Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bình Phước dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1. Quy trình nghiên cứu
- Hình 3.1. Quy trình nghiên cứu
Bước 1: Đặt vấn đề và xác định mục tiêu nghiên cứu .
Bước 2: Tổng hợp cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài cùng với việc lược khảo các đề tài nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây nhằm đề xuất mô hình nghiên cứu.
Bước 3: Xây dựng thang đo nháp để thực hiện phỏng vấn các chuyên gia nhằm mục đích thẩm định lại, từ đó đánh giá, hoàn thiện mô hình nghiên cứu, đồng thời xây dựng thang đo chính thức phù hợp với bối cảnh thực tế để thực hiện nghiên cứu định lượng.
Bước 4: Tiến hành thu thập dữ liệu nghiên cứu bằng cách khảo sát khách hàng.
Bước 5: Trên cơ sở kết quả khảo sát thu thập được, tác giả tiến hành xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS, nhằm phục vụ cho việc kiểm định mô hình nghiên cứu.
Bước 6: Dựa vào kết quả thu được, tác giả rút ra kết luận về các nhân tố gây ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố. Sau đó đề xuất các hàm ý quản trị phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn trong thời gian tới.
3.2. Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu Luận văn: PPNC đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng.
3.2.1. Đề xuất mô hình nghiên cứu
Trên cơ sở tổng hợp khung lý thuyết, xác định khoảng trống của đề tài nghiên cứu và kế thừa kết quả từ các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây của Jaber và Manasrah (2017), Vazifehdoost và cộng sự (2015), Mariam (2011), Hedayatnia và Eshghi (2011), Bùi Văn Trịnh và cộng sự (2023), Nguyễn Thị Mai Hương và cộng sự (2023), Nguyễn Ngọc Duy Phương và Vũ Thị Hương (2018), Phạm Đặng Thùy Linh và Nguyễn Quốc Nghi (2021), Bui Nhat Vuong và cộng sự (2020), tác giả đề xuất bảy yếu tố được xem là có ảnh hưởng đến hành vi gửi tiết kiệm của KHCN, bao gồm: (1) Sự thuận tiện, (2) Thương hiệu ngân hàng, (3) An toàn bảo mật, (4) Dịch vụ khách hàng, (5) Ảnh hưởng người thân quen, (6) Lợi ích tài chính, (7) Công nghệ.
- Bảng 3.1. Tổng hợp yếu tố đưa vào mô hình nghiên cứu đề xuất
- Hình 3.2. Mô hình nghiên cứu
3.2.2. Giả thuyết nghiên cứu
3.2.2.1 Sự thuận tiện:
Hedayatnia và Eshghi (2011), Jaber và Manasrah (2017) cho rằng sự thuận tiện có tác động lớn đến việc thu hút tiền gửi và điều này được phản ánh qua các tiêu chí cụ thể như quy trình thực hiện giao dịch, thời gian xử lý giao dịch và mức độ phủ sóng của chi nhánh. Sự thuận tiện giúp khách hàng giảm thiểu CP khi giao dịch ngân hàng, góp phần thúc đẩy ra quyết định gửi tiền tiết kiệm và tăng mức độ trung thành, gắn bó của khách hàng. Có thể thấy rằng mức độ thuận tiện trong giao dịch là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự lựa chọn ngân hàng của khách hàng. Vì thế, giả thuyết sau được đề xuất:
H1: Sự thuận tiện có ảnh hưởng tích cực đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại BIDV Bình Phước
3.2.2.2. Thương hiệu: Luận văn: PPNC đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng.
Theo Hedayatnia và Eshghi (2011), Nguyễn Thị Mai Hương và cộng sự (2023) nhận thấy rằng thương hiệu ngân hàng gắn liền với chất lượng và uy tín. Những ngân hàng có mức độ nhận biết thương hiệu cao góp phần tích cực trong việc tạo cho khách hàng cảm giác an tâm về khoản tiền gửi của mình, trong nhiều trường hợp khách hàng chấp nhận nhận mức lãi suất thấp hơn để đổi lấy sự uy tín của một ngân hàng có mức độ nhận diện thương hiệu cao. Điều này cho thấy quyết định gửi tiền của khách hàng chịu ảnh hưởng đáng kể bới vị thế và uy tín thương hiệu của ngân hàng.
