một khung thời gian cụ thể. Sự tăng trưởng của hoạt động này sẽ phụ thuộc vào số lượng các tổ chức tham gia mua bán nợ xấu. Bộ yêu cầu này bao gồm:

  • Bao nhiêu Tổ chức tín dụng chuyển nợ xấu cho công ty mua bán nợ.

Có thể xem xét, đánh giá nhiều yếu tố khi xác định số lượng Tổ chức tín dụng bán nợ xấu cho doanh nghiệp mua bán nợ. Năm sau so với năm trước, so sánh số tuyệt đối Tổ chức tín dụng bán nợ cho doanh nghiệp mua bán nợ.

Tầm quan trọng của việc quản lý nợ xấu được hỗ trợ thêm bởi các tỷ lệ lớn hơn về số lượng và ngược lại.

  • Bao nhiêu KH được hỗ trợ xử lý nợ xấu

Khi một công ty tham gia vào HĐMBN, có thể xem xét các yếu tố sau để xác định số lượng KH được hỗ trợ quản lý nợ xấu:

Xem xét tỷ lệ giữa số KH được hỗ trợ xử lý nợ xấu và số KH có nợ xấu trên thị trường để xác định hiệu quả quản lý mua bán nợ xấu Luận văn: Hoạt động mua bán nợ xấu tại Công ty quản lý tài sản.

  • Nhóm tiêu chuẩn đo lường hiệu quả mua bán nợ xấu

Bộ tiêu chuẩn này được sử dụng để đánh giá rủi ro hoặc khả năng Thu hồi nợ gốc và lãi đối với các KN xấu mà các công ty mua bán nợ mua lại từ các tổ chức tài chính. Nói cách khác, Hoạt động kinh doanh mua bán nợ chưa mang lại hiệu quả kinh tế sau khi mua nợ xấu từ các tổ chức cho vay. Thay vào đó, hiệu quả kinh tế của việc mua nợ bị ảnh hưởng bởi rủi ro liên quan, khả năng thu hồi các chi phí phát sinh và lợi nhuận dự kiến từ việc bán KN xấu đã mua. Vì vậy, quản lý mua bán nợ xấu chỉ phát huy hiệu quả mục tiêu thúc đẩy Nền kinh tế khi nợ xấu được xử lý triệt để và luân chuyển được hàng hóa nợ xấu. Bộ yêu cầu này bao gồm:

Số nợ khó đòi do công ty mua bán nợ quản lý: Phản ánh thông tin công ty mua bán nợ đã thu hồi và xử lý trong một khung thời gian cụ thể thông qua các hoạt động thúc đẩy Thu hồi nợ, bán nợ, bán Tài sản bảo đảm,…

Tỷ lệ Thu hồi nợ: Dùng để đánh giá hiệu quả Thu hồi nợ của công ty mua bán nợ trong một thời gian nhất định. Tỷ lệ này càng cao càng tốt.

  • Giá trị Thu hồi nợ năm “n”
  • Tỷ lệ THN năm “n”  =  x 100%
  • Giá vốn mua nợ năm “n”

Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng của KN xấu

Chất lượng của các KN xấu có thể được đánh giá dựa trên nhiều yếu tố, nhưng luận án này tập trung vào tài sản thế chấp dùng để đảm bảo cho khoản cấp tín dụng. Do bất động sản có tính thanh khoản cao nên các KN được bảo đảm bằng bất động sản có khả năng thu hồi cao hơn nhiều so với các KN được bảo đảm bằng quyền sở hữu tài sản hoặc giấy tờ có giá.

  • GT mỗi loại Tài sản bảo đảm
  • Tỷ trọng mỗi loại TSĐB = x 100%
  • Tổng giá trị Tài sản bảo đảm

1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động mua bán nợ xấu của VAMC Luận văn: Hoạt động mua bán nợ xấu tại Công ty quản lý tài sản.

1.4.1. Môi trường chính trị – pháp luật

Môi trường chính trị – pháp lý, theo ý kiến của GS. Nguyễn Văn Tiến, có tác động đáng kể đến cách thức quản lý mua bán nợ xấu. Hiệu quả của hoạt động mua bán nợ xấu sẽ được nâng cao nhờ hành lang pháp lý đồng bộ với các chính sách rõ ràng, minh bạch và khuyến khích như chính sách thuế, các chính sách liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm như chính sách đất đai, định giá tài sản, quy định pháp luật về phá sản doanh nghiệp, quy định về xử lý nợ xấu (như thủ tục pháp lý Thu hồi nợ, bán nợ khó đòi) .Nếu những quy định này làm cho hoạt động mua bán nợ trở nên dễ dàng hơn thì sẽ giúp cho việc quản lý hoạt động này đạt được mục tiêu đã đề ra. Việc định giá KN xấu được mua bán được tiến hành bởi bên thứ 3 có kinh nghiệm và chức năng định giá Tài sản bảo đảm, định giá KN xấu một cách chính xác, phù hợp và sát thực với giá thị trường, đánh giá đúng tiềm năng và khả năng thu hồi của các KN này.

Bên cạnh đó, nguồn thông tin được cung cấp để đánh giá các KN xấu là yếu tố vô cùng quan trọng, giúp cho các đối tác trong thương vụ mua bán nợ xấu có thể xác định được giá trị thực, chất lượng KN và trên hết có thể nhờ đến sự đánh giá chuyên nghiệp của các công ty xếp hạng tín nhiệm để có được kết quả chính xác nhất. Hệ thống văn bản chính sách của pháp luật và chính phủ càng minh bạch rõ ràng thì càng giúp cho HĐMBN xấu diễn ra một cách thuận lợi, đúng hướng, tạo môi trường tài chính trong sạch và giúp cho hệ thống Tổ chức tín dụng giảm thiểu rủi ro, góp phần cứu cánh cho các KH doanh nghiệp gặp khó khăn trong tín dụng.

