Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT

  1. Tên đề tài: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  2. Mục đích nghiên cứu: Hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực trạng quản lí sinh hoạt chuyên môn ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Từ đó đề ra biện pháp quản lí sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học giúp hoạt động sinh hoạt chuyên môn tốt hơn. Thông qua đó góp phần nâng cao năng lực quản lí cũng như năng lực chuyên môn của giáo viên và phát huy tính tích cực của học sinh, đáp ứng nhu cầu thực tiễn trong công tác hiện nay.

3. Phương pháp nghiên cứu

3.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận: Phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa các lí thuyết về quản lí hoạt động sinh hoạt chuyên môn nói chung và quản lí đổi mới hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường tiểu học nói riêng nhằm xây dựng cơ sở lí luận về quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

3.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

  • Phương pháp quan sát sư phạm

Mục đích: ghi nhận và thu thập những thông tin thực tiễn có giá trị phục vụ cho việc đánh giá thực trạng và bổ sung cho kết quả nghiên cứu.

Nội dung: phương pháp này được thực hiện thông qua quan sát các buổi dự giờ, thao giảng nhằm thu thập thông tin về quản lí đổi sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Phương pháp phỏng vấn Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

  • Mục đích: khảo sát để lấy thông tin bổ sung cho vấn đề cần nghiên cứu.
  • Nội dung: trao đổi với giáo viên và cán bộ quản lí nhằm đánh giá thực trạng vấn đề quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học.

Phương pháp chuyên gia

  • Mục đích: sử dụng phương pháp nhằm thu thập ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực quản lí giáo dục, đặc biệt là các chuyên gia trong lĩnh vực quản lí sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường tiểu học.
  • Nội dung: trao đổi về cách thức quản lí sinh hoạt chuyên môn hiên nay ở một số trường trên địa bàn thị xã Dĩ An.

Phương pháp khảo nghiệm

  • Mục đích: Nhằm kiểm nghiệm tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất.
  • Nội dung: khảo nghiệm sinh hoạt chuyên môn, khảo nghiệm về quản lí chuyên môn, khảo nghiệm về quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học.

Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

  • Mục đích: đây là phương pháp nghiên cứu chính của đề tài. Sử dụng phương pháp này nhằm khảo sát thực trạng vấn đề cần nghiên cứu.
  • Nội dung: khảo sát thực trạng quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương thông qua các chức năng như lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá.

3.3. Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng toán thống kê để phân tích và tổng hợp các số liệu thu được thông qua khảo sát với sự hỗ trợ phần mềm SPSS để rút ra những kết luận có mức độ tin cậy cao.

4. Kết quả nghiên cứu Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận khoa học về quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học ở các trường tiểu học, khảo sát phân tích kết quả thực tế ở trường tiểu học thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, đề xuất một số biện pháp quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học đóng góp cho việc cải thiện chất lượng dạy học tại trường cũng như đáp ứng yêu cầu của xã hội ngày nay. Hệ thống các biện pháp có liên hệ chặt chẽ với nhau, tính cần thiết và khả thi cao.

Các biện pháp quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học mang lại những hiệu quả thực tiễn đối với việc nâng cao chất lượng dạy học của các trường. Để sử dụng các biện pháp có hiệu quả cần phải biết phối hợp các biện pháp một cách linh hoạt và phù hợp với tình hình thực tế tại đơn vị mà cán bộ quản lí có thể lựa chọn để vận dụng một cách hiệu quả cho công tác quản lí của mình.

5. Kết luận chủ yếu của đề tài:

Để đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trương đổi mới các hoạt động sinh hoạt chuyên môn trong nhà trường. Đổi mới sinh hoạt chuyên môn tại tổ chuyên môn, trường và cụm trường theo hướng nâng cao hiệu quả sinh hoạt chuyên môn trong các trường tiểu học, nâng cao năng lực quản lí cho cán bộ quản lí trường học, năng lực giảng dạy, tổ chức cho các hoạt động giáo dục cho giáo viên phổ thông, giáo dục thường xuyên, nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả giáo dục toàn diện học sinh.

Nội dung quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường tiểu học bao gồm quản lí lập kế hoạch, quản lí tổ chức, quản lí lãnh đạo, quản lí kiểm tra – đánh giá và quản lí các điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

Thực trạng đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường tiểu học thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương cho thấy: Các CBQL và giáo viên đánh giá cao tầm quan trọng của việc đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học và các trường tiểu học thực hiện tốt công tác này. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại các hạn chế cần chú ý là số lượng học sinh của mỗi lớp quá đông so với khả năng có hạn của giáo viên, các giáo viên chưa thật sự phối hợp, thống nhất với nhau trong đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học.

Thực trạng quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường tiểu học thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương cho thấy: CBQL nhận thức tầm quan trọng của công tác này ở mức rất cao. Do đó, công tác quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường tiểu học tại địa phương nhìn chung là tốt. Nhưng vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế, việc quản lí sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học còn mang nặng tính hình thức ở một số trường và nhận thức của một số CBQL, GV chưa cao. Để đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, tác giả đề xuất một số biện pháp:

Nhóm biện pháp 1: Nâng cao nhận thức, tầm quan trọng trong việc đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học. Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

  1. Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lí, giáo viên về hoạt động đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học.
  2. Tổ chức các buổi toạ đàm về sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học.
  3. Phổ biến cụ thể qui trình sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học.
  4. Chỉ đạo xây dựng kế hoạch sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học.

Nhóm biện pháp 2: Tổ chức hoạt động bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ quản lí và giáo viên.

  1. Lập kế hoạch bồi dưỡng về đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học.
  2. Chỉ đạo cho tổ chuyên môn tự xây dựng và lên kế hoạch hoạt động tổ theo nghiên cứu bài học.
  3. Tạo điều kiện cho giáo viên đi học và tham gia tập huấn đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học.
  4. Sử dụng các kết quả kiểm tra và đánh giá hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học vào đánh giá xếp loại thi đua.

Nhóm biện pháp 3: Hoàn thiện cơ chế chính sách và các điều kiện hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học.

  1. Xây dựng kế hoạch mua sắm thiết bị và đồ dùng dạy học.
  2. Tổ chức hướng dẫn sử dụng và khai thác triệt để các thiết bị và đồ dùng dạy học.
  3. Tổ chức bồi dưỡng kĩ năng sử dụng các trang thiết bị máy móc hiện đại.
  4. Xây dựng nội qui và hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng cơ sở vật chất và các thiết bị dạy học.
  5. Tổ chức các cuộc thi tự làm đồ dùng học tập.

Thực trạng biện pháp đề xuất cho công tác quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương cho thấy: Hệ thống các biện pháp có liên hệ chặt chẽ với nhau, tính cần thiết và khả thi đều cao.

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

Thực hiện kế hoạch số 80/KH-BGDĐT ngày 25/02/2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về “tổ chức thực hiện đổi mới sinh hoạt chuyên môn trong trường phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên”, công văn của Sở Giáo dục và Đào tạo về “tập huấn đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo kế hoạch số 80/KH-BGDĐT của Bộ GD&ĐT”. Nhằm nâng cao năng lực quản lí cho cán bộ quản lí trường học, năng lực giảng dạy, tổ chức cho các hoạt động giáo dục cho giáo viên phổ thông, giáo dục thường xuyên, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trương đổi mới các hoạt động sinh hoạt chuyên môn trong nhà trường. Đổi mới sinh hoạt chuyên môn (SHCM) tại tổ chuyên môn, trường và cụm trường theo hướng nâng cao hiệu quả sinh hoạt chuyên môn trong các trường tiểu học. Từ đó, góp phần nâng cao năng lực quản lí cho cán bộ quản lí giáo dục và nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả giáo dục toàn diện học sinh.