H2: Thương hiệu có ảnh hưởng tích cực đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại BIDV Bình Phước
3.2.2.3. An toàn bảo mật:
Mariam (2011), Nguyễn Ngọc Duy Phương và Vũ Thị Hương (2018) cho rằng an toàn bảo mật chiếm một vai trò vô cùng quan trọng. Mức độ an toàn có ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi gửi tiết kiệm của khách hàng, yếu tố này góp phần thúc đẩy niềm tin về khả năng an toàn vốn.
Ngày nay, song hành cùng với sự tiến bộ của công nghệ là các chiêu thức lừa đảo, đánh cắp thông tin ngày càng tinh vi. Vì thế, khách hàng cần cảm thấy rằng họ được bảo đảm bảo mật thông tin để tránh những rủi ro tiềm ẩn do đánh cắp thông tin. Một sự cố rò rỉ dữ liệu có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đối với uy tín của ngân hàng trên thị trường. Khi gửi tiết kiệm, khách hàng thường so sánh các ngân hàng dựa trên mức độ an toàn mà họ cảm nhận được.
H3: An toàn bảo mật có ảnh hưởng tích cực đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại BIDV Bình Phước
3.2.2.4. Dịch vụ khách hàng:
Jaber và Manasrah (2017), Nguyễn Thị Mai Hương và cộng sự (2023) chỉ ra rằng ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng thì sẽ dễ dàng được tin tưởng và chọn lựa khi ra quyết định. Giải đáp kịp thời thắc mắc của khách hàng sẽ khiến khách hàng cảm thấy thoải mái và hài lòng về chất lượng dịch vụ. Chất lượng dịch được xem là yếu tố quan trọng không chỉ ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn sản phẩm tiền gửi mà còn chi phối hành vi tái tục và mức độ gắn bó lâu dài của khách hàng với ngân hàng. Luận văn: PPNC đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng.
H4: Dịch vụ khách hàng có ảnh hưởng tích cực đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại BIDV Bình Phước
3.2.2.5. Ảnh hưởng người thân quen:
Bùi Văn Trịnh và cộng sự (2023), Nguyễn Ngọc Duy Phương và Vũ Thị Hương (2018) chỉ ra rằng khách hàng thường có thói quen hỏi ý kiến những người thân quen hoặc tìm hiểu qua các kênh mạng truyền thông rồi mới yên tâm gửi tiết kiệm.
H5: Ảnh hưởng người thân quen có ảnh hưởng tích cực đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại BIDV Bình Phước
3.2.2.6. Lợi ích tài chính:
Theo Phạm Đặng Thùy Linh và Nguyễn Quốc Nghi (2021), Vazifehdoost và cộng sự (2015), Bui Nhat Vuong và cộng sự (2020) cho rằng lợi ích tài chính được xem là yếu tố chi phối hàng đầu đối với quyết định lựa chọn của khách hàng trong hoạt động TGTK. Lãi suất và các ưu đãi kèm theo chính là yếu tố then chốt ảnh hưởng đến hành vi khách hàng, qua đó phản ánh mức sinh lời mà KH mong chờ có được sau khi quyết định gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng.
Ngày nay, các ngân hàng thường xuyên áp dụng thực hiện các chính sách ưu đãi dành cho khách hàng có TGTK, đây là một trong những cách tạo ra sự quan tâm tích cực của khách hàng đối với sản phẩm tiết kiệm. Vì thế tác giả đề xuất giả thuyết:
H6: Lợi ích tài chính có ảnh hưởng tích cực đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại BIDV Bình Phước
3.2.2.7. Công nghệ Luận văn: PPNC đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng.
Kết quả nghiên cứu của Mariam (2011) chỉ ra rằng công nghệ có ảnh hưởng đến hành vi ra quyết định gửi tiền. Tuy nhiên, ở nghiên cứu này kết quả cho thấy công nghệ chỉ đóng vai trò thứ yếu và có mức ảnh hưởng thấp hơn so với các yếu tố khác trong mô hình.
Công nghệ ngày càng trở thành yếu tố được quan tâm, nhất là với thời kỳ chuyển đổi số như ngày nay. Ngoài kênh huy động vốn truyền thống thì việc phát triển nguồn vốn thông qua kênh online cũng đang được hướng đến. Công nghệ cần được cập nhật theo xu hướng của thời đại và tích hợp các công cụ hay phần mềm để hạn chế những khe hở cho kẻ xấu xâm nhập nhằm trục lợi bất chính. Do đó, mức độ hiện đại và an toàn của công nghệ sẽ được khách hàng ưu tiên hơn.
H7: Công nghệ kỹ thuật có ảnh hưởng tích cực đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại BIDV Bình Phước
3.3. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: PPNC đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng.
3.3.1. Phương pháp nghiên cứu định tính
Sau khi đề xuất mô hình nghiên cứu, tác giả bắt đầu thực hiện phỏng vấn chuyên gia, là những cán bộ và lãnh đạo đang trực tiếp thực hiện công tác HDV tại BIDV -Chi nhánh Bình Phước. Hoạt động thu thập ý kiến này được triển khai nhằm rà soát và điều chỉnh các yếu tố trong mô hình nghiên cứu, đồng thời qua đó hoàn thiện mô hình và xây dựng hệ thống thang đo phù hợp cho giai đoạn nghiên cứu định lượng.
Mỗi chuyên gia tác giả thực hiện phỏng vấn khoảng 20-25 phút, kết hợp việc khảo sát bằng bảng câu hỏi và thảo luận về mức độ phù hợp của các nhân tố trong mô hình nghiên cứu. Dữ liệu thu thập được xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả với các chỉ tiêu như giá trị trung bình và độ lệch chuẩn nhằm phản ánh mức độ ảnh hưởng cũng như mức độ đồng thuận giữa các chuyên gia. Dàn bài phỏng vấn với chuyên gia được tác giả trình bày cụ thể tại Phụ lục 2.
- Bảng 3.2. Thông tin chung về chuyên gia tham gia phỏng vấn
Kết quả cho thấy tất cả các yếu tố được đề xuất trong mô hình nghiên cứu đều có ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền. Do đó, tất cả các yếu tố trên đều sẽ được giữ lại trong mô hình chính thức. Kết quả có thể được giải thích cụ thể như sau:
- Mức độ ảnh hưởng: thông qua kết quả tổng hợp cho thấy tất cả các yếu tố đều có giá trị trung bình (mean) lớn hơn 3, điều đó phản ánh mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đối với mô hình nghiên cứu là từ mức trung bình đến mạnh
- Độ lệch chuẩn: sự đồng thuận của 9 chuyên gia về từng yếu tố cụ thể được đánh giá là tương đối cao khi độ lệch chuẩn của tất cả các yếu tố đều nhỏ hơn 1.
3.3.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng Luận văn: PPNC đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng.
3.3.2.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
Đối với phân tích nhân tố khám phá (EFA), Hair và cộng sự (1998) cho rằng kích thước mẫu tối thiểu cần đạt ít nhất là năm lần số biến quan sát: n=5*m
Trong đó:
- n: Cỡ mẫu tối thiểu cần thiết.
- m: Tổng số biến quan sát
Do nghiên cứu có bao gồm 29 biến quan sát, cho nên cỡ mẫu tối thiểu cần đạt để tiến hành phân tích nhân tố khám phá theo quy tắc đã trình bày là 145.
Theo Tabachnick và Fidell (1996), để thỏa mãn điều kiện cho phân tích hồi quy đa biến có một quy tắc để xác định kichs thước mẫu tối thiểu là n=50 + 8*m
Trong đó:
- n: Cỡ mẫu tối thiểu cần thiết.
- m: Số lượng biến độc lập
Tổng số lượng biến độc lập trong nghiên cứu là 7, phân tích hồi quy đa biến trong nghiên cứu này được thực hiện với yêu cầu cỡ mẫu tối thiểu là 106.
Có 320 phiếu khảo sát đã được tác giả phát cho khách hàng cá nhân tại BIDV Chi nhánh Bình Phước. Tổng số phiếu thu về được là 320 phiếu, sau khi lọc kết quả khảo sát có 26 phiếu chưa đạt yêu cầu, vì vậy có tổng 294 phiếu đạt yêu cầu để thực hiện cho nghiên cứu. Vì vậy, với 294 cỡ mẫu thu thập được cho thấy nghiên cứu này đã thỏa mãn yêu cầu về kích thước mẫu tối thiểu cần thiết để tiến hành các phân tích. Luận văn: PPNC đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng.
