Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến quy mô phát hành Trái phiếu hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các nhân tố tác động đến quy mô phát hành Trái phiếu doanh nghiệp tại các quốc gia Đông Nam Á dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Trên cơ sở mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu được trình bày ở chương III. Chương IV tác giả sẽ sử dụng phần mềm STATA 16 để trình bày kết quả của tiến trình phân tích thống kê mô tả, kiểm định và ước lượng mô hình. Kế tiếp đó là bàn luận về kết quả của nghiên cứu để tìm ra để tìm tra các yếu tố ảnh hưởng đến quy mô phát hành TPDN tại các quốc gia Đông Nam Á.
4.1 Thống kê mô tả
Dữ liệu sử dụng trong bài nghiên cứu được thu thập từ giai đoạn 2012 – 2021, bao gồm 60 quan sát. Phương pháp phân tích thống kê mô tả giúp tác giả có cái nhìn tổng quát hơn về số lượng quan sát và các biến. Kết quả thống kê được thể hiện như sau:
Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến trong mô hình
| Biến | Số quan sát | Giá trị trung bình | Độ lệch chuẩn | Giá trị nhỏ nhất | Giá trị lớn nhất |
| VOL | 60 | 69,062 | 53,654 | 3,040 | 188,840 |
| EXR | 60 | 5847,518 | 8763,534 | 1,250 | 23208,370 |
| EXP | 60 | 275657,400 | 168604,900 | 71941,900 | 733772,700 |
| DR | 60 | 3,357 | 1,398 | 1 | 5,848 |
| FER | 60 | 139973,600 | 85275,840 | 25573,280 | 416101,100 |
| CRED | 60 | 1855,884 | 2857,818 | 0,306 | 9655,440 |
| LOGGDP | 60 | -1,480 | 0,497 | -3,000 | -1,119 |
| LOGPGDP | 60 | 0,497 | 0,266 | -0,364 | 1,086 |
Nguồn: Trích xuất từ phần mềm Stata 16 Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến quy mô phát hành Trái phiếu.
Dựa vào bảng 4.1, có thể nhận ra rằng, các nhân tố nghiên cứu có sự chênh lệch qua các năm trong giai đoạn 2012-2021, thể hiện qua sự chênh lệch giữa giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất.
Quy mô phát hành TPDN (VOL) trung bình tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 2012-2021 là 69,062 tỷ USD, trong đó quy mô phát hành TPDN cao nhất là ở Malaysia năm 2021 (188,840 tỷ USD), thấp nhất là ở Việt Nam năm 2012 (3,040 tỷ USD).
Biến phụ thuộc biến động tỷ giá hối đoái (EXR) trung bình tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 2012-2021 là 5.847,518 trong đó cao nhất là ở Việt Nam năm 2020 23.208,370 và thấp nhất là ở Singapore năm 2012 là 1,250.
Biến phụ thuộc độ mở nền kinh tế (EXP) trung bình tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 2012 – 2021 là 275.657,400 triệu USD, trong đó, giá trị xuất khẩu cao nhất là ở Singapore năm 2021 (733.772,700 triệu USD), giá trị xuất khẩu nhỏ nhất là ở Philipin năm 2012 (71.941,900 triệu USD).
Biến phụ thuộc chênh lệch lãi suất tiết kiệm và cho vay bình quân trên thị trường (DR) trung bình tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 2012-2021 là 3,357 %, trong đó cao nhất là ở Indonesia năm 2012 (5,848%) và thấp nhất là ở Philipin năm 2020,2021 (0%).
Biến phụ thuộc dự trữ ngoại hối (FER) trung bình tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 2012-2021 là 139.973,600 (triệu USD) , trong đó cao nhất là ở Singapore năm 2021 (416.101,100 triệu USD) và thấp nhất là ở Việt Nam năm 2012 (25.573,280 triệu USD).
Biến phụ thuộc quy mô của hệ thống ngân hàng (CRED) trung bình tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 2012-2021 là 1.855,884 nghìn tỷ USD , trong đó cao nhất là ở Việt Nam năm 2021 (9.655,440 nghìn tỷ USD) và thấp nhất là ở Singapore năm 2012 (0,306 nghìn tỷ USD).
