Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
4.1. Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài là các NHTM niêm yết tại Việt Nam, được lựa chọn nhằm phản ánh rõ nét tình hình hoạt động của khu vực ngân hàng có tính minh bạch và tuân thủ công bố thông tin theo quy định. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 28 NHTM niêm yết trong giai đoạn 2011 – 2024, với 392 quan sát, đảm bảo độ bao phủ và tính liên tục của chuỗi dữ liệu trong hơn một thập kỷ.
Mẫu nghiên cứu bao gồm cả ngân hàng có vốn nhà nước chi phối (như Vietcombank, VietinBank, BIDV và Agribank) và các ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân (như Techcombank, VPBank, MB, ACB, HDBank,…). Việc kết hợp hai nhóm ngân hàng này giúp phản ánh bức tranh toàn diện hơn về hiệu quả hoạt động trong hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Nguồn dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính kiểm toán hàng năm của các ngân hàng, bao gồm các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động, năng lực tài chính, cấu trúc sở hữu, quy mô ngân hàng,… để có sơ sở đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTM. Việc lựa chọn các NHTM niêm yết giúp đảm bảo tính minh bạch, đầy đủ và độ tin cậy của dữ liệu, đồng thời thể hiện xu hướng phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn hội nhập và chuyển đổi số mạnh mẽ. Mẫu dữ liệu này được xem là đại diện tiêu biểu cho toàn hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, qua đó cung cấp cơ sở khoa học cho việc đánh giá và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong bối cảnh kinh tế biến động và cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 28 NHTM trong giai đoạn 2011 –2024 với số quan sát là 392, được thống kê mô tả chi tiết như sau: Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
- Bảng 4. 1: Bảng thống kê mô tả các biến trong mô hình
Biến phụ thuộc ROEA có giá trị nhỏ nhất là -91,69% vào năm 2014 của NVB. VIB là ngân hàng có ROEA cao nhất với giá trị là 30,33% năm 2021. Nhìn vào bảng thống kê, độ lệch chuẩn của biến số ROEA của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu là 9,82%, thể hiện sự chênh lệch giữa các NHTM trong chiến lược quản trị nguồn VCSH để sinh lời. Giá trị trung bình của biến phụ thuộc này là 10,83% cho thấy, khi sử dụng 100 đơn vị VCSH thì các ngân hàng thu được 10,83 đơn vị lợi nhuận.
Biến độc lập đầu tiên được nghiên cứu đưa ra là tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản (EQUITY). Giá trị nhỏ nhất của EQUITY là 4,06% năm 2017 của ngân hàng BID. SGB có tỷ lệ VCSH lớn nhất là 23,84% vào năm 2013, đây cũng là giá trị lớn nhất của biến này. Giá trị trung bình của EQUITY là 8,96%, có thể thấy VCSH chiếm tỉ trọng không lớn trong cơ cấu tài sản có của các ngân hàng. Sự khác biệt về tỷ lệ VCSH giữa các NHTM được thể hiện thông qua độ lệch chuẩn của EQUITY với giá trị là 3,60%.
Quy mô ngân hàng (SIZE) có giá trị trung bình là 32,68, với độ lệch chuẩn là 1,24 cho thấy sự phân hóa không quá sâu sắc về quy mô giữa 28 NHTM trong mẫu nghiên cứu. Giá trị lớn nhất của biến SIZE là 35,55 của ngân hàng BID vào năm 2024. Sau khi vượt qua CTG vào năm 2024, ngân hàng này đã trở thành nhà băng có tổng tài sản lớn nhất toàn hệ thống từ năm 2021 đến nay. Giá trị nhỏ nhất là 30,32 thuộc về SGB năm 2013.
Rủi ro tín dụng (NPL) được thể hiện thông qua chỉ số nợ xấu. Theo đó, giá trị nhỏ nhất của NPL là 0%, điều này chứng tỏ việc quản lý rủi ro của các ngân hàng rất tốt, không để phát sinh nợ xấu. Một số NHTM có tỷ lệ nợ xấu bằng 0% là ABB, AGR, BVB, OCB, MSB, SSB, SGB, TPB, VAB, VBB đa số tỷ lệ này được duy trì ở giai đoạn đầu của nghiên cứu (năm 2011 và 2012). Giá trị lớn nhất của NPL là 29,76% của NVB năm 2023, điều này đặt ra câu hỏi cho ngân hàng này về vấn đề quản trị rủi ro tín dụng. Giá trị trung bình của biến NPL là 2,17% và độ lệch chuẩn là 2,24%, cho thấy không có sự khác biệt rõ ràng trong công tác quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng trong nghiên cứu.
Chi phí hoạt động (COST) có độ lệch chuẩn là 0.51% và giá trị trung bình là 1,66%, thể hiện tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng tài sản bình quân không có sự khác biệt quá lớn. Giá trị trung bình còn cho biết, cứ mỗi đơn vị tài sản được tạo ra thì các ngân hàng cần phải bỏ ra 1,66 đơn vị chi phí. Chi phí nhân viên chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu chi phí hoạt động của các ngân hàng. Tuy nhiên, chính đội ngũ nhân sự là động lực tạo ra nguồn thu nhập khổng lồ cho ngân hàng, cao hơn rất nhiều lần so với chi phí bỏ ra. Giá trị nhỏ nhất của biến COST là 0,58% thuộc về SSB năm 2011. TPB là ngân hàng có chi phí hoạt động cao nhất với giá trị của tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng tài sản bình quân là 5,20% vào năm 2011.
Đa dạng hóa thu nhập (DIV) được thể hiện qua chỉ số HHI_REV. Thống kê cho thấy, giá trị nhỏ nhất của DIV là -1,09 của TPB năm 2011 và giá trị lớn nhất là 3,44 năm 2013 của HDB. Giá trị trung bình là 0,27, cho biết cứ 100 đơn vị thu nhập thì các ngân hàng có 0,27 đơn vị thu nhập ngoài lãi. Như vậy, thu nhập ngoài lãi thực sự chưa là điểm nhấn trong thu nhập của các NHTM Việt Nam, mặc dù tỷ lệ này có tăng dần theo thời gian. Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
COVID19 là biến độc lập mới trong mô hình, với giá trị bằng 1 tại các năm 2020 và 2021, giai đoạn đại dịch bùng phát và lan rộng tại Việt Nam, gây ra cú sốc nghiêm trọng đối với nền kinh tế đang phát triển. Do ảnh hưởng chung của đại dịch đến toàn nền kinh tế, hoạt động của các ngân hàng cũng chịu tác động nặng nề, đặc biệt là trong lĩnh vực tín dụng, làm suy giảm lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh. Tuy nhiên, một điểm tích cực trong giai đoạn này là sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ và thanh toán điện tử, cùng với sự gia tăng sử dụng các dịch vụ số khác của khách hàng, từ đó giúp các NHTM gia tăng đáng kể thu nhập ngoài lãi.
Tốc độ tăng trưởng GDP thể hiện sự ổn định và vững mạnh của nền kinh tế. Trong giai đoạn nghiên cứu (2011 – 2024), tốc độ tăng trưởng GDP bình quân là 5,81%, với độ lệch chuẩn là 1,47%. Như vậy, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam được đánh giá là ít có sự biến động mạnh và tăng trưởng đều qua các năm. Giá trị nhỏ nhất của GDP là 2,58% vào năm 2021, đây là năm mà đại dịch Covid-19 bùng phát mạnh mẽ, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn trong bối cảnh cách ly toàn xã hội. Tuy nhiên, so với các nền kinh tế trên toàn thế giới, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2021 là 2,58% được xem là phát triển vượt bậc. Sau giai đoạn khó khăn và nhiều thử thách do đại dịch Covid-19 ra thì GDP của Việt Nam đã tăng trưởng nhanh và đạt giá trị lớn nhất là 8,02% năm 2022.
Tương tự với biến GDP, tỷ lệ lạm phát (INF) cũng được xem là biến số vĩ mô có tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam. INF có giá trị trung bình là 4,51% và độ lệch chuẩn là 4,22%. INF được ghi nhận ở mức 2 con số vào năm 2011 với giá trị là 18,13% (là giá trị lớn nhất). Nhưng sau đó, tỷ lệ lạm phát đã được kiểm soát mạnh mẽ để về mức tỷ lệ lạm phát tự nhiên (dưới 10%). Và giá trị nhỏ nhất của INF là 0,19% được ghi nhận vào năm 2020.