Để sinh hoạt chuyên môn đạt hiệu quả, phát triển năng lực quản lí, năng lực hoạt động chuyên môn cho cán bộ quản lí và đội ngũ giáo viên ở trường tiểu học là nhiệm vụ cần thiết được đặt ra. Trong những buổi sinh hoạt chuyên môn, giáo viên cùng nhau dự giờ, và suy ngẫm về bài dạy, cùng nhau hợp tác nghiên cứu, tìm hiểu bằng cách đối thoại, chia sẻ kinh nghiệm và một số bước cụ thể tìm ra cấu trúc trong các bài học để giúp học sinh học tập một cách thực sự. Và cũng thông qua hoạt động chuyên môn, hiệu trưởng sẽ nắm được sâu sát hoạt động của giáo viên. Phát huy được sự thống nhất giữa hiệu trưởng và các thành viên trong hội đồng nhà trường.

Sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học nhằm: Đổi mới tư duy và sinh hoạt chuyên môn theo phương pháp dạy học tích cực; thay đổi phương pháp thiết kế bài dạy; phát huy tính tích cực của học sinh trong mỗi giờ học; nâng cao năng lực chuyên môn cho mỗi giáo viên; tạo sự kết nối giữa giáo viên và học sinh trong quá trình dạy và học; tạo sự thân thiện giữa cán bộ quản lí và giáo viên, giáo viên với giáo viên, giáo viên với học sinh, giáo viên với cha mẹ học sinh.

Việc đổi mới hoạt động dạy học hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, các tiết học chưa thật sự tạo hứng thú học tập và phát huy tính tích cực của học sinh. Và trên thực tế qua quan sát cho thấy sinh hoạt chuyên môn của tổ chuyên môn vẫn còn sinh hoạt chuyên môn truyền thống. Sinh hoạt chuyên môn theo chuyên đề còn hạn chế. Tình trạng chưa hiểu rõ bản chất sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học còn nhiều nên vẫn còn giáo viên soạn bài lên lớp mà không có sự tham gia của các thành viên trong tổ. Các giáo viên chưa thật sự hợp tác cùng nhau xây dựng kế hoạch bài dạy. Sản phẩm mang tính cá nhân. Vì vậy khi dự giờ thao giảng các giáo viên khác chỉ chăm chú vào việc ghi chép nội dung bài dạy, quan sát giáo viên mà không quan sát hoạt động của học sinh. Bên cạnh đó công tác đào tào, bồi dưỡng chuyên môn trong thời gian qua còn nhiều khó khăn. Chưa xây dựng kế hoạch chuyên môn phù hợp với từng tổ chuyên môn. Tập trung vào đánh giá, xếp loại giờ dạy theo các tiêu chí, quy trình đã được quy định trong văn bản chỉ đạo của ngành. Giờ dạy minh họa còn mang tính trình diễn, còn người dự thì chủ yếu quan sát giáo viên dạy mà ít chú ý đến học sinh học như thế nào, có hiểu bài không, những nội dung nào chưa phù hợp cần thay đổi. Dẫn đến kết quả học tập của học sinh ít được cải thiện, tiết học nhàm chán…

Hiện nay thị xã Dĩ An đang thực hiện chương trình phát triển đô thị Dĩ An giai đoạn 2022-2020, tầm nhìn 2025. Việc đầu tư về giáo dục là quốc sách hàng đầu, các trường tiểu học được đầu tư về mọi mặt và tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao hiệu quả giáo dục. Qua thực tiễn công tác quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng bài học đã được ngành giáo dục đề cập khá nhiều thông qua các hội nghị, tập huấn, bồi dưỡng… dành cho cán bộ quản lí, đội ngũ giáo viên. Nhận thức được tầm quan trọng trong việc đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường phổ thông nói chung và trường tiểu học nói riêng là rất quan trọng. Tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế. Từ những lí luận và thực tiễn trên tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương” nhằm đề ra những biện pháp góp phần nâng cao công tác quản lí sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

2. Mục đích nghiên cứu

Hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực trạng quản lí sinh hoạt chuyên môn ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Từ đó đề ra biện pháp quản lí sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học nhằm giúp hoạt động sinh hoạt chuyên môn tốt hơn góp phần nâng cao năng lực quản lí cũng như năng lực chuyên môn của giáo viên và phát huy tính tích cực của học sinh, đáp ứng nhu cầu thực tiễn trong công tác hiện nay.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

  • Sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Dĩ An, Bình Dương.

4. Giả thuyết nghiên cứu

Trên thực tế quan sát cho thấy sinh hoạt chuyên môn của tổ chuyên môn vẫn còn sinh hoạt chuyên môn truyền thống chưa thật sự đổi mới. Còn hạn chế về nội dung, phương pháp dạy, kiểm tra đánh giá, đóng góp ý kiến,… mang nặng hình thức. Nếu hệ thống hóa cơ sở lí luận phù hợp, đánh giá đúng thực trạng và xây dựng được những biện pháp quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học góp phần phát huy tính tích cực của học sinh, nâng cao năng lực chuyên môn cho mỗi giáo viên, đáp ứng yêu cầu thực tiễn hiện nay.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Hệ thống hóa cơ sở lí luận về quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học.
  • Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lí đổi mới chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học tại trường tiểu học trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  • Đề xuất các biện pháp quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tình Bình Dương.

6. Phạm vi nghiên cứu

  • Thời gian nghiên cứu của đề tài từ năm 2023 đến
  • Phạm vi nghiên cứu của đề tài là: thực trạng sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học và quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học ở 5 trường tiểu học trên 20 trường ở thị xã Dĩ An.
  • Đối tượng khảo sát của đề tài là ban giám hiệu, tổ trưởng chuyên môn, giáo viên.
  • Nội dung nghiên cứu: đề tài nghiên cứu về lí luận và khảo sát thực trạng đổi mới sinh hoạt chuyên môn. Xây dựng các biện pháp quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học mang tính khả thi trên cơ sở thực hiện các nội dung: mục đích, nội dung, phương pháp, kiểm tra đánh giá thông qua các chức năng quản lí: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá.

7. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

7.1. Phương pháp luận

  • Tiếp cận nội dung

Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học gồm các nội dung: quản lí xây dựng và thực hiện kế hoạch sinh hoạt chuyên môn; quản lí xây dựng nội dung sinh hoạt chuyên môn; quản lí phương pháp và hình thức sinh hoạt chuyên môn; quản lí kiểm tra, đánh giá kết quả sinh hoạt chuyên môn.

Thực trạng quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương sẽ được mô tả và đánh giá ở các nội dung nêu trên, từ đó đề xuất các biện pháp đổi mới quản lí sinh hoạt chuyên môn góp phần nâng cao năng lực chuyên môn cho giáo viên và phát huy năng lực học của học sinh.

  • Tiếp cận phát triển

Đây là cách tiếp cận phát triển năng lực chuyên môn cho cán bộ quản lí cũng như cho đội ngũ giáo viên và nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường. Đây cũng là cách tiếp cận phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm, người dạy trở thành người hướng dẫn và người học tự rèn luyện cách tự học, tự giải quyết vấn đề và có thể tự phát triển sự hiểu biết của mình, phát triển mọi năng lực tiềm ẩn của bản thân nhờ vào kiên trì.