Biến phụ thuộc quy mô của nền kinh tế (LogGDP) trung bình tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 2012-2021 là -1,48%, trong đó cao nhất là ở Singapore năm 2021 (-1,119%) và thấp nhất là ở Indonesia năm 2020 (-3%) .
Biến phụ thuộc giai đoạn phát triển của nền kinh tế (LogGDP) trung bình tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 2012-2021 là 0,497%, trong đó cao nhất là ở Singapore năm 2021 (1,086%) và thấp nhất là ở Thái Lan năm 2015 (-0,364%) .
4.2 Phân tích tương quan mô hình nghiên cứu Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến quy mô phát hành Trái phiếu.
Bảng 4.2: Ma trận tự tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu
Tác giả sử dụng ma trận tự tương quan để kiểm tra mối tương quan giữa các cặp biến của mô hình nghiên cứu. Nếu các giá trị tuyệt đối của hệ số tương quan cặp giữa các biến đều nhỏ hơn 0,8 thì mô hình không có hiện tượng tự tương quan giữa các biến độc lập (Farrar và Glauber, 1967). Bảng 4.2 cho thấy, giá trị tuyệt đối của hệ số tương quan cặp giữa độc lập Log(GDP) và Log(PGDP), CRED và EXR, FER và EXP lớn hơn 0,8 nên mô hình có hiện tượng tự tương quan.
4.3 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến
Để kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến của mô hình, tác giả sử dụng chỉ số phóng đại phương sai VIF (Variance Inflation Factor) và thu được kết quả như sau:
Bảng 4.3: Kiểm định đa cộng tuyến
Bảng 4.3 cho thấy giá trị VIF trung bình bằng 7,37. Hệ số phóng đại VIF của biến độc lập EXR, FER lớn hơn 10 nên mô hình có hiện tượng đa cộng tuyến. Để khắc phục hiện tượng đa cộng tuyến, có thể thực hiện loại bỏ bớt các biến có hệ số đa cộng tuyến cao. Biến FER có hệ số VIF lớn nhất, do đó loại biến này.
Bảng 4.3.1:Kiểm định đa cộng tuyến sau khi loại bỏ biến LogPGDP
Qua bảng 4.3.1 có thể thấy giá trị VIF trung bình bằng 4,36 và hệ số phóng đại VIF của các biến độc lập đều nhỏ hơn 10. Vì vậy, mô hình không có hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng.
4.4 Ước lượng mô hình hồi quy
Kết quả ước lượng mô hình hồi quy theo Pooled OLS, FEM, REM được trình bày như sau:
Bảng 4.4: Kết quả ước lượng mô hình hồi quy theo Pooled OLS, FEM và REM
Ghi chú: Ký hiệu *, **, *** có ý nghĩa thống kê lần lượt là 10%, 5%, 1%.
Kết quả ước lượng bằng mô hình Pooled OLS và mô hình REM cho thấy ba biến độc lập EXR, EXP và DR có tác động tới biến phụ thuộc VOL và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%.
Kết quả ước lượng bằng mô hình FEM cho thấy biến độc lập EXP và GDP có tác động tới biến phụ thuộc VOL và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%.
Tuy nhiên, việc ước lượng mô hình theo phương pháp Pooled OLS không phản ánh được tác động riêng biệt, mang tính đặc thù của từng doanh nghiệp. Vì vậy, tác giả tiến hành kiểm định Hausman để lựa chọn giữa mô hình REM và mô hình FEM.
4.5 Kiểm định Hausman
Giả thuyết của kiểm định như sau:
- H0: Mô hình REM là mô hình phù hợp
- H1: Mô hình FEM là mô hình phù hợp
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định Hausman
Kết quả kiểm định bảng 4.5 cho thấy, giá trị p-value=0,0000 < =0,05. Do đó, bác bỏ giả thuyết H0, chấp nhận giả thuyết H1. Như vậy, mô hình FEM là mô hình phù hợp với bài nghiên cứu. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến quy mô phát hành Trái phiếu.