3.3.2.2. Nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu này được thực hiện bằng cách kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng. Qua quá trình thực hiện khảo sát, nghiên cứu có 294 cỡ mẫu đạt yêu cầu, tác giả sử dụng công cụ SPSS để thực hiện phân tích dữ liệu. Bước đầu tác giả thực hiện đo lường độ nhất quán nội bộ để loại trừ những biến không phù hợp trong 29 biến quan sát của 7 biến độc lập thông qua phương pháp Cronbach’s Alpha.
- Kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng Cronbach’s Alpha:
Một thang đo có tính nhất quán nội bộ cao khi các biến quan sát đo lường cùng một nhân tố thể hiện sự liên kết chặt chẽ, có xu hướng dao động cùng chiều và cùng nhằm đo lường một nhân tố hoặc một khái niệm chung. Giá trị của Cronbach’s Alpha nằm trong khoảng từ 0 đến 1, chỉ số này có giá trị càng lớn thì càng chứng tỏ rằng độ tin cậy càng cao trong việc đại diện cho khái niệm nghiên cứu. Kết quả kiểm định sẽ giúp loại những biến quan sát nào không đạt chất lượng ra khỏi nghiên cứu.
Không chỉ có Nunnally (1978) mà Hair cùng với các cộng sự khác (2009) cũng nói rằng Cronbach’s Alpha có giá trị từ 0.7 trở lên là tiêu chuẩn cho một thang đo đáng tin cậy. Tuy nhiên, ngưỡng 0.6 vẫn có thể coi là chấp nhận được cho các nghiên cứu khám phá sơ bộ. Căn cứ vào đó, trong nghiên cứu này tác giả chọn ngưỡng Cronbach’s Alpha > 0.6 làm tiêu chuẩn đánh giá cho độ tin cậy của thang đo.
Một chỉ số quan trọng khác trong kiểm định độ tin cậy là tương quan biến tổng (Corrected Item – Total Correlation), đây là chỉ số dùng để đo lường mức độ tương quan của từng biến quan sát với tổng các biến còn lại và chỉ số này càng cao thì biến quan sát đó càng thể hiện tốt khả năng đo lường nhân tố chung của thang đo. Theo Cristobal và cộng sự (2007), những biến quan sát có tương quan biến tổng từ 0.3 trở lên là phù hợp, do đó những biến quan sát có giá trị thấp hơn ngưỡng này nên được loại bỏ nhằm nâng cao tính nhất quán nội bộ của thang đo. Luận văn: PPNC đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng.
- Phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis):
Phương pháp phân tích khám phá (EFA) cho phép gom nhóm các biến quan sát khác nhau nhưng có mối tương quan cao thành các nhân tố chung, góp phần đơn giản hóa số biến và hiệu quả hơn trong quá trình phân tích dữ liệu. Phương pháp này được xem xét dựa trên các tiêu chí sau:
Đánh giá độ phù hợp của mô hình: phân tích nhân tố khám phá chỉ được tiến hành khi dữ liệu thu thập được đáp ứng các điều kiện cần thiết của kiểm định KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) và kiểm định Bartlett (Bartlett’s test):
Hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) được sử dụng nhằm mục đích đánh giá tính thích hợp của dữ liệu cho phân tích nhân tố. Dữ liệu được xem là chấp nhận khi KMO >= 0.5 và bị loại khi giá trị này nhỏ hơn 0.5.
Kiểm định Bartlett (Bartlett’s test of sphericity) có giá trị Sig<0.05, điều đó chứng tỏ các biến quan sát có tương quan với nhau để thực hiện EFA.
Phương pháp xoay nhân tố: theo Bryant & Yarnold (1995) định nghĩa việc xoay nhân tố là một quá trình mà các biến quan sát được xoay trên các trục nhằm tạo ra được cấu trúc nhân tố đơn giản. Cấu trúc đơn giản nghĩa là các biến quan sát sẽ được xoay tới điểm mà ở đó, mỗi biến quan sát chỉ tải mạnh ở một nhân tố, tải rất yếu lên các nhân tố còn lại, thể hiện mức độ liên quan không đáng kể với các nhân tố khác.
