Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC tác động đến quy mô phát hành Trái phiếu hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các nhân tố tác động đến quy mô phát hành Trái phiếu doanh nghiệp tại các quốc gia Đông Nam Á dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Trên cơ sở lý thuyết, bằng chứng từ thực nghiệm và mô hình nghiên cứu đã được trình bày ở chương 2, chương 3 sẽ mô tả các bước của quy trình nghiên cứu, tập trung xây dựng mô hình nghiên cứu, cách thức thu nhập và mô tả mẫu dữ liệu nghiên cứu cũng như công cụ nghiên cứu và phương pháp được sử dụng cho nghiên cứu.
3.1 Mô hình nghiên cứu
Dựa vào cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây của Eichengreen và Luengnaruemitchai (2004), Braun và Briones (2006), Mu và cộng sự (2013), Bhattacharyay (2013); Gu và Kowalewski (2015); Kowalewski và Pisany (2017), luận văn xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô phát hành TPDN tại các quốc gia Đông Nam Á bao gồm: quy mô của nền kinh tế, độ mở của nền kinh tế, giai đoạn phát triển của nền kinh tế, chênh lệch lãi suất, quy mô của hệ thống ngân hàng, biến động tỷ giá hối đoái và dự trữ ngoại hối.
Để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô phát hành TPDN tại các quốc gia Đông Nam Á, tác giả sử dụng mô hình sau đây:
- VOLt = a0 + a1. Log(GDP)t +a2. EXPt +a3. Log(PGDP)t +a4.DRt+ a5.CREDt+ a6.EXRt+a7.FERt+ ut
Trong đó: t = 1, 2, …, 10 đại diện cho 10 năm từ năm 2012 đến năm 2021.
- Quy mô phát hành TPDN đo lường bằng khối lượng TPDN phát hành. Ký hiệu: VOL. Đơn vị tính: tỷ USD.
- Quy mô của nền kinh tế đo lường bằng Log(GDP). Ký hiệu: Log(GDP).
- Độ mở thương mại của nền kinh tế đo lường bằng giá trị xuất khẩu. Ký hiệu: EXP. Đơn vị: Triệu USD
- Giai đoạn phát triển nền kinh tế đo lường bằng Log(GDP/đầu người). Ký hiệu: Log(PGDP).
- Chênh lệch lãi suất tiết kiệm và cho vay bình quân trên thị trường đo lường bằng: Lãi suất cho vay – Lãi suất tiết kiệm (%/ năm). Ký hiệu: DR. Đơn vị tính: %.
- Quy mô của hệ thống ngân hàng đo lường bằng dư nợ tín dụng nội địa . Ký hiệu: CRED. Đơn vị tính: nghìn tỷ USD.
- Biến động tỷ giá hối đoái đo lường bằng tỷ giá hối đoái bình quân trong năm. Ký hiệu: EXR.
- Dự trữ ngoại hối đo lường bằng quy mô dự trữ ngoại hối. Ký hiệu: FER. Đơn vị tính: triệu USD
3.2 Biến và đo lường biến
3.2.1 Biến phụ thuộc Luận văn: PPNC tác động đến quy mô phát hành Trái phiếu.
Quy mô phát hành TPDN được sử dụng trong luận văn là số liệu thứ cấp được thu thập từ website Asianbondsonline.adb.org theo năm trong giai đoạn 2012 – 2021.
Theo Braun và Briones (2006), TTTP được xem là phát triển tốt được đặc trưng bởi giá trị trái phiếu phát hành so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP). GDP là thước đo để đánh giá tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia tại một thời điểm nhất định, thể hiện và phản ánh rõ ràng những sự biến động của hàng hóa, dịch vụ theo thời gian.
- Quy mô phát hành =
Theo Bhattacharyay (2011), quy mô phát hành của TPDN được thể hiện qua tỷ trọng giá trị TPDN phát hành trên tổng giá trị trái phiếu phát hành của TPCP và TPDN, tính theo phần trăm GDP của nền kinh tế.
Đến năm 2017, Hotchkiss và Jostova đã đưa ra một quan điểm khác về tiêu chí đo lường quy mô phát hành TPDN. Kết quả của nhóm tác giả đã chứng minh rằng tỷ lệ giá trị TPDN phát hành/GDP không phản ánh được toàn bộ mức gia tăng của quy mô phát hành của TPDN. Gía trị trái phiếu tại một thời điểm là tổng số dư tích lũy của các kỳ trước đó. Số dư giá trị trái phiếu cuối năm = số dư đầu năm + phát hành thêm trong năm – đáo hạn trong năm. Vì trái phiếu thường có kỳ hạn dài nên đôi khi, giá trị phát hành trong năm sẽ lớn hơn giá trị đáo hạn.
Kowalewski và Pisany (2017) đề xuất rằng cần dùng chỉ số giá trị TPDN phát hành trong năm để thể hiện quy mô phát hành của thị trường TPDN sơ cấp để loại bỏ giá trị trái phiếu đáo hạn (đã được thanh toán).
- Quy mô phát hành = Quy mô TPDN phát hành hàng năm
Từ những nghiên cứu trên, tác giả kế thừa quan điểm của Hotchkiss và Jostova và Kowalewski và Pisany, ‘Quy mô phát hành TPDN được đo lường bằng khối lượng TPDN được phát hành trong năm’
3.2.2 Biến độc lập
3.2.2.1 Quy mô nền kinh tế Luận văn: PPNC tác động đến quy mô phát hành Trái phiếu.
Quy mô của nền kinh tế (Đo lường bằng GDP) là số liệu thứ cấp được thu thập từ website Data.imf.org theo năm trong giai đoạn 2012 – 2021. Vì GDP là số liệu phi tuyến tính nên sẽ lấy logarit.