4.6 Kiểm định hiện phương sai sai số thay đổi
Sau khi chọn ra mô hình phù hợp, tác giả tiến hành kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi của mô hình bằng kiểm định Wald Test. Giả thuyết của kiểm định như sau:
- H0: Phương sai sai số đồng nhất
- H1: Phương sai sai số thay đổi
Bảng 4.6: Kết quả kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi
- Kết quả ở bảng 4.6 cho thấy, giá trị p-value=0,0000 < =0,05 nên bác bỏ giả thuyết
- H0, chấp nhận giả thuyết H1. Như vậy, mô hình xảy ra hiện tượng phương sai sai số thay đổi.
4.7 Kiểm định hiện tượng tự tương quan
Tác giả tiếp tục kiểm định hiện tượng tự tương quan của mô hình bằng cách thực hiện kiểm định Wooldridge Test với các giả thuyết sau:
- H0: Mô hình không có hiện tượng tự tương quan
- H1: Mô hình có hiện tượng tự tương quan
Bảng 4.7: Kết quả kiểm định hiện tượng tự tương quan
- Kết quả bảng 4.7 cho thấy, giá trị p-value=0,0011 < =0,05 nên bác bỏ giả thuyết
- H0, chấp nhận giả thuyết H1. Như vậy, mô hình có xảy ra hiện tượng tự tương quan.
4.8 Kết quả phân tích FGLS
Căn cứ vào kết quả kiểm định khuyết tật, mô hình có xảy ra hiện tượng phương sai sai số thay đổi và hiện tượng tự tương quan giữa các biến số. Để khắc phục các hiện tượng này, tác giả sử dụng phương pháp FGLS, từ đó thu được kết quả nghiên cứu phù hợp và có độ tin cậy cao. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến quy mô phát hành Trái phiếu.
Bảng 4.8 Kết quả phân tích FGLS
Kết quả phân tích FGLS cho thấy: Biến độc lập biến động tỷ giá hối đoái (EXR) có tác động ngược chiều lên quy mô phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp khu vực Đông Nam Á giai đoạn 2012-2021, hệ số này có ý nghĩa thống kê tại mức 5%. Theo đó, khi biến động tỷ giá hối đoái tăng 5% thì quy mô phát hành trái phiếu giảm 0,003%.
Biến độc lập độ mở thương mại của nền kinh tế (EXP) có tác động cùng chiều lên quy mô phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp khu vực Đông Nam Á giai đoạn 2012-2021, hệ số này có ý nghĩa thống kê tại mức 1%. Theo đó, khi độ mở thương mại của nền kinh tế tăng 1% thì quy mô phát hành trái phiếu tăng 0,0001%.
Biến độc lập chênh lệch lãi suất tiết kiệm và cho vay bình quân trên thị trường (DR) có tác động ngược chiều lên quy mô phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp khu vực Đông Nam Á giai đoạn 2012-2021, hệ số này có ý nghĩa thống kê tại mức 5%. Theo đó, khi chênh lệch lãi suất tiết kiệm và cho vay bình quân trên thị trường tăng 5% thì quy mô phát hành trái phiếu giảm 4,007%.
Biến độc lập giai đoạn phát triển nền kinh tế (PGDP) có tác động ngược chiều lên quy mô phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp khu vực Đông Nam Á giai đoạn 2012-2021, hệ số này có ý nghĩa thống kê tại mức 10%. Theo đó, khi giai đoạn phát triển nền kinh tế tăng 10% thì quy mô phát hành trái phiếu giảm 14,017%.
Từ kết quả của mô hình, luận văn có một số nhận xét như sau về các yếu tố tác động đến quy mô phát hành TPDN tại các quốc gia Đông Nam Á:
Quy mô nền kinh tế (LogGDP), quy mô hệ thống ngân hàng (CRED) và dự trữ ngoại hối (FER) không tác động đến quy mô phát hành TPDN tại các quốc gia Đông Nam Á. Những kết quả này là không tương đồng với các nghiên cứu của Eichengreen và Luengnaruemitchai (2004), Bhattacharyay (2013), Maurya và Mishra (2016), Hawkins (2002); Hwang (2016). Những nghiên cứu này đều nghiên cứu trên TTTP tại các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Hồng Kông, Singapore, Malaysia, Hàn Quốc,… Đây đều là những quốc gia có nền kinh tế nói chung và thị trường TPDN nói riêng rất phát triển. Còn các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á là những nước có mức độ phát triển kém hơn nhiều. Mặc dù nền kinh tế tại những quốc gia này có tốc độ tăng trưởng GDP đầu người tương đối đều trong thời gian qua nhưng vẫn nằm trong nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình thấp trên thế giới. Đồng thời, hầu hết các doanh nghiệp phát hành trái phiếu tại các quốc gia Đông Nam Á là các doanh nghiệp lớn, có tiếng tăm hoặc doanh nghiệp Nhà nước, chính vì thế, vai trò của Ngân hàng hầu như chỉ thực hiện chức năng chính là trung gian tài chính: đại lý, bảo lãnh phát hành, tư vấn phát hành,… Nên quy mô hệ thống ngân hàng chưa thực sự tác động đến việc phát hành TPDN Biến động tỷ giá hối đoái (EXR) có tác động ngược chiều tới quy mô phát hành, tức là tỷ giá biến động càng mạnh thì quy mô phát hành trái phiếu của doanh nghiệp càng thấp. Kết quả này là tương đồng với kết luận của Eichengreen và Luengnaruemitchai (2004), Bhattacharyay (2011; 2013), Mu và cộng sự (2013), Nguyễn Hòa Nhân và cộng sự (2014).
Chênh lệch lãi suất (DR) có tác động ngược chiều tới quy mô phát hành, tức là chênh lệch lãi suất càng cao thì quy mô phát hành TPDN càng thấp. Kết quả này tương đồng với kết luận của Bhattacharyay (2013); Fredrick (2014).
Độ mở thương mại của nền kinh tế (EXP) có tác động thuận chiều tới quy mô phát hành của TPDN. Kết quả này là tương đồng với các nghiên cứu của Eichengreen và Luengnaruemitchai (2004) và Bhattacharyay (2013). Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến quy mô phát hành Trái phiếu.
Giai đoạn phát triển của nền kinh tế (LogPGDP) có tác động ngược chiều đến quy mô phát hành TPDN, điều này không tương đồng với kết luận của Eichengreen và Luengnaruemitchai (2004); Braun và Briones (2006); Bhattacharyay (2013); Mu và cộng sự (2013); Nguyễn Hòa Nhân và cộng sự (2014)chengreen và Luengnaruemitchai (2004); Braun và Briones (2006); Bhattacharyay (2013); Mu và cộng sự (2013); Nguyễn Hòa Nhân và cộng sự (2014). Như đã đề cập ở trên, những nghiên cứu này đều nghiên cứu trên TTTP tại các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Hồng Kông, Singapore, Malaysia, Hàn Quốc,… Đây đều là những quốc gia có nền kinh tế nói chung và thị trường TPDN nói riêng rất phát triển. Còn các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á là những nước có mức độ phát triển kém hơn nhiều. Mặc dù nền kinh tế tại những quốc gia này có tốc độ tăng trưởng GDP đầu người tương đối đều trong thời gian qua nhưng vẫn nằm trong nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình thấp trên thế giới. Chính vì thế, vào những giai đoạn phát triển của nền kinh tế, quy mô phát hành TPDN hầu như đi ngược lại với sự phát triển của nền kinh tế, vì bị chi phối nhiều bởi những nhân tố được nêu trên.
TÓM TẮT CHƯƠNG 4
Chương 4 thực hiện thống kê mô tả các biến gồm biến độc lập và biến phụ thuộc trong mô hình theo các tiêu chí đánh giá như là giá trị trung bình, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất, số quan sát và đặc trưng của từng biến số. Nghiên cứu sử dụng phân tích tương quan giữa từng biến độc lập với biến được giải thích và mối tương quan giữa các biến giải thích với nhau. Nghiên cứu trình bày kết quả hồi quy theo phương pháp OLS, FEM và REM, sau đó thực hiện kiểm định để chọn ra mô hình phù hợp. Và từ kết quả của mô hình, tác giả đã thực hiện thảo luận về kết quả nghiên cứu.
CHƯƠNG 5 : KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý, KHUYẾN NGHỊ Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến quy mô phát hành Trái phiếu.
Từ kết quả nghiên cứu của chương 4, tác giả sẽ nêu ra các kết luận chính và đưa ra một số gợi ý cũng như một số khuyến nghị nhằm tăng quy mô phát hành của TPDN tại các quốc gia Đông Nam Á. Bên cạnh đó, chương 5 cũng đề cập đến của đề tài và đề xuất một số hướng nghiên cứu tiếp theo được thực hiện trong tương lai.
5.1 Kết luận
Trên cơ sở lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm từ chương II, mô hình được sử dụng cho nghiên cứu và phương pháp để tiến hành nghiên cứu được xây dựng ở chương III, thực hiện các phương pháp về thống kê mô tả, phân tích tương quan và phân tích hồi quy để xác định các yếu tố tác động đến quy mô phát hành TPDN tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 2012 – 2021. Cụ thể, đề tài đã trả lời được những câu hỏi cụ thể như sau:
Thứ nhất, có những yếu tố nào tác động đến quy mô phát hành TPDN tại các quốc gia Đông Nam Á?
Luận văn nghiên cứu xác định các yếu tố tác động đến quy mô phát hành TPDN tại các quốc gia Đông Nam Á, giai đoạn 2012 – 2021 là quy mô của nền kinh tế (LogGDP); Độ mở thương mại của nền kinh tế (EXP); Giai đoạn phát triển của nền kinh tế (LogPGDP); Chênh lệch lãi suất tiết kiệm và cho vay bình quân trên thị trường (DR);
Quy mô hệ thống ngân hàng (CRED); Biến động tỷ giá hối đoái (EXR) và dự trữ ngoại hối (FER). Tuy nhiên, từ kết quả hồi quy thì chỉ ra rằng chỉ có biến độc lập chênh lệch lãi suất tiết kiệm và cho vay bình quân trên thị trường (DR), biến biến động tỷ giá hối đoái (EXR), độ mở thương mại của nền kinh tế (EXP) và biến giai đoạn phát triển của nền kinh tế Log(PGDP) là có tác động đến quy mô phát hành nêu trên.
Thứ hai, chiều hướng tác động và mức độ tác động của các của các yếu tố này đến quy mô phát hành TPDN tại các quốc gia Đông Nam Á ra sao? Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến quy mô phát hành Trái phiếu.
Mức độ tác động của các yếu tố đến quy mô phát hành TPDN tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 2012 – 2021 được thể trình bày trong bảng tóm tắt tại bảng 5.1 bên dưới:
Bảng 5.1: Tóm tắt kết quả của nghiên cứu
| Biến số | Dấu kỳ vọng | Kết quả | Mức ý nghĩa | Hệ số hồi quy |
| EXR | – | – | 5% | 0,003 |
| EXP | + | + | 1% | 0,0002 |
| DR | – | – | 5% | 4,007 |
| Log(PGDP) | + | – | 10% | 14,017 |
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả của nghiên cứu
Từ bảng tóm tắt kết quả nghiên cứu tại bảng 5.1, cho thấy:
Biến độc lập biến động tỷ giá hối đoái (EXR) có tác động ngược chiều lên quy mô phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp khu vực Đông Nam Á giai đoạn 2012- 2021, hệ số này có ý nghĩa thống kê tại mức 5%. Theo đó, khi biến động tỷ giá hối đoái tăng 5% thì quy mô phát hành trái phiếu giảm 0,003%.
Biến độc lập độ mở thương mại của nền kinh tế (EXP) có tác động cùng chiều lên quy mô phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp khu vực Đông Nam Á giai đoạn 2012-2021, hệ số này có ý nghĩa thống kê tại mức 1%. Theo đó, khi độ mở thương mại của nền kinh tế tăng 1% thì quy mô phát hành trái phiếu tăng 0,0001%.
Biến độc lập chênh lệch lãi suất tiết kiệm và cho vay bình quân trên thị trường (DR) có tác động ngược chiều lên quy mô phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp khu vực Đông Nam Á giai đoạn 2012-2021, hệ số này có ý nghĩa thống kê tại mức 5%. Theo đó, khi chênh lệch lãi suất tiết kiệm và cho vay bình quân trên thị trường tăng 5% thì quy mô phát hành trái phiếu giảm 4,007%. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến quy mô phát hành Trái phiếu.
Biến độc lập giai đoạn phát triển nền kinh tế (PGDP) có tác động ngược chiều lên quy mô phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp khu vực Đông Nam Á giai đoạn 2012-2021, hệ số này có ý nghĩa thống kê tại mức 10%. Theo đó, khi giai đoạn phát triển nền kinh tế tăng 10% thì quy mô phát hành trái phiếu giảm 14,017%.
Thứ ba, giải pháp nào để gia tăng quy mô phát hành TPDN tại các quốc gia Đông Nam Á dựa trên các yếu tố này?
Để trả lời câu hỏi thứ ba này, nghiên cứu sẽ đưa ra những gợi ý và khuyến nghị được trình bày tại mục 5.2.
5.2 Gợi ý và khuyến nghị Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến quy mô phát hành Trái phiếu.
5.2.1 Ổn định tỷ giá hối đoái
Theo Goldberg và Knetter (1997), có hai kênh truyền dẫn tỷ giá đặc biệt quan trọng là truyền dẫn trực tiếp và truyền dẫn gián tiếp.
Kênh truyền dẫn trực tiếp: khi tỷ giá tăng, giá nhập khẩu hàng hóa sẽ tăng, sẽ dẫn truyền đến giá cả sản xuất hàng hóa, làm giá cả của các hàng hóa cuối cùng cũng tăng theo nếu như các doanh nghiệp tăng giá, sẽ làm lạm phát tăng.
Kênh truyền dẫn gián tiếp: kênh này liên quan đến sức hấp dẫn của hàng hóa Việt Nam trên thị trường thế giới. Khi tỷ giá giảm, các sản phẩm nội địa sẽ rẻ hơn đối với người tiêu dùng nước ngoài dẫn đến xuất khẩu tăng. Mà xuất khẩu tăng thì chắc hẳn là tổng cầu cũng tăng. Và khi tổng cầu tăng, sẽ dẫn đến sự tăng lên trong mức giá nội địa. Như vậy, sự giảm sút trong tỷ giá về lâu về dài sẽ tác động làm giảm lạm phát. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến quy mô phát hành Trái phiếu.
- Chính vì thế, mà tỷ giá là một công cụ để Chính phủ điều tiết vĩ mô.
Tỷ giá đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế, ảnh hưởng đến cán cân thương mại của các quốc gia và đặc biệt là có ảnh hưởng đến các chiến lược đầu tư của các NĐT. Sự biến động liên tục của tỷ giá hối đoái sẽ dẫn đến việc, người dân không có nhiều niềm tin về khả năng thanh toán của các công cụ nợ trong nước, mà điển hình là TPDN. Chính vì thế, việc ổn định tỷ giá vẫn là một trong những biện pháp cần thiết để có thể ổn định kinh tế vĩ mô, từ đó, hướng đến mục tiêu phát triển thị trường TPDN Việt Nam một cách ổn định và lâu dài.
Khi nền kinh tế của một quốc gia đang gặp vấn đề, hay nói cách khác là sự tăng tưởng kinh tế thấp, lạm phát, thất nghiệp cao, lượng cung tiền nhiều làm giảm giá trị của đồng tiền, lãi suất thấp,… làm tỷ giá hối đoái cũng bị biến động.
Để ổn định tỷ giá hối đoái, đặc biệt là tại các nước đang phát triển như ở khu vực Đông Nam Á, quả là một bài toán khó mà các nhà quản lý phải giải trong một thời gian dài, gắn liền với ổn định kinh tế vĩ mô. Như đã đề cập ở trên, tâm lý, lòng tin của người dân vào đồng tiền quốc gia đóng một vai trò quan trọng trong việc góp phần giúp ổn định tỷ giá hối đoái. Tâm lý, lòng tin vào đồng tiền quốc gia không chỉ là vấn đề kinh tế, mà còn là vấn đề chính trị; mà những điều này không thể ngày một ngày hai có thể thực hiện được, thường phải mất thời gian để xây dựng, củng cố, phát triển và cải thiện.
5.2.2 Tăng cường xúc tiến thương mại, thúc đẩy xuất khẩu
Xúc tiến thương mại là hoạt động xúc tiến, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ, bao gồm các hoạt động như: Khuyến mại, quảng cáo, trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ, hội chợ, triển lãm thương mại,… Hoạt động xúc tiến thương mại luôn giữ vị trí quan trọng trong hoạt động xuất khẩu, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao năng lực. cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, trở thành đòn bẩy hữu hiệu giúp doanh nghiệp tìm đầu ra cho sản phẩm, dịch vụ và mở rộng thị trường.
Để tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động xúc tiến thương mại, thời gian tới cần thực hiện một số giải pháp sau:
Tăng cường công tác thông tin xúc tiến thương mại: Tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn các chính sách mới của Nhà nước, của tỉnh đến nhân dân và các thành phần kinh tế, doanh nghiệp trên địa bàn; Hỗ trợ các tổ chức, đơn vị, cá nhân liên quan trong việc kết nối, trao đổi, khai thác thông tin xúc tiến thương mại. Quảng bá hình ảnh sản phẩm hàng hóa của tỉnh, chỉ dẫn địa lý của tỉnh ra thị trường nước ngoài; Tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng về hàng hóa, dịch vụ trên địa bàn tỉnh đến người tiêu dùng trong nước thông qua các hoạt động truyền thông trên báo viết, báo điện tử, phát thanh, truyền hình, xuất bản phẩm và các hình thức truyền thông khác.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác thông tin xúc tiến thương mại:
Tổ chức và tham gia các khóa đào tạo nghiệp vụ, kỹ năng thông tin xúc tiến thương mại cho đội ngũ cán bộ làm công tác xúc tiến thương mại. và các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có nhu cầu đáp ứng yêu cầu thực tế.
Nâng cao chất lượng tham gia hội chợ: Tham gia hội chợ, triển lãm và hỗ trợ các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tham gia hội chợ, triển lãm nhằm quảng bá các sản phẩm đặc trưng của tỉnh tại hội chợ, triển lãm. Triển lãm trong và ngoài nước với các phương án thiết kế, bài trí gian hàng sao cho tạo không gian đẹp, mang bản sắc riêng, khơi gợi trong tiềm thức khách hàng hình ảnh một đơn vị có nhiều tiềm năng hợp tác cùng phát triển. phát triển kinh tế. Ngoài ra, công tác truyền thông, quảng bá tại hội chợ phải được đầu tư một cách bài bản và chuyên nghiệp. Đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự đầu tư chuẩn bị chu đáo từ khâu mẫu trưng bày sản phẩm, thông tin giới thiệu; đặc biệt là công tác chuẩn bị nhân sự tham gia hội chợ.
Nâng cao chất lượng tổ chức các phiên chợ bán hàng của các quốc gia Đông Nam Á đến các huyện biên giới của tỉnh: Lựa chọn các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng có uy tín; hàng hóa phải đảm bảo chất lượng, còn hạn sử dụng; Trang trí gian hàng và tham gia đúng giờ. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến quy mô phát hành Trái phiếu.
Tổ chức hội nghị kết nối giao thương và tham gia hội nghị kết nối giao thương của các tỉnh: Hàng năm, lựa chọn tham gia kết nối giao thương tại các tỉnh để doanh nghiệp có cơ hội giới thiệu, quảng bá sản phẩm của mình. sản phẩm và tìm đối tác, nhà phân phối,…
5.2.3 Điều chỉnh lãi suất tùy theo từng giai đoạn của thị trường
Chênh lệch lãi suất của các NHTM về mặt bản chất, có thể không ổn định vì tùy vào từng thời kỳ, tùy vào tình hình cụ thể của kinh tế vĩ mô, hạn chế lạm phát tăng cao của nước nhà, mà NHNN có thể thực hiện điều chỉnh, điều tiết nhằm ổn định nền kinh tế vĩ mô nói chung và của thị trường tài chính Việt Nam nói riêng.
Có một sự thật không thể chối cãi là thị trường TPDN tại các quốc phát triển không bằng với các quốc gia trên khu vực, nên có thể thấy, những sự biến động của lãi suất (cả lãi suất tiết kiệm và lãi suất cho vay) có tác động đến quy mô phát hành. Khi lãi suất cao, hầu như là số ít các doanh nghiệp có thể trả được nợ. Một điểm nữa, hầu hết các doanh nghiệp thực hiện phát hành trái phiếu tại các quốc gia Đông Nam Á là những doanh nghiệp lớn đến cực lớn về quy mô cũng như là có tiếng trên thị trường. Việc phát hành TPDN của các doanh nghiệp này đôi khi cũng mang tính chất giống như một khoản đi vay ngân hàng dài hạn, từ 3 đến 5 năm, được thực hiện nhằm mục đích đảo nợ chứ không hẳn là để tài trợ mới cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nên trong một số thời kỳ, lãi suất cao, nhưng nhằm mục đích để đáp ứng được chính sách tài chính của doanh nghiệp, thì doanh nghiệp vẫn phát hành trái phiếu.
5.2.4 Tập trung phát triển kinh tế
Đến thời điểm hiện tại, sự phát triển kinh tế của các quốc gia Đông Nam Á vẫn phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thiên nhiên dựa vào khai thác dầu mỏ, than đá,… Và sự tăng trưởng này được đánh giá là không bền vững vì tài nguyên thiên nhiên là có hạn. Chưa dừng lại ở đó, việc đô thị hóa cũng gây áp lực lên môi trường, năng lượng,…
Để có thể phát triển kinh tế bền vững, các quốc gia Đông Nam Á nói chung và ở Việt Nam nói riêng cần có sự kết hợp, phối hợp của các cơ quan ban ngành để đảm bảo sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến quy mô phát hành Trái phiếu.
5.3.1 Hạn chế của đề tài
Đề tài thực hiện với mẫu dữ liệu là 6 quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, dù chiếm hơn 90% GDP của toàn khu vực Đông Nam Á (World Bank, 2022), tuy nhiên, vẫn chưa thể đại diện hoàn toàn cho khu vực Đông Nam Á, vì nhìn chung những quốc gia khác như: Lào, Campuchia, Myanmar,.. có thị trường TPDN kém phát triển, cơ sở hạ tầng và đặc điểm phát triển cũng chưa có nhiều sự tương đồng so với các quốc được nghiên cứu.
Mô hình nghiên cứu đưa ra 07 biến độc lập là (1) quy mô của nền kinh tế, (2) độ mở của nền kinh tế, (3) giai đoạn phát triển của nền kinh tế, (4) quy mô của hệ thống ngân hàng, (5) chênh lệch lãi suất, (6) biến động của tỷ giá hối đoái, (7) dự trữ ngoại hối và 01 biến phụ thuốc là biến quy mô phát hành, ngoài ra còn có những yếu tố khác tác động đến quy mô phát hành nữa: quyền của chủ nợ, lòng tin của người dân vào trái phiếu,…Thế nên kết quả nghiên cứu cũng mới chỉ giải thích được biến độc lập ở mức độ nhất định, chưa xem xét hết được những yếu tố.
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo
Thứ nhất, điều chỉnh về mẫu dữ liệu cho nghiên cứu, sẽ gom thành 2 nhóm các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, nhóm 1: là các quốc gia đã nghiên cứu trong đề tài này, nhóm 2 là các quốc gia còn lại. Tùy vào kết quả nghiên cứu mà có thể đưa ra những hàm ý chính sách tương ứng với từng nhóm quốc gia trong khu vực Đông Nam Á.
Thứ hai, mở rộng nội dung nghiên cứu, như vậy, xét về các yếu tố về mặt nội dung, các nghiên cứu được thực hiện trong tương lai có thể xem xét mở rộng thêm ảnh hưởng của các yếu tố khác đến quy mô phát hành TPDN tại các quốc gia Đông Nam Á, nhờ đó mà gia tăng được độ tin cậy của mô hình nghiên cứu.
TÓM TẮT CHƯƠNG 5
Trên cơ sở lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm từ chương II, mô hình được sử dụng cho nghiên cứu và phương pháp để tiến hành nghiên cứu được xây dựng ở chương III, thực hiện các phương pháp về thống kê mô tả, phân tích tương quan và phân tích hồi quy để xác định các yếu tố tác động đến quy mô phát hành TPDN tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 2012 – 2021. Từ kết quả đó, tác giả đã đưa ra một số khuyến nghị để có thể cải thiện được quy mô phát hành TPDN tại các quốc gia Đông Nam Á: ổn định tỷ giá hối đoái, tăng cường xúc tiến thương mại, thúc đẩy xuất khẩu, điều chỉnh lãi suất tùy theo từng giai đoạn của nền kinh tế và tập trung phát triển kinh tế. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến quy mô phát hành Trái phiếu.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Nhân tố tác động đến quy mô phát hành Trái phiếu

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến quy mô phát hành Trái phiếu […]