Hình thức sở hữu (GOV) đây là biến độc lập mới tiếp theo được đưa vào mô hình nghiên cứu. Theo đó, các NHTM Nhà nước là những tổ chức mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế với quy mô lớn, mạng lưới rộng khắp và sự bảo trợ vốn từ Chính phủ bao gồm: AGR, BID, CTG, VCB và các biến này mang giá trị 1.
4.2. Phân tích tương quan giữa các biến trong mô hình Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Mối tương quan giữa các biến trong mô hình được thể hiện thông qua ma trận tương quan, chi tiết như sau:
- Bảng 4. 2: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình
Phân tích tương quan trình bày mức độ liên kết giữa các nhân tố độc lập và biến phụ thuộc riêng biệt. Mối quan hệ giữa các biến trong mô hình được thể hiện qua hệ số tương quan. Phân tích ma trận tương quan cho thấy, đa số các biến trong mô hình đều không có mối quan hệ chặt chẽ với nhau (hệ số tương quan trong khoảng -0,8 < giá trị biến < 0,8). Tuy nhiên, cặp biến SIZE và GOV có mối tương quan dương mạnh với hệ số tương quan là 0,633; cùng với đó cặp biến COVID19 và GDP có sự tương quan âm rất mạnh thể hiện qua hệ số tương quan là -0,854. Để mô hình hồi quy chuẩn, không chệch và kết quả thống kê có ý nghĩa với độ tin cậy cao, tác giả thực hiện kiểm định đa cộng tuyến.
4.3. Kiểm định đa cộng tuyến
Trong phân tích hồi quy tuyến tính, hiện tượng đa cộng tuyến (multicollinearity) được xem là một vấn đề nghiêm trọng khi các biến độc lập có mối tương quan tuyến tính cao với nhau. Sự hiện diện của đa cộng tuyến có thể làm cho các hệ số hồi quy trở nên không ổn định, dễ thay đổi mạnh chỉ với những biến động nhỏ trong dữ liệu. Điều này dẫn đến việc suy giảm độ tin cậy của các kiểm định thống kê, đồng thời gây khó khăn trong việc đánh giá chính xác mức độ ảnh hưởng riêng biệt của từng biến độc lập đối với biến phụ thuộc. Nhằm kiểm tra và phát hiện hiện tượng này, nghiên cứu sử dụng chỉ số nhân tử phóng đại phương sai (Variance Inflation Factor – VIF). Kết quả kiểm định được trình bày như sau:
- Bảng 4. 3: Nhân tử phóng đại phương sai VIF
Kết quả cho thấy, nhân tử phóng đại phương sai VIF có giá trị nhỏ hơn 5 nên mô hình không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến, hay nói cách khác là không tồn tại mối quan hệ tuyến tính chặt chẽ giữa các biến nghiên cứu trong mô hình.
4.4. Kết quả nghiên cứu Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
4.4.1. Kết quả hồi quy mô hình OLS, FEM, REM
Kết quả hồi quy được tổng hợp chi tiết như sau:
- Bảng 4. 4: Tóm tắt kết quả hồi quy
Dựa vào kết quả tổng hợp ở bảng trên ta thấy, hồi quy mô hình OLS, FEM và REM cho ra những kết quả khác nhau:
Hồi quy mô hình OLS: các biến EQUITY, SIZE, NPL, COST, COVID19, INF, GOV theo phương pháp OLS có ý nghĩa thống kê ở mức 5%.
Hồi quy mô hình FEM: với độ tin cậy 95%, các biến có ý nghĩa thống kê là EQUITY, SIZE, NPL, COST, COVID19, GDP, INF.
Hồi quy mô hình REM: cùng mức độ tin cậy 95% kết quả hồi quy lại cho ra các biến EQUITY, SIZE, NPL, COST, DIV, COVID19, INF, GOV có ý nghĩa thống kê.
Hệ số hồi quy của các mô hình cũng có sự khác biệt. Vì vậy, tác giả thực hiện các kiểm định tiếp theo để lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp với nghiên cứu.
4.4.2. Lựa chọn mô hình hồi quy Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
4.4.2.1. Kiểm định F-test
Để lựa chọn giữa hai mô hình hồi quy OLS và FEM, tác giả tiến hành kiểm định F-test với giả thuyết:
- H0: Mô hình hồi quy OLS phù hợp H1: Mô hình hồi quy FEM phù hợp
- Kết quả kiểm định F-test như sau: F (27,356) = 4,070 Prob > F = 0,000
- P-value = 0,000 < 5% nên giả thuyết H0 bị bác bỏ, nghĩa là tồn tại sự khác biệt giữa hai mô hình hồi quy OLS và FEM, hay nói cách khác mô hình hồi quy FEM phù hợp với nghiên cứu hơn OLS.
4.4.2.2. Kiểm định Breusch and Pagan Lagrangian
Để lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp hơn giữa OLS và REM thì kiểm định Breusch and Pagan Lagrangian là phương pháp tác giả sử dụng. Giả thuyết được đưa ra như sau:
- H0: Mô hình hồi quy OLS phù hợp H1: Mô hình hồi quy REM phù hợp
- Kết quả kiểm định Breusch and Pagan Lagrangian như sau: chibar2 (01) = 24,640
- Prob > chibar2 = 0,000
Ta thấy, Prob > chibar2 = 0,000 < 5% nên giả thuyết H0 bị bác bỏ, nghĩa là mô hình REM phù hợp hơn để ước lượng và giải thích mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu.
4.4.2.3. Kiểm định Hausman
Để lựa chọn mô hình tối ưu với nghiên cứu giữa mô hình FEM và REM, tác giả thực hiện điểm định Hausman với giả thuyết như sau:
- H0: Mô hình hồi quy REM phù hợp H1: Mô hình hồi quy FEM phù hợp
- Kết quả kiểm định Hausman thu được như sau: chi2 (8) = 37,82
- Prob > chi2 = 0,000 Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Kết quả kiểm định cho thấy, Prob > chi2 = 0,000 < 5%. Với độ tin cậy 95%, bác bỏ giả thuyết H0, nghĩa là mô hình hồi quy FEM phù hợp và tối ưu hơn mô hình hồi quy REM.
Kết luận, sau khi thực hiện các kiểm định để lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp tác giả nhận thấy, FEM là mô hình hồi quy phù hợp và tối ưu nhất để thực hiện ước lượng và giải thích mối quan hệ của các biến trong mô hình nghiên cứu. Để đảm bảo tính vững (robustness), không chệch (unbiasedness) và hiệu quả (efficiency) của mô hình hồi quy FEM, việc kiểm định và xử lý các khuyết tật như tự tương quan (autocorrelation) và phương sai sai số thay đổi (heteroskedasticity) là rất quan trọng.
4.4.3. Kiểm định khuyết tật mô hình
4.4.3.1. Kiểm định tự tương quan
Để thực hiện kiểm định tự tương quan, tác giả sử dụng phương pháp Wooldridge với giả thuyết như sau:
- H0: Mô hình hồi quy không xảy ra hiện tượng tự tương quan H1: Mô hình hồi quy tồn tại hiện tượng tự tương quan
- Kết quả kiểm định theo Wooldridge như sau: F (1,27) = 32,259
- Prob > F = 0,000
Ta thấy, P-value = 0,000 < 5% nên bác bỏ giả thuyết H0 và chấp nhận giả thuyết H1, nghĩa là mô hình hồi quy tồn tại hiện tượng tự tương quan.