Hệ số tải (factor loadings) được dùng để đo lường mức độ tương quan giữa một biến quan sát (biến độc lập) với một nhân tố nào đó. Nó cho biết biến đó đóng góp như thế nào vào sự biến thiên của nhân tố. Theo các chuyên gia, với giá trị từ 0.5 trở lên được xem là có ý nghĩa và đáp ứng yêu cầu phân tích .
Theo tiêu chuẩn Kaiser (Kaiser Criterion), các nhân tố có Eigenvalue > 1 mới được giữ lại trong mô hình, hệ số này được dùng nhằm xác định số lượng nhân tố trong thang đó EFA. Luận văn: PPNC đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng.
Tiêu chuẩn phương sai trích (Variance Explained Criteria): mô hình được đánh giá là có khả năng giải thích tốt khi mà có giá trị tổng phương sai trích của các nhân tố giữ lại đạt tối thiểu 50%.
- Phương pháp hồi quy bội:
Phương pháp hồi quy bội hay còn gọi là phương pháp hồi quy đa biến, dùng để mô hình hóa mối quan hệ giữa nhiều biến số độc lập (tức là biến giải thích hay biến nguyên nhân) ảnh hưởng đến một biến phụ thuộc (tức là biến phân tích hay biến kết quả) nhằm phục vụ cho việc phân tích và giải thích kết quả nghiên cứu. Kết quả chạy hồi quy sẽ phản ánh mức độ ảnh hưởng tổng thể của tất cả các biến độc lập lên biến phụ thuộc và mức độ mà từng biến độc lập tham gia vào việc hình thành và giải thích cho biến phụ thuôc. Qua đó để giải thích nhân tố nào là nhân tố có sự ảnh hưởng nhiều nhất
Giả định tự tương quan: trong mô hình hồi quy, sự tồn tại mối liên hệ giữa các phần dư ở những thời điểm khác nhau vẫn có thể xảy ra. Hệ số Durbin-Watson được áp dụng nhằm đánh giá sự tồn tại của hiện tượng tự tương quan giữa các sai số. Khi hệ số này nằm trong khoảng giá trị lớn hơn 1 và nhỏ hơn 3 thì phản ánh được rằng mô hình này không xuất hiện hiện tượng tự tương quan của sai số.
Giả định phương sai của sai số không đổi: Theo Pituch & Stevens (2016), các điểm dữ liệu phần dư trong đồ thị scatter dao động chủ yếu trong đoạn -3 đến 3 được xem như là điều kiện tốt xác nhận không xảy ra phương sai thay đổi.
Giả định về phân phối chuẩn của phần dư: sự khác biệt giữa giá trị quan sát được và giá trị dự đoán của biến phụ thuộc phải tuân theo phân phối chuẩn. Điều này có nghĩa là phần dư có xu hướng tập trung xung quanh giá trị trung bình (gần bằng 0) và có dạng hình chuông đối xứng.
Kiểm tra đa cộng tuyến: hiện tượng này xảy ra khi các biến độc lập trong cùng một mô hình hồi quy có mức độ tương quan cao với nhau, từ đó dẫn đến sai lệch của các hệ số hồi quy và hệ số R bình phương. Để kiểm tra có đa cộng tuyến hay không, chúng ta thực hiện sử dụng hố số VIF, VIF cảng nhỏ càng chứng tỏ mô hình nghiên cứu nguy cơ xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến càng ít và ngược lại. Hair và cộng sự (2009) cho rằng, ngưỡng VIF từ 10 trở lên sẽ xảy ra đa cộng tuyến nghiêm trọng. Nên cố gắng để VIF ở mức thấp nhất có thể, bởi thậm chí ở mức VIF bằng 5 hoặc bằng 3 cũng vẫn có thể xảy ra đa cộng tuyến.
Hệ số r bình phương và phương trình hồi quy: Hệ số R bình phương là chỉ số phản ánh được mức độ các biến độc lập trong mô hình có thể giải thích sự thay đổi của biến phụ thuộc.
- TÓM TẮT CHƯƠNG 3
Trong chương này, tác giả đã trình bày mô hình được đề xuất cho nghiên cứu. Qua đó thực hiện xây dựng giả thuyết cho từng biến có trong mô hình đề xuất. Ngoài ra, tác giả còn miêu tả cụ thể phương pháp chọn mẫu và phương pháp nghiên cứu được lựa chọn áp dụng trong đề tài. Luận văn: PPNC đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: KQNC đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: PPNC đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng […]