Luận văn: Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại BIDV

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại BIDV hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Củ Chi dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Tên đề tài: Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Củ Chi

Nội dung:

Luận văn này được thực hiện nhằm nghiên cứu tình hình hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng BIDV Chi nhánh Củ Chi từ năm 2018 đến năm 2022. Qua đó, đánh giá được thực trạng hoạt động thanh toán của ngân hàng, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân cốt lõi, từ đó đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm khắc phục hạn chế, thúc đẩy hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại chi nhánh, gia tăng nguồn thu phí dịch vụ và tăng tính cạnh tranh với các ngân hàng khác trên địa bàn trong bối cảnh công nghệ số ngày càng phát triển mạnh mẽ như hiện nay.

Với phương pháp định tính là chủ yếu, nghiên cứu tập trung phân tích, đánh giá số liệu thống kê được từ hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại BIDV Chi nhánh Củ Chi qua các năm. Kết quả nghiên cứu cho thấy hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt của BIDV Chi nhánh Củ Chi đã gặt hái được một vài thành tựu đáng khích lệ nhưng vẫn tồn tại một vài điểm hạn chế cần nhìn nhận có thể kể đến như: chưa đầu tư mở rộng mạng lưới thanh toán, các chương trình chăm sóc và khuyến mại thiếu sự quan tâm và thiết kế phù hợp, thiếu nhân sự cho công tác tư vấn, tiếp thị sản phẩm chuyên sâu, những bất cập trong quy trình xử lý, giải quyết khiếu nại cho người dùng,… Trên cơ sở đó, nghiên cứu cũng gợi mở và đưa ra các nhóm giải pháp như về nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán, về nhân sự, về quy trình và giải pháp về công tác truyền thông, quảng cáo để giúp ngân hàng khắc phục hạn chế, thúc đẩy hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt ở những năm kế tiếp. Kết quả bài nghiên cứu này còn mang ý nghĩa thực tiễn đối với BIDV Củ Chi trong việc cải thiện hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, phát triển nguồn thu phí dịch vụ và đem lại nguồn lợi nhuận tối đa cho chi nhánh.

Từ khóa: ngân hàng BIDV, thanh toán không dùng tiền mặt, Củ Chi

ABSTRACT Luận văn: Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại BIDV.

Title: Non-cash payment activities at Joint Stock Commercial Bank for Investment and Development of Vietnam – Cu Chi Branch

Abstract:

This thesis was conducted to study the situation of non-cash payment activities of BIDV, Cu Chi branch from 2018 to 2022. Thereby, to evaluate the current status of payment activities of the bank. pointed out the limitations and core causes, thereby offering practical solutions to overcome the limitations, promote non-cash payment activities at the branch, increase service fee revenue and increase the compete with other banks in the area in the context of increasingly powerful digital technology today.

With the main qualitative method, the research focuses on analyzing and evaluating the statistics obtained from non-cash payment activities at BIDV Cu Chi Branch over the years. The research results show that the non-cash payment activities of BIDV Cu Chi Branch have achieved some encouraging achievements, but there are still some limitations that need to be recognized, such as: investment in expanding the payment network, care and promotion programs lack attention and appropriate design, lack of personnel for specialized consulting and product marketing, inadequacies in the processing process. On that basis, the study also suggests and proposes groups of solutions such as improving the quality of payment services, human resources, processes and solutions on communication, advertising to help the bank overcome limitations and promote non-cash payment activities in the following years. The results of this study also have practical significance for BIDV Cu Chi in improving non-cash payment activities, developing service fee revenue and bringing maximum profit to the branch.

Keywords: BIDV bank, non-cash payment, Cu Chi

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) là xu thế tất yếu của các nước trong khu vực và trên thế giới. Rahman và ctg (2020) cũng cho rằng xã hội không dùng tiền mặt và sự đổi mới công nghệ đang dần trở nên phổ biến rộng khắp thế giới. Thật vậy, ở nước ta hiện nay, việc các ngân hàng thương mại đầu tư mạnh mẽ, tập trung phát triển đa dạng các sản phẩm, dịch vụ trên nền tảng số hóa, thúc đẩy các sản phẩm thanh toán trên mạng, qua điện thoại di động như ví điện tử, các loại thẻ ngân hàng và điện thoại thông minh, thanh toán bằng mã QR Code… đã cho thấy xu hướng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, hạn chế việc sử dụng phương tiện thanh toán truyền thống trong tiêu dùng, mua sắm của người dân đang ngày một đẩy mạnh.

Thêm vào đó, thói quen của người dùng cũng thay đổi đáng kể sau đại dịch Covid-19. Nhờ sự hỗ trợ của các dịch vụ TTKDTM đã giúp người dân yên tâm, hạn chế tiếp xúc, an tâm phòng dịch mà vẫn đáp ứng được nhu cầu mua sắm, tiêu dùng của mình. Chính vì thế, tốc độ và tỷ lệ người dùng TTKDTM tăng vọt, hàng loạt những bài báo, cuộc nghiên cứu về các thành quả đạt được của dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt ở nước ta được khai thác nhiều hơn chứng tỏ sự quan tâm của xã hội đối với hoạt động thanh toán này. Luận văn: Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại BIDV.

Đồng thời, những năm trở lại đây Huyện Củ Chi đang được sự quan tâm và định hướng phát triển bởi chính phủ từng bước hình thành và phát triển trung tâm đô thị mới Tây Bắc của TP.HCM. Cùng với lợi thế là khu vực tập trung nhiều khu công nghiệp lớn như Tây Bắc Củ Chi, Tân Phú Trung, Đông Nam Củ Chi… thu hút đông đảo nguồn lao động từ nhiều nơi cho thấy nhu cầu và tiềm năng phát triển rộng rãi nhiều phương thức thanh toán hiện đại của ngân hàng.

Là một trong những những ngân hàng dẫn đầu về quy mô hoạt động trên địa bàn nhưng doanh số thu phí dịch vụ tại BIDV Củ Chi còn chiếm tỷ trọng thấp (dưới 10%) trong tổng nguồn thu hoạt động. Với định hướng chung của toàn hệ thống ngân hàng BIDV đối với việc thực hiện mạnh mẽ, hiệu quả chủ trương và mục tiêu của quốc gia trong đẩy mạnh TTKDTM, Chi nhánh BIDV Củ Chi đã liên tục thực hiện cải thiện các phương thức thanh toán truyền thống và tích cực triển khai, áp dụng các phương thức thanh toán hiện đại nhằm cung cấp những trải nghiệm tiện ích, an toàn và hiệu quả cho cả khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp. Song, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại BIDV Chi nhánh Củ Chi vẫn còn tồn đọng nhiều hạn chế. Chính vì thế, tôi quyết định chọn đề tài “Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Củ Chi” làm đề tài cho luận văn cao học của mình với mong muốn đóng góp những giải pháp cụ thể và thiết thực để chi nhánh có thể thúc đẩy hoạt động TTKDTM phát triển ổn định, an toàn và hiệu quả hơn trong những năm tới.

2. Mục tiêu của đề tài

2.1 Mục tiêu tổng quát

Đề tài được thực hiện nhằm phân tích, đánh giá thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Củ Chi. Từ đó, đưa ra những giải pháp để khắc phục những hạn chế, thúc đẩy hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng trong những năm tới, phù hợp với định hướng hoạt động của toàn hệ thống BIDV.

2.2 Mục tiêu cụ thể

Nghiên cứu thực trạng tình hình TTKDTM tại Ngân hàng BIDV Chi nhánh Củ Chi.

Đánh giá những tồn tại, hạn chế trong hoạt động TTKDTM tại Ngân hàng BIDV Chi nhánh Củ Chi và nguyên nhân của những hạn chế.

Đề xuất những giải pháp phù hợp và một số kiến nghị nhằm thúc đẩy hoạt động TTKDTM tại Ngân hàng BIDV Chi nhánh Củ Chi.

3. Câu hỏi nghiên cứu

Tình hình thanh toán không dùng tiền mặt hiện nay tại Ngân hàng BIDV Chi nhánh Củ Chi như thế nào?

Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của chúng trong hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại BIDV Chi nhánh Củ Chi là gì?

Ngân hàng BIDV Chi nhánh Củ Chi nên làm gì để thúc đẩy hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt?

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn: Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại BIDV.

Đối tượng nghiên cứu: hoạt động TTKDTM gồm các phương tiện thanh toán hiện đại được ứng dụng công nghệ cao như các loại thẻ thanh toán (thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng…) và các dịch vụ ngân hàng điện tử (Mobile Banking, SmartBanking, IBank, Internet Banking…) tại Chi nhánh ngân hàng BIDV Củ Chi.

Phạm vi không gian: Ngân hàng BIDV – Chi nhánh Củ Chi.

Phạm vi thời gian: nghiên cứu tình hình TTKDTM tại BIDV Củ Chi qua bộ dữ liệu thu thập từ năm 2018 đến năm 2022.

5. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính. Trong đó, nghiên cứu tổng hợp, khái quát và hệ thống hóa các thông tin thu thập được nhằm làm rõ cơ sở lý luận. Thông qua thống kê kết quả đạt được dựa trên tính toán số liệu, mức độ tăng trưởng… xác định mức độ hoạt động TTKDTM tại ngân hàng. Trên cở sở thông tin và số liệu thu thập được, nghiên cứu phân tích thực trạng hoạt động TTKDTM, đánh giá các tồn tại, hạn chế và nguyên nhân. Từ đó, đề xuất và kiến nghị các giải pháp phù hợp gắn với bối cảnh và tình hình của chi nhánh.

Số liệu thứ cấp: bao gồm tất cả các thông tin thu thập được về hoạt động TTKDTM của BIDV Củ Chi trong thời gian nghiên cứu kết hợp với nguồn dữ liệu chính thức từ những báo cáo về kết quả kinh doanh, hoạt động thanh toán, báo cáo tình hình sử dụng sản phẩm, dịch vụ… tại BIDV Củ Chi qua các năm 2018, 2019, 2020, 2021, 2022. Từ đó đánh giá thực trạng hoạt động và mức độ sử dụng các sản phẩm TTKDTM của khách hàng tại Chi nhánh.

Bên cạnh đó, nghiên cứu còn tổng hợp, phân tích, cập nhật các thông tin tập hợp được từ các báo cáo, nghiên cứu được công bố khác, những bài báo, trang web có liên quan, trên nền tảng phân tích tình trạng thực tế tại Ngân hàng để đánh giá những vấn đề tồn tại và nêu ra các giải pháp thiết thực, mang tính cụ thể góp phần nâng cao hoạt động TTKDTM tại Chi nhánh.

6. Nội dung nghiên cứu

Nội dung luận văn được thực hiện thành các phần nhằm giải đáp những câu hỏi bài nghiên cứu đặt ra. Trong đó, phần thứ nhất, diễn giải các lý luận cơ bản hoạt động TTKDTM (định nghĩa, đặc điểm, các phương thức thanh toán và ý nghĩa của TTKDTM). Phần thứ hai, giới thiệu khái quát về mô hình hoạt động của ngân hàng và sơ lược về kết quả kinh doanh trong những năm qua; phân tích dữ liệu và nhận xét tình trạng TTKDTM tại BIDV Chi nhánh Củ Chi. Dựa trên nền tảng lý thuyết và dữ liệu phân tích, nhận xét thực trạng và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động TTKDTM tại ngân hàng ở phần thứ ba.

7. Đóng góp của đề tài

Hoạt động TTKDTM đã được nghiên cứu nhiều khía cạnh bởi các tác giả trong và ngoài nước. Tuy nhiên với bối cảnh dịch Covid-19 vừa đi qua đã tác động không ít tới tình hình và sự thay đổi trong chiều hướng phát triển của dịch vụ. Vì thế, cần nhìn nhận đúng xu hướng chuyển đổi trong thói quen tiêu dùng và nhu cầu của họ trong bối cảnh mới để có những giải pháp hợp lý, sát thực tế. Đồng thời, vấn đề TTKDTM được nhiều người nghiên cứu tuy nhiên đối với các khu vực huyện ven thành phố như Củ Chi thì chưa có những nghiên cứu sâu sắc và thực tế với số liệu mang tính cập nhật, nên đây vẫn là đề tài mang tính kế thừa và phát huy, bổ sung cho các nghiên cứu trước, làm công cụ để các ngân hàng tham khảo, sử dụng trong điều hành mục tiêu, chính sách của mình đối với đẩy mạnh TTKDTM trong thời gian tới.

8. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu

Việc đẩy mạnh hoạt động TTKDTM từ lâu đã thu hút sự quan tâm và nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu ở nước ta và cả nước ngoài như: Manickam và ctg (2019), Kee và ctg (2021), Rahman và ctg (2020), Nguyễn Thị Kim Hồng (2019), Lê Đình Hạc (2020), Nguyễn Thanh Thảo (2020),… Đa số các nghiên cứu tập trung đánh giá tình hình hoạt động TTKDTM của các quốc gia khác nhau. Cụ thể: Luận văn: Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại BIDV.

Manickam và ctg (2019) đã phát hiện ra rằng giao dịch không tiền mặt có ưu điểm chính là các giao dịch kỹ thuật số đảm bảo ghi lại tất cả mọi giao dịch kinh tế. Phương tiện số hóa gần như có thể kiểm soát các thị trường tiền đen vốn thường gây tổn hại cho nền kinh tế quốc dân và giúp tăng thu nhập từ thuế của chính phủ. Những lợi thế đối với công dân trong nền kinh tế không tiền mặt là hạn chế được rủi ro mang theo tiền giấy và tránh được việc mất tiền. Giao dịch không dùng tiền mặt thuận tiện cho việc đặt hàng hóa, thanh toán và mọi giao dịch tài chính được dễ dàng tiến hành và quản lý từ nhà, văn phòng hay bất cứ đâu bằng điện thoại thông minh.

Theo Kee và ctg (2021), các tổ chức tài chính cần có thêm nhiều biện pháp hỗ trợ khách hàng – những người gặp khó khăn trong tiếp xúc và làm quen với các phương tiện thanh toán mới vì nó sẽ giúp nâng cao sự hài lòng của khách hàng và mang lại hình ảnh tốt đẹp cho tổ chức. Mọi người vẫn nghĩ rằng hệ thống thanh toán online tiềm ẩn nhiều rủi ro tài chính có thể phát sinh trong quá trình giao dịch.

Trong khi đó, Mukhopadhyay (2016) nghiên cứu được rằng nỗ lực phối hợp để làm cho các cá nhân nhận thức được những lợi ích của thanh toán không dùng tiền mặt là điểm khởi đầu. Việc lực lượng lao động làm việc trong khu vực có tổ chức sẽ giúp có dòng tiền ổn định vào tài khoản của họ và một ưu đãi về giảm thuế cho các cá nhân thực hiện thanh toán/chuyển tiền trong tài khoản nên được thúc đẩy mạnh mẽ.

Chen và ctg (2019) chỉ ra rằng thanh toán không dùng tiền mặt, chẳng hạn như thẻ thanh toán và thanh toán kỹ thuật số, là những cách hiệu quả hơn để hoàn tất giao dịch khi so sánh với thanh toán bằng tiền mặt. Kết quả số liệu cho thấy mức độ thâm nhập ngân hàng trực tuyến và thâm nhập thẻ ghi nợ là những yếu tố quan trọng thúc đẩy TTKDTM, chính phủ nên hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng tài chính và các công ty có thể cố gắng cải thiện công nghệ tài chính.

Theo Nguyễn Thanh Thảo (2020), hoạt động TTKDTM tại nước ta đã gặt hái được những kết quả tích cực trong thời gian qua. Tuy nhiên, một số điểm còn tồn tại như thói quen chi tiêu bằng tiền mặt, chưa hoàn thiện hành lang pháp lý trong thanh toán điện tử, trang thiết bị kỹ thuật và điều kiện về hạ tầng cơ sở phục vụ cho hoạt động TTKDTM chưa thật sự hiệu quả.

Nguyễn Thị Kim Hồng (2019) cho rằng giải pháp trọng tâm của ngân hàng là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng cáo và các hoạt động marketing đến người dân và các đơn vị trên địa bàn, nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như tăng cường công tác chăm sóc khách hàng là mấu chốt để đẩy mạnh hoạt động TTKDTM. Tuy nhiên, với bối cảnh hiện tại cần đặt ra những giải pháp mới thích hợp và thách thức hơn để đẩy mạnh dịch vụ này.

Trong khi đó, Nguyễn Thị Thùy Hương (2021) chỉ ra rằng bên cạnh những cải thiện về các chính sách, quy định và hạ tầng TTKDTM, ngân hàng đang dần có những ứng dụng công nghệ mới như: eKYC, mã phản hồi nhanh, xác thực vân tay, thanh toán phi tiếp xúc, xây dựng hệ sinh thái ngày càng đa dạng: kết nối thanh toán giữa ngân hàng di động (Mobile Banking) với các dịch vụ viễn thông, y tế, dịch vụ công, giao thông, điện lực… Nghiên cứu chỉ ra cụ thể và thuyết phục những nguyên nhân và hạn chế của nước ta đối với phát triển hoạt động TTKDTM, trong đó, tội phạm, gian lận trong giao dịch điện tử, thiết bị kỹ thuật kém hiệu quả, thông tin truyền thông chưa rộng rãi, vấn đề về chi phí phát hành thẻ,… được đề cập như những nguyên nhân chính.

Bằng phương pháp định tính, Phan Thị Hoàng Yến và ctg (2022) đã chỉ ra một số nguyên nhân tác động đến sự phát triển bền vững của TTKDTM trong thời đại công nghệ kỹ thuật số; thực trạng hoạt động TTKDTM hiện nay, từ đó xác định cụ thể các nhân tố ảnh hưởng: hành lang pháp lý, tâm lý của khách hàng, mức độ  bảo mật thông tin và giao dịch, hạ tầng kỹ thuật và sự liên kết giữa các nhà cung ứng dịch vụ thanh toán và hệ thống thanh toán.