4.4.3.2. Kiểm định phương sai sai số thay đổi
Tác giả sử dụng kiểm định Wald để kiểm định phương sai sai số thay đổi, với giả thuyết được đưa ra như sau:
- H0: Mô hình hồi quy không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi H1: Mô hình hồi quy tồn tại hiện tượng phương sai sai số thay đổi
- Kiểm định Wald đưa ra kết quả như sau: chi2 (8) = 2758,85
- Prob > chi2 = 0,000
Với kết quả trên, ta thấy, mô hình hồi quy tồn tại hiện tượng phương sai sai số thay đổi (do Prob > chi2 = 0,000 < 0,05 nên bác bỏ giả thuyết H0)
4.4.4. Kết quả sau khi khắc phục khuyết tật Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Nhằm khắc phục hiện tượng tự tương quan và phương sai sai số thay đổi trong mô hình hồi quy FEM, tác giả áp dụng phương pháp FGLS. Phương pháp này điều chỉnh sai số chuẩn của mô hình, giúp nâng cao độ tin cậy của các ước lượng trong trường hợp các giả định về phương sai đồng nhất và không có tự tương quan không được đảm bảo. Kết quả hồi quy sử dụng FGLS được trình bày chi tiết như sau:
- Bảng 4. 5: Kết quả hồi quy mô hình bằng phương pháp FGLS
Sau khi thực hiện hồi quy mô hình theo phương pháp FGLS thì biến chi phí hoạt động (COST) và biến đa dạng hóa thu nhập (DIV) bị loại khỏi mô hình vì có P-value lớn hơn 0,05. Từ kết quả hồi qusy có thể thấy 07 giả thuyết tác giả đã đề xuất đều được chấp nhận vì các giả thuyết được kiểm định đều có mức ý nghĩa (p-value) nhỏ hơn 0,05, nghĩa là các biến độc lập đều có tác động đến biến phụ thuộc. Cụ thể, kết quả nghiên cứu như sau:
Biến VCSH (EQUITY) có tác động mạnh cùng chiều đến biến phụ thuộc ROEA với mức ý nghĩa 5%. Hệ số hồi quy của EQUITY là 62,005 nghĩa là khi EQUITY tăng/giảm 1 đơn vị thì ROEA tăng/giảm 62,005 đơn vị. Kết quả nghiên cứu phù hợp với các nghiên cứu của Abel & Le Roux (2016); Menicucci & Paolucci (2016); Elnahass & cộng sự (2021); Đặng Thị Minh Nguyệt & cộng sự (2021); Nguyễn Thị Thanh Bình & cộng sự (2021); Yusuf & Ichsan (2021); Mohsin Shabira & cộng sự (2023); Mbugua Njoki & Winnie Nyamute (2023) và cùng kỳ vọng dấu của tác giả. VCSH giữ vai trò then chốt trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM. Việc Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư 41/2016/TT-NHNN, quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, càng khẳng định tầm quan trọng của VCSH trong việc đảm bảo sự ổn định và an toàn hệ thống ngân hàng. Thực tiễn cho thấy, chỉ khi đảm bảo được các tiêu chí an toàn, ngân hàng mới có thể hướng tới mục tiêu hoạt động hiệu quả và phát triển bền vững. Trên thế giới, xu hướng áp dụng các chuẩn mực quản trị rủi ro theo Basel III đang ngày càng phổ biến. Tuy nhiên, tại Việt Nam, số lượng NHTM triển khai đầy đủ các tiêu chuẩn Basel III còn hạn chế, mới chỉ có một số ngân hàng đáp ứng được từng phần. Trong bối cảnh đó, một nền tảng VCSH vững mạnh chính là điều kiện tiên quyết để các NHTM tiến tới áp dụng hiệu quả các chuẩn mực quốc tế, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng với biến động của thị trường tài chính toàn cầu.
Tiếp theo là biến Quy mô ngân hàng (SIZE) với giá trị P-value là 0,000 và hệ số hồi quy là 5,613 nên cũng có tác động đáng kể đến khả năng sinh lời của các NHTM theo quan hệ tỷ lệ thuận. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa theo kỳ vọng dấu của tác giả đề xuất và đồng tình các nghiên cứu của Abel & Le Roux (2016); Menicucci & Paolucci (2016); Elnahass & cộng sự (2021); Đặng Thị Minh Nguyệt & cộng sự (2021), Nguyễn Thị Thanh Bình & cộng sự (2021); Yusuf & Ichsan (2021); Mohsin Shabira & cộng sự (2023); Nicholas Mbugua Njoki & Winnie Nyamute (2023). Hệ số hồi quy của SIZE là 5,613 điều này cho biết khi SIZE tăng/giảm 1 đơn vị thì đồng thời, ROAA tăng/giảm 5,613 đơn vị. Kết quả nghiên cứu một lần nữa củng cố lý thuyết về lợi thế kinh tế theo quy mô. Theo đó, các NHTM có quy mô lớn thường có nhiều cơ hội hơn trong việc tối đa hóa lợi nhuận, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động. Lợi thế này xuất phát từ khả năng tận dụng quy mô và uy tín để huy động vốn với chi phí hợp lý, đồng thời mở rộng tín dụng đến nhiều nhóm khách hàng. Ngoài ra, các ngân hàng quy mô lớn còn có điều kiện cung cấp dịch vụ chất lượng cao hơn nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và kỳ vọng ngày càng cao của khách hàng, cũng như triển khai hiệu quả các sản phẩm bán chéo như bảo hiểm nhân thọ, thẻ tín dụng. Ngược lại, các ngân hàng quy mô nhỏ thường gặp khó khăn trong việc mở rộng tệp khách hàng và cung ứng các dịch vụ tài chính đa dạng. Nói cách khác, ngân hàng có quy mô lớn thường đạt được khả năng sinh lời cao hơn, dẫn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh vượt trội so với các ngân hàng nhỏ hơn. Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Thông qua tỷ lệ nợ xấu, biến Rủi ro tín dụng (NPL) được cho là có tác động lớn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam theo mối quan hệ nghịch chiều. NPL có hệ số hồi quy là -68,954, nghĩa là khi tỷ lệ nợ xấu tăng/giảm 1 đơn vị thì ROEA giảm/tăng 68,954 đơn vị. Tương tự kết quả nghiên cứu của Wijayanti & Mardiana (2020); Elnahass & cộng sự (2021); Kolleshi & Bozdo, (2021); Đặng Thị Minh Nguyệt & cộng sự (2021), Do Hoai Linh & cộng sự (2021); Nguyễn Thị Thanh Bình & cộng sự (2021) và cùng kỳ vọng dấu của tác giả, Khi tỷ lệ nợ xấu gia tăng, lợi nhuận của các NHTM sẽ bị suy giảm do áp lực trích lập dự phòng rủi ro, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động. Kết quả này một lần nữa làm nổi bật tầm quan trọng của công tác quản trị rủi ro tín dụng. Việc xây dựng và triển khai chiến lược quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả sẽ tạo nền tảng vững chắc để các NHTM nâng cao uy tín thương hiệu, thu hút khách hàng tiềm năng và cải thiện chất lượng hoạt động cấp tín dụng.
Nhân tố COVID19 có tác động cùng chiều đến ROEA với hệ số hồi quy là 3,113. Kết quả nghiên cứu có sự khác biệt với các nghiên cứu của Sutrisno Sutrisno & cộng sự (2020), Xing Xiazi & Mohsin Shabir (2022), Mohsin Shabir & cộng sự (2023) và khác kỳ vọng dấu của tác giả. Có thể thấy, đại dịch Covid-19 tác động tiêu cực đến hoạt động tín dụng nhưng lại là cú hích mạnh mẽ cho các hoạt động phi tín dụng của ngân hàng phát triển. Các hoạt động phi tín dụng đặc biệt phát triển của các NHTM trong giai đoạn Covid-19 bùng phát có thể kể đến là hoạt động thanh toán điện tử, eKYC, bancas,… Nhờ vậy, các NHTM Việt Nam vẫn hoạt động hiệu quả trong giai đoạn Covid-19 bùng phát với nhiều khó khăn và thách thức.
Tiếp đến là nhân tố GDP với hệ số hồi quy là 60,559 cho thấy được sự tác động mạnh cùng chiều đến ROEA. Điều này cho thấy các NHTM chịu tác động tích cực khi nền kinh tế tăng trưởng tốt, bền vững và ngược lại. Khi nền kinh tế bước vào giai đoạn tăng trưởng, người tiêu dùng và các doanh nghiệp có xu hướng gia tăng chi tiêu và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong bối cảnh đó, các NHTM có điều kiện thuận lợi để mở rộng quy mô cấp tín dụng thông qua đa dạng hóa các phương án vay vốn, đồng thời đẩy mạnh hoạt động bán chéo nhiều sản phẩm, dịch vụ tài chính khác. Nhờ vậy, các NHTM không chỉ gia tăng nguồn thu nhập mà còn nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh một cách bền vững. Kết quả nghiên cứu tương đồng với các nghiên cứu của Elekdag & cộng sự (2020); Bekana Dembel (2021); Thisaranga & Madhavi Ariyasena (2021); Maria José Palma Lampreia Dos-Santos & cộng sự (2022); Mohsin Shabira & cộng sự (2023) và cùng kỳ vọng dấu của tác giả.
Biến Lạm phát (INF) có hệ số hồi quy là 36,156 nên nhân tố này có tác động mạnh đến ROEA theo hướng tích cực. Kết quả nghiên cứu là bằng chứng ủng hộ cho các nghiên cứu của Tan (2016); Almaqtari & cộng sự (2019) khi các tác giả cho rằng tỷ lệ lạm phát tác động đến hiệu quả hoạt động của các NHTM do có tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng. Mặt khác, kết quả này lại trái ngược với các nghiên cứu của Elekdag & cộng sự (2020); Thisaranga & Madhavi Ariyasena (2021); Maria José Palma Lampreia Dos-Santos & cộng sự (2022); Nicholas Mbugua Njoki & Winnie Nyamu (2023) và trái ngược kỳ vọng dấu của tác giả. Lý giải cho sự khác biệt này là khi lạm phát duy trì ở mức độ vừa phải trong điều kiện bình thường thì lạm phát có khả năng kích thích nền kinh tế phát triển. Khi có nhiều tiền hơn thì sẽ kích thích tiêu dùng, vô hình chung đã kích cầu và điều này thúc đẩy sản xuất kinh doanh, giảm thất nghiệp. Chính vì vậy mà lạm phát có tác động đến nền kinh tế theo chiều hướng tích cực và ngành ngân hàng cũng được hưởng lợi từ sự tác động này. Tại Việt Nam, khi lạm phát có chiều hướng tăng thì Chính phủ liên tục đề nghị NHNN đưa ra các chính sách quyết liệt để duy trì tỷ lệ lạm phát ở mức kỳ vọng (<10%) nhằm ổn định nền kinh tế vĩ mô. Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Cuối cùng là nhân tố Hình thức sở hữu (GOV) với hệ số hồi quy là -5,839 với mức ý nghĩa 5% và có tác động nghịch chiều với ROEA. Kết quả đã chỉ ra hình thức sở hữu đóng vai trò quan trọng trong việc định hình cơ chế quản trị và định hướng hoạt động của các NHTM, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh. Đặc biệt, trong môi trường kinh tế có sự can thiệp mạnh của Nhà nước thì các mục tiêu kiểm soát chính sách vĩ mô như ổn định kinh tế hoặc hỗ trợ doanh nghiệp nhà nước đôi khi được ưu tiên hơn so với mục tiêu tối ưu hóa lợi nhuận, làm suy giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực. Trong khi đó, các ngân hàng tư nhân hoặc có vốn đầu tư nước ngoài thường hướng đến tối ưu hóa lợi nhuận, áp dụng công nghệ hiện đại và cải tiến dịch vụ để nâng cao năng lực cạnh tranh. Do đó, có thể nhận thấy rằng hình thức sở hữu, đặc biệt là sở hữu nhà nước, trong một số trường hợp, có thể tạo ra rào cản đối với việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Mặt khác, kết quả nghiên cứu lại trái ngược với nghiên cứu của Noman, Gee & Isa (2018); Phạm Thủy Tú & Đào Lê Kiều Oanh (2021) và khác kỳ vọng dấu của tác giả.
Mô hình hồi quy sau khi khắc phục các khuyết tật được thể hiện như sau: ROEAit = –180,381 + 62,005* EQUITYit + 5,613*SIZEit – 68,954*NPLit + 3,113*COVID19t + 60,559*GDPt + 36,156*INFt – 5,839*GOVit + eit
- KẾT LUẬN CHƯƠNG 4
Chương 4 tác giả thực hiện thống kê mô tả để hiểu rõ về dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 28 NHTM Việt Nam giai đoạn 2011 – 2024. Tác giả tiến hành phân tích tương quan giữa các biến nghiên cứu và kiểm định đa cộng tuyến trước khi thực hiện hồi quy mô hình. Sau khi xác định dữ liệu bảng phù hợp với nghiên cứu, tác giả thực hiện hồi quy OLS, FEM và REM. Qua các kiểm định để sự lựa chọn mô hình phù hợp với dữ liệu của bài nghiên cứu thì FEM được xem là mô hình hồi quy phù hợp và tối ưu nhất để thực hiện nghiên cứu. Sau khi khắc phục các khuyết tật của mô hình FEM bằng phương pháp FGLS, kết quả cho thấy: EQUITY, SIZE, COVID19, GDP, INF có tác động cùng chiều đến biến phụ thuộc ROEA; ngược lại, biến NPL và GOV lại có tác động tiêu cực đến ROEA; biến COST và DIV không có tác động đến ROEA với mức ý nghĩa 5%. Dựa trên kết quả hồi quy đã trình bày, tác giả đưa ra các hàm ý quản trị được trình bày trong chương 5.
Chương 5. Kết luận và hàm ý quản trị Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
5.1. Kết luận
Ngành ngân hàng hiện đang phát triển với tốc độ nhanh chóng và giữ vai trò trụ cột trong hệ thống tài chính quốc gia. Sự tăng trưởng kinh tế của bất kỳ quốc gia nào cũng đều gắn liền với sự đóng góp quan trọng từ hệ thống NHTM. Nghiên cứu này đã đóng vai trò trong việc xác định các yếu tố then chốt ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM tại Việt Nam. Cụ thể, nghiên cứu tiến hành kiểm định tác động của sáu biến số nội tại đặc trưng cho từng ngân hàng và ba biến số vĩ mô đại diện cho bối cảnh quốc gia đến hiệu quả hoạt động kinh doanh, được đo lường thông qua chỉ số tỷ suất sinh lời trên VCSH bình quân (ROEA). Phương pháp mô hình hiệu ứng cố định (FEM) được sử dụng để phân tích dữ liệu thu thập từ báo cáo tài chính của 28 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2024. Việc áp dụng mô hình này cho phép kiểm soát các yếu tố không quan sát được nhưng cố định theo thời gian, đồng thời đánh giá tác động riêng biệt của từng biến số độc lập đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.
Mô hình nghiên cứu đề xuất 9 nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam bao gồm VCSH (EQUITY), quy mô ngân hàng (SIZE), rủi ro tín dụng (NPL), chi phí hoạt động (COST), đa dạng hóa thu nhập (DIV), đại dịch Covid-19 (COVID19), tăng trưởng GDP (GDP), lạm phát (INF) và hình thức sở hữu (GOV). Từ kết quả nghiên cứu cho thấy, đa số các biến độc lập đều có tác động đến biến phụ thuộc theo kỳ vọng dấu của tác giả, ngoại trừ biến COST và DIV bị loại khỏi mô hình (vì có P-value lớn hơn 0,05).
Phân tích hồi quy đã xác định 7 nhân tố có tác động đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam, xếp theo thứ tự từ yếu nhất đến mạnh dần: COVID19 có hệ số hồi quy nhỏ nhất nên có tác động ít nhất. Mặc dù COVID 19 gây ra nhiều biến động kinh tế, tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng nhưng không lớn bằng các nhân tố khác. Các nhân tố còn lại có tác động tăng dần lần lượt là quy mô ngân hàng (SIZE), các ngân hàng lớn có lợi thế về quy mô nhưng cũng phải chịu áp lực trong công tác quản trị. Tiếp theo là hình thức sở hữu (GOV), lạm phát (INF), tăng trưởng GDP (GDP) và VCSH (EQUITY). Biến rủi ro tín dụng (NPL) có tác động mạnh nhất đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, cho thấy rủi ro tín dụng gia tăng dẫn đến chi phí dự phòng rủi ro cao hơn, làm giảm lợi nhuận ròng. Do đó, quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả có vai trò then chốt trong việc duy trì và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam.
5.2. Hàm ý quản trị Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
5.2.1. Đối với nhà quản trị ngân hàng
5.2.1.1. Giảm tỷ lệ nợ xấu
Giảm tỷ lệ nợ xấu là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của các NHTM Việt Nam trong bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế còn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Những năm gần đây, mặc dù hệ thống ngân hàng đã có bước tiến đáng kể trong công tác quản trị rủi ro tín dụng, song tỷ lệ nợ xấu vẫn có xu hướng tăng trở lại do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế, thị trường bất động sản trầm lắng và áp lực tái cơ cấu các khoản vay sau đại dịch Covid-19. Do đó, việc triển khai các giải pháp thực tiễn nhằm kiểm soát và giảm nợ xấu là hết sức cần thiết.
Trước hết, các NHTM cần duy trì hệ thống quản trị rủi ro tín dụng nội bộ chặt chẽ, gắn với các quy định của NHNN và chuẩn mực Basel II, Basel III. Trên thực tế, nhiều ngân hàng lớn như Vietcombank, BIDV hay MB đã thành lập các ủy ban quản lý rủi ro độc lập, áp dụng quy trình kiểm soát tín dụng nhiều tầng để hạn chế rủi ro đạo đức và sai lệch trong thẩm định. Nâng cao chất lượng thẩm định khách hàng là yêu cầu then chốt, đòi hỏi phải đánh giá toàn diện về năng lực tài chính, dòng tiền và lịch sử tín dụng thông qua dữ liệu từ Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia (CIC), sao kê tài khoản và báo cáo tài chính đã kiểm toán.
Bên cạnh đó, chính sách tín dụng cần được điều chỉnh linh hoạt theo biến động thị trường và sức khỏe từng nhóm khách hàng. Thực tế tại nhiều ngân hàng như ACB, Techcombank cho thấy việc phân loại khách hàng theo nhóm rủi ro, kết hợp áp dụng công nghệ chấm điểm tín dụng nội bộ (credit scoring) đã giúp giảm đáng kể tỷ lệ nợ xấu mới phát sinh. Cùng với đó, việc đào tạo thường xuyên cán bộ tín dụng về phân tích ngành, thẩm định dòng tiền và nhận diện rủi ro gian lận cũng là giải pháp thiết thực để nâng cao chất lượng cho vay.
Hiện nay, ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực trong kiểm soát nợ xấu. Một số ngân hàng như VPBank, TPBank đã sử dụng hệ thống phân tích dữ liệu lớn (Big Data) để theo dõi hành vi giao dịch và cảnh báo sớm các dấu hiệu bất thường của khách hàng vay. Nhờ đó, các khoản vay có nguy cơ quá hạn được phát hiện sớm và xử lý kịp thời, giảm thiểu rủi ro tín dụng phát sinh. Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Đồng thời, các NHTM cần đa dạng hóa danh mục tín dụng, tránh tập trung vốn quá mức vào các lĩnh vực rủi ro cao như bất động sản hoặc trái phiếu doanh nghiệp. Nhiều ngân hàng hiện đang đẩy mạnh cho vay đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs), nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng sạch và xuất khẩu, nhằm phân tán rủi ro và mở rộng cơ hội sinh lời bền vững.
Trong công tác xử lý nợ, việc tăng cường quản lý mối quan hệ khách hàng là yếu tố không thể thiếu. Nhiều ngân hàng đã áp dụng mô hình “ngân hàng quan hệ” (relationship banking), trong đó cán bộ tín dụng thường xuyên theo dõi, hỗ trợ khách hàng tái cấu trúc hoạt động kinh doanh khi gặp khó khăn tạm thời. Với khách hàng có thiện chí trả nợ, ngân hàng có thể xem xét gia hạn, cơ cấu lại nợ hoặc tái cấp vốn có kiểm soát, vừa hỗ trợ doanh nghiệp duy trì hoạt động, vừa giảm thiểu rủi ro mất vốn.
Ngoài ra, các NHTM có thể hợp tác với các công ty xếp hạng tín nhiệm và tổ chức thu hồi nợ chuyên nghiệp để tăng tính khách quan trong thẩm định và nâng cao hiệu quả xử lý nợ. Một số ngân hàng như VietinBank và SHB đã triển khai bộ phận xử lý nợ chuyên biệt, áp dụng đồng thời biện pháp pháp lý và thương lượng để tối ưu quá trình thu hồi vốn.
Cuối cùng, việc xây dựng văn hóa tín dụng an toàn trong toàn hệ thống là nền tảng giúp kiểm soát nợ xấu bền vững. Cần gắn trách nhiệm và chỉ tiêu đánh giá của từng cán bộ tín dụng với chất lượng danh mục cho vay, coi đây là tiêu chí đánh giá hiệu quả công việc. Thực tiễn tại các ngân hàng có chất lượng tín dụng tốt cho thấy, khi văn hóa tuân thủ và đạo đức nghề nghiệp được đề cao, tỷ lệ nợ xấu luôn được duy trì ở mức an toàn theo quy định của NHNN (<3%).
5.2.1.2. Quản trị VCSH
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản có mối quan hệ cùng chiều với hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Điều này khẳng định vai trò then chốt của quản trị VCSH trong đảm bảo an toàn tài chính và nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng. Trong bối cảnh áp lực tuân thủ chuẩn mực vốn quốc tế ngày càng cao và môi trường kinh doanh biến động mạnh, việc quản trị VCSH hiệu quả không chỉ giúp ngân hàng duy trì sự ổn định mà còn tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững. Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Trước hết, duy trì tỷ lệ an toàn vốn (CAR) ở mức cao hơn yêu cầu tối thiểu là yếu tố cốt lõi. Theo quy định của NHNN, các ngân hàng phải bảo đảm CAR tối thiểu 8–9% theo chuẩn Basel II, tuy nhiên thực tế cho thấy một số ngân hàng lớn như Vietcombank, MB và ACB thường duy trì hệ số này ở mức 10% – 11%, nhằm tăng khả năng chống chịu trước biến động thị trường. Ngược lại, một số ngân hàng có quy mô nhỏ hoặc đang trong quá trình tái cơ cấu như SCB, PGBank lại gặp khó khăn trong việc duy trì mức vốn yêu cầu, phản ánh sự khác biệt rõ rệt về năng lực tài chính trong hệ thống.
Bên cạnh việc đảm bảo vốn tối thiểu, các NHTM cần xây dựng chiến lược phân phối lợi nhuận hợp lý và linh hoạt. Việc thực hiện các bài kiểm tra sức chịu đựng (stress test) định kỳ giúp ngân hàng đánh giá khả năng đáp ứng vốn trong các kịch bản rủi ro như suy giảm tín dụng, biến động tỷ giá hay lãi suất tăng cao. Trên cơ sở đó, ngân hàng có thể chủ động điều chỉnh chính sách cổ tức và tỷ lệ lợi nhuận giữ lại, cân đối giữa mục tiêu tăng cường vốn nội sinh và đáp ứng kỳ vọng cổ đông. Thực tế tại BIDV và VietinBank, việc giữ lại một phần lớn lợi nhuận hàng năm để tăng vốn điều lệ đã giúp các ngân hàng này cải thiện hệ số CAR đáng kể, đáp ứng yêu cầu của NHNN mà không cần phát hành thêm cổ phiếu quy mô lớn.
Ngoài ra, các ngân hàng cần đa dạng hóa kênh huy động vốn chủ sở hữu nhằm mở rộng quy mô vốn tự có. Việc phát hành cổ phiếu mới cho cổ đông hiện hữu hoặc thu hút nhà đầu tư chiến lược nước ngoài đang trở thành xu hướng phổ biến. Chẳng hạn, VPBank đã thành công trong việc bán 15% cổ phần cho Sumitomo Mitsui Banking Corporation (SMBC), giúp tăng mạnh VCSH và nâng CAR lên hơn 15% vào năm 2023. Bên cạnh đó, Techcombank và MB cũng tích cực hợp tác với các quỹ đầu tư quốc tế để nâng cao năng lực vốn, đồng thời cải thiện chỉ số hiệu quả sinh lời (ROE).
Từ góc độ quản trị, việc ứng dụng công nghệ tài chính (fintech) trong quản lý và giám sát VCSH sẽ giúp nâng cao tính minh bạch và tối ưu hóa việc phân bổ nguồn vốn. Nhiều ngân hàng đang triển khai hệ thống quản trị vốn nội bộ (ICAAP) theo khung Basel II để giám sát rủi ro tổng thể và cảnh báo sớm tình trạng suy giảm vốn. Việc thiết lập hệ thống xếp hạng nội bộ đối với tài sản rủi ro (IRB) cũng là hướng đi cần thiết, giúp ngân hàng phân bổ vốn hiệu quả hơn theo khẩu vị rủi ro và yêu cầu lợi nhuận.
Cần gắn hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu với chỉ tiêu đánh giá năng lực điều hành của ban lãnh đạo và các cấp quản lý. Thực tiễn tại các ngân hàng có quản trị tốt như Vietcombank, ACB hay MB cho thấy, khi các chỉ tiêu quản trị vốn được lồng ghép vào hệ thống đánh giá hiệu quả (KPIs), hiệu quả sử dụng vốn được cải thiện rõ rệt, tạo động lực nâng cao chất lượng điều hành và giảm thiểu rủi ro mất cân đối vốn.
Nhìn chung, trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt và yêu cầu chuẩn hóa quốc tế ngày càng cao, việc quản trị vốn chủ sở hữu hiệu quả không chỉ là yêu cầu tuân thủ mà còn là yếu tố quyết định năng lực tài chính và khả năng phát triển bền vững của các NHTM Việt Nam.. Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
5.2.1.3. Đánh giá và dự báo tác động của các nhân tố vĩ mô
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh từ biến động kinh tế toàn cầu, việc thu thập, phân tích và dự báo các chỉ số kinh tế vĩ mô như tốc độ tăng trưởng GDP, lạm phát, tỷ giá, và lãi suất là cơ sở quan trọng giúp các NHTM chủ động điều hành hoạt động kinh doanh. Giai đoạn 2022 – 2024, tăng trưởng GDP của Việt Nam có sự biến động đáng kể giảm còn 3,7% trong quý II/2023 do suy giảm xuất khẩu và thị trường bất động sản trầm lắng, sau đó phục hồi lên khoảng 6% trong năm 2024. Trong khi đó, lạm phát duy trì quanh mức 3% – 3,5%, và tỷ giá USD/VND biến động mạnh do chính sách tiền tệ toàn cầu thắt chặt. Những yếu tố này đã tác động trực tiếp đến chính sách tín dụng, thanh khoản và quản trị rủi ro của các NHTM.
Trên cơ sở đó, các ngân hàng cần xây dựng các kịch bản điều hành hoạt động cụ thể bao gồm kịch bản tích cực, trung lập và tiêu cực nhằm đảm bảo khả năng thích ứng linh hoạt với các thay đổi của môi trường kinh tế. Thực tế cho thấy, nhiều ngân hàng lớn như Vietcombank, BIDV và Techcombank đã triển khai mô hình stress testing để đánh giá tác động của biến động GDP, lãi suất hoặc tỷ giá lên danh mục tín dụng. Kết quả của các mô hình này được sử dụng để điều chỉnh cơ cấu danh mục cho vay, chính sách lãi suất và kế hoạch vốn, giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro trong các giai đoạn kinh tế suy giảm.
Cùng với việc theo dõi môi trường vĩ mô, các NHTM Việt Nam cần tăng cường tương tác hai chiều với khách hàng nhằm nắm bắt kịp thời phản ứng của thị trường. Trong giai đoạn lãi suất biến động mạnh năm 2023, nhiều ngân hàng như MB, ACB, VPBank,… đã thực hiện các chương trình tái cấu trúc khoản vay, giảm lãi suất tạm thời hoặc gia hạn nợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa do đây là nhóm khách hàng chịu ảnh hưởng lớn từ chi phí vốn tăng cao. Việc cung cấp thông tin minh bạch về thay đổi lãi suất, tỷ giá và chính sách tín dụng cũng giúp nâng cao mức độ tin tưởng và gắn kết của khách hàng, đồng thời củng cố hình ảnh ngân hàng chuyên nghiệp, đồng hành cùng doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, các ngân hàng cần chủ động thu thập phản hồi khách hàng để điều chỉnh sản phẩm, dịch vụ và gói hỗ trợ phù hợp với từng thời kỳ. Ví dụ, trong bối cảnh xuất nhập khẩu suy giảm năm 2023, nhiều ngân hàng như VietinBank và Agribank đã triển khai chương trình tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp xuất khẩu nông sản và hàng hóa chủ lực, qua đó hỗ trợ sản xuất và ổn định tăng trưởng tín dụng toàn ngành.
Ngoài ra, việc phối hợp với các cơ quan nghiên cứu và quản lý vĩ mô như NHNN, Tổng cục Thống kê, hoặc các tổ chức quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Phát triển Châu Á, World Bank sẽ giúp ngân hàng cập nhật thông tin chính xác và kịp thời hơn. Hiện nay, một số ngân hàng tiên phong như Techcombank và TPBank đã ứng dụng trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn trong xây dựng mô hình dự báo vĩ mô nội bộ, cho phép nhận diện sớm xu hướng rủi ro thị trường và chủ động tái cơ cấu danh mục đầu tư. Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Việc tăng cường hoạt động truyền thông và đối thoại với khách hàng doanh nghiệp thông qua hội thảo, tọa đàm kinh tế vĩ mô, hoặc diễn đàn ngân hàng doanh nghiệp cũng là một hướng đi thực tiễn. Các chương trình do Vietcombank, BIDV và HDBank tổ chức gần đây đã giúp ngân hàng không chỉ truyền tải thông tin thị trường kịp thời, mà còn xây dựng mối quan hệ hợp tác chiến lược với khách hàng, qua đó gia tăng sự chủ động và khả năng chống chịu của cả ngân hàng lẫn doanh nghiệp trước biến động vĩ mô.
Như vậy, trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang chuyển dịch mạnh mẽ, việc nâng cao năng lực phân tích và dự báo kinh tế vĩ mô không chỉ giúp ngân hàng kiểm soát rủi ro tốt hơn, mà còn đóng vai trò quyết định trong việc duy trì hiệu quả kinh doanh và ổn định hệ thống tài chính.
5.2.1.4. Linh động trong việc điều hành và quản lý hoạt động kinh doanh ngân hàng
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng hình thức sở hữu có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Để khắc phục hạn chế này và hướng đến một hệ thống ngân hàng hoạt động minh bạch, hiệu quả, cần triển khai đồng bộ các giải pháp mang tính chiến lược, phù hợp với đặc thù của từng nhóm ngân hàng.
Trước hết, việc đẩy mạnh cổ phần hóa các NHTM có vốn nhà nước cần được thực hiện một cách công khai, minh bạch và tuân thủ đúng quy trình pháp lý. Mục tiêu không chỉ là đa dạng hóa cơ cấu sở hữu mà còn nhằm nâng cao tính tự chủ trong quản trị, giảm thiểu sự phụ thuộc vào các quyết định hành chính. Đồng thời, các ngân hàng cần áp dụng mô hình quản trị doanh nghiệp hiện đại theo chuẩn mực quốc tế (Basel II, Basel III), trong đó vai trò của Hội đồng quản trị, Ủy ban kiểm toán độc lập và hệ thống kiểm soát nội bộ cần được củng cố. Việc công bố thông tin tài chính minh bạch, chính xác và kịp thời sẽ giúp thị trường và cơ quan quản lý có cơ sở giám sát hiệu quả hơn, qua đó nâng cao niềm tin của nhà đầu tư và khách hàng.
Song song, việc thu hút các nhà đầu tư chiến lược đặc biệt là các tổ chức tài chính quốc tế có năng lực quản trị tiên tiến sẽ mang lại những lợi ích lâu dài. Không chỉ gia tăng vốn chủ sở hữu, sự tham gia của họ còn giúp ngân hàng tiếp cận các mô hình quản lý rủi ro chuyên nghiệp, quy trình ra quyết định dựa trên dữ liệu và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cao. Điều này tạo ra sức ép tích cực về minh bạch và trách nhiệm giải trình, hạn chế tình trạng sở hữu tập trung hoặc chi phối bởi nhóm lợi ích, đồng thời giúp ngân hàng mở rộng khả năng tiếp cận thị trường vốn quốc tế, nâng cao uy tín và sức cạnh tranh.
Bên cạnh đó, cần hoàn thiện khung pháp lý về giới hạn sở hữu cổ phần và sở hữu chéo, nhằm ngăn chặn hiện tượng thao túng ngân hàng và bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số. NHNN nên thiết lập cơ chế giám sát độc lập, công khai đối với các ngân hàng có tỷ lệ sở hữu nhà nước cao, để phòng ngừa rủi ro từ việc ưu ái tín dụng hoặc sử dụng nguồn vốn kém hiệu quả. Việc ứng dụng công nghệ quản trị hiện đại như trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn trong giám sát nội bộ, đánh giá nhân sự và phát hiện sớm hành vi bất thường cũng là xu hướng tất yếu, giúp tăng cường tính minh bạch và kỷ luật tài chính.
Cần đổi mới chính sách nhân sự trong khối ngân hàng nhà nước, chuyển từ cơ chế “thâm niên – hành chính” sang “năng lực – kết quả”. Chính sách khen thưởng, kỷ luật cần minh bạch, gắn liền với hiệu quả công việc và hiệu quả quản lý vốn. Việc đào tạo thường xuyên cho đội ngũ lãnh đạo cấp cao về quản trị công ty, đạo đức nghề nghiệp, tài chính – ngân hàng hiện đại và quản lý rủi ro là yếu tố cốt lõi để hình thành một đội ngũ quản trị chuyên nghiệp, có khả năng dẫn dắt ngân hàng phát triển bền vững trong bối cảnh cạnh tranh và biến động kinh tế toàn cầu. Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Trong thực tế, các ngân hàng thương mại có vốn nhà nước tại Việt Nam như Vietcombank, BIDV, VietinBank và Agribank vẫn giữ vai trò trụ cột của hệ thống tài chính ngân hàng, đóng góp quan trọng vào ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển kinh tế xã hội. Mặc dù hoạt động trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, nhóm ngân hàng này vẫn duy trì được hiệu quả hoạt động tích cực với quy mô tài sản lớn, năng lực tài chính vững mạnh và khả năng sinh lời ổn định.
Các NHTM có vốn nhà nước có vị thế thị trường vững chắc và độ tin cậy cao, nhờ thương hiệu lâu đời và sự bảo đảm của Nhà nước. Điều này giúp họ duy trì nguồn huy động vốn dồi dào, chi phí vốn thấp và khả năng tiếp cận khách hàng rộng khắp, đặc biệt là trong các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, xuất nhập khẩu, cơ sở hạ tầng và doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhiều NHTM có vốn nhà nước, đặc biệt là Vietcombank, đã đạt tỷ lệ sinh lời (ROA, ROE) thuộc nhóm cao nhất hệ thống, đồng thời kiểm soát tốt tỷ lệ nợ xấu dưới 1%, phản ánh năng lực quản trị rủi ro và chất lượng tín dụng được cải thiện rõ rệt.
Trong những năm gần đây, các ngân hàng vốn nhà nước đã chuyển mình mạnh mẽ trong hoạt động tái cơ cấu và chuyển đổi số. VietinBank và BIDV đã hoàn thiện triển khai Basel II và đang hướng tới Basel III, tăng cường quản trị rủi ro, chuẩn hóa quy trình nội bộ, đồng thời đầu tư lớn cho hạ tầng công nghệ và dịch vụ ngân hàng số. Agribank cũng từng bước hiện đại hóa hoạt động, mở rộng dịch vụ tài chính nông thôn và góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện lĩnh vực mà khối ngân hàng tư nhân khó có thể bao phủ hết.
Nhóm ngân hàng này còn đóng vai trò là bộ đệm ổn định của nền kinh tế, đặc biệt trong các giai đoạn biến động như khủng hoảng Covid-19. Khi khu vực tư nhân thận trọng thu hẹp tín dụng, các NHTM có vốn nhà nước vẫn duy trì tăng trưởng cho vay ở mức hợp lý, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân thông qua các chương trình giảm lãi suất, cơ cấu lại nợ và cung cấp gói tín dụng ưu đãi theo chỉ đạo của Chính phủ và NHNN. Hoạt động này không chỉ giúp giảm thiểu rủi ro hệ thống mà còn khẳng định vai trò điều tiết vĩ mô của khối ngân hàng nhà nước.
Hiệu quả hoạt động của các NHTM có vốn nhà nước còn thể hiện ở mức độ đóng góp vào ngân sách và khả năng sinh lời ổn định dài hạn. Nhiều ngân hàng có vốn nhà nước nằm trong top đầu về lợi nhuận sau thuế, cổ tức nộp ngân sách hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm, góp phần củng cố nguồn lực tài chính quốc gia. Bên cạnh đó, việc duy trì xếp hạng tín nhiệm quốc tế ở mức tích cực (theo đánh giá của Moody’s, Fitch) giúp nhóm ngân hàng này nâng cao uy tín và khả năng huy động vốn quốc tế, tạo nền tảng cho phát triển bền vững.
5.2.1.5. Tăng quy mô ngân hàng Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Trong bối cảnh thị trường tài chính Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng và cạnh tranh gay gắt, việc tăng quy mô hoạt động thông qua nâng cao năng lực vốn, mở rộng danh mục sản phẩm và cải thiện năng lực quản trị rủi ro được xem là một hướng đi chiến lược giúp các NHTM củng cố vị thế và gia tăng sức cạnh tranh. Quy mô vốn mạnh không chỉ là nền tảng bảo đảm an toàn tài chính mà còn là điều kiện tiên quyết để ngân hàng mở rộng hoạt động kinh doanh, đầu tư vào công nghệ, nhân sự và các dự án phát triển dài hạn.
Trong những năm gần đây, các ngân hàng lớn như Vietcombank, BIDV, VietinBank và Agribank đã nỗ lực tăng vốn điều lệ thông qua phát hành cổ phiếu, chia cổ tức bằng cổ phiếu và thu hút nhà đầu tư chiến lược trong và ngoài nước. Việc tăng vốn này giúp ngân hàng đáp ứng các chuẩn mực an toàn vốn Basel II và hướng tới Basel III, đồng thời mở rộng khả năng cấp tín dụng cho các lĩnh vực ưu tiên như hạ tầng, năng lượng tái tạo và doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME). Quy mô vốn lớn cũng giúp ngân hàng có đủ năng lực tài chính để tham gia các dự án quy mô lớn, đồng thời nâng cao uy tín và xếp hạng tín nhiệm trên thị trường quốc tế.
Bên cạnh việc tăng vốn, các NHTM cần tối ưu hóa cơ cấu nguồn vốn, hướng tới tăng tỷ lệ vốn dài hạn và tiền gửi không kỳ hạn (CASA), qua đó giảm chi phí huy động và cải thiện biên lợi nhuận. Việc phát hành trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi và các công cụ vốn cấp 2 cũng là giải pháp hữu hiệu để đa dạng hóa nguồn vốn, bảo đảm thanh khoản và hỗ trợ chiến lược mở rộng quy mô hoạt động bền vững.
Ngoài yếu tố vốn, năng lực quản trị và điều hành đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng quy mô hiệu quả. Các ngân hàng cần áp dụng hệ thống quản trị rủi ro tiên tiến, xây dựng khung quản trị tài sản – nợ (ALM) chặt chẽ, kết hợp với mô hình dự báo dòng tiền và kiểm soát thanh khoản theo chuẩn quốc tế. Việc ứng dụng công nghệ dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong quản trị rủi ro, phân tích tín dụng và định giá sản phẩm cũng giúp ngân hàng mở rộng hoạt động trên nền tảng an toàn, bền vững.
Song song đó, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố cốt lõi bảo đảm quy mô tăng trưởng đi đôi với hiệu quả. Các ngân hàng cần đầu tư vào đào tạo đội ngũ quản lý tài chính, phân tích đầu tư và quản lý danh mục, đồng thời thu hút nhân sự quốc tế có kinh nghiệm nhằm nâng cao năng lực điều hành theo chuẩn mực quốc tế. Cơ chế đãi ngộ minh bạch, gắn kết quả công việc với hiệu quả kinh doanh sẽ tạo động lực cho đội ngũ nhân viên đóng góp tích cực vào quá trình mở rộng quy mô.
Cuối cùng, việc xây dựng hệ sinh thái hợp tác chiến lược giữa ngân hàng với các doanh nghiệp, fintech, công ty bảo hiểm và quỹ đầu tư cũng sẽ góp phần mở rộng quy mô hoạt động theo chiều sâu. Sự liên kết này không chỉ giúp ngân hàng mở rộng tệp khách hàng mà còn tạo ra nguồn doanh thu bổ sung từ các sản phẩm tích hợp và dịch vụ giá trị gia tăng.
Như vậy, việc tăng quy mô hoạt động thông qua nâng cao năng lực vốn, quản trị và nhân sự không chỉ giúp các NHTM Việt Nam mở rộng thị phần và năng lực cạnh tranh, mà còn đảm bảo phát triển bền vững trong bối cảnh thị trường tài chính đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng số hóa và hội nhập quốc tế.
5.2.1.6. Kiểm soát chi phí hoạt động Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Kiểm soát chi phí hoạt động là một trong những yếu tố then chốt giúp các NHTM Việt Nam nâng cao khả năng sinh lời và duy trì lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh biên lãi ròng có xu hướng thu hẹp. Trên thực tế, tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập của nhiều ngân hàng Việt Nam đã được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây nhờ triển khai đồng bộ các biện pháp quản trị chi phí, tối ưu hóa quy trình và đẩy mạnh chuyển đổi số.
Các ngân hàng đã tăng cường tự động hóa và số hóa quy trình nghiệp vụ để giảm chi phí vận hành. Việc ứng dụng các công nghệ như trí tuệ nhân tạo, robot tự động hóa quy trình hay phân tích dữ liệu lớn giúp tiết kiệm nhân sự, rút ngắn thời gian xử lý giao dịch và hạn chế sai sót. Chẳng hạn, Vietcombank và MB đã triển khai hệ thống phê duyệt tín dụng và quản lý khách hàng hoàn toàn trực tuyến, giúp giảm đáng kể chi phí quản lý và thời gian phục vụ.