Eichengreen và Luengnaruemitchai (2004) đã đưa ra kết luận về quy mô nền kinh tế châu Á có ảnh hưởng đến quy mô phát hành TPDN. Khi nền kinh tế có quy mô quá nhỏ, thì việc phát hành trái phiếu trong nước không đủ sức hút đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, vì quy mô nền kinh tế nhỏ, những chỉ số thị trường không đồng nhất với những chỉ số của toàn cầu, từ đó cũng không tăng được uy tín và tạo sự hấp dẫn của TTTP.
Braun và Briones (2006), Mu và cộng sự (2013) và Bhattacharyay (2011; 2013) cũng có những kết luận tương tự. Họ cho rằng cho mối tương quan thuận chiều giữa quy mô nền kinh tế với sự phát triển của TTTP nói chung. Quy mô nền kinh tế nhỏ, về cơ bản sẽ không được tổ chức tốt cả về mặt số lượng và chất lượng để phát hành trái phiếu, chưa kể đến hành lang pháp lý lỏng lẻo sẽ ngăn cản việc phát triển của thị trường này. Nền kinh tế cần đạt được quy mô tối thiểu để có thể hấp dẫn được nhà đầu tư tham gia thị trường, cũng như là có đầy đủ tổ chức để hỗ trợ những vấn đề liên quan đến TTTP như: thủ tục phát hành, hành lang pháp lý, quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan,… từ đó thúc đẩy thị trường phát triển.
3.2.2.2 Độ mở thương mại của nền kinh tế
Độ mở thương mại của nền kinh tế (Đo lường bằng giá trị xuất khẩu) là số liệu thứ cấp được thu thập từ website data.worldbank.org theo năm trong giai đoạn 2012 – 2021.
Mankiw (2010) đã đưa ra định nghĩa rằng: “Nền kinh tế mở là nền kinh tế có xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, có vay và cho vay trên thị trường tài chính quốc tế”. Điều này được hiểu là, trong một nền kinh tế mở, dòng vốn và hàng hóa nói chung sẽ được luân chuyển. Tại đây, người tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn về các loại hàng hóa và dịch vụ, bởi khi đó, hàng hóa, dịch vụ không chỉ là những mặt hàng nội địa mà còn cả những loại hàng hóa đến từ những quốc gia khác nữa. Đồng thời, thay vì chỉ đầu tư hay tiết kiệm trong nước, giờ đây, nhà đầu tư có thể tiếp cận được nhiều loại hình đầu tư khác mà trước đây, thị trường trong nước không có. Qui mô nền kinh tế cũng được phát triển vì các doanh nghiệp nước ngoài cũng tăng cường đầu tư vào thị trường trong nước. Từ đó, tính cạnh tranh sẽ gia tăng, từ đó, quá trình sản xuất kinh doanh cũng được hiệu quả hơn. Chính từ sự cạnh tranh và hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp sẽ đổi mới, áp dụng những quy tắc, chuẩn mực quốc tế, từ đó, nền kinh tế sẽ minh bạch, lành mạnh hơn. Đó là bước ngoặt để làm tiền đề phát triển TTCK nói chung cũng như là thị trường TPDN nói riêng. Luận văn: PPNC tác động đến quy mô phát hành Trái phiếu.
Rajan và Zingales (2001) đã có nghiên cứu để lý giải tại sao nền kinh tế mở lại là tiền đề cho sự phát triển của TTCK. Xét về tổng quan năng lực, các ngân hàng (cụ thể là NHTM) thường có tiềm lực mạnh hơn các NHTM trong nước về hầu hết các mặt, chính vì thế mà khả năng chống chọi với những biến cố nhưng khủng hoảng tài chính cũng sẽ tốt hơn các ngân hàng nội địa.
Trong nhiều nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến TTTP, Bhattacharyay (2011; 2013); Mu và cộng sự (2013); Fredrick (2014); Nguyễn Hòa Nhân và cộng sự (2014); Kowalewski và Pisany (2017) cũng đã chỉ ra mức độ tương quan của sự phát triển của TTTP và độ mở thương mại của nền kinh tế.
3.2.2.3 Giai đoạn phát triển của nền kinh tế
Giai đoạn phát triển nền kinh tế (Đo lường bằng GDP/đầu người) là số liệu thứ cấp được thu thập từ website data.worldbank.org theo năm trong giai đoạn 2012 – 2021. Vì GDP/đầu người là số liệu phi tuyến tính nên sẽ lấy logarit.
Thuật ngữ phát triển, tăng trưởng kinh tế biểu thị sự tăng trưởng trong sản xuất hàng hóa và dịch vụ trong một thời kỳ cụ thể, thường được đánh giá thông qua các chỉ số GDP hay GNP. Đây là những chỉ số quan trọng để đánh giá sức khỏe kinh tế của một quốc gia, ảnh hưởng đến tỷ lệ việc làm, mức sống và cả mức đầu tư của quốc gia đó.
Việc đánh giá về mức độ phát triển của mỗi quốc gia dựa trên nhiều yếu tố. Liên Hợp Quốc (2014) đã chia các quốc gia trên thế giới thành ba nhóm dựa trên sự phát triển kinh tế của các nước này: Nền kinh tế lâu đời, nền kinh tế chuyển đổi và nền kinh tế đang phát triển. Trong đó, căn cứ vào thu nhập, các quốc gia được chia thành 4 nhóm nhỏ hơn: thu nhập cao, thu nhập trung bình cao, thu nhập trung bình thấp và thu nhập thấp. Có nhiều chỉ tiêu thu nhập được sử dụng để đánh giá mức độ phát triển của một quốc gia như GNI/người, GDP/người – GDP per capita, GNP/người. Trong các công trình nghiên cứu thực nghiệm khác, chỉ tiêu GDP bình quân đầu người được xem xét như là một đơn vị đo lường cho các giai đoạn phát triển của nền kinh tế. Và hầu hết các nghiên cứu này đều mang đến kết luận là các giai đoạn của nền kinh tế và sự phát triển của thị trường TPDN có mỗi tương quan thuận với nhau. Luận văn: PPNC tác động đến quy mô phát hành Trái phiếu.
Trong những nghiên cứu thực nghiệm có liên quan, chỉ tiêu GDP bình quân trên đầu người là chỉ tiêu được xem xét để đánh giác các giai đoạn phát triển của nền kinh tế và đều có kết luận tương tự về mối tương quan thuận giữa các giai đoạn của nền kinh tế và sự phát triển của thị trường TPDN (Bhattacharyay (2011; 2013), Fredrick (2014), Tendulkar (2015),Maurya và Mishra (2016)).
3.2.2.4 Chênh lệch lãi suất tiết kiệm và cho vay bình quân trên thị trường
Chênh lệch lãi suất tiết kiệm và cho vay bình quân trên thị trường (Đo lường bằng: Lãi suất cho vay – Lãi suất tiết kiệm (%/ năm)) là số liệu thứ cấp được thu thập từ Data.imf.org theo năm trong giai đoạn 2012 – 2021.
Khi chênh lệch lãi suất càng cao, các doanh nghiệp rất ngại đi vay nợ vì sợ không có khả năng trả nợ. Eichengreen và Luengnaruemitchai (2004) đã cho rằng, khi chênh lệch lãi suất càng cao thì các tài sản tài chính dài hạn trên TTTC sẽ tăng mức độ rủi ro, từ đó, NĐT sẽ chọn những phương thức đầu tư khác thay vì TPDN. Nghiên cứu thực nghiệm của Bhattacharyay (2013) và Mu và cộng sự (2013) trên thị trường trái phiếu của các quốc gia châu Á và châu Phi cũng cho kết luận tương tự.
3.2.2.5 Quy mô hệ thống ngân hàng
Quy mô của hệ thống ngân hàng (Đo lường bằng dư nợ tín dụng nội địa) là số liệu thức cấp được thu thập từ website Data.imf.org theo năm trong giai đoạn 2012 – 2021.
Trong nền kinh tế, các ngân hàng (chủ yếu là NHTM) nắm giữ nhiều vai trò quan trọng. Chức năng chính của ngân hàng là nhận tiền gửi từ những người có vốn nhàn rỗi, và cho vay đối với những người có nhu cầu về vốn. Nhìn vào khía cạnh cạnh tranh, có thể thấy, hệ thống NHTM và thị trường TPDN đang là những đối thủ cạnh tranh của nhau ở việc huy động vốn dài hạn để tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp.
Eichengreen và Luengnaruemitchai (2004) cho thấy rằng, quốc gia có sự cạnh tranh càng cao thì thị trường TPDN có sự phát triển hơn. Khi sự cạnh tranh càng cao, các doanh nghiệp sẽ có nhiều sự lựa chọn hơn trong lựa chọn phương thức huy động vốn của mình: vay ngân hàng hoặc phát hành TPDN. Và nếu các doanh nghiệp phát hành trái phiếu, thì hầu như các NHTM cũng là các TGTC tham gia như những: nhà tư vấn phát hành, bảo lãnh phát hành, đại lý phát hành,… Bhattacharyay (2011; 2013) và Hwang (2016) cũng cho kết quả tương tự.
3.2.2.6 Biến động tỷ giá hối đoái
Biến động tỷ giá hối đoái (Đo lường bằng tỷ giá hối đoái bình quân trong năm) là số liệu thức cấp được thu thập từ website Data.imf.org theo năm trong giai đoạn 2012 – 2021.
Tỷ giá hối đoái là một số liệu mà theo đó giá trị của một loại tiền tệ được so sánh với một loại tiền tệ khác. Nó có thể được coi là thước đo lượng tiền tệ thứ hai có thể được “mua” bằng một lượng tiền tệ thứ nhất.
Tỷ giá hối đoái đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động thương mại của một quốc gia. Cho dù được xác định bởi các cú sốc ngoại sinh hay bởi chính sách, việc định giá tương đối của các loại tiền tệ và sự biến động của chúng thường có tác động quan trọng đối với thương mại quốc tế, cán cân thanh toán và hiệu quả kinh tế tổng thể.
Những nghiên cứu của các tác giả Eichengreen và Luengnaruemitchai (2004), Bhattacharyay (2011; 2013), Mu và cộng sự (2013) đã cho thấy một điều rằng, quốc gia có sự biến động về tỷ giá hối đoái càng nhiều, thì thị trường TPDN càng kém phát triển. Sự biến động liên tục của tỷ giá hối đoái sẽ dẫn đến việc, người dân không có nhiều niềm tin về khả năng thanh toán của các công cụ nợ trong nước, mà điển hình là TPDN.
3.2.2.7 Dự trữ ngoại hối
Dự trữ ngoại hối (Đo lường bằng quy mô dự trữ ngoại hối) là số liệu thức cấp được thu thập từ website data.worldbank.org theo năm trong giai đoạn 2012 – 2021. Luận văn: PPNC tác động đến quy mô phát hành Trái phiếu.
Dự trữ ngoại hối là tài sản dự trữ của ngân hàng trung ương bằng ngoại tệ. Những khoản dự trữ này được sử dụng để hỗ trợ các khoản nợ và ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ. Nó bao gồm bất kỳ khoản tiền nước ngoài nào được nắm giữ bởi một ngân hàng trung ương. Quy mô dự trữ ngoại hối tăng có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân, tuy nhiên, khi quy mô dự trữ ngoại hối tăng, đó chính là dấu hiệu tích cực cho thấy nền kinh tế đang phát triển. Từ đó, tạo niềm tin cho các NĐT có thể thực hiện đầu tư vào thị trường trong nước, vào các công cụ nợ, mà cụ thể là thị trường TPDN.
Nghiên cứu của Maurya và Mishra (2016) tại thị trường Ấn Độ đã chỉ ra rằng, quy mô dự trữ ngoại hối tăng làm quy mô phát hành TPDN cũng tăng. Đây là mối tương quan thuận chiều.
Bảng 3.1: Số liệu và nguồn số liệu của mô hình
| Biến | Ký hiệu | Đơn vị | Nguồn |
| Quy mô phát hành TPDN | VOL | T ỷ USD | Asianbondsonline.adb.org |
| Quy mô của nền kinh tế | Log(GDP) | % | World Bank |
| Độ mở thương mại của nền kinh tế | EXP | Tri ệu USD | World Bank |
| Giai đoạn phát triển nền kinh tế | Log(PGDP) | % | World Bank |
| Chênh lệch lãi suất tiết kiệm và cho vay bình quân trên thị trường | DR | % | Data.imf.org |
| Quy mô của hệ thống ngân hàng | CRED | Nghìn t ỷ USD | Data.imf.org |
| Biến động tỷ giá hối đoái | EXR | Đồng nội tệ so với đồng USD | Data.imf.org |
| Dự trữ ngoại hối | FER | Triệu USD | World Bank |
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
3.2.3 Tổng hợp nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu
3.2.3.1 Tổng hợp nghiên cứu
Bảng 3.2:Tổng hợp nghiên cứu
| Yếu tố | Hướng tác động | Tác giả (năm) |
| Quy mô của nền kinh tế | + | Eichengreen và Luengnaruemitchai (2004); Braun và Briones (2006); Bhattacharyay (2011; 2013) |
| Độ mở thương mại của nền kinh tế | + | Eichengreen và Luengnaruemitchai (2004); Bhattacharyay (2013) |
| Giai đoạn phát triển của nền kinh tế | + | Eichengreen và Luengnaruemitchai (2004); Braun và Briones (2006); Bhattacharyay (2013); Mu và cộng sự (2013); Nguyễn Hòa Nhân và cộng sự (2014) |
| Chênh lệch lãi suất | – | Bhattacharyay (2013);Fredrick (2014) |
| Quy mô của hệ thống ngân hàng | -/+ | Bhattacharyay (2013); Hawkins,(2002); Hwang (2016), Eichengreen và Luengnaruemitchai (2004) |
| Biến động tỷ giá | – | Fredrick (2014); Eichengreen và Luengnaruemitchai (2004), Bhattacharyay (2011; 2013), Mu và cộng sự (2013) |
| Dự trữ ngoại hối | + | Maurya và Mishra (2016) |
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
3.2.3.2 Khoảng trống nghiên cứu Luận văn: PPNC tác động đến quy mô phát hành Trái phiếu.
Tại các quốc gia có TTTC phát triển, đã có nhiều nghiên cứu về đề tài liên quan đến TPDN. Tuy nhiên do đặc điểm về thể chế và hạ tầng dành cho TPDN của các quốc gia này ở mức cao hơn nên những nghiên cứu này khó có thể đại diện cho thị trường tại các quốc gia đang phát triển như Đông Nam Á. Vì thế, việc có nghiên cứu riêng về xác định các yếu tố tác động tới quy mô thị trường TPDN tại các quốc gia khu vực Đông Nam Á là cần thiết.
Tại Đông Nam Á, các nghiên cứu về TPDN chủ yếu ở dạng thống kê, mô tả số liệu và có rất ít nghiên cứu về các yếu tố tác động tới quy mô thị trường TPDN. Đối với quy mô của thị trường TPDN sơ cấp, nghiên cứu của Nguyễn Hòa Nhân và cộng sự (2014) là nghiên cứu đầu tiên sử dụng mô hình phân tích hồi quy. Tuy nhiên, các yếu tố được phân tích trong nghiên cứu còn ít và tỷ lệ phần trăm giải thích sự biến động của biến phụ thuộc thông qua biến độc lập còn thấp. Có thể xem xét thêm nhiều yếu tố khác để xác định thêm các yếu tố tác động tới quy mô phát hành TPDN. Chính vì thế, nghiên cứu này ra đời nằm mục đích làm rõ hơn những yếu tố tác động đến quy mô phát hành tại các quốc gia khu vực Đông Nam Á.
3.3 Giả thuyết nghiên cứu Luận văn: PPNC tác động đến quy mô phát hành Trái phiếu.
3.3.1 Quy mô nền kinh tế có tác động đến quy mô phát hành TPDN
Quy mô của một nền kinh tế thể hiện bằng GDP hoặc GNP. Có nhiều tiêu chí đo qui mô nền kinh tế, song tiêu chí được sử dụng phổ biến là GDP. GDP (Gross Domestic Product) là giá trị thị trường của tất cả các sản phẩm được sản xuất ra trên một vùng lãnh thổ (quốc gia) trong một khoảng thời gian (thường được tính trong một năm). Nhiều nghiên cứu đều có nhận định qui mô của nền kinh tế quyết định lớn tới quy mô của TTTC nói chung và thị trường TPDN nói riêng.
Eichengreen và Luengnaruemitchai (2004) đã đưa ra kết luận về quy mô nền kinh tế châu Á có ảnh hưởng đến quy mô phát hành TPDN. Khi nền kinh tế có quy mô quá nhỏ, thì việc phát hành trái phiếu trong nước không đủ sức hút đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, vì quy mô nền kinh tế nhỏ, những chỉ số thị trường không đồng nhất với những chỉ số của toàn cầu, từ đó cũng không tăng được uy tín và tạo sự hấp dẫn của TTTP.
Braun và Briones (2006), Mu và cộng sự (2013) và Bhattacharyay (2011; 2013) cũng có những kết luận tương tự. Họ cho rằng cho mối tương quan thuận chiều giữa quy mô nền kinh tế với sự phát triển của TTTP nói chung. Quy mô nền kinh tế nhỏ, về cơ bản sẽ không được tổ chức tốt cả về mặt số lượng và chất lượng để phát hành trái phiếu, chưa kể đến hành lang pháp lý lỏng lẻo sẽ ngăn cản việc phát triển của thị trường này. Nền kinh tế cần đạt được quy mô tối thiểu để có thể hấp dẫn được nhà đầu tư tham gia thị trường, cũng như là có đầy đủ tổ chức để hỗ trợ những vấn đề liên quan đến TTTP như: thủ tục phát hành, hành lang pháp lý, quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan,… từ đó thúc đẩy thị trường phát triển.
Như vậy, giả thuyết về quy mô nền kinh tế có tác động đến quy mô phát hành TPDN được phát biểu như sau:
Giả thuyết 1: Quy mô của nền kinh tế có tác động cùng chiều đến quy mô phát hành TPDN tại các quốc gia Đông Nam Á
3.3.2 Độ mở thương mại của nền kinh tế có tác động đến quy mô phát hành TPDN Luận văn: PPNC tác động đến quy mô phát hành Trái phiếu.
Nền kinh tế của một quốc gia thường rơi vào một trong hai trạng thái: đóng hoặc mở. Liberati (2007) cho rằng độ mở của nền kinh tế có thể được xem xét trên 2 góc độ: mức độ mở rộng thương mại và mở rộng vốn. Trong đó, mở rộng thương mại được xác định bằng tỷ lệ xuất nhập khẩu trên GDP. Mức độ mở rộng vốn có thể được xác định bằng 2 tỷ lệ: tổng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào và ra trên GDP; và tổng các khoản đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) vào và ra trên GDP. Như vậy, độ mở của nền kinh tế bao hàm trong nó độ mở của các thị trường, trong đó có thị trường tài chính (thu hút vốn đàu tư nước ngoài, vay nợ, cho vay nước ngoài, phát hành trái phiếu, cổ phiếu trên thị trường quốc tế).
Rajan và Zingales (2001) đã có nghiên cứu để lý giải tại sao nền kinh tế mở lại là tiền đề cho sự phát triển của TTCK. Xét về tổng quan năng lực, các ngân hàng (cụ thể là NHTM) thường có tiềm lực mạnh hơn các NHTM trong nước về hầu hết các mặt, chính vì thế mà khả năng chống chọi với những biến cố nhưng khủng hoảng tài chính cũng sẽ tốt hơn các ngân hàng nội địa.
Trong nhiều nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến TTTP, Bhattacharyay (2011; 2013); Mu và cộng sự (2013); Fredrick (2014); Nguyễn Hòa Nhân và cộng sự (2014); Kowalewski và Pisany (2017) cũng đã chỉ ra mức độ tương quan của sự phát triển của TTTP và độ mở thương mại của nền kinh tế.
Như vậy, giả thuyết về độ mở thương mại của nền kinh tế có tác động đến quy mô phát hành TPDN được phát biểu như sau:
Giả thuyết 2: Độ mở thương mại của nền kinh tế có tác động cùng chiều đến quy mô phát hành TPDN tại các quốc gia Đông Nam Á Luận văn: PPNC tác động đến quy mô phát hành Trái phiếu.
3.3.3 Giai đoạn phát triển của nền kinh tế có tác động tới quy mô phát hành TPDN
Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế, bao gồm mở rộng sản lượng quốc gia cùng với giảm hoặc loại bỏ đói nghèo, bất bình đẳng và thất nghiệp (Todaro và Smith, 2015). Phát triển kinh tế được đo bằng kết quả phát triển là qui mô nền kinh tế và là tiến trình tăng trưởng kinh tế. Phát triển kinh tế là động lực chủ yếu làm gia tăng thu nhập bình quân đầu người, làm gia tăng chất lượng cuộc sống. Phát triển kinh tế là một quá trình lâu dài. Có những quốc gia có mức độ phát triển kinh tế nhanh, hạn chế được các tác động suy thoái, ngược lại, có nhiều quốc gia kinh tế phát triển chậm, chịu nhiều tác tác động tiêu cực cả từ bên trong lẫn bên ngoài.
Trong những nghiên cứu thực nghiệm có liên quan, chỉ tiêu GDP bình quân trên đầu người là chỉ tiêu được xem xét để đánh giác các giai đoạn phát triển của nền kinh tế và đều có kết luận tương tự về mối tương quan thuận giữa các giai đoạn của nền kinh tế và sự phát triển của thị trường TPDN (Bhattacharyay (2011; 2013), Fredrick (2014), Tendulkar (2015),Maurya và Mishra (2016)).
Như vậy, giả thuyết về giai đoạn phát triển của nền kinh tế có tác động đến quy mô phát hành TPDN được phát biểu như sau:
Giả thuyết 3: Giai đoạn phát triển của nền kinh tế có tác động cùng chiều đến quy mô phát hành TPDN tại các quốc gia Đông Nam Á
3.3.4 Chênh lệch lãi suất có tác động tới quy mô phát hành TPDN
Tổ chức huy động và cho vay lớn trong nền kinh tế là các ngân hàng, các quĩ tiết kiệm và cho vay. Các định chế này huy động mọi nguồn vốn trong xã hội, trong đó có tiền tiết kiệm của dân cư. Lãi suất tiết kiệm phản ảnh tương quan cung (nguồn tiết kiệm) và cầu (sử dụng vốn, chủ yếu là cho vay) của các định chế này. Khi nhu cầu về đầu tư lớn, nguồn tiết kiệm khan hiếm, lạm phát cao, thường lãi suất huy động tiết kiệm cũng phải cao, để đảm bảo lãi suất thực dương cho người gửi tiền. Lãi suất tiết kiệm thường được xác định theo thời gian (thời gian càng dài, lãi suất càng cao) và theo ngân hàng (ngân hàng càng có uy tín, lãi suất càng thấp).
Khi chênh lệch lãi suất càng cao, các doanh nghiệp rất ngại đi vay nợ vì sợ không có khả năng trả nợ. Eichengreen và Luengnaruemitchai (2004) đã cho rằng, khi chênh lệch lãi suất càng cao thì các tài sản tài chính dài hạn trên TTTC sẽ tăng mức độ rủi ro, từ đó, NĐT sẽ chọn những phương thức đầu tư khác thay vì TPDN. Nghiên cứu thực nghiệm của Bhattacharyay (2013) và Mu và cộng sự (2013) trên thị trường trái phiếu của các quốc gia châu Á và châu Phi cũng cho kết luận tương tự.
Như vậy, giả thuyết về chênh lệch lãi suất có tác động đến quy mô phát hành TPDN được phát biểu như sau:
Giả thuyết 4: Chênh lệch lãi suất có tác động ngược chiều đến quy mô phát hành TPDN tại các quốc gia Đông Nam Á
3.3.5 Qui mô của hệ thống ngân hàng có tác động tới quy mô phát hành TPDN
Hệ thống ngân hàng, chủ yếu là NHTM, là các TGTC chủ yếu của quốc gia. NHTM có chức năng quan trọng là nhận tiết kiệm và cấp vốn cho các chủ thể có nhu cầu trong nền kinh tế. Vì thế, xét trên một góc độ nhất định, hệ thống NHTM và thị trường TPDN là các đối thủ cạnh tranh với nhau trong việc huy động vốn cho các doanh nghiệp. Trong điều kiện cụ thể, các NHTM có thể có những ảnh hưởng để hạn chế sự phát triển của thị trường TPDN nhằm duy trì vị thế độc tôn của mình (Harwood, 2000; Rajan và Zingales, 2001). Tuy nhiên, trong một nền kinh tế mở, vấn đề này sẽ được hạn chế hơn rất nhiều và các NHTM lúc này lại trở thành chủ thể cần thiết để thúc đẩy sự phát triển của thị trường TPDN. Các NHTM có thể đóng nhiều vai trò trên thị trường TPDN như nhà phát hành, NĐT, nhà bảo lãnh,… (Hawkins, 2002).
Eichengreen và Luengnaruemitchai (2004) cho thấy rằng, quốc gia có sự cạnh tranh càng cao thì thị trường TPDN có sự phát triển hơn. Khi sự cạnh tranh càng cao, các doanh nghiệp sẽ có nhiều sự lựa chọn hơn trong lựa chọn phương thức huy động vốn của mình: vay ngân hàng hoặc phát hành TPDN. Và nếu các doanh nghiệp phát hành trái phiếu, thì hầu như các NHTM cũng là các TGTC tham gia như những: nhà tư vấn phát hành, bảo lãnh phát hành, đại lý phát hành,… Bhattacharyay (2011; 2013) và Hwang (2016) cũng cho kết quả tương tự.
Như vậy, giả thuyết về quy mô hệ thống ngân hàng có tác động đến quy mô phát hành TPDN được phát biểu như sau:
Giả thuyết 5: Quy mô hệ thống ngân hàng có tác động ngược chiều/ cùng chiều đến quy mô phát hành TPDN tại các quốc gia Đông Nam Á
3.3.6 Biến động tỷ giá hối đoái có tác động tới quy mô phát hành Luận văn: PPNC tác động đến quy mô phát hành Trái phiếu.
Tỷ giá thay đổi là kết quả của nhiều yếu tố. Đồng thời, sự biến động của tỷ giá lại tác động trở lại các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế, trong đó có sự phát triển của thị trường TPDN. Biến động của tỷ giá ảnh hưởng tới doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Khi tỷ giá tăng, doanh nghiệp nhập khẩu gặp khó khăn, thu nhập có thể giảm, vì vậy xếp hạng triển vọng có thể bị giảm đi. Các doanh nghiệp này bị khó khăn hơn khi phát hành trái phiếu; tương tự như vậy đối với doanh nghiệp có khoản vay bằng ngoại tệ. NĐT nước ngoài cũng lo ngại khi tỷ giá biến động mạnh, có thể làm giảm lợi nhuận chuyển về nước…Mặc dù tác động của biến động tỷ giá lên nhiều đối tượng, nhiều phía, xong nếu biến động mạnh sẽ tác động lên tiết kiệm nội tệ, làm xói mòn tiết kiệm trong nước, ảnh hưởng tới NĐT cá nhân. Lãi suất sẽ có thể tăng cao, ảnh hưởng tiêu cực tới TTTP.
Những nghiên cứu của các tác giả Eichengreen và Luengnaruemitchai (2004), Bhattacharyay (2011; 2013), Mu và cộng sự (2013) đã cho thấy một điều rằng, quốc gia có sự biến động về tỷ giá hối đoái càng nhiều, thì thị trường TPDN càng kém phát triển. Sự biến động liên tục của tỷ giá hối đoái sẽ dẫn đến việc, người dân không có nhiều niềm tin về khả năng thanh toán của các công cụ nợ trong nước, mà điển hình là TPDN.
Như vậy, giả thuyết về biến động tỷ giá hối đoái có tác động đến quy mô phát hành TPDN được phát biểu như sau:
Giả thuyết 6: Biến động tỷ giá hối đoái có tác động ngược chiều đến quy mô phát hành TPDN tại các quốc gia Đông Nam Á
3.3.7 Dự trữ ngoại hối có tác động tới quy mô phát hành
Dự trữ ngoại hối tăng có thể do nguồn xuất khẩu lớn hơn nhập khấu (xuất siêu), từ kiều hối, từ phát triển du lịch (xuất khẩu tại chỗ), đầu tư trực nước ngoài, vay nợ nước ngoài lớn hơn trả nợ…Một nước đang phát triển có dự trữ ngoại hối tăng cho thấy nhiều khả năng là kinh tế phát triển (xuất khẩu tăng, đầu tư ngước ngoài tăng).
Quy mô dự trữ ngoại hối tăng, và đủ dự trữ ngoại hối là dấu hiệu tích cực của nền kinh tế, tạo nềm tin cho các NĐT trên thị trường trái phiếu, rằng quốc gia có khả năng thanh toán nợ, có khả năng chống chọi với cú sốc từ bên ngoài, có thể can thiệp để đảm bảo ổn định tiền tệ. Nghiên cứu của Maurya và Mishra (2016) trên thị trường TPDN Ấn
Độ cho thấy mối tương quan thuận chiều mạnh mẽ giữa dự trữ ngoại hối và quy mô phát hành TPDN.
Như vậy, giả thuyết về dự trữ ngoại hối có tác động đến quy mô phát hành TPDN được phát biểu như sau:
Giả thuyết 7: Dự trữ ngoại hối có tác động ngược chiều đến quy mô phát hành TPDN tại các quốc gia Đông Nam Á
Bảng 3.3. Bảng thống kê dấu kỳ vọng của các biến độc lập trong mô hình
| Yếu tố | Hướng tác động | Tác giả (năm) | Dấu kỳ vọng |
| Quy mô của nền kinh tế | + | Eichengreen và Luengnaruemitchai (2004); Braun và Briones (2006); Bhattacharyay (2011; 2013) | + |
| Độ mở thương mại của nền kinh tế | + | Eichengreen và Luengnaruemitchai (2004); Bhattacharyay (2013) | + |
| Giai đoạn phát triển của nền kinh tế | + | Eichengreen và Luengnaruemitchai (2004); Braun và Briones (2006); Bhattacharyay (2013); Mu và cộng sự (2013); Nguyễn Hòa Nhân và cộng sự (2014) | + |
| Chênh lệch lãi suất | – | Bhattacharyay (2013);Fredrick (2014) | – |
| Quy mô của hệ thống ngân hàng | -/+ | Bhattacharyay (2013); (Hawkins, 2002); Hwang (2016), Eichengreen và Luengnaruemitchai (2004) | -/+ |
| Biến động tỷ giá | – | Fredrick (2014); Eichengreen và Luengnaruemitchai (2004), Bhattacharyay (2011; 2013), Mu và cộng sự (2013) | – |
| Dự trữ ngoại hối | + | Maurya và Mishra (2016) | + |
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
3.4 Dữ liệu nghiên cứu Luận văn: PPNC tác động đến quy mô phát hành Trái phiếu.
Đề tài nghiên cứu: “CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUY MÔ PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP TẠI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á”, và dữ liệu của 6 quốc gia sẽ được sử dụng cho dụng cho đề tài nghiên cứu này. Điểm xuất phát là từ 11 quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, đề tài lựa chọn các quốc gia đưa vào mẫu nghiên cứu khi thỏa mãn đồng thời những tiêu chí sau:
- Các quốc gia này là những quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á
- Các quốc gia này có đầy đủ thông tin theo về các chỉ số vĩ mô cần dùng trong đề tài nghiên cứu
- Các quốc gia này có thực hiện hoạt động phát hành TPDN
Đề tài nghiên cứu sử dụng số liệu là dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ một số trang thông tin điện tử như Asianbondsonline.adb.org,WorldBank, IMF trong khoảng thời gian 2012 – 2021. Luận văn sử dụng phần mềm STATA để phân tích dữ liệu bảng và hồi quy mô hình.
3.5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, thông qua đó để trả lời các câu hỏi nghiên cứu đã được đề cập và cũng như thực hiện các mục tiêu nghiên cứu đã được nhắc tới.
Phương pháp nghiên cứu về định lượng được dùng để kiểm tra kết quả của nghiên cứu, bao gồm các phương pháp kỹ thuật về nghiệp vụ, ví dụ cụ thể như sau: thống kê cho mô tả (Descriptive Statistics), phân tích về tương quan (Correlation analysis) và phân tích về hồi quy dữ liệu chuỗi thời gian (Data regression)
- Thống kê mô tả
Thống kê mô tả được sử dụng nhằm cung cấp thông tin khái quát về các biến trong mô hình nghiên cứu, các chỉ tiêu thống kê mô tả bao gồm: giá trị trung bình (Mean), giá trị nhỏ nhất (Mininum), giá trị lớn nhất (Maxinum), độ lệch chuẩn (Standard deviation) và số quan sát (Observations),…
- Phân tích tương quan
Phân tích tương quan được sử dụng nhằm xác định mức độ tương quan mạnh hay yếu, cùng hay ngược chiều giữa các biến độc lập, cũng như biến được giải thích với các biến giải thích được dùng trong mô hình nghiên cứu. Ngoài ra, phân tích về tương quan gợi ý nhận diện về hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng có xảy ra hay là không, theo Gujarati (2011), nếu hệ số tương quan của một cặp biến giải thích bất kỳ có giá trị tuyệt đối cao hơn 0.8 thì mô hình có thể gặp hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng. Vì vậy, cũng theo Gujarati cho biết, có ba cách để có thể áp dụng để xử lý hiện tượng đa cộng tuyến: thứ nhất là bỏ biến có mức độ tương quan cao với các biến số giải thích và với biến được giải thích, thứ hai là sử dụng phương pháp phân tích từng thành phần chính, và thứ ba là không làm gì; trong khi đó, phương pháp thứ hai đặc biệt hiệu quả khi xử lý các mô hình có nhiều biến giải thích. Luận văn: PPNC tác động đến quy mô phát hành Trái phiếu.
- Phân tích hồi quy
Phân tích hồi quy dữ liệu dạng bảng để kiểm định xu hướng và mức độ của “Các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô phát hành trái phiếu doanh nghiệp trên thị trường Việt Nam”, sử dụng mô hình hồi quy OLS gộp (Pooled OLS), mô hình yếu tố ảnh hưởng cố định (FEM) và mô hình yếu tổ ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM).
Để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu về ” Các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô phát hành trái phiếu doanh nghiệp tại các quốc gia Đông Nam Á ” theo mô hình đề xuất, nghiên cứu sử dụng phương pháp kiểm định Tstudent hoặc kiểm định F với các mức ý nghĩa thống kê lần lượt là 1%, 5% và 10% để xác định mức độ tin cậy về ảnh hưởng của biến độc lập, và căn cứ hệ số hồi quy p-value để giải thích xu hướng và mức ảnh hưởng của biến độc lập đến biến được giải thích.
Ngoài ra, đề tài thực hiện kiểm định các khuyết tật của mô hình hồi quy, bao gồm đa cộng tuyến nghiêm trọng, phương sai sai số thay đổi và tự tương quan; theo đó:
Hiện tượng về đa cộng tuyến nghiêm trọng sẽ được kiểm tra và được kết luận thông qua hệ số phóng đại phương sai (VIF – Variance-inflating factor), nếu VIF lớn hơn 10 thì mô hình có hiện tượng về đa cộng tuyến nghiêm trọng, và ngược lại.
Hiện tượng về phương sai sai số thay đổi sẽ được kiểm tra và được kết luận bằng kiểm định Wald với giả định như sau: Ho là không có hiện tượng về phương sai sai số thay đổi, và H1 là có hiện tượng về phương sai sai số thay đổi.
Hiện tượng về tự tương quan sẽ không cần được thực hiện kiểm tra nếu kết quả hồi quy được lựa chọn theo mô hình FEM vì mô hình FEM chỉ quan tâm đến những khác biệt mang tính cá nhân đóng góp vào mô hình nên không có hiện tượng về tự tương quan; ngược lại hiện tượng về tự tương quan sẽ thực hiện kiểm travà kết luận bằng kiểm định Wooldridge với giả thuyết như sau: Ho là không có hiện tượng tự tương quan, và H1 là có hiện tượng tự tương quan.
Sau khi kiểm tra các khuyết tật của mô hình hồi quy, nếu có xảy ra khuyết tật thì kết quả hồi quy cuối cùng sẽ được xác định theo phương pháp bình phương nhỏ nhất tổng quát (GLS); ngược lại kết quả hồi quy cuối cùng sẽ được xác định theo Pooled OLS, hoặc FEM, hoặc REM tùy theo kết quả kiểm định lựa chọn đã nói trên.
3.6 Quy trình nghiên cứu
Nhằm thực hiện mục tiêu nghiên cứu “CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUY MÔ PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP TẠI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á”, tác giả áp dụng quy trình nghiên cứu theo hình vẽ sau:

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
TÓM TẮT CHƯƠNG 3
Chương 3 nói đến các bước của quá trình tiến trình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quy mô phát hành trái phiếu doanh nghiệp tại các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 2012 – 2021. Trình bày phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích tương quan và phân tích hồi quy dữ liệu chuỗi thời gian bằng các phương pháp, sau đó tiến hành kiểm định các khuyết tật của mô hình dựa trên STATA 16.0. Luận văn: PPNC tác động đến quy mô phát hành Trái phiếu.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến quy mô phát hành Trái phiếu

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
