Luận văn: Kết quả nghiên cứu cấu trúc vốn ở các ngân hàng

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Kết quả nghiên cứu cấu trúc vốn ở các ngân hàng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

4.1. THỐNG KÊ MÔ TẢ MẪU NGHIÊN CỨU VÀ SỰ TƯƠNG QUAN CỦA CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH

4.1.1. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu

Bảng 4.1: Kết quả thống kê mô tả mẫu nghiên cứu

Tên biến Giá trị trung bình Độ lệch chuẩn Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất
ROE 10,00% 7,35% 0,16% 33,13%
TDTA 7,91% 2,16% 4,15% 16,13%
TDTC 196,66% 75,23% 122,43% 499,42%
TCTA 21,03% 7,18% 3,72% 41,06%
TdeDA 61,39% 13,93% 22,01% 89,82%
SIZE 8,2083 0,51 7,0186 9,1183
GDP 5,88% 1,57% 2,91% 7,08%
CPI 3,60% 0,70% 2,79% 5,74%

Nguồn: Kết quả chạy từ phần mềm STATA Luận văn: Kết quả nghiên cứu cấu trúc vốn ở các ngân hàng.

Tỷ suất sinh lời của ngân hàng (ROE) có giá trị trung bình là 10% với độ lệch chuẩn 7,35% đối với độ lệch chuẩn này thì giá trị giao động của ROE là không có thay đổi nhiều qua các năm tại giai đoạn này. Giá trị nhỏ nhất là 0,16% (Ngân hàng STB năm 2017), giá trị lớn nhất là 33,13% (Ngân hàng TCB năm 2018). Theo kết quả thu thập được thì giá trị ROE qua các năm của ngân hàng không có giá trị đột biến do đây là tỷ lệ mà các ngân hàng luôn cố gắng giữ ở mức độ ổn định và cao nhất có thể.

Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu (TDTC): với mức độ lệch chuẩn này ta có thể thấy các ngân hàng có sự thay đổi về tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu qua các năm quá nhiều. Tỷ lệ này cho thấy các ngân hàng vẫn tập trung vài việc huy động tiền gửi tiết kiệm hơn là vốn chủ sở hữu qua các năm.

Tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản: Tỷ lệ này cho thấy tiền gửi huy động từ các nguồn vẫn là nguồn vốn mà các ngân hàng sử dụng nhiều nhất để duy trì hoạt động kinh doanh tại ngân hàng mình.

Quy mô ngân hàng: mức độ lệch chuẩn không cao có thể thấy quy mô của các ngân hàng trong giai đoạn này được duy trì sự phát triển không có quá nhiều sự đột phát.

4.1.2. Sự tương quan của các biến độc lập

Bảng 4.2: Ma trận hệ số tương quan của các biến độc lập trong mô hình

Theo bảng 4.2 (xem phụ lục 03) Ma trận tương quan nhằm xác định sự tác động cũng như mức độ tác động của các biến độc lập theo từng cặp. Điều này giúp ta thấy được các cặp biến độc lập nào có tương quan với nhau, tức là tác động đến nhau trong mô hình hệ số tương quan giữa các biến có giá trị không cao, cao nhất là 0,4368 chuẩn so sánh theo Farrar và Glauber (1967) là 0,8 vì vậy không có hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng.

4.2. KẾT QUẢ MÔ HÌNH HỒI QUY Luận văn: Kết quả nghiên cứu cấu trúc vốn ở các ngân hàng.

Tác giả đã tiến hành hồi quy dữ liệu bảng được thu thập với ba phương pháp ước lượng đó là Pooled OLS, mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) để xác định mức độ tác động của các biến độc lập đến biến phụ thuộc thông qua các hệ số ước lượng. Kết quả chi tiết của việc phân tích hồi được trình bày trong Phụ lục. Kết quả hồi quy được tác giả tổng hợp vào bảng 4.3 cụ thể như sau:

Bảng 4.3: Tổng hợp kết quả hồi quy Pooled OLS, FEM và REM

Các yếu tố tác động Mô hình Pooled OLS Mô hình FEM Mô hình REM
TDTA 0,0761 -0,0666 -0,1377
TDTC -0,0168 -0,0164 -0,0172
TCTA -0,1905*** -0,1935*** -0,2123***
TdeDA 0,1011 0,0856 0,1080
SIZE 0,0590* 0,0093*** 0,0296***
GDP 0,3490 0,8676 0,4527
CPI -2,7706* -3,0160* -2,8065*
Constant -0,2999 0,2599 -0,0456
R-Squared 0,3701 0,3578 0,3269
F(7,72) 6,04 4,54 35,51
***,** và * lần lượt chỉ ý nghĩa thống kê ở mức 1%, 5% và 10%

(Nguồn: Kết quả chạy từ phần mềm STATA)

Kết quả hồi quy của ba mô hình thì mức độ phù hợp đều trên 30%, biến SIZE tương quan dương với hiệu quả hoạt động kinh doanh tại ngân hàng với mức ý nghĩa lần lượt là 10% tại mô hình Pooled OLS và 1% tại mô hình FEM, REM. Tuy nhiên hai biến TCTA, CPI thì tương quan âm với hiệu quả hoạt động kinh doanh với mức ý nghĩa lần lượt là 1%, 10%. Mặt khác tại kết quả của ba mô hình thì biến INF không có ý nghĩa thống kê hay không có tác động đến tỷ lệ tăng trưởng tín dụng. Đồng thời, các kết quả này của cả ba mô hình đều giống nhau điều này chứng minh sự phù hợp của số liệu nghiên cứu. Vì vậy tiến hành kiểm định mô hình phù hợp cuối cùng để có kết quả nghiên cứu chính thức.

4.2.1. So sánh sự phù hợp giữa mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) Luận văn: Kết quả nghiên cứu cấu trúc vốn ở các ngân hàng.

Để lựa chọn mô hình thích hợp để nghiên cứu hơn giữa mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), tác giả sử dụng kiểm định Hausman

Giả thuyết kiểm định:

Giả thuyết H0: Không có tương quan giữa các biến độc lập và phần dư (mô hình REM phù hợp)

Giả thuyết H1: Có tương quan giữa các biến các biến độc lập và phần dư (mô hình FEM phù hợp)

Bảng 4.4: Kết quả kiểm định sự phù hợp của mô hình FEM và REM

Theo kết quả kiểm định Hausman, giá trị P-value = 0,0044 thấp hơn 0,05 vì vậy chấp nhận giả thuyết giả thuyết H0, bác bỏ giả thuyết H1 đồng nghĩa sẽ là mô hình tác động ngẫu nhiên REM là mô hình phù hợp nghiên cứu hơn.

Trong hai mô hình kiểm định Pooled OLS và mô hình tác động ngẫu nhiên REM thì mô hình REM là mô hình có tính vững nhất. Vì vậy, kết quả kiểm định Hausman ủng hộ cho việc chọn mô hình REM là mô hình phù hợp nhất để phân tích các kết quả tiếp theo của nghiên cứu.

4.2.2. Kiểm định các khuyết tật mô hình tác động ngẫu nhiên REM

4.2.2.1.  Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi

Bảng 4.5: Kết quả kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi của mô hình  tác động ngẫu nhiên REM

Giả thuyết của kiểm định:

  • H0: Không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi trong mô hình REM
  • H1: có hiện tượng phương sai sai số thay đổi trong mô hình REM

Kết quả của kiểm định Prob>chi2 = 0,0000 thấp hơn 0,05 vì vậy ta bác bỏ H0 chấp nhận H1 hay đã có xảy ra hiện tượng phương sai thay đổi trong mô hình REM. Luận văn: Kết quả nghiên cứu cấu trúc vốn ở các ngân hàng.

4.2.2.2. Kiểm định hiện tượng tự tương quan

Bảng 4.6: Kết quả kiểm định hiện tượng tự tương quan

Giả thuyết

  • H0: Không có hiện tượng tự tương quan trong mô hình REM
  • H1: có hiện tượng tự tương quan trong mô hình REM

Kết quả kiểm định hiện tượng tự tương quan cho thấy hệ số Prob > F = 0,0194 thấp hơn 0,05 vì vậy bác bỏ giả thuyết H0, chấp nhận giả thuyết H1 nên có hiện tượng tự tương quan trong mô hình REM.

4.2.2.3.  Khắc phục các khuyết tật trong mô hình tác động ngẫu nhiên REM

Bảng 4.7: Kết quả ước lượng mô hình bằng phương pháp FGLS

Biến độc lập Biến phụ thuộc NPL
Hệ số hồi quy Sai số chuẩn Giá trị P-value
TDTA -0,6012** 0,2553 0,019
TDTC -0,0171** 0,0076 0,028
TCTA -0,1851* 0,0580 0,001
TDeDA 0,0899** 0,0415 0,030
SIZE 0,0451* 0,0112 0,000
GDP 0,0096 0,2842 0,973
CPI -2,0123* 0,6047 0,001
Constant -0,1408 0,0943 0,136
Số quan sát 80
Wald chi2(8) 102,69
Prob > chi2 0,0000

***,** và * lần lượt chỉ ý nghĩa thống kê ở mức 1%, 5% và 10%

Nguồn: Kết quả chạy từ phần mềm STATA Luận văn: Kết quả nghiên cứu cấu trúc vốn ở các ngân hàng.

Với biến phụ thuộc là ROE sau khi sử dụng FGLS để khắc phục hiện tượng tự tương quan và phương sai sai số thay đổi, mô hình có ý nghĩa ở mức ý nghĩa 1% (do Prob =0.0000) nên mô hình hồi quy được xây dựng là phù hợp.

4.3. THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KẾT LUẬN GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Bảng 4.8: Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Kết quả mô hình nghiên cứu có phương trình như sau: 

ROEi,t = – 0,1408 – 0,6012*TDTAit – 0,0171*TDTCit – 0,1851*TCTAit + 0,08995*TDeTAit + 0,0451*SIZEit – 2,0123*CPIt

Kết quả hồi quy và kiểm định cho thấy cả ba phương pháp ước lượng thông thường cho dữ liệu bảng bao gồm: Pooled OLS, mô hình tác động cố định FEM và mô hình tác động ngẫu nhiên REM đều không phù hợp đối với mô hình nghiên cứu của luận văn do vi phạm giả thuyết hồi quy phương sai sai số thay đổi. Để khắc phục các vi phạm này tác giả đã sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát khả thi FGLS, kết quả của mô hình hồi FGLS sẽ được sử dụng để thảo luận và phân tích các tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh tại các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam:

  • Hệ số R-Square là 0,3269 có nghĩa là các biến độc lập của mô hình giải thích được 32,69% sự biến thiên của biến phụ thuộc ROE.
  • Các biến TDTA; TDTC; TCTA; TdeDA; SIZE; CPI có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 5% và 10%. Biến GDP không có ý nghĩa thống kê do P-value lớn hơn 5%.
  • Bảng 4.9 cho thấy các kết quả đa số thống nhất với giả thuyết ban đầu. Sau đây là những phân tích về kết quả tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2016 – 2020. Luận văn: Kết quả nghiên cứu cấu trúc vốn ở các ngân hàng.

Hệ số tương quan tác động của tỷ lệ nợ trên tổng tài sản (TDTA) và tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu (TDTC) với hiệu quả hoạt động kinh doanh là -0,6012 và -0,0171 có nghĩa là TDTA và TDTC có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam. Điều này luận giải cho việc trong giai đoạn 2016 – 2020 các ngân hàng tích cực huy động các khoản vay từ các TCTD, quỹ đầu tư hay từ NHNN ngoài nền kinh tế để thực hiện hoạt động cho mở rộng tín dụng tại ngân hàng và các khoản mục đầu tư khác nhằm đem lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng. Thực tế cho thấy tốc độ tiền gửi tại các ngân hàng mỗi năm tăng 15 – 22% tại các ngân hàng. Tuy nhiên, trong giai đoạn này thì ngân hàng Việt Nam phải chịu sức ép lớn từ cuộc suy thoái kinh tế 2018 và đại dịch Covid – 19 diễn ra do đó mặc dù dư nợ tín dụng tăng như tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn khó thu hồi cũng tăng cao, trong đó, lãi vay nợ của mình vẫn phải chi trả do đó, ngân hàng nằm vào tình huống khó khăn và lợi nhuận suy giảm do đó, việc huy động các khoản nợ phải trả này đem lại tác động tiêu cực cho hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Goyal (2013); Trujillo và Ponce (2013); Quayyum và Noreen (2019). Do đó, giả thuyết H1, H2 được chấp nhận.

Hệ số tương quan tác động của tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (TCTA) và hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng là -0,1851 có nghĩa là TCTA tác động tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Điều này luận giải cho việc trong giai đoạn 2016 – 2020 các ngân hàng TMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam gia tăng vốn chủ sở hữu để mở rộng quy mô ngân hàng và gia tăng cho vay cũng như đầu tư vào các hạng mục. Nhưng như đã phân tích ở trên thì trong giai đoạn này tình hình kinh tế không tăng trưởng tốt và các sự suy thoái kéo theo, nên việc huy động vốn chủ sở hữu tạo ra cơ hội đầu tư cho ngân hàng nhưng với các chính sách hay chiến lược thiếu hợp lý hay tín hiệu thị trường không ổn định làm cho thu nhập của ngân hàng càng gặp nhiều khó khăn cũng suy giảm. Do đó, giả thuyết H3 không được chấp nhận.

Hệ số tương quan tác động của tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản (TDeTA) và hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng là 0,0899 có nghĩa là TdeTA tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng. Điều này luận giải cho việc trong giai đoạn 2016 – 2019, Vũ Phòng (2022) thì số liệu của số liệu của Tổng cục Thống kê, tới thời điểm trên, huy động vốn của các tổ chức tín dụng mới chỉ tăng 3,97% (cùng thời điểm năm 2020 tăng 3,13%) trong khi tốc độ tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế cao hơn gấp 2,1 lần tốc độ huy động vốn (8,51%). Do đó, khi hoạt động tăng trưởng tiền gửi gia tăng tạo ra môi trường thuận lợi cho tăng trưởng tín dụng tại các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam hay nói cách khác các hoạt động đầu tư cũng được mở rộng và tạo điều kiện cho lợi nhuận thu về được gia tăng. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Theo Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013); Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2014). Vì vậy, giả thuyết H4 được chấp nhận.

Hệ số tương quan tác động của quy mô ngân hàng (SIZE) và hiệu quả hoạt động kinh doanh là 0,0451 điều này có nghĩa là SIZE có tương quan dương với hiệu quả hoạt động kinh doanh tại các NHTM niêm yết trên TTCK Việt Nam. Trong hoạt động của NHTM Việt Nam thì quy mô ngân hàng là một trong những yếu tố khẳng định được vị thế của ngân hàng trong thị trường, nó còn thể hiện năng lực cạnh tranh của ngân hàng trong hệ thống ngân hàng. Vì vậy, khi quy mô càng lớn thì các ngân hàng càng tham vọng muốn kiếm được lợi nhuận nhiều hơn vì thế sẽ tích cực gia tăng hoạt động tín dụng. Mặt khác, lợi nhuận thu được sẽ làm cơ sở để gia tăng quy mô ngân hàng. Dựa trên thực tế của các NHTM Việt Nam từ 6/2019 – 6/2020 vào thời điểm cuối năm 2019 thì tổng tài sản của các NHTM Việt Nam tăng 12,5% so với năm 2018 và tăng trưởng tín dụng là 17,09% so với năm 2018. Tương tự 6/2020 theo thống kê thì quy mô các NHTM Việt Nam tăng 13,05% so với cùng kỳ năm 2021 và tốc độ tăng trưởng tín dụng có phần chậm hơn 2019 nhưng vẫn ở mức 8,5% (Vũ Phong, 2022). Điều này cho thấy, các NHTM Việt Nam đang có tham vọng mở rộng quy mô ngân hàng thông qua lợi nhuận của hoạt động tín dụng, hàng loạt các hoạt động giảm nhiệt với lãi suất cho vay và điều chỉnh tăng tỷ lệ lãi suất huy động nhằm thu hút khách hàng gửi cũng như vay tiền. Vì vậy, quy mô ngân hàng và thu nhập có mối quan hệ mật thiết tại thị trường ngân hàng Việt Nam. Kết quả này tương đồng với kết quả của nhóm tác giả Quayyum và Noreen (2019); Jadah và cộng sự (2020). Vì vậy chấp nhận giả thuyết H5.

Hệ số tương quan tác động của tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) là 0,0096 điều này có nghĩa là tốc độ tăng trưởng kinh tế có tương quan dương với hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tuy nhiên, yếu tố này không có ý nghĩa thống kê tác động với hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng. Vì vậy, giả thuyết H6 không được chấp nhận.

Hệ số tương quan tác động của tỷ lệ lạm phát (CPI) và hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng là -2,2013 điều này có nghĩa là tỷ lệ lạm phát có tương quan âm với hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Điều này luận giải cho việc nếu tỷ lệ lạm phát trong nền kinh tế tăng cao ảnh hưởng đến giá cả, sức mua của đồng tiền,… đối với ngân hàng thì nó tác động đến lãi suất mà lãi suất là công cụ mà khách hàng làm việc với ngân hàng, tuy nhiên nếu lãi suất cho vay tăng thì hoạt động của ngân hàng sẽ trở nên khó khăn, từ đó khả năng sinh lời của ngân hàng cũng giảm xuống và hiệu quả hoạt động cũng giảm. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Kayed và cộng sự (2014); Jadah và cộng sự (2020); Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2014). Vì vậy, giả thuyết H7 được chấp nhận. Luận văn: Kết quả nghiên cứu cấu trúc vốn ở các ngân hàng.

Cuối cùng, kết quả nghiên cứu đã giải đáp các câu hỏi nghiên cứu một cách cụ thể về tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh tại các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2016 – 2020 và kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng đó là: Tỷ lệ nợ trên vốn tổng tài sản; Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu, Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, Tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản, Quy mô ngân hàng, Tỷ lệ lạm phát.   

TÓM TẮT CHƯƠNG 4

Trong chương này tác giả đã tiến hành xử lý số liệu thu thập được của 16 NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam từ năm 2016 – 2020. Thông qua việc thống kê mô tả mẫu nghiên cứu , tác giả nắm được tình hình chung của mẫu và xem xét hiện tượng tương quan của các biến độc lập.

Tiếp đó, tác giả tiến hành chạy hồi quy mô hình POOLED OLS, mô hình tác động cố định FEM và mô hình tác động ngẫu nhiên REM. Tác giả đã tiến hành đo lường sự phù hợp của 3 mô hình này thì mô hình tác động cố định FEM là phù hợp nhất vì vậy tác giả tiến hành kiểm định các khuyết tật và khắc khục các khuyết tật này để ra được kết quả mô hình cuối cùng. Từ kết quả này tác giả tiến hành thảo luận kết quả nghiên cứu và kết luận giả thuyết thống kê đồng thời định hướng các hàm ý chính sách và giải pháp cho chương 5.

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

5.1. KẾT LUẬN Luận văn: Kết quả nghiên cứu cấu trúc vốn ở các ngân hàng.

Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy trên dữ liệu bảng nhằm tìm hiểu tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả kinh doanh tại các ngân hàng. Sử dụng biến phụ thuộc đại diện cho hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng (ROE), các biến độc lập được sử dụng bao gồm các yếu tố nội tại ngân hàng và yếu tố vĩ mô. Dữ liệu ngân hàng được thu thập từ BCTC của 16 NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam từ năm 2016 đến năm 2020 và dữ liệu vĩ mô được thu thập từ ADB Indicator và Tổng Cục Thống kê. Các kết quả có được như sau:

Tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô ngân hàng và hiệu quả hoạt động kinh doanh. Kết quả này cho thấy các ngân hàng có quy mô lớn sẽ mở rộng tăng trưởng tín dụng, các kênh đầu tư vì họ có nhiều cơ hội hơn và nguồn khách hàng đa dạng. Khối lượng tín dụng chắc chắn sẽ tăng tại các ngân hàng lớn, vì vậy tỷ suất lợi nhuận cũng được gia tăng theo. Đồng thời, mối quan hệ cùng chiều của tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản và thu nhập của ngân hàng hay nói cách khách khi gia tăng được tiền gửi thì ngân hàng sẽ phát triển được kênh cho vay và đầu tư sẽ làm cho ngân hàng có điều kiện thuận lợi để gia tăng lợi nhuận ngân hàng.

Tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ nợ trên tổng tài sản, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu đối với hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng. Điều này có nghĩa là khi ngân hàng càng gia tăng vay nợ nhưng điều kiện kinh tế trong giai đoạn 2016 – 2020 không thuận lợi vì vậy ngân hàng sẽ bị áp lực thanh toán lãi nhưng nợ xấu lại gia tăng sẽ làm cho lợi nhuận ngân hàng giảm xuống. Luận văn: Kết quả nghiên cứu cấu trúc vốn ở các ngân hàng.

Bên cạnh đó, tác giả còn tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ lạm phát và hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Điều này có nghĩa là khi tỷ lệ làm phát tăng thì điều kiện kinh doanh của ngân hàng sẽ ngày càng khó khăn hay tạo cơ hội cho các rủi ro ngân hàng phát triển.

5.2. HÀM Ý CHÍNH SÁCH

5.2.1. Nâng cao năng lực tài chính và tăng cường huy động vốn

Nâng cao năng lực tài chính bằng việc đẩy mạnh các hình thức huy động vốn, điều chỉnh lãi suất phù hợp. Đồng thời, ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam có thể nâng cao năng lực tài chính thông qua tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản để đảm bảo khả năng chịu đựng rủi ro của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán. Đồng thời, sử dụng thận trọng, hợp lý việc mua bán và sáp nhập các ngân hàng để nâng cao năng lực tài chính và lành mạnh hóa ngân hàng. Có thể cho phép các nhà đầu tư nước ngoài mua  cổ phần của các ngân hàng thương mại trong nước (tối đa 30%) để góp phần tăng nhanh vốn điều lệ của ngân hàng, đồng thời sẽ góp phần hiện đại hóa công nghệ, mở rộng mạng lưới, nâng cao năng lực tài chính cho ngân hàng. Ngoài ra, các ngân hàng cần củng cố và hoàn thiện mạng lưới chi nhánh và các chính sách chăm sóc khách hàng, tăng cường công tác tiếp thị, tiếp tục đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng như: đa dạng hóa trong huy động tiền gửi; đa dạng hóa tín dụng sản xuất kinh doanh; tín dụng tiêu dùng; tài trợ xuất nhập khẩu; dịch vụ thanh toán; dịch vụ thẻ; dịch vụ thu hộ chi hộ; dịch vụ ủy thác; các dịch vụ ngân hàng điện tử, và các dịch vụ khác.

Không ngừng đổi mới, đa dạng các hình thức huy động trong nền kinh tế. Với mục đích là tăng nguồn đầu vào cho hoạt động tín dụng, ngoài các hình thức huy động vốn truyền thống như tiền gửi lại ngân hàng, các ngân hàng có thể đẩy mạnh các kênh huy động khác như tiền gửi tiết kiệm điện tử, tiết kiệm huy động qua các ứng dụng điện thoại, tiết kiệm qua hệ thống ngân hàng trực tuyến livebank. Cùng với đó, các kỳ hạn cũng như loại hình tiết kiệm cũng có thể đa dạng nhiều hình thức hấp dẫn để thu hút nguồn tiền từ các cá nhân và doanh nghiệp. Ngoài ra, các ngân hàng cũng nên thường xuyên triển khai các chương trình khuyến mãi để hấp dẫn khách hàng gửi tiền.

5.2.2. Nâng cao năng lực quản trị vốn và quản lý rủi ro

Tốc độ tăng trưởng của ngân hàng ảnh hưởng tích cực tới khả năng thêm nợ  vay tức cấu trúc vốn gia tăng. Tức ngân hàng làm ăn càng có lãi, càng mở rộng kinh doanh điều này dẫn đến ngân hàng không ngừng gia tăng tài sản. Vì thế ngân hàng cần một lượng vốn hoạt động càng nhiều. Tuy nhiên, ngân hàng cần lưu ý khi đưa ra chính sách cơ cấu vốn cần phải đưa ra tỷ lệ hợp lý với tốc đô tăng trưởng của ngân hàng, tránh tình trạng gia tăng nợ cao hơn tốc độ tăng trưởng của ngân hàng làm gánh nặng chi trả lãi cao, gây khó khan cho hoạt động sau này cho ngân hàng. Luận văn: Kết quả nghiên cứu cấu trúc vốn ở các ngân hàng.

Quản lý và giám sát rủi ro hoạt động đóng một vai trò quan trọng, là lá chắn tin cậy của ngân hàng nhằm ngăn chặn những vi phạm các nguyên tắc quản trị công ty.  Về nguyên tắc, một hệ thống quản lý rủi ro hoạt động tốt sẽ phản ánh hiệu quả của Hội đồng quản trị và Ban điều hành trong việc quản lý danh mục các sản phẩm, dịch vụ và hoạt động chung của ngân hàng. Thông qua việc duy trì một khung quản trị rủi ro hoạt động và hệ thống kiểm tra kiểm soát nội bộ, hiệu lực, hiệu quả, quản trị ngân hàng thương mại mới có thể đạt được những mục tiêu chính như tính hiệu quả và hiệu năng của hoạt động ngân hàng, an toàn tài sản ngân hàng, tuân thủ với các luật lệ địa phương, tính liên tục của hoạt động kinh doanh, độ tin cậy của các kênh báo cáo, đảm bảo hành xử một cách hợp lý và có trách nhiệm với các nhóm lợi ích liên quan như khách hàng, nhà cung cấp, nhân viên…. Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng tài sản tăng sẽ có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.Thế nhưng, quản trị rủi ro hoạt động tại các ngân hàng thương mại Việt Nam chưa hoạt động thực sự đúng nghĩa và chưa làm đúng chức năng trong quá trình quản trị ngân hàng. Những vi phạm gần đây trong quản lý kinh tế và quản trị doanh nghiệp tại các tập đoàn, tổng công ty lớn, một số ngân hàng thương mại cổ phần và các công ty con (công ty tài chính, công ty chứng khoán) đã và đang khiến hàng loạt các lãnh đạo cấp cao của các tổ chức này bị khởi tố, bắt giam, truy nã… Tình trạng này đang dấy lên hồi chuông cảnh tỉnh về quản trị doanh nghiệp và quản lý rủi ro hoạt động tại các doanh nghiệp Việt Nam trong đó có một số ngân hàng thương mại, không chỉ ảnh hưởng đến chính các tổ chức này mà còn dẫn theo nhiều hệ lụy cho cả nền kinh tế xã hội Việt Nam, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của các tầng lớp dân cư.Bởi vậy, cơ chế quản trị doanh nghiệp lành mạnh cần được xây dựng và thiết lập ở tất cả các thành phần kinh tế, đặc biệt là tại các ngân  hàng thương mại vốn là huyết mạch của nền kinh tế, nhằm thúc đẩy sự cân bằng rủi ro – lợi nhuận và đạo đức trong kinh doanh, tính minh bạch và năng lực chịu trách nhiệm đối với “sức khoẻ” của chính ngân hàng thương mại và sự lành mạnh của xã hội nói chung. Trong đó, yếu tố cốt lõi là hệ thống kiểm soát nội bộ và cơ chế quản lý rủi ro hoạt động hiệu  quả.Mọi rủi ro khác  của  ngân hàng  thương  mại có  thể phát  sinh  từ nguồn gốc sâu xa là rủi ro hoạt động. Bởi vậy, tăng cường quản trị rủi ro hoạt động tại các ngân hàng thương mại niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam là yêu cầu cần thiết và cấp bách nhằm đảm bảo hiệu quả quá trình quản trị ngân hàng thương mại, duy trì sự phát triển ổn định và bền vững của ngân hàng thương mại niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam nói riêng, thị trường tài chính Việt Nam nói chung.

Các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán cần nâng cao năng lực quản trị thông qua hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, đặc biệt là công nghệ trong liên kết nội bộ ngân hàng và ngoài hệ thống. Bên cạnh đó, các ngân hàng cần chú trọng đến yếu tố cần bảo mật tuyệt đối các thông tin có liên quan trong hoạt động của ngân hàng, cũng như các thông tin có liên quan của khách hàng.

Ngoài ra, cần phải nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên, tiếp tục duy trì chính sách tuển dụng trọng dụng nhân tài để tuyển dụng được những người đủ tài đủ đức để đảm nhiệm công việc đòi hỏi ngày càng cao của hệ thống ngân hàng hiện đại.

Bên cạnh đó, các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam cần có cách chính sách khuyến khích cán bộ, nhân viên trong ngân hàng tự học để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ; cử nhân sự có năng lực quản trị giỏi đi đào tạo học tập phương thức làm việc, cách tổ chức, quản lý tại các quốc gia phát triển trên thế giới.

5.2.3. Đối với tăng trưởng quy mô ngân hàng Luận văn: Kết quả nghiên cứu cấu trúc vốn ở các ngân hàng.

Quy mô ngân hàng có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM. Mối quan hệ này cho thấy các ngân hàng cần có lộ trình tăng quy mô thông qua việc tăng vốn chủ sở hữu, tăng tổng tài sản nhằm tạo ra hiệu ứng lợi thế theo quy mô. Khi quy mô của ngân hàng ngày càng lớn, điều đó sẽ giúp ngân hàng hoạt động được trên nhiều lĩnh vực hơn, có nhiều sản phẩm và khách hàng sẽ nhiều hơn. Quy mô ngân hàng lớn sẽ tạo niềm tin cho khách hàng, tăng trưởng tín dụng của ngân hàng sẽ thuận lợi và hiệu quả hơn. Hiện nay tăng trưởng tín dụng cùng với chất lượng tín dụng là một trong những vấn đề quan trọng được các ngân hàng thương mại quan tâm hàng đầu. Trong đó, việc tăng quy mô ngân hàng là một trong những giải pháp góp phần nâng cao năng lực tăng trưởng tín dụng và các hoạt động đầu tư của ngân hàng hay gia tăng tính cạnh tranh. Khi quy mô của ngân hàng tăng lên sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong việc cung cấp các sản phẩm huy động cũng như cho vay đến khách hàng.

5.3. HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO CỦA ĐỀ TÀI

5.3.1. Hạn chế của đề tài

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã gặp phải các hạn chế sau:

Dữ liệu từ báo cáo tài chính: Hạn chế của nghiên cứu là sử dụng dữ liệu thứ cấp được công bố từ BCTC của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam từ năm 2016 đến năm 2020 nên chắc chắn khó có thể tránh được những thiếu sót trong thu thập dữ liệu nghiên cứu và ảnh hưởng đến kết quả.

Một số biến độc lập trong mô hình bị đổi dấu so với kỳ vọng của tác giả và của một số nghiên cứu khác. Điều này xuất phát từ phía mẫu dữ liệu và điều kiện thực tế tại các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam. Hạn chế của tác giả là chưa thực hiện thêm hồi quy để xem xét tính vững của mô hình.

5.3.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo Luận văn: Kết quả nghiên cứu cấu trúc vốn ở các ngân hàng.

Trong các nghiên cứu tiếp theo, tác giả xin đề xuất một số hướng như sau:

Sử dụng thêm các biến khác để làm biến độc lập đại diện cho các yếu tố đại diện cho cấu trúc vốn có tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng được sử dụng trong luận văn.

  • Thực hiện thêm một số hồi quy để kiểm tra tính vững của mô hình.
  • Thu thập thêm đầy đủ dữ liệu nhằm phân tích hoàn chỉnh hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam.
  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu cho tất cả NHTM Việt Nam và một số NHTM trong khu vực, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

TÓM TẮT CHƯƠNG 5

Như vậy, chương 5 đã kết luận lại những kết quả nghiên cứu có được trong chương 4 về tác động của một số yếu tố đến tăng trưởng tín dụng của các NHTM Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số biện pháp đối trong việc phát triển tín dụng đó là: Nâng cao chất lượng cấp tín dụng, giảm tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng, mở rộng hoạt động tín dụng về cả phạm vi và đối tượng để tìm kiếm khác tiềm năng, Theo dõi sát sao chính sách của NHNN để có kế hoạch thực hiện tăng trưởng tín dụng phù hợp với tình hình hoạt động của ngân hàng và mục tiêu chính sách của NHNN và kiến nghị với NHNN một số giải pháp để hỗ trợ phát triển hoạt động tín dụng của các NHTM một cách bền vững, có hiệu quả. Tác giả cũng nêu một số hạn chế trong nghiên cứu của luận văn, những hạn chế này là cơ sở cho hướng phát triển tiếp theo của luận văn trong tương lai. Luận văn: Kết quả nghiên cứu cấu trúc vốn ở các ngân hàng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Tác động của cấu trúc vốn ở các ngân hàng thương mại

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu cấu trúc vốn ở các ngân hàng […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993