Các ngân hàng Việt Nam đang chuyển hướng sang mô hình hoạt động tinh gọn, tập trung vào tối ưu mạng lưới chi nhánh, giảm thiểu trùng lặp chức năng giữa các đơn vị, và gia tăng tỷ lệ giao dịch trực tuyến. Một số ngân hàng như Techcombank, TPBank hay VPBank đã giảm số lượng chi nhánh vật lý nhưng vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng mạnh nhờ tỷ lệ giao dịch qua kênh số vượt 90%, cho thấy hiệu quả vận hành cao và chi phí thấp hơn đáng kể so với mô hình truyền thống.
Quản trị chi phí nhân sự và chi phí hoạt động định kỳ cũng được chú trọng. Các ngân hàng đã áp dụng cơ chế đánh giá hiệu suất gắn với hiệu quả công việc và năng suất lao động, đồng thời kiểm soát chặt chẽ chi phí hành chính, thuê mặt bằng và marketing theo hướng tập trung, tiết kiệm. Việc xây dựng văn hóa tiết kiệm chi phí, sử dụng hiệu quả nguồn lực nội bộ và ứng dụng các nền tảng cộng tác trực tuyến cũng góp phần giảm đáng kể chi phí vận hành.
Để kiểm soát chi phí một cách bền vững, các NHTM cần thiết lập hệ thống giám sát tài chính nội bộ hiện đại, có khả năng theo dõi, dự báo và cảnh báo chi phí vượt ngưỡng theo thời gian thực. Cơ chế báo cáo minh bạch, cùng với việc gắn trách nhiệm của lãnh đạo đơn vị vào chỉ tiêu chi phí và hiệu quả, sẽ tạo động lực cho toàn hệ thống hướng đến hoạt động tiết kiệm, hiệu quả và bền vững hơn.
5.2.1.7. Nâng cao đa dạng hoá thu nhập Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Trong bối cảnh biên lãi ròng của các ngân hàng Việt Nam có xu hướng thu hẹp do áp lực cạnh tranh và điều hành chính sách tiền tệ thận trọng, việc đa dạng hóa nguồn thu nhập trở thành định hướng chiến lược nhằm đảm bảo tăng trưởng bền vững và giảm phụ thuộc vào hoạt động tín dụng truyền thống. Đối với các ngân hàng thương mại có vốn nhà nước, đây là yêu cầu cấp thiết để thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của thị trường tài chính và đáp ứng chuẩn mực hoạt động ngân hàng hiện đại.
Các ngân hàng cần đẩy mạnh phát triển nguồn thu ngoài lãi (non-interest income) thông qua mở rộng các hoạt động dịch vụ như thanh toán, chuyển tiền, bảo hiểm liên kết ngân hàng (bancassurance), quản lý tài sản, tư vấn đầu tư và dịch vụ thẻ. Trong thực tế, các ngân hàng như Vietcombank, BIDV và VietinBank đã đạt được bước tiến đáng kể khi thu nhập từ dịch vụ chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu nhập hoạt động, góp phần ổn định lợi nhuận ngay cả trong giai đoạn tín dụng tăng trưởng chậm.
Việc tăng cường hoạt động đầu tư và kinh doanh vốn cũng là hướng đi quan trọng. Các ngân hàng cần tận dụng linh hoạt nguồn vốn nhàn rỗi để đầu tư vào các công cụ tài chính an toàn, có tính thanh khoản cao như trái phiếu chính phủ, chứng chỉ tiền gửi, hoặc hợp tác đầu tư với các tổ chức tài chính khác. Đồng thời, việc tham gia thị trường ngoại hối và phái sinh cũng giúp đa dạng hóa dòng thu nhập, nhưng cần được kiểm soát chặt chẽ để hạn chế rủi ro biến động thị trường.
Phát triển các sản phẩm và dịch vụ tài chính tích hợp trong hệ sinh thái số là xu hướng tất yếu giúp ngân hàng mở rộng nguồn thu từ phí, hoa hồng và dịch vụ giá trị gia tăng. Các nền tảng ngân hàng số, ví điện tử, cổng thanh toán trực tuyến và dịch vụ tài chính mở (Open Banking) đang mở ra cơ hội khai thác dữ liệu khách hàng để cung cấp sản phẩm cá nhân hóa, nâng cao giá trị vòng đời khách hàng và tăng doanh thu dịch vụ.
Để đa dạng hóa thu nhập một cách hiệu quả và bền vững, các ngân hàng Việt Nam cần nâng cao năng lực quản trị danh mục doanh thu, thiết lập cơ chế đo lường hiệu quả từng nguồn thu và gắn trách nhiệm của các đơn vị kinh doanh với chỉ tiêu phát triển dịch vụ phi tín dụng. Sự kết hợp hài hòa giữa hoạt động tín dụng, dịch vụ và đầu tư sẽ giúp các ngân hàng không chỉ gia tăng khả năng sinh lời mà còn giảm thiểu rủi ro chu kỳ kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh và hướng tới mô hình ngân hàng đa năng hiện đại.
5.2.2. Đối với NHNN
NHNN Việt Nam giữ vai trò trung tâm trong việc đảm bảo sự an toàn, ổn định và phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng, đặc biệt là các NHTM. Từ các vụ việc nghiêm trọng như đại án Vạn Thịnh Phát và Ngân hàng SCB, có thể rút ra những bài học sâu sắc về vai trò giám sát, điều tiết và kiểm soát rủi ro của cơ quan quản lý nhà nước. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách đối với NHNN như sau: Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Hoàn thiện khung pháp lý và chuẩn mực quản trị ngân hàng: NHNN cần tiếp tục xây dựng, hoàn thiện và cập nhật hệ thống quy định, chuẩn mực liên quan đến các lĩnh vực trọng yếu như an toàn vốn, cấp tín dụng, quản trị rủi ro, và quản lý tài sản nợ – tài sản có. Các văn bản quy phạm pháp luật cần tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là bộ khung Basel III, để tăng cường năng lực phòng ngừa và xử lý rủi ro một cách hệ thống. Đồng thời, NHNN nên ban hành các hướng dẫn kỹ thuật cụ thể nhằm hỗ trợ các NHTM triển khai đồng bộ và hiệu quả các quy định này, đặc biệt trong lĩnh vực quản trị rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản và rủi ro đạo đức. Ngoài ra, cần thiết lập các cơ chế khuyến khích tuân thủ, ví dụ như xếp hạng mức độ tuân thủ và công bố công khai kết quả đối với từng NHTM, nhằm tạo áp lực minh bạch và thúc đẩy năng lực quản trị nội bộ.
Tăng cường công tác thanh tra, giám sát theo hướng chủ động và cảnh báo sớm: NHNN cần áp dụng mô hình giám sát ngân hàng theo hướng rủi ro, kết hợp giữa giám sát định kỳ và giám sát theo sự kiện. Việc này bao gồm theo dõi các chỉ số tài chính trọng yếu, như tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ nợ xấu, khả năng thanh khoản và mức độ tập trung tín dụng, để phát hiện sớm các dấu hiệu bất ổn. Song song đó, cần định kỳ thực hiện các bài kiểm tra sức chịu đựng nhằm đánh giá khả năng chống đỡ của hệ thống ngân hàng trước các cú sốc vĩ mô hoặc thị trường.
Đặc biệt, NHNN cần cải thiện chất lượng nguồn nhân lực thực hiện công tác thanh tra, giám sát thông qua các chương trình đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ giám sát, đạo đức nghề nghiệp và công nghệ phân tích dữ liệu tài chính. Việc sử dụng các công cụ phân tích dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và công nghệ giám sát từ xa cũng nên được đẩy mạnh nhằm nâng cao tính chính xác và kịp thời trong quá trình đánh giá rủi ro và phát hiện gian lận.
5.3. Những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
Nghiên cứu của tác giả thực hiện trong giai đoạn 2011 – 2024 với phương pháp OLS, FEM và REM. Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng giai đoạn nghiên cứu, chia ra 03 giai đoạn: trước, trong và sau đại dịch COVID 19 để đánh giá và so sánh tác động của các nhân tố đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam và sử dụng phương pháp định lượng mới.
Nghiên cứu được thực hiện với 9 biến độc lập nhưng có 02 biến không có ý nghĩa thống kê và giải thích được 35,56% sự biến thiên của biến phụ thuộc ROEA. Các nghiên cứu tiếp theo có thể xác định thêm các biến độc lập mới, để giải thích tốt hơn sự tác động của các nhân tố nội bộ và vĩ mô đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng tại Việt Nam.
- KẾT LUẬN CHƯƠNG 5
Chương 5 tác giả trình bày kết luận dựa trên kết quả nghiên cứu. Tác giả cũng đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam. Bên cạnh đó, tác giả cũng nêu ra những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài. Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NH

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng […]