Luận văn: Kết quả nghiên cứu cạnh tranh đến ổn định ngân hàng

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Kết quả nghiên cứu cạnh tranh đến ổn định ngân hàng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Tác động của cạnh tranh và tập trung ngành đến ổn định ngân hàng nghiên cứu tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

4.1. Tổng quan hoạt động hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2011-2021

Dựa vào báo cáo thường niên NHNN từ năm 2011-2021, tác giả tổng quan một số thông tin chính về hoạt động ngân hàng Việt Nam qua các năm trong giai đoạn nghiên cứu như sau:

Năm 2011: Tính đến cuối năm 2011 thì mạng lưới các TCTD không những bao phủ ở thị trường nội địa mà còn có những bước tiến mở rộng sang thị trường quốc tế. Hoạt động quản trị điều hành, các chỉ tiêu về đảm bảo an toàn và năng lực tài chính được tăng cường. Do năm 2011 các chỉ tiêu về tỷ lệ đảm bảo an toàn có diễn biến tốt hơn so với năm 2010 mà trong đó có vốn tự có tăng làm cho tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu toàn hệ thống tương đối ổn định hơn. Nợ xấu trong năm 2011 có xu hướng gia tăng hơn do lãi suất tăng cao trong khi Nhà nước thực hiện chính sách vĩ mô chặt chẽ để kiểm soát lạm phát. Năm 2011, do tình hình kinh tế thế giới chịu ảnh hưởng của cuộc nợ công Châu Âu làm cho tình hình kinh tế Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều rủi ro thách thức. Tăng trường kinh tế ở mức 5.89% là do tác động của kinh tế thế giới và chính sách vĩ mô chặt chẽ của Chính phủ để kiềm chế lạm phát trên đà tăng cao.

Năm 2012: Mặc dù năm 2012 dưới tác động của cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu, tăng trưởng kinh tế thế giới giảm xuống và đà phục hồi vẫn còn yếu nhưng kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục giữ được sự ổn định. Lạm phát được kiềm chế, thị trường tài chính tiền tệ được ổn định, lãi suất giảm liên tục cho phù hợp với tình hình kinh tế và đặc biệt là diễn biến lạm phát. Tuy nhiên tăng trưởng kinh tế có chậm lại ở mức 5.25% phù hợp với tình hình kinh tế Việt Nam trong năm 2012. Số lượng các TCTD và chi nhánh ngân hàng nước ngoài có giảm so với năm 2011 do triển khai Đề án Cơ cấu lại các TCTD giai đoạn 2011-2015 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thông qua các hoạt động hợp nhất, sáp nhập ngân hàng. Sau một năm tái cơ cấu thì năm 2012 là năm chứng kiến nhiều sự sáp nhập, mua lạ trong ngành ngân hàng như: hợp nhất 3 ngân hàng SCB, Ficombank và Ngân hàngViệt Nam Tín Nghĩa; Sáp nhập Habubank vào SHB; Ngân hàng Phương Tây (Western Bank) hợp nhất với PVFC (Tổng công ty cổ phần Tài chính dầu khí). Chính vì vậy các ngân hàng càng phải chú trọng nâng cao năng lực điều hành và các chỉ tiêu về đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên do tình hình kinh tế khó khăn nên hệ số sinh lời của hệ thống ngân hàng giảm, doanh nghiệp thua lỗ, phá sản tăng dẫn đến rủi ro tín dụng có xu hướng tăng, dự phòng rủi ro tăng kéo theo ROA và ROE toàn hệ thống giảm (ROA giảm từ mức 1,00% xuống 0,62%, ROE giảm từ 11,88% xuống 6,31%) so với năm 2011). Như vậy năm 2012 là một năm kinh tế Việt Nam còn đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Tỷ lệ lạm phát ở mức 9.21%, lãi suất cho vay ở mức cao, nhiều TCTD tiềm ẩn rủi ro hệ thống. Luận văn: Kết quả nghiên cứu cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Năm 2013 nền kinh tế Việt Nam tiếp tục giữ được sự ổn định và hồi phục nhẹ so với năm 2012 trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu vẫn tăng chậm. Lạm phát tiếp tục được kiềm chế, tỷ lệ lạm phát ở mức 6.6%, thị trường tài chính ổn định, lãi suất giảm liên tục phù hợp hơn với tình hình kinh tế. Tuy nhiên, do tình hình hình kinh tế còn khó khăn nên rủi ro tín dụng vẫn có xu hướng gia tăng. Tính đến cuối năm 2013 vốn tự có của toàn hệ thống TCTD tăng trưởng 9.61 % so với năm 2012, khả năng sinh lời của tài sản có ROA 0.5%, vốn chủ sỡ hữu ROE 0.56%. Nợ xấu năm 2013 giảm hơn so với năm 2012 1.6% là do các TCTD triển khai các giải pháp tự xử lý nợ xấu, cơ cấu lại nợ hổ trợ cho doanh nghiệp tiếp cận vốn vay cho sản xuất, tăng trích lập dự phòng, xử lý nợ xấu bằng dự phòng, nâng cao chất lượng tín dụng… theo chính sách kiềm chế lạm phát và xử lý nợ xấu của NHNN, đặc biệt là sự thành lập và đi vào hoạt động của Công ty quản lý tài sản VAMC- công cụ đặc biệt của Nhà nước nhằm góp phần xử lý nhanh nợ xấu, lành mạnh hóa tài chính, giảm thiểu rủi ro cho các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp.

Năm 2014 kinh tế trong nước tiếp tục tăng trưởng nhanh hơn năm 2013, các doanh nghiệp trong nước vượt qua được giai đoạn khó khăn của thị trường, thị trường tiêu thụ tăng, xuất khẩu tăng. Ổn định vĩ mô được duy trì với mức lạm phát thấp ở mức tỷ lệ 4.09%, thị trường tài chính-tiền tệ và ngoại hối ổn định và vận hành thông suốt. Tính đến cuối năm 2014 tổng vốn điều lệ toàn hệ thống có tăng nhẹ 3.3% so với năm 2013 do điều kiện kinh tế còn khó khăn nên các ngân hàng thận trọng hơn trong chiến lược tăng vốn. Vốn tự có toàn hệ thống tăng 4.4%, tổng tài sản tăng 12.2% so với cuối năm 2013. Các ngân hàng tiếp tục cải thiện các tỷ lệ đảm bảo an toàn, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 12.8% mặc dù có giảm hơn so với năm 2013 nhưng vẫn trong mức an toàn. Các ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh quá trình xử lý nợ xấu làm khả năng sinh lời của tài sản có (ROA) và vốn chủ sở hữu (ROE) tăng nhẹ so với 2013 (ROA 0.6% và ROE 6.4%). Như vậy, với việc triển khai chủ động, đồng bộ các giải pháp, điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng năm 2014 đã đóng góp quan trọng vào công cuộc ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, nâng cao xếp hạng tín nhiệm quốc gia. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát cả năm ở mức ổn định nhất trong một thập kỷ qua. Tăng trưởng kinh tế đạt 5,98%, cao hơn mức mục tiêu 5,8% đề ra từ đầu năm, mặt bằng lãi suất tiếp tục giảm, đưa mặt bằng lãi suất cho vay giảm hỗ trợ tốt cho sản xuất kinh doanh và nền kinh tế.

Năm 2015 là năm mà kinh tế Việt Nam phục hồi tích cực, tăng trưởng kinh tế đạt 6.68% cao nhất trong 8 năm qua, tỷ lệ lạm phát đạt 0.63% thấp nhất trong 15 năm. Năm 2015 là năm cuối cùng thực hiện Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015 theo đó hoạt động sáp nhập, mua lại giữa các TCTD tiếp tục có sự biến động như: Sáp nhập MHB – BIDV, Mekong Bank – Maritime Bank và Southern Bank – Sacombank. Các ngân hàng tiếp tục nâng cao năng lực tài chính, cải thiện các tỷ lệ đảm bảo an toàn. Đến cuối năm 2015, vốn tự có toàn hệ thống tăng 16.4%, tổng tài sản tăng 12.4% so với năm 2014. Hiệu quả hoạt động kinh doanh năm 2015 thấp hơn so với năm 2014 do chênh lệch thu chi giảm trong khi tổng tài sản tăng mạnh, ROA và ROE đều giảm, cụ thể ROA đạt 0.4% và ROE đạt 6.3%. Nợ xấu năm 2015 được các ngân hàng xử lý thông qua việc mua bán nợ cho công ty VAMC, sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nợ, thu hồi nợ khách hàng bằng nhiều cách như phát mại tài sản,…do đó nợ xấu đã được khống chế, tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống giảm về ngưỡng an toàn 2.55%. Như vậy với những khó khăn, thách thức năm 2015 theo mục tiêu của Chính phủ và diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường tiền tệ thì Ngân hàng nhà nước đã triển khai chính sách nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế, đảm bảo an toàn các TCTD đã thành công trong việc ổn định vĩ mô, tăng trưởng kinh tế đặt nền tảng quan trọng cho định hướng phát triển một hệ thống ngân hàng ổn định, lành mạnh trong quá trình tái cơ cấu, hội nhập quốc tế của đất nước. Luận văn: Kết quả nghiên cứu cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Năm 2016, trong điều kiện kinh tế thế giới phục hồi chậm, thương mại toàn cầu trì trệ làm cho kinh tế nước ta gặp nhiều khó khăn thách thức trong giai đoạn đầu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2016-2020. Tuy nhiên cùng với sự nổ lực chung thì nền kinh tế trong nước vẫn tiếp tục đà phục hồi và phát triển ổn định, lạm phát được kiểm soát, tỷ lệ lạm phát 2.66%, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 6.21%. Năng lực tài chính và quy mô hoạt động của các ngân hàng trong năm 2016 cũng được cải thiện góp phần hổ trợ tăng trưởng kinh tế. Đến cuối năm 2016, tổng tài sản của toàn hệ thống tăng 16.2%, vốn tự có toàn hệ thống tăng 10.7% so với cuối năm 2015. Việc tái cơ cấu, xử lý nợ xấu được triển khai quyết liệt giúp đảm bảo an toàn hoạt động của các tổ chức tín dụng, chất lượng tín dụng được cải thiện ở mức tỷ lệ nợ xấu 2.46% giảm nhẹ hơn so với năm 2015. ROA và ROE có tăng nhẹ hơn so với năm 2015 (ROA 0.6% và ROE 7.5%), tỷ lệ an toàn vốn 12.8% giảm nhẹ hơn so với năm 2015. Như vậy năm 2016 với các chính sách tiền tệ, các giải pháp và hoạt động ngân hàng đạt được những thành công trong điều kiện khó khăn, thách thức đã đóng góp quan trọng trong việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, hổ trợ tăng trưởng kinh tế.

Năm 2017 khi nền kinh tế thế giới tăng trưởng tích cực trở lại thì kinh tế Việt Nam cũng bắt nhịp với xu hướng phục hồi của kinh tế thế giới tăng trưởng cao, lạm phát được kiểm soát ở mức 3.53% (tăng so với 2016 nhưng vẫn thấp hơn so với mục tiêu của Quốc hội). Năng lực tài chính và quy mô hoạt động của các TCTD tiếp tục từng bước cải thiện, góp phần hổ trợ cho tăng trưởng kinh tế. Cuối năm 2017 thì tổng tài sản của toàn hệ thống tăng 17.6%, vốn tự có tăng 11.6% so với năm 2016, ROA và ROE lần lượt đạt 0.7% và 10.1% có tăng so với năm 2016, CAR ở mức 12.2% có giảm nhẹ so với năm 2016, tỷ lệ nợ xấu chiếm 1.99% tổng dư nợ giảm so với năm 2016. Việc tái cơ cấu, xử lý nợ xấu tiếp tục được thực hiện quyết liệt góp phần ổn định an toàn hệ thống ngân hàng.

Năm 2018 tăng trưởng kinh tế thế giới tiếp tục được duy trì và có biểu hiện chậm lại ở những tháng cuối năm, áp lực lạm phát gia tăng. Ở Việt Nam thì kinh tế tiếp tục có mức tăng trưởng cao nhất trong 11 năm qua, lạm phát tiếp tục được kiểm soát dưới mục tiêu của Quốc hội với tỷ lệ lạm phát 3.54%. Ngành ngân hàng tiếp tục đạt được hiệu quả kinh doanh tích cực, năng lực tài chính và xử lý nợ xấu được nâng cao, tổng tài sản tăng 10.6% và vốn tự có tăng 12.9% so với năm 2017. Các ngân hàng mở rộng đẩy mạnh hoạt động cho vay, đầu tư và vốn tự có tăng chậm hơn so với tổng tài sản có rủi ro làm cho tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu cuối năm 2018 giảm nhẹ hơn so với năm 2017 (CAR năm 2018 đạt 12.1%), ROA vả ROE lần lượt là 0.9% và 11.8% tăng so với năm 2017. Nhìn chung năm 2018 NHNN đã bám sát mục tiêu của Quốc hội, Chính phủ và diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường tiền tệ để điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững; đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống các TCTD.

Năm 2019 hệ thống ngân hàng tiếp tục đạt được kết quả tích cực: năng lượng tài chính, chất lượng tài sản, xử lý nợ xấu đều được nâng cao. Đến cuối năm 2019, tổng tài sản toàn hệ thống tăng 13.69%, vốn tự có toàn hệ thống tăng 13.1% so với cuối năm 2018, ROA 1.01% và ROE 12.95% đều tăng hơn so với năm 2018, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu đạt 11.95%, chất lượng tín dụng được nâng cao, nợ xấu của hệ thống giảm và tiếp tục được kiểm soát, tỷ lệ nợ xấu đến cuối năm 2019 là 1.63%. Năm 2019, khi tình hình kinh tế quốc tế diễn biến phức tạp, kinh tế toàn cầu tăng chậm dưới tác động căng thẳng thương mại giữa các nước lớn, thương mại toàn cầu sụt giảm và có nhiều yếu tố không thuận lợi. Trong nước, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh (nhất là dịch tả lợn Châu Phi) gây ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống nhân dân nhưng với chính sách tiền tệ được điều hành chủ động, linh hoạt và phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách khác giúp cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt 7.02% vượt mục tiêu đề ra, lạm phát được kiểm soát ở mức tỷ lệ 2.79%, các cân đối lớn của nền kinh tế được củng cố.

Năm 2020, dưới tác động của dịch bệnh Covid-19, kinh tế toàn cầu suy thoái sâu nhất trong các thập kỷ trở lại đây. Trong nước, mặc dù có những thuận lợi từ năm 2019 nhưng dịch Covid-19 tác động sâu nhất tác động nhiều mặt đến kinh tế, đời sống xã hội, sản xuất kinh doanh, lao động mất việc làm, thu nhập giảm…. Tuy nhiên với sự đoàn kết, đồng lòng Việt Nam từng bước phục hồi, bảo đảm đời sống nhân dân, lạm phát được kiểm soát ở mức 3.23%, tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt 2.91%. Năm 2020, hệ thống ngân hàng tiếp tục được củng cố năng lực tài chính, xử lý nợ xấu, kết quả kinh doanh được cải thiện. Đến cuối năm 2020, tổng tài sản toàn hệ thống tăng 11.45%, vốn điều lệ tăng 7.89% so với năm 2019. ROA và ROE toàn hệ thống có giảm nhẹ so với năm 2019 (ROA 0.96% và ROE 12.11%). Trong bối cảnh dịch bệnh ảnh hưởng tiêu cực đến nến kinh tế làm suy giảm năng lực tài chính và khả năng trả nợ của các doanh nghiệp nhưng các ngân hàng đã triển khai các biện pháp phòng ngừa nợ xấu mới phát sinh, kiểm soát và duy trì tỷ lệ nợ xấu nội bảng ở mức 1,69% (dưới 3%). Như vậy, trong điều kiện khó khăn của năm 2020 với chính sách tiền tệ được NHNN chủ động, linh hoạt điều hành linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô để ứng phó dịch bệnh, lạm phát được kiểm soát, ổn định thị trường và nền tảng kinh tế vĩ mô; triển khai các giải pháp đột phá góp phần phục hồi tăng trưởng, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân. Luận văn: Kết quả nghiên cứu cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Năm 2021, nhờ việc đẩy nhanh tiến trình tiêm chủng vắc-xin nên kinh tế toàn cầu phục hồi, tuy nhiên tốc độ phục hồi giữa các quốc gia không đồng đều, đại dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp việc xuất hiện biến chủng mới khiến tiến trình phục hồi kinh tế thế giới bất trắc và gặp nhiều khó khăn. Trong nước làn sóng Covid19 tiếp tục ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, an toàn của người dân và phát triển kinh tế-xã hội. Tỷ lệ lạm phát được kiềm chế ở mức 1.83%. Đến cuối năm 2021, tổng tài sản toàn hệ thống tăng 13.85%, vốn điều lệ tăng 17.44% so với năm 2020, ROA và ROE lần lượt là 1.21% và 14.65% đều tăng so với năm 2020. Dịch bệnh Covid-19 tác động tiêu cực đến nền kinh tế, làm suy giảm năng lực tài chính và khả năng trả nợ của doanh nghiệp, tuy nhiên với các biện pháp xử lý, kiểm soát nợ xấu thì tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống duy trì ở mức an toàn dưới 2%. Như vậy, dù tình hình dịch bệnh gây cực kỳ khó khăn nhưng với các chính sách bảo đảm an sinh xã hội, sự đồng lòng, nhất trí của các cấp, các ngành, các địa phương, sự đồng tình, ủng hộ, chia sẻ và tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp đã giúp nền kinh tế vẫn giữ được mức tăng trưởng, tuy không đạt được mục tiêu đề ra nhưng an sinh xã hội được đảm bảo, kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp.

4.2. Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu

Bảng 4.1. Thống kê mô tả các biến trong mô hình

Variable Obs Mean Std. Dev. Min Max
LnZscore 297 2.827 0.583 -0.163 4.203
NPL 297 0.021 0.012 0.001 0.088
HHI_TD 297 0.110 0.004 0.101 0.117
LERNER 297 0.077 0.098 -0.187 0.405
CAP 297 0.090 0.041 0.019 0.255
SIZE 297 8.022 0.696 5.019 10.285
NITA 297 0.051 0.100 -0.260 0.470
CRE 297 0.223 0.239 -0.476 1.716
ITP 297 0.054 0.036 0.008 0.135
GDP 297 0.062 0.012 0.029 0.072
INF 297 0.058 0.048 0.006 0.186
COVID 297 0.091 0.288 0.000 1.000

Nguồn: Tính toán của tác giả

Bảng 4.1 thể hiện một cách tổng quát nhất giá trị của các biến trong mô hình từ mẫu quan sát là 27 NHTM được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2011-2021. Giá trị trung bình của LnZscore đạt xấp xỉ 2,827, điều này ngụ ý rằng nếu ROA trung bình giảm 2,827 lần độ lệch chuẩn của ROA thì sẽ làm cho VCSH của ngân hàng về bằng 0, độ lệch chuẩn của giá trị LnZscore là 0,583, giá trị lớn nhất của hệ số LnZscore là 4,203 và giá trị nhỏ nhất là 0,163, điều này cho thấy có sự khác biệt tương đối lớn về giá trị Zscore giữa các ngân hàng. Luận văn: Kết quả nghiên cứu cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Giá trị HHI trung bình của hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2011-2021 là 0,11 độ lệch chuẩn của HHI là 0,004, giá trị lớn nhất của mức độ tập trung ngành là 0,117 và giá trị nhỏ nhất đạt 0,101, điều này cho thấy có sự biến động về mức độ tập trung ngành qua các năm, tuy nhiên mức độ biến động này là không đáng kể, và nằm trong khoảng [0,1; 0,18], điều này hàm ý rằng mức tập trung ngành của hệ thống NHTM Việt Nam ở mức độ vừa phải.

Đối với các biến kiểm soát, tỷ lệ VCSH trên TTS (CAP) của các NHTM Việt Nam niêm yết trên thị trường chứng khoán giai đoạn 2011-2021 dao động trong khoảng 0,019 đến 0,255, giá trị trung bình đạt 0,09 độ lệch chuẩn đạt 0,041. Quy mô ngân hàng (SIZE), được đo lường thông qua logarit tổng tài sản có giá trị trung bình là 8,022, độ lệch chuẩn 0,019 giá trị lớn nhất là 10,285 và giá trị nhỏ nhất đạt 5,019. Thu nhập ngoài lãi (NITA) có giá trị trung bình 0,051 độ lệch chuẩn 0,1, giá trị lớn nhất của NITA là 0,47 và giá trị nhỏ nhất là -0,26, thu nhập ngoài lãi mang giá trị âm có nghĩa là có một số ngân hàng có hoạt động ngoài tín dụng không hiệu quả khiến cho chi phí ngoài lãi cao hơn doanh thu ngoài lãi, kết quả là ngân hàng bị thua lỗi trong các hoạt động phi tín dụng. Tốc độ tăng trưởng tín dụng cũng có sự biến động rất lớn giữa các ngân hàng qua các năm, giá trị lớn nhất của CRE là 1,716 tức có năm, tốc độ tăng trưởng tín dụng của ngân hàng đạt hơn 170%, tuy nhiên cũng có năm, có ngân hàng có mức suy giảm tín dụng giảm, mức tăng trưởng tín dụng trung bình đạt 0,223 độ lệch chuẩn 0,239. Lãi suất chính sách (ITP) trung bình trong giai đoạn nghiên cứu là 5,4% độ lệch chuẩn 3,6% lãi suất chính sách năm cao nhất là 13,5% và năm thấp nhất 0,8%. Tốc độ tăng trưởng GDP năm cao nhất đạt 7,2% năm thấp nhất là 2,9%, mức tăng trưởng trung bình trong giai đoạn nghiên cứu là 6,2% với độ lệch chuẩn là 1,2%. Lạm phát (INF) năm cao nhất là 18,6% năm thấp nhất là 0,6%, mức lạm phát trung bình giai đoạn 2011-2021 là 5,8% với độ lệch chuẩn là 4,8%. Đối với biến Covid-19, mặc dù đại dịch Covid xuất hiện từ năm 2019 nhưng nó xảy ra từ những ngày cuối năm trong năm này và chưa gây ra hậu quả nặng nề, do vậy, tác giả gán giá trị “1” cho biến Covid-19 ở năm 2020 và năm 2021.

4.3. Kết quả phân tích tính vững mô phỏng Bayes Luận văn: Kết quả nghiên cứu cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Như tác giả đã trình bày tại phần phương pháp nghiên cứu, thông tin tiên nghiệm cho nghiên cứu này là không có sẵn, do vậy để có được thông tin tiên nghiệm phù hợp nhất với dữ liệu nghiên cứu, tác giả sẽ tiên hành phân tích nhân tố Bayes và kiểm định Bayes hậu nghiệm.

Bảng 4.2. Kết quả phân tích nhân tố Bayes

Mô hình 1
Chains Avg DIC Avg log(ML) log(BF)
Mô phỏng 1.1 3.000 472.4122 -255.4935 .
Mô phỏng 1.2 3.000 471.4099 -257.5948 -2.1013
Mô phỏng 1.3 3.000 473.6563 -267.0257 -11.5321
Mô phỏng 1.4 3.000 475.0287 -278.6265 -23.1330
Mô phỏng 1.5 3.000 475.4880 -290.8961 -35.4026
Mô hình 2
Chains Avg DIC Avg log(ML) log(BF)
Mô phỏng 2.1 3 -479.3812 214.1712 .
Mô phỏng 2.2 3 -477.3358 203.5832 -10.588
Mô phỏng 2.3 3 -476.2349 191.5438 -22.6274
Mô phỏng 2.4 3 -475.9839 179.0198 -35.1514
Mô phỏng 2.5 3 -475.9096 166.4367 -47.7345

 Nguồn: Tính toán của tác giả.

Trong phân tích Bayes, mô phỏng được đánh giá phù hợp nhất là mô phỏng có hệ số log(BF), log(ML) trung bình lớn nhất và DIC trung bình là nhỏ nhất. Kết quả tại bảng phân tích nhân tố Bayes cho thấy, đối với mô hình 1, mô phỏng 1.1 có ưu thế hơn so với các mô hình khác khi log(BF) và log(ML) của mô phỏng này là cao nhất, nhưng ưu thế này không phải là tuyệt đối khi hệ số DIC của mô phỏng 1.1 không tốt bằng mô phỏng 1.2. Đối với mô hình 2 thì mô phỏng 2.1 có ưu thế hơn so với các mô hình còn lại khi có log(BF), log(ML) cao nhất và hệ số DIC trung bình nhỏ nhất.

Tuy nhiên, để đảm bảo lựa chọn được mô hình phù hợp nhất, tác giả tiếp tục thực hiện kiểm định mô hình Bayes.

Bảng 4.3. Kết quả phân tích Bayes hậu nghiệm Luận văn: Kết quả nghiên cứu cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Mô hình 1
Chains Avg log(ML) P(M) P(M|y)
Mô phỏng 1.1 3 255.4935 0.2000 0.8910
Mô phỏng 1.2 3 -257.5948 0.2000 0.1090
Mô phỏng 1.3 3 -267.0257 0.2000 0.0000
Mô phỏng 1.4 3 -278.6265 0.2000 0.0000
Mô phỏng 1.5 3 -290.8961 0.2000 0.0000
Mô hình 2
Chains Avg log(ML) P(M) P(My)
Mô phỏng 2.1 3 214.1712 0.2000 1.0000
Mô phỏng 2.2 3 203.5832 0.2000 0.0000
Mô phỏng 2.3 3 191.5438 0.2000 0.0000
Mô phỏng 2.4 3 179.0198 0.2000 0.0000
Mô phỏng 2.5 3 166.4367 0.2000 0.0000

Nguồn: Tính toán của tác giả

Kết quả kiểm định mô hình Bayes tại bảng 4.3 đã bổ sung bằng chứng khẳng định mô phỏng 1.1 là mô phỏng có thông tin tiên nghiệm phù hợp nhất đối với mô hình 1, tương tự, mô phỏng 2.1 có thông tin tiên nghiệm phù hợp nhất cho mô hình 2.

Hình 4.1. Biểu đồ chuẩn đoán hội tụ Luận văn: Kết quả nghiên cứu cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Hình 4.1 thể hiện biểu đồ chuẩn đoán hội tụ của mô hình 1. Biểu đồ chuẩn đoán hội tụ chuỗi MCMC sẽ bao gồm (i) biểu đồ vết (trace plot), biểu đồ này theo quá trình lặp lại qua các lần một giá trị tham số của chuỗi MCMC, biểu đồ vết tại hình … cho thấy sự dao động quanh giá trị trung bình của biểu đồ, nghĩa là chuỗi MCMC có tính dừng dừng, và đủ điều kiện hội tự. Bên cạnh biểu đồ vết, biểu đồ chuẩn đoán hội tụ còn bao gồm (ii) biểu đồ tự tương quan (autocorrelation), hình 4.1 cho thấy các đồ thị dao động chủ yếu mức dưới 0,02, điều này cho thấy sự phù hợp với mật độ mô phỏng phân phối, phản ánh các độ trễ của chuỗi MCMC nằm trong giới hạn hiệu quả. Ngoài ra, khi xem xét biểu đồ chuẩn đoán hội tụ chúng ta còn phải quan tâm (iii) ước tính mật độ thể hiện qua biểu đồ histogram và density, cả hai đồ thị này tại hình 4.1 đều cho thấy hình dạng biểu đồ có sự đồng nhất và mô phỏng hình dáng dạng phân phối chuẩn, do vậy có thể kết luận suy diễn Bayes đối với mô hình 1 là vững. Ta cũng có các kết luận tương tự đối với mô hình 2.

Nhằm cũng cố cho kết luận của kết quả phân tích hội tụ, tác giả tiếp tục tiến hành phân tích đồ thị Cusum.

Hình 4.2. Đồ thị Cusum

Để đánh giá tốc độ trộn của chuỗi MCMC, chúng ta sẽ sử dụng đồ thị Cusum. Tốc độ trộn chuỗi MCMC càng nhanh thì đồ thị thể hiện chuỗi Cusum càng gồ ghề, và cắt trục X nhiều lần, khi đó MCMC của mô phỏng Bayes sẽ đáp ứng điều kiện hội tụ. Ngược lại, nếu đồ thị Cusum mượt và không cắt trục X thì quá trình trộn chuỗi MCMC sẽ diễn ra chậm, nghĩa là chuỗi MCMC sẽ không đáp ứng điều kiện hội tụ. Hình 4.2 cho thấy các chuỗi trong các ô đồ thị Cusum có hình dạng răng cưa và cắt trục x nhiều lần ở cả hai mô hình cho cả đồ thị các tham số và đồ thị phương sai, do vậy quá trình trộn chuỗi MCMC diễn ra nhanh, có nghĩa là chuỗi MCMC đáp ứng yêu cầu về hội tụ.

Bên cạnh chuẩn đoán hội tụ bằng hình ảnh, tác giả còn sử dụng Kiểm định Grubin để đảm bảo các chuỗi MCMC trong mô hình là hội tụ.

Bảng 4.4. Kiểm định Grubin

𝑅𝑐
LnZscore NPL
HHI_TD 1.00011 1.00003
LERNER 0.99999 1.00034
CAP 0.99996 1.00007
SIZE 1.00000 0.99997
NITA 1.00013 1.00005
CRE 1.00008 0.99998
ITP 1.00006 1.00001
GDP 1.00014 1.00005
INF 1.00009 0.99997
COVID 1.00002 1.00004
_cons 0.99995 1.00013
var 1.00003 1.00000

Nguồn: Tính toán nhóm tác giả

Theo Gelman & Rubin (1992) và Brooks & Gelman (1998) thì nếu giá trị Grubin Rc lớn hơn 1,2 thì chuỗi MCMC sẽ không đạt yêu cầu hội tụ hội tụ. Tuy vậy, thực tế, tiêu chuẩn để chuỗi MCMC đảm bảo hội tụ là khắt khe hơn, theo đó giá trị Rc phải nhỏ hơn 1,1. Kết quả kiểm định Grubin tại bảng … cho thấy rằng giá trị Rc của các tham số đều không vượt quá 1,1, như vậy có thể khẳng định chuỗi MCMC hội tụ và do vậy, kết quả mô phỏng Bayes là vững.

4.4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Bảng 4.5. Kết quả mô phỏng Bayes Luận văn: Kết quả nghiên cứu cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

 

 

Mean Std. Dev. MCSE Median Equal-tailed [95% Cred. Interval]
Mô hình 1 LnZ score
HHI_TD 0.245 0.990 0.006 0.236 -1.696 2.181
LERNER 1.923 0.347 0.002 1.923 1.238 2.607
SIZE 0.097 0.049 0.000 0.096 0.002 0.193
CAP 2.253 0.627 0.004 2.249 1.024 3.483
NITA -0.105 0.295 0.002 -0.105 -0.687 0.473
CRE -0.096 0.134 0.001 -0.095 -0.357 0.167
ITP 0.642 0.849 0.005 0.641 -1.032 2.304
GDP -0.017 0.981 0.006 -0.019 -1.934 1.922
INF 0.658 0.684 0.004 0.656 -0.682 1.997
COVID 0.026 0.118 0.001 0.027 -0.206 0.256
_cons 1.625 0.430 0.002 1.626 0.783 2.466
var 0.280 0.024 0.000 0.279 0.238 0.330
 Avg acceptance rate 1.000
 Avg efficiency: min 0.9356
Mô hình 2 N PL
HHI_TD -0.144 0.411 0.002 -0.143 -0.949 0.655
LERNER -0.016 0.010 0.000 -0.016 -0.036 0.003
SIZE -0.001 0.001 0.000 -0.001 -0.004 0.002
CAP -0.023 0.021 0.000 -0.024 -0.064 0.018
NITA -0.022 0.008 0.000 -0.022 -0.038 -0.006
CRE 0.000 0.004 0.000 0.000 -0.007 0.007
ITP 0.095 0.098 0.001 0.094 -0.096 0.287
GDP -0.046 0.186 0.001 -0.046 -0.410 0.319
INF 0.050 0.054 0.000 0.051 -0.054 0.156
COVID -0.001 0.007 0.000 -0.001 -0.016 0.013
_cons 0.044 0.041 0.000 0.045 -0.036 0.125
 Avg acceptance rate 1.000
 Avg efficiency: min 0.890

Khác với kinh tế lượng tần suất, kết quả hồi quy thể hiện ước lượng điểm của các hệ số hồi quy, kết quả mô phỏng thống kê Bayes được thực hiện thông qua thuật toán Metropolis–Hastings (MH) với mô hình hồi quy được tiến hành mô phỏng 10.000 lần, mỗi lần mô phỏng chúng ta sẽ thu được các hệ số hồi quy của mô hình, do vậy, bảng kết quả mô phỏng sẽ thể hiện giá trị trung bình (Mean) của các thông số trong mô hình sau 10.000 lần mô phỏng. Bên cạnh đó, bảng kết quả mô phỏng còn cung cấp các giá trị về sai số chuẩn (Std. Dev) cho các hệ số hồi quy, sai số chuẩn chuỗi Monte-Carlo (MCSE).

Bảng 4.5 có thể thấy, tỷ lệ chấp nhận trung bình của cả 2 mô hình đều đạt 1, đáp ứng tiêu chuẩn tối thiểu 10%, hiệu quả nhỏ nhất trong 2 mô hình là 0,89 vượt xa mức cần thiết là 0,01 do đó mô hình trên đều đạt yêu cầu. Ngoài tỷ lệ chấp nhận trung bình và hiệu quả tối thiểu chuỗi MCMC, chúng ta còn phải xem xét giá trị sai số chuẩn Monte-Carlo (Monte-Carlo Standard Error – MCSE). Flegal & cộng sự (2008) khẳng định MCMC càng vững khi MCSE tiến gần về 0, Flegal & cộng sự (2008) cũng cho rằng trong nghiên cứu thực nghiệm MCSE nhỏ hơn 6,5% độ lệch chuẩn là chấp nhận được và nhỏ hơn 5% độ lệch chuẩn thì đạt mức tối ưu. Luận văn: Kết quả nghiên cứu cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Kết quả bảng 4.5 cho thấy nhìn chung tập trung ngân hàng giúp cải thiện sự ổn định của hệ thống ngân hàng khi nó có xu hướng tác động tích cực đến hệ số Zsocre và làm giảm nợ xấu. Đối với năng lực cạnh tranh của ngân hàng, biến Lerner mang dấu dương đối với mô hình 1 nghĩa là nó có khuynh hướng làm tăng Zscore. Bên cạnh tập trung ngành (HHI_TD) và năng lực cạnh tranh (Lerner), số lượng ngân hàng (Banks), và quy mô ngân hàng (SIZE) cũng có tác động tích cực đến ổn định ngân hàng. Trong khi đó các yếu tố khác như tăng trưởng tín dụng (CRE), tăng trưởng kinh tế (GDP), lạm phát (INF) và đại dịch Covid làm xói mòn sự ổn định của các ngân hàng khi nó làm giảm Zscore và tăng nợ xấu các ngân hàng thương mại. Một điểm cần chú ý, tác động của yếu tố thu nhập ngoài lãi (NITA) đến hệ thống ngân hàng là tương đối mẫu thuẩn khi nó làm giảm hệ số Zscore đồng thời cũng làm giảm nợ xấu; ngược lại, biến lãi suất chính sách (ITP) lại có khuynh hướng làm tăng hệ số Zscore nhưng yếu tố này cũng làm tăng nợ xấu (NPL) của các ngân hàng. Một điểm cần lưu ý khác giá trị hệ số hồi quy của biến Lerner đối với NPL chỉ đạt -0,016, giá trị này là tương đối thấp để chúng ta có thể xác định được khuynh hướng tác động của biến này đối với nợ xấu. Ngoài giá trị Lerner, mô hình 2 cũng có các biến có hệ số hồi quy gần bằng 0 là mức tăng trưởng tín dụng (CRE) và biến đại dịch COVID, biến số lượng ngân hàng (SIZE) cũng có giá trị tương đối thấp khiến chúng ta gặp nhiều khó khăn trong việc xác định tác động của các yếu tố này. Do vậy, để phân tích một cách toàn diện hơn về tác động của các yếu tố trên đối với sự ổn định của hệ thống ngân hàng, chúng ta cần tiến hành phân tích Bayes hậu nghiệm để xác định xác suất tác động của các yếu tố này đối với biến phụ thuộc.

Khác với phương pháp truyền thống, chúng ta sẽ kiểm định giả thuyết không (Null Hypothesis) để đánh giá liệu có mối quan hệ giữa biến độc lập và biến phụ thuộc không. Ví dụ, đối với nghiên cứu này, chúng ta có thể đặt giả thuyết H0: Tập trung ngân hàng không cải thiện ổn định hệ thống ngân hàng. Giả thuyết H0 sẽ bị bác bỏ nếu p-value nhỏ hơn 1%, 5% hoặc 10%, nghĩa là tập trung ngân hàng sẽ cải thiện ổn định ngân hàng và ngược lại. Tuy nhiên, p-value không giúp chúng ta ước lượng được tập trung ngân hàng cải thiện ổn định ngân hàng có xác suất xãy ra là bao nhiêu phần trăm. Trong khi đó, với phương pháp Bayes có thể giúp ta trả lời được câu hỏi này.

Bảng 4.6. Xác suất hậu nghiệm Bayes

Mô hình 1
Mean Std. Dev. MCSE
Xác suất {LnZscore:HHI_TD} > 0 0.593 0.491 0.003
Xác suất {LnZscore:LERNER} > 0 1.000 0.000 0.000
Xác suất {LnZscore:CAP} > 0 1.000 0.015 0.000
Xác suất {LnZscore:SIZE} > 0 0.977 0.150 0.001
Xác suất {LnZscore:NITA} < 0 0.638 0.481 0.003
Xác suất {LnZscore:CRE} < 0 0.762 0.426 0.002
Xác suất {LnZscore:ITP} > 0 0.677 0.416 0.002
Xác suất {LnZscore:GDP} < 0 0.509 0.500 0.003
Xác suất {LnZscore:INF} > 0 0.832 0.374 0.002
Xác suất {LnZscore:COVID} < 0 0.587 0.492 0.003
M ô hình 2
Mean Std. Dev. MCSE
Xác suất {NPL:HHI_TD} < 0 0.637 0.481 0.003
Xác suất {NPL:LERNER} < 0 0.947 0.224 0.001
Xác suất {NPL:CAP} < 0 0.869 0.337 0.002
Xác suất {NPL:SIZE} < 0 0.766 0.423 0.002
Xác suất  {NPL:NITA} < 0 0.997 0.056 0.000
Xác suất {NPL:CRE} < 0 0.545 0.498 0.003
Xác suất {NPL:ITP} > 0 0.835 0.372 0.002
Xác suất {NPL:GDP} < 0 0.596 0.491 0.003
Xác suất  {NPL:INF} > 0 0.826 0.379 0.002
Xác suất {NPL:COVID} > 0 0.564 0.496 0.003

Nguồn: Tính toán của tác giả Luận văn: Kết quả nghiên cứu cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Bảng 4.6 thể hiện xác suất tác động của các biến độc lập đến ổn định các ngân hàng thương mại. Theo đó, mức độ tập trung ngân hàng được đo lường thông qua chỉ số HHI có tác động cải thiện ổn định tài chính khi nó làm tăng chỉ số Zscore và làm giảm tỷ lệ nợ xấu của các NHTM, tuy nhiên, mức độ tác động này là không đáng kể khi xác suất tác động của HHI đối với Zscore chỉ là 59,3% và đối với nợ xấu chỉ là 63,7%. Thực tế, trước năm 2011, các NHTM Việt Nam đua nhau mở rộng quy mô hoạt động, với làn sóng thành lập ngân hàng mới và đặc biệt là trào lưu chuyển đổi lên ngân hàng thành thị từ ngân hàng nông thôn. Với làn sóng chuyển đổi này, mức độ tập trung ngành ngân hàng trong giai đoạn này đã giảm xuống với số lượng NHTM tăng trưởng nóng, ở thời kỳ cao nhất Việt Nam có 35 NHTM. Do số lượng ngân hàng tăng mạnh, làm giảm mức độ tập trung đã gây ra áp lực cạnh tranh rất lớn, đẩy các ngân hàng vào một cuộc đua trong huy động và cho vay. Tuy nhiên, do phát triển quá nóng, nền tảng tài chính của các ngân hàng này không thật sự vững chắc, cộng với khả năng quản trị yếu kém, và vô trách nhiêm trong việc điều hành hoạt động kinh doanh, nợ xấu của ngân hàng đã tăng vọt, đặc biệt là các ngân hàng nhỏ, điều này đã làm cho sự ổn định của hệ thống ngân hàng bị suy giảm một cách nghiêm trọng. Đối mặt với thách thức này, NHNN đã tiến hành hàng loạt biện pháp mạnh tay nhằm tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, một trong số đó là giảm mức độ phân tán của ngân hàng, tiến hành sát nhập các ngân hàng yếu kém, tăng mức độ tập trung ngành. Cùng với các giải pháp hiệu quả khác mà tiêu biểu là công cụ trần tăng trưởng tín dụng được NHNN thực thi từ năm 2012, theo đó, các ngân hàng sẽ được phân loại thành 4 nhóm tùy vào tình hình hoạt động và năng lực tài chính mà mức trần tăng trưởng sẽ lần lượt là 17%, 15%, 8% và 0%. Với các giải pháp mạnh tay này, hệ thống NHTM dần vượt qua khó khăn. Sau khi các ngân hàng yếu kém được xử lý, năng lực tài chính của các ngân hàng được cải thiện, nhiều NHTM Việt Nam được tổ chức xếp hạng tín nhiệm uy tín tăng hạng tín nhiệm, lúc này, nhiều ngân hàng nước ngoài tham gia vào thị trường Việt Nam, mức độ cạnh tranh ngành giảm, tuy nhiên với các chính sách được điều hành đúng đắn, cùng với việc giám sát năng lực tài chính của các NHTM diễn ra một cách chặt chẽ, sự lành mạnh của hệ thống ngân hàng vẫn được giữ vững, điều này đã giải thích cho việc mức độ tập trung ngành giảm nhưng sự ổn định của các ngân hàng vẫn được duy trì, nên tác động của tập trung ngành đến ổn định ngân hàng là tương đối mờ nhạt trong giai đoạn này.

Chỉ số Lerner có tác động cải thiện mức độ ổn định của các NHTM rất rõ nét khi xác suất tác động của biến này đối với Zscore chạm ngưỡng 100% và tác động làm giảm nợ xấu của chỉ số này đạt gần 95%. Theo Phong (2010), ngân hàng có năng lực cạnh tranh cao sẽ tạo ra cơ sở để ngân hàng có thể duy trì và phát triển lợi thế của mình, củng cố và mở rộng thị trường, tạo ra nền tảng để ngân hàng có khả năng đương đầu với các cú sốc kinh tế, những biến động bất lợi của kinh tế vĩ mô. Kazarenkova (2006) cũng nhận định rằng năng lực cạnh tranh giúp các ngân hàng nâng cao tiềm năng khởi tạo và phát triển những sản phẩm đột phá mang tính cạnh tranh cao trên thị trường, giúp tạo dựng một thương hiệu uy tín, đáng tin cậy trong việc đáp ứng các nhu cầu của khách hàng, điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng mà còn góp phần nâng cao sức kháng cự của ngân hàng trước các biến động vĩ mô. Luận văn: Kết quả nghiên cứu cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Nghiên cứu của Võ Xuân Vinh & Đặng Bửu Kiếm (2016) cho hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2006-2014 đã cung cấp bằng chứng về việc nâng cao năng lực cạnh tranh giúp các ngân hàng giúp nâng cao và duy trì sự ổn định trong việc tạo ra lợi nhuận của các ngân hàng thương mại, nghĩa là cải thiện sự ổn định của ngân hàng thương mại. Dựa trên bộ dữ liệu của các NHTM tại 12 quốc gia Châu Á, Sodarmono & cộng sự (2011) cũng xác nhận rằng sức mạnh cạnh tranh các ngân hàng càng lớn khi mức độ an toàn vốn cao, điều này sẽ giúp các ngân hàng nâng cao khả năng đối phó với rủi ro lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức có thể xảy ra trong quá trình hoạt động, giúp giảm thiểu rủi ro phá sản của các ngân hàng. Kết quả này cũng tương đồng với các nghiên cứu của De Nicoló (2001), Uhde & Heimeshoff (2009), Anginer & cộng sự (2014), Tabak & cộng sự (2015).

Tỷ lệ VCSH trên TTS (CAP) là một yếu tố quan trọng trong việc duy trì sự ổn định của các ngân hàng thương mại, theo đó các ngân hàng có tỷ lệ VCSH trên TTS lớn thì nợ xấu của ngân hàng thấp hơn với xác suất là 86,9% trong khi tác động cải thiện của yếu tố này đối với hệ số Zscore chạm ngưỡng 100%, điều này phù hợp với các giả thuyết đặt ra ban đầu. Các ngân hàng có tỷ lệ VCSH cao sẽ có khả năng đáp ứng nhu cầu rút tiền cũng như các nhu cầu khác cao hơn, do vậy họ có khả năng kháng chịu trước những cú sốc tốt hơn (Anginer & Demirgüç-Kunt, 2014). Nghiên cứu của Allen & cộng sự (2011) và Mehran & Thakor (2011) cũng đã cung cấp bằng chứng về việc các ngân hàng có tỷ lệ VCSH cao sẽ giúp họ vượt qua vấn đề người đại diện phát sinh do bất cân xứng thông tin. Các tác giả này nhận định, các ngân hàng có tỷ lệ VCSH cao sẽ có nhiều động cơ hơn trong việc ra quyết định và giám sát các khoản vay, họ có tỷ lệ sống sót cao hơn. Ngoài ra, các ngân hàng có tỷ lệ vốn cao cũng sẽ có mức độ tín nhiệm cao hơn, chi phí huy động vốn của họ thấp hơn, giúp họ gia tăng lợi nhuận biên và duy trì lợi nhuận một cách ổn định.

Đối với quy mô ngân hàng (SIZE) kết quả phân tích Bayes hậu nghiệm cho thấy, quy mô ngân hàng càng lớn, tính ổn định của các ngân hàng này càng cao. Cụ thể, xác suất tác độ của biến size đến NPL là 76,6%, mặc dù xác suất tác động này không rõ nét, nhưng tác động tích cực của size đối với Zscore lên đến 97,7%; do vậy chúng ta có đủ bằng chứng để kết luận quy mô ngân hàng giúp cải thiện sự ổn định ngân hàng, điều này phù hợp với giả thuyết đặt ra ban đầu. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của De Haan & Poghosyan (2012) khi tác giả này cho rằng các ngân hàng có quy mô tài sản lớn sẽ làm giảm sự biến động trong lợi nhuận qua đó làm giảm rủi ro của ngân hàng. Nghiên cứu của Adusei (2015) tại Ghana cũng cung cấp bằng chứng cho thấy việc tăng quy mô tài sản của các ngân hàng nông thôn tại quốc gia này giúp tăng tính ổn định của ngân hàng.

Yếu tố đa dạng hóa hoạt động kinh doanh (NITA), được đo lường thông qua thu nhập ngoài lãi có tác động nghịch chiều đối với hệ số Zscore, nghĩa là nó làm giảm mức độ ổn định của ngân hàng, tuy nhiên mối quan hệ này tương đối mờ nhạt khi xác suất tác động của nó chỉ đạt 63,8%, trong khi đó xác suất mà biến số NITA giúp giảm tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng lên đến 99,7%, do vậy, có thể nhận định rằng, đa dạng hóa hoạt động ngân hàng giúp nâng cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng. Odesanmi & Wolfe (2007) khẳng đinh rằng việc nâng cao thu nhập ngoài lãi sẽ giúp các ngân hàng ít phụ thuộc hơn vào hoạt động tín dụng, điều này giúp ngân hàng phân tán và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động, đặc biệt là rủi ro tín dụng, do vậy nợ xấu của các ngân hàng này sẽ giảm xuống. Các tác giả này cũng cho rằng việc gia tăng thu nhập ngoài lãi sẽ giúp thu nhập của ngân hàng ổn định hơn, ít chịu biến động hơn khi có sự thay đổi trong chính sách tiền tệ.

Lãi suất chính sách (IRP) tăng lên cải thiện hệ số Zscore, tuy nhiên tác động này là rất mờ nhạt khi xác suất tác động của biến số này chỉ là 67,7%, trong khi đó khi lãi suất chính sách tăng làm nợ xấu của các ngân hàng tăng lên với xác suất 83,5%, do vậy có thể kết luận rằng lãi suất chính sách tăng thì rủi ro của hệ thống ngân hàng có khuynh hướng gia tăng. Nguyễn Trần Xuân Linh & cộng sự (2020) nhận định rằng, về mặt lý thuyết, khi lãi suất chính sách được duy trì ở mức thấp trong thời gian dài, sự ổn định của hệ thống tài chính sẽ bị xói mòn rủi ro bị tích lũy. Tuy nhiên, CSTT chỉ có thể được nới lỏng trong thời gian dài khi lạm phát được duy trì ở mức thấp, ổn định qua thời gian, điều này không phù hợp với điều kiện của những quốc gia đang phát triển như Việt Nam khi lạm phát thường xuyên biến động và có những năm tăng mạnh như năm 2011 lạm phát lên đến 18,13% hoặc năm 2012 là 9,21%. Đối mặt với lạm phát cao, NHNN buộc phải thắt chặt CSTT khiến lãi suất tăng mạnh, điều này làm tăng chi phí của những người vay tiền, nhất là tại Việt Nam, các khoản vay thường là các khoản vay thả nổi. Lãi suất tăng không những làm tăng gánh nặng cho người vay vốn mà còn làm tăng chi phí hoạt động nền kinh tế, làm giảm giá trị ròng của các tài sản đảm bảo và làm giảm khả năng trả nợ của những người vay vốn, hậu quả là nợ xấu trong hệ thống ngân hàng tăng mạnh. Đây là những gì đã xãy ra trong năm 2011-2012, buộc NHNN phải tiến hành tái cơ cấu hệ thống NHTM nhằm làm lành mạnh hệ thống ngân hàng. Luận văn: Kết quả nghiên cứu cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Một kết quả đáng ngạc nhiên là lạm phát (INF) có xu hướng cải thiện sự ổn định các ngân hàng khi nó có xu hướng làm tăng Zscore với xác suất 83,2% và làm giảm nợ xấu với xác suất 82,6%. Hà Văn Dũng & cộng sự (2020) giải thích rằng, Việt Nam là một quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế rất nhanh, để đạt được thành quả này, các chính sách kinh tế vĩ mô thường hướng tới tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là CSTT thường được nới lỏng để hướng tới mục tiêu này. Khi CSTT được nới lỏng, lãi suất chính sách sẽ giảm xuống, điều này đã góp phần làm giảm tỷ lệ nợ xấu, nhưng lạm phát cũng sẽ tăng lên. Tuy nhiên, khi lạm phát tăng quá cao, NHNN sẽ thực hiện các biện pháp thắt chặt để làm giảm lạm phát, lãi suất chính sách lúc này sẽ có xu hướng tăng lên khiến nợ xấu trong nền kinh tế tăng mạnh như đã giải thích ở phần trên.

Tác động của các yếu tố còn lại đến ổn định tài chính của các NHTM không rõ nét, theo đó, biến tăng trưởng tín dụng (CRE) có xu hướng làm suy giảm giá trị Zscore tuy nhiên, xác suất của nó chỉ là 76,2%, biến này cũng làm giảm tỷ lệ nợ xấu nhưng xác suất chỉ đạt 54,5%. Tương tự, biến tăng trưởng kinh tế (GDP) cũng làm giảm giá trị Zscore, tuy nhiên xác suất của tác động này chỉ ở mức 50,9% và yếu tố này cũng làm giảm nợ xấu nhưng xác suất cũng chỉ là 59,6%. Cuối cùng, biến đại dịch Covid-19 có xu hướng làm giảm sự ổn định của NHTM, tuy nhiên tác động này rất mờ nhạt, khi xác suất làm giảm hệ số Zscore chỉ là 58,7% và xác suất làm tăng nợ xấu chỉ là 58,7%. Thực tế, khi đại dịch Covid bùng phát, Việt Nam đã có những biện pháp đối hiệu quả để kiểm soát và giảm thiểu tác động của đại dịch Covid. Bên cạnh đó, NHNN cũng như các cơ quan khác của chính phủ đã thực thi rất nhiều giải pháp nhằm hỗ trợ nền kinh tế. Những giải pháp này đã giảm thiểu tác động của đại dịch và hỗ trợ nền kinh tế vượt qua giai đoạn khó khăn này, do vậy, hoạt động ngân hàng dù có suy giảm, tuy nhiên mức suy giảm không đáng kể và nợ xấu vẫn được kiểm soát ở mức an toàn.

Kết luận chương 4

Trong chương 4, tác giả đã trình bày kết quả mô phỏng Bayes và phân tích các kết quả thu được từ xác suất Bayes hậu nghiệm, theo đó, biến số cạnh tranh ngân hàng giữ một vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng, trong khi đó, vai trò này của tập trung ngành là tương đối mờ nhạt. Ngoài ra, nghiên cứu còn xác định được các yếu tố khác cải thiện đáng kể ổn định ngân hàng bao gồm: quy mô ngân hàng, đo lường thông qua Logarit tổng tài sản, tỷ lệ VCSH/TTS, đa dạng hóa thu nhập, đo lường thông qua thu nhập ngoài lãi, đáng chú ý, lạm phát cũng là một yếu tố cải thiện ổn định của ngân hàng, tuy nhiên, tác động này chỉ là trong ngắn hạn. Lãi suất chính sách yếu tố tác động tiêu cực đến ổn định tài chính của các NHTM. Trong khi đó các yếu tố còn lại bao gồm tăng trưởng kinh tế GDP, tăng trưởng tín dụng và biến đại dịch Covid có tác động tương đối mờ nhạt đối với sự ổn định của hệ thống ngân hàng.

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH Luận văn: Kết quả nghiên cứu cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

5.1. Kết luận của nghiên cứu

Hệ thống NHTM được xem là huyết mạch của hệ thống tài chính nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung. Sự phát triển bền vững và ổn định của hệ thống ngân hàng sẽ tạo ra nền tảng vững chắc hỗ trợ sự phát triển các ngành nghề khác trong nền kinh tế, qua đó thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng một cách bền vững và ổn định. Hơn thế nữa, tại các nước đang phát triển, hệ thống ngân hàng càng giữ một vai trò then chốt khi dòng vốn đầu tư trong nền kinh tế chủ yếu được huy động qua nguồn vốn tín dụng ngân hàng.

Kinh tế Việt Nam đã có một giai đoạn phát triển bùng nổ đặc biệt là những năm 2006-2007, cùng với đó là sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống tài chính, đặc biệt là làn sóng thành lập ngân hàng mới và chuyển đổi ngân hàng nông thôn thành ngân hàng thành thị, số lượng ngân hàng đã có sự tăng trưởng nóng trong giai đoạn này. Tuy nhiên, do sự tăng trưởng quá nhanh về quy mô và số lượng các ngân hàng đã dẫn tới những trục trặc trong hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng Việt Nam trong những năm 2011-2012 lớn về số lượng nhưng nhiều ngân hàng trong số đó có năng lực tài chính hạn chế, năng lực quản trị yếu kém đã làm xói mòn sự ổn định của hệ thống ngân hàng. Trước tình hình này, NHNN đã tiến hành tái cấu trúc hệ thống ngân hàng với mục tiêu giảm số lượng ngân hàng, tăng tính tập trung và tăng khả năng cạnh tranh của các ngân hàng trong nước. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, hệ thống tài chính mà cụ thể là các ngân hàng trong nước đã từng bước hội nhập sâu rộng vào hệ thống tài chính quốc tế thì việc tái cơ cấu, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các NHTM càng có ý nghĩa quan trọng. Với vai trò là huyết mạch của nền kinh tế, trong bối cảnh hội nhập kinh tế tài chính toàn cầu ngày càng sâu rộng, đòi hỏi các NHTM Việt Nam phải nâng cao khả năng cạnh tranh của mình và NHNN phải có những hướng đi đúng đắn để duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng, nâng cao sức kháng cự của hệ thống tài chính trước các cú sốc vĩ mô xảy ra ngày càng thường xuyên trên thế giới. Luận văn: Kết quả nghiên cứu cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Nghiên cứu này được thực hiện để cung cấp thêm các bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa tập trung, cạnh tranh ngành và sự ổn định của các NHTM để làm thông tin tham khảo cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách để duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng, tạo ra nền tảng để đảm cho nền kinh tế có thể tăng trưởng một cách bền vững.

Trong nghiên cứu này, tác giả đã tóm lược các cơ sở lý thuyết về tập trung ngành, cạnh tranh ngành và tác động của hai yếu tố này đến sự ổn định của ngân hàng, ngoài ra tác giả cũng đề xuất cách thức đo lường phù hợp về sự ổn định ngân hàng, tập trung ngành và cạnh tranh ngành. Cụ thể, để đo lường sự ổn định của ngân hàng, tác giả sử dụng hệ số Zscore và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ. Đối với tập trung ngành, tác giả sử dụng chỉ số HHI; và chỉ số Lerner được dùng làm biến đại diện cho năng lực cạnh tranh của NHTM.

Thông qua dữ liệu được thu thập từ 27 NHTM được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2011-2021, nghiên cứu đã sử dụng phương pháp hồi quy theo cách tiếp cận Bayes để đánh giá tác động của tập trung ngành và cạnh tranh đến ổn định ngân hàng. Kết quả phân tích Bayes hậu nghiệm cho thấy, sự tập trung ngành không có vai trò quá lớn trong việc duy trì sự ổn định của hệ thống NHTM, trong khi đó năng lực cạnh tranh của các ngân hàng giữ một vị trí quan trọng trong việc duy trì sự ổn định của các NHTM. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh vai trò của quy mô ngân hàng, tỷ lệ VCSH và đa dạng hóa thu nhập trong việc cải thiện sự lành mạnh của hệ thống ngân hàng. Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy, lãi suất chính sách có tác động tiêu cực đến ổn định ngân hàng, trong khi đó lạm phát lại có xu hướng cải thiện sự ổn định của hệ thống tài chính, tuy nhiên, tác động này chỉ đúng trong ngắn hạn. Các yếu tố còn lại tăng trưởng tín dụng, tăng trưởng GDP và đại dịch Covid-19 có tác động tương đối mờ nhạt đối với ổn định tài chính.

5.2. Hàm ý chính sách Luận văn: Kết quả nghiên cứu cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Từ kết quả nghiên cứu đã được trình bày, đề tài đưa ra gợi ý rằng để cải thiện sự ổn định của hệ thống ngân hàng thì nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng giữ một vai trò then chốt khi xác suất tác động của biến Lerner trong việc cải thiện hệ số Z-score chạm ngưỡng 100% và xác suất giảm thiểu nợ xấu của Lerner lên đến gần 95%. Để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng, tác giả đề xuất một số hàm ý chính sách sau:

  • Về phía các ngân hàng thương mại

Hệ thống NHTM Việt Nam còn bộc lộ nhiều hạn chế trước những đòi hỏi ngày càng cao về ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng bền vững. Chính vì vậy, các NHTM Việt Nam có thể cân nhắc một vài chính sách vừa đảm bảo sự hoạt động của mình, vừa duy trì sự cạnh tranh, tập trung cần thiết đồng thời vẫn đảm bảo sự ổn định của hệ thống ngân hàng như sau:

  • Cần thu hút nhiều hơn đối tác nước ngoài, các nhà đầu tư chiến lược tham gia quản lý điều hành hoạt động của ngân hàng, từ đó hiện đại hóa ngân hàng, cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh cho các NHTM.
  • Các NHTM cần xác định cạnh tranh là xu thế tất yếu, nhất là trong giai đoạn hiện nay, các NHTM không chỉ cạnh tranh giữa các ngân hàng trong nước với nhau mà còn phải cạnh tranh với các đối thủ từ nước ngoài, đặc biệt là sự xuất hiện của các công ty công nghệ tài chính (Fintech) càng làm cho sự cạnh tranh này khốc liệt hơn.

Các NHTM cần phải có chiến lược, đào tạo hoặc huy động nhân sự chất lượng cao để nghiên cứu, phát triển và ứng dụng Fintech tránh để mình trở nên lạc hậu và bị nhấn chìm trong xu thế cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra rất mạnh mẽ. Các ngân hàng cũng có thể hợp tác với các công ty Fintech, tận dụng thế mạnh lẫn nhau, để cung ứng các dịch vụ, giải pháp tài chính ngân hàng tốt hơn, an toàn và thuận tiện cho người sử dụng, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng.

Duy trì, nâng cao tiêu chuẩn hoạt động cho vay hiệu quả và đặc biệt phải đáp ứng yêu cầu của tiêu chuẩn Basel II về tỷ lệ an toàn vốn tối thiều hoặc cao hơn. Bởi vì an toàn vốn là điều kiện quan trọng cần thiết để đảm bảo sự ổn định của hệ thống.

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng quy mô ngân hàng có tác động đến sự ổn định của ngân hàng. Ngân hàng có quy mô tài sản lớn sẽ làm giảm rủi ro cho ngân hàng. Vì vậy, các ngân hàng cần quản lý tốt chất lượng tài sản, tăng tỷ trọng thu nhập các hoạt động phi tín dụng để giảm hao hụt tài sản. Luận văn: Kết quả nghiên cứu cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Các NHTM Việt Nam cần tách bạch rõ quyền hạn, trách nhiệm của các phòng ban, tăng cường phối hợp giữa các ban, các chi nhánh trong toàn hệ thống trong việc phát triển dịch vụ phi tín dụng. Xây dựng những qui trình cụ thể nhằm hình thành hoạt động quản trị chiến lược chuyên nghiệp, nâng cao công tác dự báo, nghiên cứu thị trường phục vụ cho công tác quản trị, điều hành nhằm phát triển dịch vụ phi tín dụng.

Việc đổi mới mô hình quản trị, nâng cao năng lực quản trị cần xây dựng hệ thống cảnh báo sớm, sử dụng các công cụ quản lý rủi ro thị trường, tác nghiệp theo chẩn mực và thông lệ quốc tế.

Cạnh tranh hiện nay cũng đồng nghĩa với việc các ngân hàng đa dạng hóa các hoạt động của mình trong đó việc đa dạng hóa thu nhập ngoài lãi cũng có thể là một phương án tối ưu đối với các NHTM có ít thị phần hơn. Các ngân hàng cần tìm thế mạnh riêng của mình để có thể đa dạng hóa các khoản thu nhập ngoài lãi để khi có rủi ro xảy ra xẽ ít ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng, từ đó đảm bảo sự ổn định cảu hệ thống.

  • Về phía nhà nước Luận văn: Kết quả nghiên cứu cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

NHNN cần tăng cường giám sát hoạt động của các ngân hàng, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, tránh sự cạnh tranh quá mức, có thể dẫn đến sự suy yếu của hệ thống ngân hàng, bởi vì cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng trong giai đoạn hiện nay ngày càng khốc liệt, đặc biệt là trong bối cảnh các ngân hàng nước ngoài tham gia vào thị trường trong nước càng nhiều. Ví dụ cụ thể cho nhận định này là vào năm 2012, nhiều ngân hàng đã xé rào tham gia vào cuộc đua lãi suất, khiến lãi suất cho vay trong nền kinh tế tăng mạnh, điều này đã làm giảm bớt tác động kỳ vọng của NHNN trong việc điều hành CSTT. Cần lưu ý, theo kết quả nghiên cứu, lãi suất tăng cũng là một yếu tố gây ra bất ổn hệ thống ngân hàng khi nó có thể làm tăng nợ xấu với xác suất lên đến gần 84%.

Để nâng cao khả năng cạnh tranh của các NHTM, NHNN cần khuyến khích các ngân hàng mở rộng sang các nghiệp vụ phi lãi, nâng cao chất lượng dịch vụ. Điều này không chỉ giúp các NHTM cải thiện được năng lực cạnh tranh, mà hoạt động phi lãi còn là một yếu tố cải thiện sự ổn định của hệ thống ngân hàng khi nó giúp giảm nợ xấu lên đến 99%.

Trong bối cảnh công nghệ ngày càng thâm nhập sâu rộng vào tất cả các lĩnh vực, NHNN cần tạo ra hành lang pháp lý, khuyến khích các ngân hàng đầu tư về công nghệ, từng bước chuyển đổi sang ngân hàng số, giúp thuận tiện các giao dịch của khách hàng, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM.

Thực tế, tại Việt Nam lĩnh vực tài chính – ngân hàng chịu sự kiểm soát rất chặt chẽ của Nhà nước vì đây vốn là lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro, có tác động to lớn đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, đối với hoạt động của Fintech thì vẫn chưa có hệ thống văn bản pháp luật đầy đủ để điều chỉnh hành vi các công ty này. Cần phải nhận định rằng, sự phát triển Fintech là tất yếu, do vậy NHNN và cơ quan quản lý cần học tập kinh nghiệm các nước, tham vấn các chuyên gia nhằm nhanh chóng xây dựng một hành lang pháp lý để tạo điều kiện cho sự phát triển cũng như nắn hoạt động lĩnh vực này đi vào khuôn khổ, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế thay vì tạo ra những rủi ro tiềm ẩn đối với hệ thống tài chính.

Tiếp tục rà soát và sát nhập các ngân hàng nhỏ, không đủ tiềm lực tài chính để có thể trụ vững trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng. Việc khuyến khích sự gia tăng tập trung trong hệ thống bằng các biện pháp như mua bán, hợp nhất hay cho phép phá sản các ngân hàng hoạt động không hiệu quả sẽ góp phần lành mạnh hoạt động hệ thống ngân hàng cũng như tăng niềm tin với các nhà đầu tư, doanh nghiệp và người dân giúp hệ thống ngân hàng vận hành hiệu quả hơn.

NHNN cần phải đẩy nhanh quá trình nâng vốn pháp định, thúc đẩy các NHTM nhanh chóng đáp ứng các tiêu chí về an toàn vốn theo tiêu chí của Basel II và hướng tới chạm ngưỡng Basel III. Vì sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các ngân hàng đòi hỏi các ngân hàng phải có tiềm lực tài chính lớn, đặc biệt là nguồn vốn tự có. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ VCSH trên TTS (CAP) đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định của các NHTM khi xác suất giảm tỷ lệ nợ xấu của biến này đạt 87% trong khi xác suất các ngân hàng có tỷ lệ VCSH/TTS cao hơn có giá trị Z-score cao hơn chạm mức 100%.

NHNN cần tạo điều kiện thuận lợi hơn để các ngân hàng 100% vốn nước ngoài thâm nhập vào thị trường Việt Nam nhằm tạo ra môi trường cạnh tranh vững mạnh hơn, vì chỉ khi cạnh tranh với các đối thủ mạnh hơn về tài chính, công nghệ, tốt hơn về năng lực quản trị thì các NHTM Việt Nam mới chuyển mình tốt hơn.

Vai trò của Chính phủ còn thể hiện qua các yếu tố lạm phát và tăng trưởng, đây là hai yếu tố góp phần cải thiện ổn định hệ thống ngân hàng. Nhưng cơ chế, chính sách được Chính phủ ban hành cải cách góp phần thúc đẩy hội nhập và phát triển kinh tế tạo ra một môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp và người dân sẽ góp phần hạn chế nhiều rủi ro của hệ thống ngân hàng

Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy yếu tố lãi suất chính sách cũng có một vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng, do vậy khi điều hành CSTT, cần tránh có sự gia tăng đột ngột trong lãi suất vì kết quả nghiên cứu cho thấy, khi lãi suất tăng nợ xấu trong nền kinh tế tăng mạnh, gây xói mòn sự ổn định của hệ thống ngân hàng.

5.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo Luận văn: Kết quả nghiên cứu cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Mặc dù đề tài đã có những đóng góp về mặt thực tiễn, tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế như sau:

Thứ nhất, ngoài việc xem xét tác động của tập trung và cạnh tranh ngành thì nghiên cứu chỉ mới đề cập đến một vài nhân tố ảnh hưởng đến ổn định ngân hàng như chính sách tiền tệ mà đại diện là biến lãi suất chính sách, hoặc các yếu tố thuộc về nội tại ngân hàng như quy mô ngân hàng, tăng trưởng tín dụng, đa dạng hóa hoạt động, được đo lường thông qua thu nhập ngoài lãi, tỷ lệ VCSH/TTS… Tuy nhiên, sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, khi phân tích nhân tố ảnh hưởng đến ổn định ngân hàng, các nhà nghiên cứu thường đề cập đến chính sách an toàn vĩ mô, nhưng trong nghiên cứu này, nhưng nghiên cứu này đã bỏ sót yếu tố này. Do vậy, trong những nghiên cứu tiếp theo, cần phải đánh giá chính sách an toàn vĩ mô tại Việt Nam đang được thực thi như thế nào và ảnh hưởng của nó đến ổn định tài chính ra sao.

Thứ hai, đề tài chưa xem xét đến yếu tố công nghệ, cụ thể là sự xuất hiện của các công ty công nghệ tài chính, hoặc việc áp dụng công nghệ trong tài chính (Fintech) ảnh hưởng đến ổn định tài chính của các ngân hàng như thế nào, do vậy trong nghiên cứu tiếp theo, để đánh giá một cách toàn diện các nhân tố ảnh hưởng đến ổn định tài chính như thế nào thì cần phải xem xét đến yếu tố Fintech.

Thứ ba, nghiên cứu chỉ mới xem xét tác động của cạnh tranh, tập trung ngân hàng, các yếu tố nội tại của ngân hàng và yếu tố vĩ mô đến ổn định ngân hàng trong ngắn hạn, do vậy, trong những nghiên cứu tiếp theo, cần phải áp dụng những kỹ thuật kinh tế lượng mới có thể đánh giá tác động của các yếu tố đến ổn định ngân hàng không chỉ trong ngắn hạn mà cả trung và dài hạn, để có thể đề xuất các chính sách toàn diện hơn trong việc duy trì sự ổn định hệ thống ngân hàng.

Kết luận chương 5

Chương 5 của luận văn đã trình bày các kết quả nghiên cứu chính mà đề tài đã đạt được, trên cơ sở các kết quả nghiên cứu này, tác giả đã đề xuất các hàm ý chính sách giúp cải thiện sự ổn định của hệ thống ngân hàng. Bên cạnh đó, luận văn cũng trình bày những điểm hạn chế và đề xuất các hướng nghiên cứu cho những đề tài tiếp theo. Luận văn: Kết quả nghiên cứu cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu cạnh tranh đến ổn định ngân hàng […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993