1.4.2. Môi trường kinh tế

NKT thị trường với các hệ thống giá trị và các quy luật kinh tế sẽ là động lực quan trọng nhất cho sự phát triển hay kế hoạch của thị trường xử lý nợ. Ví dụ, cấu trúc giá được xác định bởi cung và cầu cũng như thương mại tự nguyện của các bên. Nếu thị trường vốn được thành lập để tạo điều kiện thuận lợi cho việc tham gia và thực hiện các loại HĐ mua bán nợ xấu thì các thông tin cần được công bố rộng rãi cho các bên tham gia thị trường mua bán nợ xấu để tạo cơ hội đầu tư bình đẳng cho họ. Vì vậy việc kiên trì thúc đẩy và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho quản lý nợ xấu.

1.4.3. Nhân tố từ phía KH

Số lượng, quy mô và nguồn tài chính của các tổ chức mua bán nợ chuyên nghiệp; sự đa dạng của các kỹ thuật mua bán nợ xấu là những yếu tố bên ngoài có vai trò và tác động trực tiếp đến hoạt động mua bán nợ xấu.

Năng suất tổ chức chỉ có thể tăng khi có nhiều nhà đầu tư, doanh nghiệp có nhu cầu mua nợ xấu cao và ngược lại. Quản lý gắn với đẩy mạnh mua bán nợ xấu. Trên thực tế, thường không có nhiều đơn vị tham gia thị trường với tư cách là người mua bởi bản chất của hàng hóa khiến chúng trở thành nợ khó đòi của doanh nghiệp. Khả năng chứng khoán hóa các KN để bán lại trên thị trường tài chính là một khía cạnh tác động thuận lợi đến nhu cầu xử lý nợ xấu. Một yếu tố khác tác động thuận lợi đến nhu cầu mua nợ xấu là khả năng tổ chức nguồn lực tài chính cho HĐMBN xấu. Theo phân tích của GS. Nguyễn Văn Tiến trong giáo trình Ngân hàng thương mại, nếu thị trường tài chính mở rộng, việc chứng khoán hóa các KN đơn giản và sự dễ dàng huy động vốn của nhiều mô hình quỹ đầu tư sẽ ảnh hưởng thuận lợi đến sự tăng trưởng của Hoạt động kinh doanh chứng khoán.

1.5. Bài học kinh nghiệm từ các quốc gia trên thế giới Luận văn: Hoạt động mua bán nợ xấu tại Công ty quản lý tài sản.

Tham khảo mô hình từ các AMC trên thế giới cho thấy cần thiết áp dụng cho Việt Nam. Nhằm mang lại hoạt động thiết thực, đạt kết quả thì AMC cần phải được hoạt động một cách hết sức chủ động, linh hoạt và bảo đảm các điều kiện như sau:

Thứ nhất, xác định rõ mục tiêu hoạt động

Nên đặt ra mục tiêu rõ ràng và hướng tới sự tập trung nguồn lực vào nhiệm vụ chính, đó là xử lý nợ xấu. Cần được cung cấp đủ năng lực vốn, đồng thời có vị thế trên thị trường.

Thứ hai, có hành lang pháp lý kiên định trong hoạt động

Để thành công, AMC cần có tính chủ động và thực quyền trong một số trường hợp. Kể cả việc miễn trừ trách nhiệm nếu thực sự hành động một cách khách quan, theo đúng quy định và minh bạch trong việc thu hồi, áp dụng chế tài đối với khách hàng khi không hợp tác. Hệ thống pháp lý linh hoạt và đồng bộ, các thẩm quyền theo cơ chế đặc biệt, AMC sẽ góp phần mang lại hiệu quả trong tổng thể hoạt động của ngành.

Song song đó, phải có hình thức giám sát chặt chẽ hoạt động tại AMC như hệ thống thanh tra, giám sát, kiểm soát nội bộ, kiểm toán độc lập. Đảm bảo tính công khai, có hình thức ban hành thông tin hoạt một cách phù hợp.

Hoàn thiện các quy định, hướng dẫn định giá khoản nợ theo Giá trị thị trường.

Thứ ba, cơ chế mua bán và thanh lý nợ xấu.

Việc xác định mua nợ của AMC rõ ràng nên theo cơ chế định giá theo Giá trị thị trường, việc chuyển giao theo giá trị sổ sách cần hạn chế tối đa. Ngoài ra có cơ chế linh hoạt trong việc tính toán và chia sẻ lợi nhuận cùng nhau để thúc đẩy sự hợp tác cũng như phối hợp của Tổ chức tín dụng.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Nợ khó đòi, nợ xấu luôn mang trong mình những rủi ro tiềm ẩn cho nền kinh tế, thị trường tài chính toàn cầu. Sự ra đời của VAMC đã là một bước tiến lớn trong hoạt động điều tiết, kiểm soát tỉ lệ nợ xấu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Từ việc khảo cứu những quan điểm, khái niệm nợ xấu, các hoạt động xử lý nợ xấu, các chỉ tiêu đo lường hiệu quả trong hoạt động xử lý nợ xấu và các nhân tố tác động sẽ giúp chúng ta có cái nhìn tổng quát về những nội dung đặt ra khi nghiên cứu đề tài này. Từ những cơ sở trên, tạo tiền đề để tác giả tiếp tục nghiên cứu những nội dung tiếp theo. Luận văn: Hoạt động mua bán nợ xấu tại Công ty quản lý tài sản.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Thực trạng hoạt động mua bán nợ xấu của VAMC

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Hoạt động mua bán nợ xấu tại Công ty quản lý tài sản […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993