Qua khảo lược các nghiên cứu trước cho thấy vẫn còn một số khoảng trống nghiên cứu trong chủ đề về TTKDTM. Trước tiên, trong bối cảnh dịch Covid-19 vừa đi qua đã tác động không ít tới xu hướng phát triển của dịch vụ, TTKDTM cũng là một giải pháp tài chính giúp đẩy lùi và hạn chế dịch bệnh lây lan. Tuy nhiên, các nghiên cứu trong TTKDTM chưa đề cập nhiều và đánh giá sự phát triển của dịch vụ gắn với bối cảnh dịch Covid-19. Cùng với đó, BIDV Chi nhánh Củ Chi là ngân hàng có địa bàn hoạt động ở vùng ven thành phố và mạng lưới hoạt động phân bổ tại các xã xa trung tâm với tỷ lệ phát triển TTKDTM còn tương đối thấp. Với định hướng chiến lược và mục tiêu đẩy mạnh nguồn thu từ dịch vụ thì TTKDTM đang là vấn đề cần nhiều giải pháp khả thi để áp dụng và thúc đẩy. Bên cạnh đó, tác giả cũng chưa tìm thấy các bài viết hay nghiên cứu nào khác về hoạt động TTKDTM tại huyện Củ Chi nói chung và BIDV Củ Chi nói riêng nên đây là khía cạnh gợi mở và bổ sung thêm cho các nghiên cứu hiện tại. Luận văn: Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại BIDV.

9. Bố cục dự kiến của luận văn

Bố cục bài nghiên cứu với các nội dung nhằm giải quyết vấn đề nghiên cứu đặt ra bao gồm 3 chương cụ thể như sau:

Chương 1: Những lý luận cơ bản trong hoạt động TTKDTM tại các ngân hàng thương mại. Trong đó, nêu ra định nghĩa của hoạt động TTKDTM, đặc điểm, vai trò, rủi ro, các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt cũng như các yếu tố đánh giá hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt.

Chương 2: Thực trạng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng BIDV Chi nhánh Củ Chi. Trong chương này sẽ tập trung đánh giá tiềm năng, thực trạng và nêu ra những thành quả đạt được cũng như những hạn chế cốt lõi của ngân hàng.

Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh TTKDTM tại BIDV Chi nhánh Củ Chi. Chương này sẽ trình bày những định hướng hoạt động của ngân hàng trong dịch vụ TTKDTM và những giải pháp cụ thể nhằm giải quyết những tồn tại và phát huy lợi thế của chi nhánh trong thời gian tới.

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Tổng quan về dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại các ngân hàng thương mại

1.1.1. Khái niệm

Lê Hữu Hưng (2021) cho rằng thanh toán không dùng tiền mặt là hình thức thanh toán mà người tiêu dùng thông qua các phương tiện không phải tiền mặt như chứng chỉ tiền gửi, chứng khoán, tài sản hữu hình (không phải vàng, bạc) hoặc sử dụng công cụ để thanh toán, nhưng phải thông qua các tổ chức tín dụng thay vì người mua và người bán trực tiếp trao đổi với nhau.

Theo Mohd & Ram (2020) cho rằng không dùng tiền mặt tức là xã hội ít tiền mặt hơn hoặc nền kinh tế giao dịch không dùng tiền mặt, giảm sử dụng tiền mặt vật chất để chi tiêu, thanh toán. Thay vì sử dụng tiền mặt như truyền thống thì thanh toán kỹ thuật số được tiến hành để xử lý các giao dịch.

Tóm lại, TTKDTM có thể được hiểu là cách thức thanh toán không trực tiếp sử dụng tiền mặt mà thực hiện bằng cách trích chuyển tiền trên các tài khoản thanh toán từ cá nhân, tổ chức này sang tài khoản của cá nhân, tổ chức khác dựa trên những chứng từ hợp pháp theo quy định (séc, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi…) và phải thông qua hệ thống các ngân hàng.

1.1.2. Đặc điểm của hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt Luận văn: Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại BIDV.

Theo Lê Đình Hạc (2020) cho rằng bản chất của hình thức TTKDTM chính là hạn chế lượng tiền mặt lưu thông trong nền kinh tế, giảm thiểu chi phí xã hội. Hoạt động này sẽ trực tiếp làm giảm số lượng tiền mặt đang được lưu hành trên thị trường hàng hóa bằng cách khuyến khích người tiêu dùng TTKDTM. Họ có thể sử dụng các dịch vụ thu chi, thẻ ngân hàng, thanh toán trực tuyến mà không làm thay đổi giá trị tiền mặt tương đương. Có sự xuất hiện của tiền mặt hay không chính là sự khác biệt lớn nhất giữa hai hình thức thanh toán bằng tiền mặt và không dùng tiền mặt.

  • Theo Nguyễn Đăng Dờn (2014), TTKDTM có ba đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, xét về không gian và thời gian, sự vận động của tiền tệ và vật tư hàng hóa có thể tách rời hay độc lập với nhau. Nghĩa là, việc chuyển giao hàng hóa có thể được thực hiện tại một thời điểm của địa điểm này còn việc thanh toán lại có thể được tiến hành tại một nơi khác.

Thứ hai, trong thanh toán không tiền mặt, tiền tệ chỉ xuất hiện dưới dạng là tiền tệ kế toán (tiền ghi sổ) và được ghi chép trên các chứng từ, sổ sách kế toán (tiền chuyển khoản). Vì vậy, TTKDTM yêu cầu các cá nhân, tổ chức tham gia thanh toán phải có tài khoản mở tại các ngân hàng.

Thứ ba, vai trò của các ngân hàng là rất quan trọng và bắt buộc trong các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt. TTKDTM được tiến hành thông qua sự có mặt của ít nhất một ngân hàng và chỉ có ngân hàng mới được phép trích chuyển tiền trên tài khoản theo yêu cầu của các bên tham gia giao dịch. Do vậy, ngân hàng giữ nhiệm vụ quyết định trong thanh toán chuyển khoản, và trở thành trung tâm thanh toán cho nền kinh tế.

1.1.3. Vai trò của hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt

TTKDTM sẽ mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người tiêu dùng, người bán hàng, tổ chức tín dụng (chủ yếu là ngân hàng) và tổng thể nền kinh tế.

  • Đối với khách hàng

Rahman và ctg (2020) chỉ ra rằng việc áp dụng TTKDTM có rất nhiều lợi thế cho người tiêu dùng. Thanh toán không dùng tiền mặt mang đến sự thuận tiện và nhanh chóng. Không giống như các giao dịch bằng tiền mặt truyền thống, thanh toán không dùng tiền mặt không khuyến khích trộm cướp và tội phạm liên quan đến tiền mặt khác do mọi người giữ ít tiền mặt hơn khi mua sắm. Đồng thời, TTKDTM còn là phương thức hỗ trợ người dân ở các vùng nông thôn, khu vực ở xa tiếp cận các dịch vụ trên internet như y tế, giáo dục, tài chính, việc làm và an sinh xã hội (Bùi Thị Nhân và ctg, 2021).

Trong khi đó, Ramya và ctg (2017) cũng thấy rằng đây cũng là một lựa chọn chi tiêu an toàn và dễ dàng hơn khi đi du lịch. Mọi người sẽ không còn nhất thiết mang theo tiền mặt, thẻ nhựa, hoặc thậm chí xếp hàng để rút tiền ATM mà còn được tự do giao dịch bất cứ khi nào và nơi nào mình muốn. Luận văn: Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại BIDV.

Ngoài ra, bằng việc thanh toán qua các phương tiện hỗ trợ như thẻ ngân hàng, ứng dụng ngân hàng điện tử còn đem lại sự chính xác tuyệt đối trong số tiền giao dịch cho khách, nhất là khi phải chi trả các khoản tiền lớn, số lẻ. Bên cạnh đó, người tiêu dùng còn tiết kiệm được chi phí khi TTKDTM do hưởng được nhiều khuyến mãi, giảm giá từ nhà cung cấp cũng như các chiến dịch ưu đãi của ngân hàng nhằm khuyến khích khách hàng thanh toán qua thẻ.

  • Đối với ngân hàng

TTKDTM là một công cụ thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng giúp cho việc thanh toán trở nên thuận lợi và việc lưu thông tiền tệ được nhanh chóng, dễ dàng kiểm soát hơn.

TTKDTM giúp gia tăng nguồn vốn cho các NHTM. Số dư trên các tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng là nguồn vốn huy động giá rẻ mà ngân hàng hướng tới. Nếu hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng mở rộng và có hiệu quả thì ngân hàng có thể gia tăng nguồn vốn huy động từ tiền gửi thanh toán của khách hàng, từ đó gia tăng lợi nhuận khi cho vay bằng nguồn vốn này. Bên cạnh đó, thông qua TTKDTM, ngân hàng sẽ nắm bắt nhanh chóng và chính xác tình hình thiếu vốn của các bên tham gia, từ đó thực hiện cho vay kịp thời, đúng mục đích và đảm bảo đúng quy định ngân hàng.

Theo Manickam và ctg (2019) cho rằng TTKDTM giúp chi phí giao dịch, thanh toán và tiêu thụ thời gian sẽ giảm. Đồng thời, hoạt động này cũng làm hạn chế chi phí in tiền giấy và vận chuyển. Thật vậy, khi lượng tiền mặt lưu thông trong xã hội ít đi sẽ giúp tiết kiệm được một khoản phí rất lớn cho việc in ấn, kiểm đếm, hủy bỏ tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông, nhất là các chi phí về bảo quản và chuyên chở tiền mặt.

  • Đối với tổng thể nền kinh tế

Theo Mohd & Ram (2020) cho rằng hệ thống không tiền mặt rất hữu ích trong việc mang lại sự minh bạch trong hệ thống thanh toán. Đồng thời, TTKDTM cũng hỗ trợ trong việc huy động các nguồn vốn góp phần vào sự tăng trưởng của nền kinh tế, ngăn chặn rửa tiền và tham nhũng. Ngày nay, mọi quốc gia đều muốn được kỹ thuật số hóa hoàn toàn để nâng cao vị thế xã hội theo cách tốt đẹp hơn và hệ thống không dùng tiền mặt là một khía cạnh quan trọng để tiến tới số hóa.

TTKDTM ngày càng phát triển sẽ góp phần không nhỏ trong nâng cao khả năng tiếp cận tài chính và thúc đẩy tài chính toàn diện. Bên cạnh đó, việc hạn chế dùng tiền mặt giúp hỗ trợ quản lý thuế có hiệu quả, hạn chế tội phạm, phòng chống tham nhũng và các vấn đề gian lận lợi ích trong xã hội. Việc được trang bị thêm các kênh giao dịch tiện ích giúp cho các nguồn vốn trong xã hội được luân chuyển một cách an toàn, hiệu quả, rút ngắn thời gian, hạn chế chi phí (Phan Thị Hoàng Yến và ctg, 2022).

Ngoài ra, TTKDTM còn giúp tăng cường hiệu lực giám sát, quản lý của ngân hàng, các cơ quan quản lý nhà nước và giảm lạm phát do giảm số lượng tiền mặt lưu thông. Như vậy, TTKDTM mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho xã hội, mang lại sự minh bạch trong hệ thống thanh toán, cắt giảm chi phí lưu thông, ngăn ngừa tội phạm và tạo cơ hội cho nền kinh tế phát triển và hoạt động có hiệu quả.

1.1.4. Rủi ro của thanh toán không dùng tiền mặt Luận văn: Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại BIDV.

Đặng Thị Thanh Huyền (2012) cho rằng rủi ro trong thanh toán không dùng tiền mặt có nhiều dạng khác nhau bao gồm rủi ro pháp lý, rủi ro về tính an toàn bảo mật, rủi ro tác nghiệp, rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng.

Rủi ro trong TTKDTM là những vấn đề mang tính tiêu cực, dẫn đến kết quả không tốt có thể xuất hiện trong quá trình sử dụng các phương thức thanh toán này.

  • Một số rủi ro có thể kể đến là:

Về tín dụng: đây là rủi ro phát sinh trong quá trình trao đổi giữa người mua với người bán, khi người bán tiến hành chuyển giao tài sản nhưng không nhận được tiền thanh toán và người thanh toán không nhận được tài sản đã yêu cầu.

Về thanh khoản: đây là một loại rủi ro trong TTKDTM xảy ra khi một trong các bên tham gia giao dịch không hoàn thành thanh toán đúng hạn do sự thiếu hụt nguồn vốn và chi phí đã đề ra.

Về hệ thống: đây là rủi ro xảy ra trong trường hợp một bên không thể hoàn thành khả năng thanh toán cho ngân hàng, dẫn đến trở ngại cho hệ thống của các bên tham gia.

Về hoạt động: đây là rủi ro xảy ra khi xuất hiện sự chậm trễ trong quá trình nắm bắt thông tin, quy trình nội bộ do có sự yếu kém trong vấn đề nhân lực hoặc có sự tác động từ bên ngoài gây ra.

Về tính bảo mật: đây là rủi ro xảy ra khi việc thông tin, dữ liệu của người dùng bị lộ. Đây là một rủi ro cần được chú ý vì hiện tại dù bảo mật từ các dịch vụ thanh toán không tiền mặt là khá cao, thế nhưng, thông tin và dữ liệu bị đánh cắp vẫn đang tiếp diễn và ngày càng báo động.

1.1.5. Các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt tại các ngân hàng

1.1.5.1. Thanh toán bằng Séc (Cheque – check) 

Theo khoản 1 Điều 3 Thông tư 22/2015/TT-NHNN thì séc là giấy tờ có giá do người ký phát lập, ra lệnh cho người bị ký phát trích một số tiền nhất định từ tài khoản thanh toán của mình để thanh toán cho người thụ hưởng.

Theo Nguyễn Đăng Dờn (2014) cho rằng séc là một chi phiếu, lập trên mẫu in sẵn do chủ tài khoản phát hành giao trực tiếp cho người bán để thanh toán tiền vật tư, hàng hóa, chi phí, dịch vụ,…

Như vậy, séc có thể được hiểu là một lệnh thanh toán được thể hiện dưới dạng chứng từ của chủ tài khoản, dùng để ra lệnh cho ngân hàng trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình để chi trả cho người thụ hưởng có tên trong séc hoặc hoặc trả cho người cầm séc. Luận văn: Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại BIDV.

Các đối tượng có tham gia sử dụng, thanh toán séc thường gồm: người ký phát/ bị ký phát, người chuyển nhượng/ được chuyển nhượng, người bảo lãnh/ được bảo lãnh, người thụ hưởng, người đại diện hợp pháp của những đối tượng trên và những người có liên quan khác.

  • Dựa trên hình thức thanh toán, có 3 loại séc phổ biến như sau:

Séc tiền mặt: Đây là loại séc mà người thụ hưởng được quyền rút tiền mặt tại đơn vị thanh toán, hoặc được thanh toán bằng chuyển khoản nếu trên tấm séc không ghi câu “Trả vào tài khoản”.

Séc chuyển khoản: Đây là loại séc chỉ được dùng để thanh toán theo lối chuyển khoản bằng cách ghi có vào các tài khoản liên quan. Loại séc này, người ký phát cần ghi rõ câu: “Trả vào tài khoản”. Người mua, hưởng séc chỉ được thanh toán tiền bằng chuyển khoản, mà không nhận tiền mặt được.

Séc bảo chi: Đây là một loại séc được ngân hàng của người phát hành bảo đảm rằng tài khoản của họ có đủ tiền để được trích ra khi thanh toán. Trong trường hợp này, ngân hàng thường ghi hoặc đóng dấu bảo chi lên tờ séc.

1.1.5.2. Thanh toán bằng ủy nhiệm chi – hoặc lệnh chi

Theo khoản 3, điều 3 thông tư số 46/2014/TT-NHNN thì dịch vụ thanh toán lệnh chi, ủy nhiệm chi là việc ngân hàng thực hiện yêu cầu của bên trả tiền trích một số tiền nhất định trên tài khoản thanh toán của bên trả tiền để trả hoặc chuyển tiền cho bên thụ hưởng. Bên thụ hưởng có thể là bên trả tiền.

Ủy nhiệm chi được xem là một hình thức thanh toán khá đơn giản và thuận tiện, dùng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ hoặc chuyển khoản một cách nhanh chóng trong cùng hệ thống hay giữa các ngân hàng khác hệ thống với nhau trên cả nước.

1.1.5.3. Thanh toán bằng ủy nhiệm thu

Theo khoản 3, điều 4 thông tư số 46/2014/TT-NHNN thì dịch vụ thanh toán nhờ thu, ủy nhiệm thu là việc ngân hàng thực hiện theo đề nghị của bên thụ hưởng thu hộ một số tiền nhất định trên tài khoản thanh toán của bên trả tiền để chuyển cho bên thụ hưởng trên cơ sở thỏa thuận bằng văn bản về việc ủy nhiệm thu giữa bên trả tiền và bên thụ hưởng.

Ủy nhiệm thu được sử dụng rộng rãi trong mọi trường hợp với điều kiện hai bên mua và bán phải thống nhất với nhau và phải thông báo bằng văn bản cho ngân hàng về việc áp dụng thể thức ủy nhiệm thu để ngân hàng làm căn cứ tổ chức thực hiện thanh toán.

1.1.5.4. Thanh toán bằng thẻ ngân hàng (Bank Card) 

Thẻ ngân hàng là một trong các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt mà chủ thẻ có thể sử dụng để thực hiện các giao dịch thanh toán khi mua hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt tại các điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ. Đây là công cụ thanh toán tích hợp nhiều tính năng gồm rút tiền mặt, chuyển tiền, tiết kiệm, thanh toán hóa đơn và thực hiện những giao dịch liên kết với các ứng dụng điện tử khác. Luận văn: Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại BIDV.

Dựa theo tính chất thanh toán, thẻ ngân hàng được chia làm 3 loại: thẻ ghi nợ, thẻ trả trước và thẻ tín dụng.

Thẻ ghi nợ (Debit card): cho phép khách hàng (chủ thẻ) thực hiện các giao dịch với thao tác đơn giản, nhanh chóng trong phạm vi số tiền có trong tài khoản thanh toán của khách hàng. Nếu tài khoản khách hàng không đủ tiền thì sẽ không thanh toán được bằng thẻ. Thẻ ghi nợ đem lại nhiều lợi ích giúp khách hàng dễ dàng mua sắm, thanh toán tại siêu thị, nhà hàng, khu vui chơi và thanh toán trực tuyến trên mạng internet như đặt hàng trên các trang thương mại điện tử, đặt mua vé máy bay, phòng khách sạn,…

Thẻ tín dụng (Credit card): cho phép khách hàng dùng thẻ để giao dịch trong giới hạn theo hạn mức tín dụng mà ngân hàng phát hành cấp dựa trên thỏa thuận giữa hai bên. Thông thường, ngân hàng phát hành sẽ cấp cho chủ thẻ một hạn mức chi tiêu nhất định dựa trên cơ sở đánh giá uy tín và nguồn tài chính của khách hàng như mức lương hàng tháng, chức vụ công việc hay tài sản bảo đảm của khách hàng. Thẻ tín dụng thường có nhiều ưu đãi trong chi tiêu và sử dụng các dịch vụ như ăn uống, du lịch, mua sắm…

Thẻ trả trước (Prepaid card): cho phép khách hàng sử dụng thẻ để giao dịch trong phạm vi giới hạn tiền đã nạp vào thẻ tương ứng với số tiền mà họ đã nạp vào trước đó. Nghĩa là, khi sở hữu một chiếc thẻ trả trước thì khách hàng có thể “nạp tiền” vào thẻ thông qua các kênh của ngân hàng và chi tiêu trên số tiền đã nạp đó.

Đây là loại thẻ dễ dàng sử dụng và mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng như thanh toán cho các dịch vụ giải trí, giao thông vận tải, phí xăng, dầu và thanh toán trực tuyến trên các kênh thương mại điện tử.

1.1.5.5. Thanh toán trực tuyến qua ứng dụng điện tử

Thanh toán trực tuyến hiện nay vô cùng đa dạng và phong phú bao gồm một số hình thức chủ yếu như internet banking, mobile banking, các loại ví điện tử (zalo pay, viettel pay, momo, shopee pay…), mobile money… Hiện nay, các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt thông qua phương thức trực tuyến được sử dụng phổ biển nhất bởi yếu tố công nghệ hỗ trợ. Một số hình thức thanh toán quen thuộc tại ngân hàng như:

  • Ngân hàng di động (Mobile Banking)

Ngân hàng di động (Mobile Banking) được hiểu là dịch vụ hỗ trợ khách hàng thực hiện các giao dịch tài chính từ xa thông qua ứng dụng được cài đặt trên máy tính bảng, điện thoại thông minh. Dịch vụ này bao gồm nhiều tính năng như chuyển khoản, thông báo biến động số dư, nạp tiền, thanh toán thẻ tín dụng… các giao dịch được thực hiện trực tuyến tức thời, giúp tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại cho khách hàng.

Do sự phát triển ngày càng nhanh chóng và tính tiện lợi của điện thoại thông minh nên Mobile Banking là một dịch vụ ngân hàng khá phổ biến. Bên cạnh đó, xu hướng sử dụng điện thoại di động càng cao của khách hàng với nhiều tiện ích hỗ trợ giao dịch qua điện thoại như đăng nhập vân tay hay Face ID, quét camera để thanh toán QR… làm tăng tính thuận tiện và quen thuộc với người dùng. Luận văn: Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại BIDV.

  • Internet Banking

Internet Banking là phương thức thanh toán trực tuyến hỗ trợ khách hàng thực hiện các giao dịch nhờ vào các thiết bị điện thoại thông minh, máy tính xách tay, máy tính bảng với điều kiện có kết nối internet. Thông qua dịch vụ này, người dùng có thể truy cập trực tuyến vào hầu hết các dịch vụ phổ biến trên website của ngân hàng bao gồm tra cứu thông tin tài khoản, chuyển tiền, thanh toán hóa đơn dịch vụ điện, nước… và gửi những thắc mắc và góp ý cho ngân hàng về sản phẩm dịch vụ.

  • SMS Banking

SMS Banking là dịch vụ ngân hàng trực tuyến giúp người sử dụng quản lý tài khoản bằng tin nhắn, truy vấn thông tin về biến động số dư trên tài khoản, truy vấn thông tin giao dịch, chuyển tiền, thanh toán… và thực hiện một vài giao dịch khác bằng cách soạn cú pháp tin nhắn theo quy định gửi về tổng đài các ngân hàng.

  • Phone Banking

Phone Banking là dịch vụ cung cấp thông tin ngân hàng qua điện thoại một cách tự động hoạt động 24/24. Khách hàng chỉ cần nhấn vào các phím trên bàn phím điện thoại theo mã ngân hàng quy định sẵn, để yêu cầu hệ thống trả lời các thông tin cần thiết. Dịch vụ này đem lại nhiều chức năng tiện ích cho khách hàng như truy vấn biến động số dư, cung cấp thông tin biểu phí, tỷ giá, lãi suất, tư vấn dịch vụ và trả lời thắc mắc, khiếu nại cho khách hàng.

1.2. Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt Luận văn: Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại BIDV.

Để đo lường hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại các ngân hàng thương mại, các tác giả Nguyễn Đăng Dờn (2014), Trịnh Thanh Huyền (2012) và tại Quyết định 1813/QĐ-TTg ngày 28/10/2021 của Thủ tướng chính phủ đã đưa ra một số mục tiêu, tiêu chí đánh giá hoạt động TTKDTM trên cả các chỉ tiêu định tính như mức độ đa dạng và sự tiện ích của các phương thức thanh toán, cơ sở hạ tầng và mức độ rủi ro trong thanh toán,… và các chỉ tiêu định lượng như tỷ trọng TTKDTM trong nền kinh tế, số lượng khách hàng mở TKTT, số món thanh toán và tổng giá trị giao dịch,… Tác giả cụ thể hóa một số chỉ tiêu như sau:

1.2.1. Các chỉ tiêu về quy mô, hiệu quả

  • Số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt

Chỉ tiêu này được dùng để đánh giá dịch vụ TTKDTM mà các NHTM cung cấp có thật sự phát triển để thu hút KH hay không. Chỉ tiêu này càng cao thì điều đó chứng tỏ dịch vụ này đang thật sự phát triển được khách hàng ưa chuộng và sử dụng nhiều. Chỉ tiêu này được tính bằng cách so sánh số lượng KH qua các năm, cụ thể như sau:

Tỷ lệ tốc độ tăng trưởng KH = (Số lượng KH năm nay – Số lượng KH năm trước) *100%/(Số lượng KH năm trước)

Tốc độ tăng trưởng doanh số thanh toán của các hình thức TTKDTM Chỉ tiêu này cho thấy được quy mô và tốc độ phát triển của các hình thức TTKDTM. Từ đây có thể thấy được xu hướng ưa chuộng của KH trong sử dụng các hình thức TTKDTM trong tương lai. Chỉ tiêu này được tính toán qua công thức:

Tỷ lệ tốc độ tăng trưởng doanh số thanh toán = (Doanh số thanh toán năm nay – Doanh số thanh toán năm trước)* 100%/ (Doanh số thanh toán năm trước)

  • Tốc độ tăng trưởng thu nhập từ hoạt động TTKDTM

Đây là chỉ tiêu được dùng để đánh giá mức độ hiệu quả của dịch vụ TTKDTM tại các ngân hàng. Nếu tốc độ tăng trưởng thu nhập cao chứng tỏ được rằng ngân hàng có sự quan tâm cải thiện và triển khai dịch vụ có hiệu quả, KH thường xuyên tin dùng và có sự tăng trưởng về mức độ sử dụng dịch vụ dẫn đến thu nhập tăng. Chỉ tiêu này được tính toán qua công thức:

  • Tỷ lệ tốc độ tăng trưởng thu nhập TTKDTM = (Thu nhập TTKDTM năm nay
  • Thu nhập TTKDTM năm trước)*100%/(Thu nhập TTKDTM năm trước)

1.2.1.4. Tỷ trọng thu nhập TTKDTM

Đây là chỉ tiêu quy mô, giúp nhận xét được mức độ đóng góp dịch vụ TTKDTM so với tổng thu tại ngân hàng. Nếu thu nhập từ TTKDTM có tỷ trọng càng cao chứng tỏ hoạt động TTKDTM có hiệu quả và đóng góp nguồn thu nhập lớn cho ngân hàng. Chỉ tiêu này được tính toán bằng cách:

Tỷ trọng thu nhập TTKDTM = (Tổng thu nhập từ TTKDTM/ Tổng thu nhập của ngân hàng)*100% 

1.2.1.5. Cơ cấu TTKDTM 

Chỉ tiêu này cho biết mức độ sử dụng các loại sản phẩm trong dịch vụ TTKDTM, qua đó thể hiện mức độ đóng góp của từng sản phẩm cụ thể vào tổng doanh thu từ dịch vụ TTKDTM. Chỉ tiêu này được tính toán bằng cách:

Cơ cấu TTKDTM = (Doanh số của từng sản phẩm dịch vụ TTKDTM/ Tổng doanh số TTKDTM)*100% 

1.2.2. Chỉ tiêu về chất lượng Luận văn: Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại BIDV.

1.2.2.1. Sự thỏa mãn, hài lòng của khách hàng

Đáp ứng kịp thời nhu cầu và đem lại sự thỏa mãn cho KH là một trong những mục tiêu chính mà các ngân hàng luôn cố gắng đạt được. Nếu như chất lượng của sản phẩm dịch vụ ngân hàng không ngừng được cải tiến và tối ưu thì KH sẽ ngày một tin tưởng và gắn kết lâu dài với ngân hàng. Bên cạnh đó, sự hài lòng về chất lượng dịch vụ của người dùng sẽ lan tỏa đến những khách hàng có nhu cầu sử dụng sản phẩm dịch vụ khác để đến ngân hàng giao dịch.

1.2.2.2. Khả năng cạnh tranh về chất lượng dịch vụ

Dịch vụ có khả năng cạnh tranh sẽ giúp ngân hàng có cơ hội để mở rộng, phát triển và chiếm lĩnh thị phần một cách nhanh chóng. Trên cơ sở đó, thương hiệu và vị thế ngân hàng sẽ được củng cố và nâng cao. Hiện nay, chính sách giá, phí dịch vụ tốt là công cụ để ngân hàng tiếp thị và giữ chân khách hàng hiệu quả, tăng cường năng lực cạnh tranh với các ngân hàng khác.

1.2.2.3. Sự đa dạng về sản phẩm dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt

Đối với một ngân hàng, sự đa dạng và phong phú trong các sản phẩm dịch vụ sẽ là điểm nổi bật để thu hút được nhiều đối tượng khách hàng tham gia sử dụng. Danh mục các sản phẩm dịch vụ TTKDTM giúp đánh giá được phần nào sự phát triển của hoạt động TTKDTM cũng như sự quan tâm của ngân hàng trong việc chú trọng đầu tư mở rộng dịch vụ.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Nội dung chương 1, học viên tập trung nghiên cứu đến các vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại các ngân hàng thương mại. Trong phần nghiên cứu hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng thương mại, trình bày khái niệm cơ bản về dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, nêu khái quát đặc điểm và vai trò của hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt đối với khách hàng, đối với ngân hàng và tổng thể nền kinh tế; Giới thiệu các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng thương mại như: Thanh toán bằng Séc, thanh toán bằng Ủy nhiệm chi, thanh toán bằng Ủy nhiệm thu, thanh toán bằng thẻ, thanh toán qua ứng dụng ngân hàng điện tử…; Ngoài ra, tập trung nghiên cứu đến các tiêu chí đánh giá hoạt động TTKDTM tại ngân hàng thương mại.

Trong chương tiếp theo, người viết sẽ phân tích thực trạng dịch vụ TTKDTM tại ngân hàng BIDV Củ Chi. Đây là nền tảng quan trọng để đánh giá, rút ra những tồn tại thực tế của chi nhánh nhằm xây dựng giải pháp khắc phục hạn chế và cải thiện hoạt động TTKDTM trong thời gian tới. Luận văn: Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại BIDV.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt tại BIDV

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại BIDV […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993