  • Tiếp cận quản lí chức năng

Là một tiếp cận để quản lí sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học đạt hiệu quả. Các chức năng quản lí như kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo- chỉ đạo, giám sát, kiểm tra. Trong đó:

Kế hoạch hóa là nền tảng của quản lí bao gồm các hoạt động như lập kế hoạch nghiên cứu bài học, xác định tiến độ, ngân sách… Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

Tổ chức là quá trình sắp xếp, phân bổ công việc cho các thành viên trong tổ chuyên môn để họ có thể hoạt động và đạt được mục tiêu của tổ đề ra một cách có hiệu quả.

Lãnh đạo – chỉ đạo là quá trình tác động các thành viên trong tổ làm cho họ nhiệt tình, tự nguyện, tự giác nổ lực phấn đấu đạt được mục tiêu của tổ.

Kiểm tra là hoạt động chủ thể quản lí nhằm đánh giá và xử lí kết quả của quá trình hoạt động tổ chuyên môn từ đó góp ý, xây dựng, rút kinh nghiệm và điều chỉnh.

Các chức năng này gắn bó chặt chẽ với nhau và thông tin đóng vai trò quan trọng.

  • Quan điểm hệ thống cấu trúc

Vận dụng quan điểm hệ thống cấu trúc vào đề tài nghiên cứu là tìm hiểu mối quan hệ chặt chẽ giữa công tác quản lí sinh hoạt chuyên môn với các hoạt động khác trong quản lí hoạt động sư phạm. Từ đó giúp tìm hiểu chính xác thực trạng quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn trong nhà trường.

  • Quan điểm lịch sử logic

Tìm hiểu sự hình thành và phát triển của đối tượng nghiên cứu, cụ thể là công tác quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học với những ưu điểm cần phát huy và tồn tại cần khắc phục. Nghiên cứu xác định phạm vi không gian, thời gian và điều kiện hoàn cảnh cụ thể để điều tra thu thập số liệu chính xác, đúng với mục đích nghiên cứu đề tài, trình bày công trình nghiên cứu theo một trật tự logic.

  • Quan điểm thực tiễn

Qua khảo sát thực tế, phân tích để phát hiện những bất cập, tồn tại trong thực tiễn về công tác quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học và trên cơ sở thực tiễn đó, đề xuất một số biện pháp quản lí nhằm nâng cao hiệu quả quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn, góp phần nâng cao hiệu quả năng lực quản lí cũng như năng lực chuyên môn của giáo viên ở trường tiểu học thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

7.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

7.2.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận

Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản

  • Mục đích: xây dựng cơ sở lí luận về quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  • Cách thức tiến hành: Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

Phân tích, tổng hợp lí thuyết: các lí thuyết về quản lí hoạt động sinh hoạt chuyên môn nói chung và quản lí đổi mới hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương nói riêng.

Phân loại, hệ thống hóa: các lí thuyết trên nhằm định hướng cho việc thiết kế công cụ nghiên cứu và quá trình điều tra thực tiễn.

7.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp quan sát sư phạm

  • Mục đích: ghi nhận và thu thập những thông tin thực tiễn có giá trị phục vụ cho việc đánh giá thực trạng và bổ sung cho kết quả nghiên cứu.
  • Nội dung: phương pháp này được thực hiện thông qua quan sát các buổi dự giờ, thao giảng nhằm thu thập thông tin về quản lí đổi sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  • Công cụ: phiếu quan sát, sổ dự giờ.
  • Đối tượng: hoạt động dạy và học

Phương pháp phỏng vấn

  • Mục đích: khảo sát để lấy thông tin bổ sung cho vấn đề cần nghiên cứu.
  • Nội dung: trao đổi với giáo viên và cán bộ quản lí nhằm đánh giá thực trạng vấn đề quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học.
  • Công cụ: sổ ghi chép.
  • Đối tượng: cán bộ quản lí và giáo viên.

Phương pháp chuyên gia Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

  • Mục đích: sử dụng phương pháp nhằm thu thập ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực quản lí giáo dục, đặc biệt là các chuyên gia trong lĩnh vực quản lí sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học.
  • Nội dung: trao đổi về cách thức quản lí sinh hoạt chuyên môn hiện nay ở một số trường trên địa bàn thị xã Dĩ An.
  • Công cụ: sổ ghi chép, máy ghi âm.
  • Đối tượng: các chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục.

Phương pháp khảo nghiệm

  • Mục đích: Nhằm kiểm nghiệm tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất.
  • Nội dung: khảo nghiệm sinh hoạt chuyên môn, khảo nghiệm về quản lí chuyên môn, khảo nghiệm về quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học.
  • Công cụ: bảng số liệu.
  • Đối tượng: hoạt động sinh hoạt chuyên môn.

Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

  • Mục đích: đây là phương pháp nghiên cứu chính của đề tài. Sử dụng phương pháp này nhằm khảo sát thực trạng vấn đề cần nghiên cứu.
  • Nội dung: khảo sát thực trạng quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương thông qua các chức năng như lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá.
  • Công cụ: phiếu khảo sát
  • Đối tượng: (1) Chủ thể quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn (Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng); (2) Giáo viên tham gia hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học trên 4 phường thuộc địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

7.2.3. Phương pháp nghiên cứu thống kê toán học

Sử dụng toán thống kê để phân tích và tổng hợp các số liệu thu được thông qua khảo sát với sự hỗ trợ phần mềm SPSS để rút ra những kết luận có mức độ tin cậy cao.

8. Đóng góp mới của luận văn Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

Đề tài đã góp phần củng cố và làm rõ những vấn đề lí luận về quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học. Qua việc khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Từ đó đề xuất các biện pháp quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học có thể áp dụng vào trong thực tiễn.

9. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn gồm 3 chương.

  • Chương 1 Cơ sở lí luận vấn đề về quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học.
  • Chương 2 Thực trạng quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  • Chương 3 Một số biện pháp quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học ở trường tiểu học của thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LU N VẤN ĐỀ VỀ QUẢN LÍ ĐỔI MỚI SINH HOẠT CHUYÊN MÔN THEO HƯỚNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Trên thế giới

Những kết quả nghiên cứu trong thời gian gần đây, đã cho rằng việc học tập một cách bài bản, chuyên nghiệp và hiệu quả sẽ duy trì và thúc đẩy chất lượng giáo dục và đào tạo, thúc đẩy việc học tập, thích hợp nhất đối với hệ thống trường phổ thông. Điều này đòi hỏi sự đầu tư nghiên cứu tài liệu, kiểm tra chất lượng học sinh của giáo viên hàng ngày để đổi mới phương pháp phù hợp với đối tượng người học. Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

Để phát triển những hệ thống như thế, sẽ càng quan trọng hơn cho những người giảng dạy trong việc cùng nhau quan sát và phản ánh những bài dạy từ lớp học. Nghiên cứu bài học được phát triển tại Nhật Bản như một chỉ dẫn cho phương pháp dạy nâng cao từ thế kỉ XIX. Theo truyền thống, có hai loại nghiên cứu bài học: phương pháp nghiên cứu từ chung tới riêng (nó phổ biến ở những thông tin giáo dục và phương pháp nền tảng, nó cải cách những kĩ năng sư phạm bởi xem xét lại cách dạy) và học thông qua những thảo luận và quan sát của giáo viên.(Inagaki 1995, Inagaki và Sato 1996, Nakan 2008)

Ngoài ra, hưởng ứng những vấn đề quan trọng mà xuất hiện trong các trường học tại Nhật Bản trong cuối năm 1990, Sato và những đồng nghiệp phát triển nghiên cứu bài học cho cộng đồng học, một phương pháp để nghiên cứu bài học là thu hút các học viên và những nhà nghiên cứu ở Nhật. Một nhân tố làm gián đoạn các lớp học là thời điểm cuối thời kì bùng nổ kinh tế và bắt đầu sự suy thoái kinh tế.(Ose và Sato 2003, Sato 2007)

Cho tới khi trẻ con mong muốn học hành chăm chỉ chỉ bởi hi vọng rằng giáo dục tốt hơn sẽ mang đến những người lao động tốt hơn. Tuy nhiên, suy thoái kinh tế đã dẫn đến nhiều nhân viên bị sa thải, từ đó rất nhiều trẻ em mất đi niềm yêu thích với học hành. Nhiều vấn nạn xảy ra: học sinh nói chuyện riêng hoặc ngủ gật thường xuyên diễn ra trong lớp học của những giáo viên độc đoán, những bài giảng của họ dựa trên những bài giảng truyền thống, một chiều. Sato tuyên bố rằng vấn đề nghiêm trọng hơn là đa số học sinh Nhật Bản đã đánh mất đi niềm yêu thích trong học tập.(Sato 2000)

Để thay đổi hoàn cảnh đó, Sato và những đồng nghiệp giới thiệu nghiên cứu bài học cho nhóm học thì không chỉ có vài bộ môn mà tất cả các giáo viên cần tham gia và họ cần tập trung nhiều hơn việc quan sát và phản ánh.(Sato 2009)

Xem xét những điểm số thấp của học sinh trong những xu hướng nghiên cứu toán học và khoa học quốc tế so sánh với những điểm số cao của học sinh Đông Á, Hiebert and Stigler (2000) đã đề cập tới vấn đề liên quan tới sự rèn luyện sư phạm ở Hoa Kì. Họ khẳng định rằng, mặc dù đã có những hoạt động nhóm và giảng viên đều tin tưởng vào hướng đi theo xu hướng xã hội của giáo dục, sự thật thì không nhiều thay đổi chú ý trong cách học của đứa trẻ.

Nghiên cứu bài học (NCBH) được miêu tả như quá trình bao gồm những bước sau: (1) Cùng nhau lên kế hoạch nghiên cứu bài học; (2) thực hiện nghiên cứu bài học, thảo luận về nghiên cứu bài học; (3) xem xét lại kế hoạch đề ra (không bắt buộc); (4) giảng dạy theo bài học mẫu (không bắt buộc); (5) chia sẻ những đánh giá về mẫu bài học ôn tập. ( Femandez và Yoshida, 2004)

Sự phát triển chuyên môn của giáo viên là một hoạt động đại diện của đổi mới giáo dục. Gần đây, trong lĩnh vực phát triển chuyên môn, NCBH đã thu hút được sự quan tâm của các nhà giáo dục và học giả trên toàn thế giới, trong đó có Hoa Kì; Vương quốc Anh và Úc. NCBH là một hoạt động phát triển chuyên môn có nguồn gốc ở Nhật Bản vào thế kỉ XIX. Nó đã được mô tả trong nhiều tài liệu quốc tế là một quá trình gồm những bước sau: (1) Hợp tác lập kế hoạch một bài học, (2) Quan sát việc thực hiện một bài học, (3) Thảo luận về bài học, (4) Sửa đổi kế hoạch bài học (tùy chọn), (5) Dạy các phiên bản sửa đổi của bài học (tùy chọn) và (6) Chia sẻ ý kiến và quan điểm về các phiên bản sửa đổi của bài học. ( Femandez và Yoshida, 2004)

Nhiều nhà giáo dục và nhà nghiên cứu đã quan tâm đến NCBH nhận ra rằng nó dần dần sẽ giúp thay đổi thực tiễn giảng dạy của giáo viên, học tập của trẻ em và văn hóa trường học. NCBH đã được giới thiệu ở nhiều nước châu Á như Brunei, Inđônêxia, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam.

1.1.2. Ở Việt Nam Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

Ở Việt Nam, mô hình này được đưa vào vận dụng thí điểm đầu tiên ở một số trường tiểu học tỉnh Bắc Giang từ năm học 2006- 2007 qua dự án “Nâng cao năng lực bồi dưỡng giáo viên theo cụm và quản lý nhà trường” của tổ chức JICA- Nhật Bản. Năm 2009, mô hình được giới thiệu đến các trường đại học, cao đẳng sư phạm thông qua Hội thảo quốc tế về NCBH tại Trường Đại học sư phạm Hà Nội (do viện nghiên cứu sư phạm tổ chức). Năm 2016, tổ chức Plan và Tổ chức cứu trợ trẻ em (SC) giới thiệu và xây dựng mô hình NCBH ở các trường tiểu học trong một số tỉnh (Thái Nguyên, Phú Thọ, Quảng Bình, Quảng Trị, Lào Cai…). Năm 2019, mô hình NCBH được triển khai giới thiệu thí điểm ở một số tỉnh thông qua chương trình đảm bảo chất lượng giáo dục (SEQAP) trong đó có tỉnh Hòa Bình.

Chính vì những hiệu quả của hoạt động NCBH mang lại mà mô hình này cũng được nhiều tác giả tập trung nghiên cứu như: Vũ Thị Sơn, Nguyễn Duân, 2016, “Nghiên cứu bài học”- một cách tiếp cận năng lực nghề nghiệp của giáo viên (Vũ Thị Sơn, Nguyễn Duân, 2016). Nguyễn Mậu Đức, Lê Huy Hoàng, ĐHSP ĐH Thái Nguyên, 2018, “Phương pháp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho GV, SV sư phạm thông qua mô hình NCBH” (Nguyễn Mậu Đức, Lê Huy Hoàng, 2018).

Luận văn nghiên cứu về vấn đề này cũng đã có một số công trình nghiên cứu: “Quản lý hoạt động tổ chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường Tiểu học thành phố Hà Giang” của Phan Thị Thanh năm 2022 và “Quản lý hoạt động nghiên cứu bài học tại tổ chuyên môn của hiệu trưởng trường Tiểu học Lập Chiệng vùng khó khăn huyện Kim Bội tỉnh Hòa Bình” của Nguyễn Văn Hưng năm 2022.

Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2019 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện của giáo dục và đào tạo. Ngày 25/02/2020 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Kế hoạch số 80/KH-BGDĐT về kế hoạch tổ chức đổi mới sinh hoạt chuyên môn trong trường phổ thông. Các phòng Giáo dục và Đào tạo đã triển khai chỉ đạo các trường tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo hướng NCBH đạt hiệu quả đề ra.

Hoạt động NCBH là một hoạt động then chốt, chủ đạo trong các buổi sinh hoạt chuyên môn ở các tổ chuyên môn, là công việc thường ngày của đội ngũ cán bộ, giáo viên ở tất cả các cấp học. Sinh hoạt chuyên môn theo hướng NCBH nhằm nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên, tạo cơ hội và điều kiện học tập cho tất cả các em học sinh. Qua hoạt động chuyên môn theo nghiên cứu bài học nhằm phát triển nhà trường một cách bền vững, chính vì vậy công tác quản lí hoạt động NCBH của hiệu trưởng trường tiểu học đã được nhiều nhà nghiên cứu giáo dục, nhà sư phạm trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu.

Như vậy, theo chúng tôi đến thời điểm này mới có các tổng kết về triển khai NCBH ở cả ba bậc học nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào về “Quản lí hoạt động NCBH tại tổ chuyên môn”, đặc biệt trong bối cảnh giáo dục Việt Nam đang triển khai đề án đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục phổ thông.

Vì vậy đề tài này cần được triển khai góp phần đóng góp cho phần lí luận và thực tiễn quản lí giáo dục nhà trường tiểu học, đáp ứng mong muốn của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc phát triển nghề nghiệp cho giáo viên tiểu học, qua đó nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường.

1.2. Các khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

1.2.1. Hoạt động chuyên môn

  • Chuyên môn

Theo từ điển Lạc Việt thì chuyên môn là lĩnh vực, kiến thức của từng ngành riêng biệt như khoa học, kĩ thuật…

  • Sinh hoạt chuyên môn

Sinh hoạt chuyên môn là hoạt động được thực hiện thường xuyên theo định kì nhằm bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực sư phạm cho giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp thông qua việc dự giờ, phân tích bài học.

Sinh hoạt chuyên môn giúp cho giáo viên nâng cao được trình độ tác nghiệp của bản thân, hình thành các mối quan hệ đồng nghiệp tốt đẹp, xây dựng môi trường học tập và tự học suốt đời. Từ đó góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường. (Dương Thị Mỹ Hằng, 2022)

  • Sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học

Cũng là hoạt động sinh hoạt chuyên môn nhưng ở đó giáo viên tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến người học như: Học sinh học thế nào? Học sinh đang gặp khó khăn gì trong học tập? nội dung và phương pháp dạy học có phù hợp, có gây hứng thú cho học sinh không, kết quả học tập của học sinh có được cải thiện không? Cần điều chỉnh gì và điều chỉnh như thế nào? Sinh hoạt chuyên môn theo NCBH không tập trung vào việc đánh giá giờ học, xếp loại giáo viên mà nhằm khuyến khích giáo viên tìm ra nguyên nhân tại sao học sinh chưa đạt kết quả như ý muốn và có biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học, tạo cơ hội cho học sinh tham gia vào quá trình học tập; giúp giáo viên có khả năng điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh của lớp, trường mình. Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

Vậy có thể hiểu sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học là hoạt động giáo viên cùng nhau thiết kế bài học, cùng dự giờ, quan sát, suy ngẫm, chia sẻ bài học và đưa ra những nhận xét về sự tác động của bài giảng, các câu hỏi và nhiệm vụ học tập mà giáo viên đưa ra để rút kinh nghiệm, điều chỉnh nội dung, phương pháp vào bài học hằng ngày và cùng nhau học tập từ thực tế việc học của học sinh thông qua bài dạy.

  • Đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học
  • Khái niệm đổi mới (một trong những mức độ của thay đổi):

Đổi mới (Innovation) là thay cái cũ bằng cái mới; làm nảy sinh sự vật mới; còn được hiểu là cách tân; là sự thay đổi về bản chất sự vật. (Vũ Lan Hương, 2023)

  • Đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học:

Là đổi mới trong tư duy và sinh hoạt chuyên môn theo xu hướng tiếp cận phương pháp dạy học tích cực. Làm thay đổi căn bản về phương pháp thiết kế giờ dạy, tổ chức hoạt động dạy và học, nội dung và hình thức sinh hoạt chuyên môn. Phát huy vai trò tích cực của học sinh. Nâng cao năng lực quản lí và năng lực chuyên môn cho CBQL và giáo viên trong nhà trường.

1.2.2. Hoạt động quản lí Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

  • Quản lí
  • Khái niệm:

Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo nghiên cứu từ góc độ xã hội thì quản lí “là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lí lên khách thể quản lí về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế…bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”. (Nguyễn Minh Đạo, 1997)

Theo Phan Văn Kha: “Quản lí là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các hệ thống nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định”. (Phan Văn Kha, Nguyễn Lộc, 2017). Ở góc độ Tâm lí học, “Quản lí là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó. (Phan Văn Kha, Nguyễn Lộc, 2017).

Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lí là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí (người quản lí) đến khách thể quản lí (người bị quản lí) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. (Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, 2016)

Theo Hồ Văn Vĩnh: “Quản lí là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí tới đối tượng quản lí nhằm đạt mục tiêu đã đề ra”. (Hồ Văn Vĩnh, 2003)

Nguyễn Ngọc Quang xác định, quản lí “là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lí đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lí nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”. (Nguyễn Ngọc Quang, 1990)

Theo nghĩa rộng, quản lí là hoạt động có mục đích của con người, quản lí chính là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của người khác nhằm đạt được kết quả mong muốn.

Từ những quan niệm của nhiều tác giả, ta có thể khái quát như sau: Quản lí là những tác động của chủ thể quản lí (người quản lí) đến đối tượng quản lí (người bị quản lí) nhằm bảo đảm cho sự vận động, phát triển của hệ thống phù hợp với quy luật khách quan, trong đó sử dụng và khai thác có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội để đạt được mục tiêu đã xác định theo ý chí của chủ thể QL Điều kiện tạo ra quản lí là phải có ít nhất một chủ thể quản lí là các tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất có một đối tượng bị quản lí tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lí tạo ra. Ngoài ra, môi trường quản lí còn có nhiều khách thể khác chịu các tác động khác của chủ thể quản lí. Tác động quản lí có thể là một hoạt động đơn giản, trong một thời gian ngắn mà cũng có thể là liên tục nhiều hoạt động phức tạp trong thời gian dài; phải có mục tiêu một quỹ đạo hoạt động đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể. Mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động; phải thực hành việc tác động một cách phù hợp với những đặc điểm, điều kiện và hoàn cảnh của khách thể quản lí.

  • Quản lí là các hoạt động thực hiện nhằm đảm bảo hoàn thành công việc qua những nỗ lực của mọi người trong tổ chức.
  • Quản lí là công tác phối hợp có hiệu quả hoạt động của những người cộng sự khác nhau cùng chung một tổ chức.
  • Quản lí là những tác động có mục đích lên những tập thể người, thành tố cơ bản của hệ thống xã hội.
  • Quản lí được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội.
  • Quản lí là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường.
  • Quản lí không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật.
  • Quản lí là thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao động xã hội.
  • Quản lí là một hệ thống mở và bản chất của nó là phối hợp các nỗ lực của con người thông qua việc thực hiện các chức năng quản lí. Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

Như vậy, theo chúng tôi quản lí là sự tác động của chủ thể quản lí (Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng) đến đối tượng quản lí (giáo viên) thông qua khách thể nhằm đạt được những mục tiêu được xác định.

  • Chức năng quản lí

Hệ thống chức năng quản lí bao gồm: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. Các chức năng được thực hiện kế tiếp nhau thành một chu trình khép kín. Cũng cần lưu ý, trong thực tiễn công tác quản lí, các chức năng thường lồng vào nhau, không thể tách biệt hoàn toàn về mặt thời gian và thứ tự.

Chức năng kế hoạch hóa bao gồm các công việc: thu thập và xử lí thông tin để tìm ra những căn cứ của kế hoạch; xác định mục tiêu và phân hạng các ưu tiên; tìm tòi và lựa chọn các biện pháp, các phương án thực hiện mục tiêu; soạn thảo kế hoạch, thông qua kế hoạch và truyền đạt kế hoạch đến người thực hiện. Sau khi xây dựng xong kế hoạch thì người quản lí bắt tay vào việc tổ chức thực hiện kế hoạch.

Chức năng tổ chức bao gồm các phần việc: xây dựng cơ cấu bộ máy; quy định chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ, quan hệ của từng bộ phận; lựa chọn và phân công cán bộ sao cho công việc thích hợp với năng lực và phẩm chất từng người; chuẩn bị để cung ứng kịp thời các điều kiện vật chất, tài chính và tinh thần cho việc thực hiện các nhiệm vụ kế hoạch; khai thác mọi tiềm lực cho việc thực hiện thắng lợi kế hoạch…

Chức năng chỉ đạo bao gồm các phần việc: ra lệnh cho các bộ phận, cá nhân thực hiện các nhiệm vụ công tác; hướng dẫn cách làm; điều hòa phối hợp công tác giữa các bộ phận, các cá nhân; kích thích tập thể và cá nhân thi đua làm tốt công việc được phân công; bồi dưỡng cán bộ, giáo viên…

Chức năng kiểm tra thực hiện mối liên hệ ngược trong quá trình quản lí: thu thập phân tích đánh giá tình hình diễn biến và kết quả của các công việc; phát hiện sai lệch và sửa chữa kịp thời nhằm đảm bảo mọi mục tiêu đều được thực hiện đầy đủ và chính xác. Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

Trong chu trình quản lí, ngoài bốn chức năng trên, còn một chức năng quan trọng nữa, đó là chức năng thông tin. Thông tin là nền tảng của quản lí. Quản lí có thông tin hai chiều: từ trên xuống, từ dưới lên. Thông tin xen lẫn trong tất cả các chức năng khác và cũng cần cho tất cả các chức năng đó. Thông tin là những tư liệu, số liệu đã được chọn lọc, xử lí để sử dụng cho một mục đích nhất định. Người Hiệu trưởng phải tổ chức hệ thống thông tin trong trường học sao cho thường xuyên nắm được kịp thời, chính xác, đầy đủ về diễn biến và kết quả của mọi hoạt động trong trường, trước hết là diễn biến và kết quả của việc dạy và học. Phải tổ chức tốt việc thu thập, xử lí, truyền đạt và lưu trữ thông tin.

  • Quản lí giáo dục

Giáo dục là một hoạt động đặc biệt của con người, là hoạt động có mục đích, có chương trình, có kế hoạch. Giáo dục có hai chức năng tổng quát là ổn định, duy trì quá trình đào tạo đáp ứng nhu cầu hiện hành của nền kinh tế – xã hội và thứ hai là đổi mới phát triển quá trình đào tạo, đón đầu sự tiến bộ, phát triển kinh tế – xã hội.

Lĩnh vực giáo dục cũng cần có quản lí như các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Cũng như khái niệm quản lí, khái niệm QLGD tuy vẫn còn nhiều quan điểm chưa hoàn toàn thống nhất, song đã có nhiều quan điểm cơ bản đồng nhất với nhau.

QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm đưa hoạt động GD tới mục tiêu đã định, trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng những quy luật khách quan của hệ thống GD quốc dân. (Nguyễn Ngọc Quang, 1990)

QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý GD của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – GD thế hệ trẻ. (Nguyễn Minh Đạo, 1997)

Dựa theo phạm vi quản lí, khái niệm “Quản lí giáo dục” được hiểu theo hai cấp độ: Cấp vĩ mô và cấp vi mô.

  • Đối với cấp vĩ mô

Theo Nguyễn Kỳ – Bùi Trọng Tuân: “Quản lí hệ thống giáo dục có thể xác định như là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lí ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến các trường, các cơ sở giáo dục khác,…) nhằm mục đích bảo đảm việc giáo dục xã hội chủ nghĩa cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những qui luật chung của chủ nghĩa xã hội, cũng như của các qui luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý của trẻ em, thiếu niên và thanh niên”. (Nguyễn Kỳ, Bùi trọng Tuân, 1984)

  • Đối với cấp vi mô Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

Ở cấp độ vi mô thì quản lí giáo dục là quản lí nhà trường.

Theo Đặng Quốc Bảo: “Trường học là một thiết chế xã hội trong đó có diễn ra quá trình đào tạo, giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố: “Thầy – Trò”. Trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của Hệ thống giáo dục quốc dân nó là đơn vị cơ sở” (Đặng Quốc Bảo, 1997)

Theo Phạm Viết Vượng: “Quản lí trường học là hoạt động của các cơ quan quản lí nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường” (Phạm Viết Vượng, 2020)

Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lí nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ, với từng học sinh” (Phạm Minh Hạc, 1996)

Theo Trần Kiểm: “Quản lí trường học có thể hiểu là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lí và có hướng đích của chủ thể quản lí đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm huy động và phối hợp sức lực và trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động của nhà trường hướng vào hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu dự kiến”. (Trần Kiểm, 2022)

Vậy, QLGD là sự tác động có chủ đích, có căn cứ khoa học, hợp quy luật và phù hợp các điều kiện khách quan của chủ thể quản lí tới đối tượng quản lí nhằm phát huy sức mạnh các nguồn lực giáo dục, từ đó đảm bảo các hoạt động của tổ chức, hệ thống giáo dục đạt được các mục tiêu đã đề ra với chất lượng, hiệu quả cao nhất.

  • Quản lí nhà trường

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lí nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” (Phạm Minh Hạc, 2001). Việc quản lí nhà trường phổ thông (có thể mở rộng ra là sự quản lí nói chung) là việc quản lí dạy học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần tới mục tiêu giáo dục. (Phạm Minh Hạc, 2001)

Theo tác giả Hà Thế Truyền và Hoàng Minh Thao thì quản lí nhà trường bao gồm hai loại tác động: “Tác động của những chủ thể quản lí bên trên và bên ngoài nhà trường và tác động của những chủ thể quản lí bên trong nhà trường”. (Hà Thế Truyền, Hoàng Minh Thao, 2003) Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lí nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp…) của chủ thể quản lí đến tập thể GV, HS và các cán bộ khác nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp, do lao động xây dựng và vốn lao động tự có hướng vào đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới”. (Nguyễn Ngọc Quang, 1990)

Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lí nhà trường là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lí đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” Trong giáo trình “Quản lí giáo dục và trường học” dùng cho học viên cao học chuyên ngành Giáo dục học. (Trần Kiểm, 2022)

Trường học là một bộ phận của xã hội, là tổ chức giáo dục cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân. Hoạt động dạy và học là hoạt động trung tâm của nhà trường. Theo tác giả Nguyễn Phúc Châu: Nhà trường là một thiết chế tổ chức chuyên biệt trong hệ thống tổ chức xã hội thực hiện chức năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát triển của xã hội. Quản lí nhà trường là những tác động tự giác của chủ thể quản lí đến khách thể quản lí nhằm đưa các hoạt động giáo dục và dạy học của nhà trường đạt đến mục tiêu giáo dục. (Nguyễn Phúc Châu, 2016). QL nhà trường về bản chất là quản lí con người. Điều đó tạo ra cho các chủ thể (người dạy và người học) trong nhà trường một sự liên kết chặt chẽ không những chỉ bởi cơ chế hoạt động của những tính quy luật khách quan của một tổ chức xã hội- nhà trường mà còn bởi hoạt động chủ quan, hoạt động quản lí của chính bản thân GV và HS.

Theo Trần Kiểm: Quản lí nhà trường thực chất là việc xác định vị trí của mỗi người trong hệ thống xã hội, là quy định chức năng, quyền hạn, nghĩa vụ, quan hệ cùng vai trò xã hội của họ mà trước hết là trong phạm vi của nhà trường với tư cách là một tổ chức xã hội. (Trần Kiểm, 2007)

Theo chúng tôi, quản lí trường học về bản chất là quản lí con người (tập thể cán bộ, giáo viên và học sinh). Do đó, có thể hiểu, quản lí trường học là những tác động tối ưu của chủ thể quản lí (lãnh đạo trường học) đến giáo viên, học sinh và các cán bộ khác nhằm tận dụng các nguồn nhân lực hướng vào đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường, thúc đẩy quá trình đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mong muốn. Xét về bản chất, quản lí con người trong nhà trường và tổ chức một cách hợp lý lao động của giáo viên và học sinh là tác động đến họ sao cho hành vi, hoạt động của họ đáp ứng được yêu cầu của việc đào tạo con người.

1.2.2.4 Quản lí nhà trường tiểu học Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

Trường tiểu học thuộc cấp học đầu tiên trong bậc học phổ thông. Nó là đơn vị cơ sở của hệ thống giáo dục đồng thời là một tổ chức xã hội trong cộng đồng vì thế ta mới nói trường tiểu học là một tổ chức sư phạm- xã hội.

Theo tác giả Trần Kiểm, tính đặc thù quản lí trường tiểu học phụ thuộc nhiều vào đặc điểm lao động sư phạm của giáo viên, đó là:

  • Lao động của giáo viên được chuyên môn hóa cao tuổi.
  • Đối tượng chủ yếu của lao động sư phạm là học sinh, phần lớn từ 6-10
  • Phương tiện lao động chủ yếu là tinh thần- là nhân cách người thầy.
  • Phân biệt giữa lao động trên lớp và lao động bên ngoài không hoàn toàn tách bạch.
  • Mặt kinh tế là hiệu suất lao động của người giáo viên, là chất lượng thực hiện mục tiêu đào tạo.

Chính vì lao động của giáo viên được chuyên môn hóa cao cho nên quản lí chuyên môn trong trường tiểu học phải tổ chức theo các tổ chuyên môn, quản lí tổ chuyên môn là hoạt động quản lí đặc thù trong trường tiểu học.

Như vậy, theo chúng tôi quản lí trường học nói chung và quản lí trường tiểu học nói riêng là tổ chức chỉ đạo, đồng thời quản lí những điều kiện cơ sở vật chất và công việc phục vụ cho dạy học nhằm đạt được mục đích giáo dục và đào tạo. Xét về bản chất, quản lí nhà trường là các cấp quản lí cần tổ chức một cách hợp lí lao động của giáo viên và học sinh, tác động đến họ sao cho hành vi, hoạt động của họ đáp ứng yêu cầu của việc giáo dục, đào tạo con người.

1.2.2.5. Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học

Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học là sự tác động của chủ thể quản lí (Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng) đến đối tượng quản lí (giáo viên) thông qua khách thể quản lí (môi trường…) để đạt được mục tiêu quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học.

Trong việc quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn Hiệu trưởng và những người quản lí các bộ phận trong nhà trường có vai trò quan trọng :

  • Người cổ vũ, xúc tác kích thích sự thay đổi
  • Người hỗ trợ suốt quá trình sự thay đổi
  • Người giải quyết các tình huống sự thay đổi
  • Người liên kết các nguồn lực cho sự thay đổi Để quản lí sự thay đổi thành công, hiệu trưởng cần:
  • Dự kiến, hoạch định và lãnh đạo những nổ lực thay đổi trong nhà trường của mình.
  • Tạo ra môi trường mà thay đổi được xem như là cơ hội chứ không phải là mối đe dọa hay chống đối lại. (Vũ Lan Hương, 2023)

1.3. Lí luận đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

1.3.1 Chức năng của tổ chuyên môn

Tổ chuyên môn là đầu mối để hiệu trưởng quản lí nhiều mặt, nhưng chủ yếu vẫn là hoạt động chuyên môn, tức là hoạt động dạy học trong trường. Theo Điều 18- Điều lệ trường tiểu học, Tổ chuyên môn bao gồm giáo viên, viên chức làm công tác thư viện, thiết bị giáo dục. Mỗi tổ có ít nhất 3 thành viên. Tổ chuyên môn có tổ trưởng, nếu có từ 7 thành viên trở lên thì có một tổ phó. Nhiệm vụ của tổ chuyên môn:

Xây dựng kế hoạch hoạt động chung của tổ theo tuần, tháng, năm học nhằm thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học và hoạt động giáo dục;

Thực hiện bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kiểm tra, đánh giá chất lượng, hiệu quả giảng dạy, giáo dục và quản lí sử dụng sách, thiết bị của các thành viên trong tổ theo kế hoạch của nhà trường;

  • Tham gia đánh giá xếp loại giáo viên theo quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học và giới thiệu tổ trưởng, tổ phó.
  • Tổ chuyên môn sinh hoạt định kì hai tuần một lần và các sinh hoạt khác khi có nhu cầu công việc.
  • Tổ chuyên môn có chức năng:
  • Giúp hiệu trưởng điều hành các hoạt động nghiệp vụ chuyên môn liên quan đến dạy và học.
  • Trực tiếp quản lí giáo viên trong tổ theo nhiệm vụ quy định.

Tổ trưởng chuyên môn phải là người có khả năng xây dựng kế hoạch; điều hành tổ chức, hoạt động của tổ theo kế hoạch giáo dục, phân phối chương trình môn học của Bộ GD&ĐT và kế hoạch năm học của nhà trường; tổ chức bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trong tổ; đánh giá xếp loại và đề xuất khen thưởng, kỷ luật giáo viên thuộc tổ mình quản lí.

Do đó tổ trưởng chuyên môn phải là người có phẩm chất đạo đức tốt; có năng lực trình độ, kinh nghiệm chuyên môn, có uy tín với đồng nghiệp, học sinh. Tổ trưởng chuyên môn phải là người có khả năng tập hợp giáo viên trong tổ, biết lắng nghe, tạo sự đoàn kết trong tổ, gương mẫu, công bằng, kiên trì, khéo léo trong giao tiếp, ứng xử.

1.3.2. Cơ sở khoa học của hoạt động nghiên cứu bài học Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

Hoạt động “Nghiên cứu bài học” (tiếng Anh là Leson study hoặc Lesson Research) theo tiếng Nhật (jugyo kenkyu) có nghĩa là nghiên cứu và cải tiến bài học cho đến khi nó hoàn hảo. (W.Cerbin &B.Kopp, 2006). Thuật ngữ “Nghiên cứu bài học” có nguồn gốc trong lịch sử giáo dục Nhật Bản, từ thời Meiji (1868- 1912), như một biện pháp để nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên. Cơ sở khoa học của hoạt động NCBH được dựa trên lí thuyết vùng “phát triển gần” của nhà tâm lí học Nga V.X.Vygotsky, lí thuyết “vòng đối ngoại” của Mikhail Bakhtin, tháp học tập của các nhà nghiên cứu giáo dục Mỹ. (Lê Thị Loan, 10/2022)

  • Nghiên cứu bài học dựa trên lí thuyết vùng phát triển gần

Việc học tập của học sinh và phát triển năng lực chuyên môn của giáo viên trong NCBH dựa trên cơ sở lí thuyết vùng phát triển của nhà tâm lí học người Nga Vygotsky. Theo lí thuyết này nội dung dạy học chỉ có ý nghĩa khi nằm trong vùng phát triển của người học. Do đó, nhiệm vụ của NCBH là xác định rõ vùng phát triển gần để lựa chọn mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học phù hợp. Mỗi lớp học thường có 3 nhóm học sinh, nhóm A là nhóm học sinh khá, giỏi, nhóm B là nhóm trung bình, còn nhóm C là nhóm yếu kém. Để dạy học hiệu quả, nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học và kiểm tra, đánh giá phải có tác động tích cực đến cả ba nhóm đối tượng. Chẳng hạn như cùng một nội dung dạy học, nhưng nhiệm vụ giao cho nhóm học sinh yếu kém ở mức độ biết, nhóm trung bình ở mức độ hiểu còn nhóm khá, giỏi ở mức độ vận dụng. Hay nói cách khác, nội dung và phương pháp dạy học phải phù hợp với đối tượng. Sự phân hóa dạy học ở đây bao gồm phân hóa theo mức độ nhận thức, phân hóa theo nội dung nhiệm vụ học tập, phân hóa theo phong cách học tập, phân hóa theo sản phẩm.

Theo thuyết Vygotsky, kết quả dạy học sẽ tốt hơn nếu nội dung dạy học không quá khó, cũng không quá dễ. Nội dung dạy học cần thiết thực, gắn bó chặt chẽ với thực tiễn cuộc sống, làm cho bài học trở nên sinh động, hấp dẫn người học. ( Vygotsky, 1978)

  • Nghiên cứu bài học dựa trên lí thuyết “Vòng đối ngoại” của Mikhail Bakhtin

Con người học qua tương tác giữa các vòng tròn đối ngoại. Theo lí thuyết của Mikhail Bakhtin, việc học đòi hỏi con người mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Người ta sống, giao tiếp và học hỏi thông qua hệ thống tương tác đan xen, tương hỗ. Theo ý nghĩa đó, quá trình dạy học nói chung và việc học nói riêng không chỉ là sự tương tác theo chiều dọc giữa giáo viên với học sinh mà còn có sự tương tác theo chiều ngang giữa học sinh với học sinh, giữa học sinh với tài liệu.

Sự tương tác qua các vòng trong đối thoại không những là công cụ vật chất mà còn là những công cụ tâm lí mạnh mẽ thúc đẩy, tạo động lực cho việc học. Dạy học có sự tham gia của người học như dạy học hợp tác theo nhóm, dạy học với các học liệu trực quan, dạy học thực hành làm tăng hiệu quả cũng như tính bền vững của việc học của học sinh. (Mikhail Bakhtin, 1992)

  • Tháp học tập Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

Các nhà nghiên cứu giáo dục của Mỹ đã đưa ra số liệu nghiên cứu như sơ đồ sau về hiệu quả của việc học. Theo đó, nếu chỉ dạy theo kiểu thuyết giảng, chỉ có trung bình 5% những điều đã thuyết giảng được ghi nhớ. Hiệu quả tối đa của cách dạy học thụ động là 30%. Nhưng nếu dạy học có sự tham gia tích cực của người học, như thảo luận nhóm hiệu quả đến 50%. Dạy học có thực hành hiệu quả đạt đến 75%. Nếu học sinh dạy cho bạn khác học, chẳng hạn như các kĩ thuật chia sẻ, kỹ thuật mảnh ghép hiệu quả đối với dạy học lên đến 90%. ( (Learning Pyramid, 2020)

1.3.3 Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học

  • Các quan niệm sai lầm về nghiên cứu bài học
  • Nghiên cứu bài học là lập kế hoạch cho một bài học

Bài học chỉ là một phần nhỏ trong nghiên cứu bài học. Nghiên cứu bài học là một quá trình liên quan đến việc xây dựng mục tiêu dài hạn cho học tập của học sinh. Giáo viên nghiên cứu các phản ứng của học sinh để có những thiết kế bài học cho phù hợp, đồng thời xây dựng các câu hỏi và các hoạt động cho học sinh nâng cao hiểu biết hiện tại của mình.

  • Nghiên cứu bài học là một kịch bản cứng nhắc

Kế hoạch nghiên cứu bài học không phải là một kịch bản cứng nhắc vì: tất cả các vấn đề hoặc các câu hỏi đều được lựa chọn rất cẩn thận để thúc đẩy học sinh tư duy. Mỗi hoạt động đó phải linh hoạt và có sự thay đổi khi cần thiết. Ngay cả với giáo viên khác nhau cùng dạy một bài học, hay cùng một giáo viên ở các lớp khác nhau, ở những trường khác nhau thì cũng phải có sự thay đổi, chỉnh sửa cho phù hợp. Do đó không có giáo án chung cho các lớp học khác nhau.

  • Nghiên cứu bài học là để đưa ra những giáo án tốt

Không có giáo án gọi là mẫu, là chuẩn trong nghiên cứu bài học. Các giáo viên cùng thảo luận để tìm ra những biện pháp nhằm nâng cao khả năng tư duy cho học sinh, mỗi giáo viên lại có những thay đổi linh hoạt trong quá trình dạy học tùy thuộc vào khả năng của mình. Giáo án mẫu đưa ra là để tất cả các thành viên cùng nhau trao đổi và có thể dùng cho các giáo viên trẻ chưa có kinh nghiệm dạy học. Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

  • NCBH được thực hiện riêng lẻ, đơn độc từng giáo viên.

Quá trình nghiên cứu bài học là một quá trình làm việc nhóm, các giáo viên cùng nhau hợp tác để phát triển bài học, sau đó một hoặc hai giáo viên sẽ tiến hành dạy học ở một lớp và các giáo viên khác cùng tham gia quan sát, nhận xét, góp ý, bổ sung… nghiên cứu bài học không phải là việc chỉ thực hiện xong một bài học mà là cải tiến và phát triển bài học liên tục, thông qua đó phát triển năng lực nghề nghiệp của giáo viên, cải thiện chất lượng học của học sinh. Như vậy về bản chất, nghiên cứu bài học tạo ra một cộng đồng bao gồm không chỉ học sinh mà còn của các giáo viên, cán bộ quản lí giáo dục và cha mẹ học sinh.

  • Sự khác biệt giữa sinh hoạt chuyên môn truyền thống và sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học (Phạm Thị Tuyết Nga, 2023)

Bảng 1.1: Bảng so sánh sự khác biệt giữa sinh hoạt chuyên môn truyền thống và sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học

  • Hình thức sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học

Sinh hoạt chuyên môn (SHCM) hiện nay thường diễn ra theo hai hình thức: Tổ chức theo các chuyên đề và dự giờ trao đổi kinh nghiệm về bài học. Ở hình thức thứ nhất, SHCM bao gồm việc triển khai học tập các văn bản chỉ đạo về chuyên môn của cấp trên, tập huấn phương pháp dạy học và thường do Ban giám hiệu (BGH) triển khai. SHCM còn trao đổi, thảo luận, học tập các nhiệm vụ cụ thể gắn với năm học và đặc điểm tình hình cũng như điều kiện thực tế của mỗi nhà trường như: nâng cao hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp, kinh nghiệm dạy học một dạng bài, kiểu bài nào đó, kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh (HS) giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém… Những nội dung này thường được giao cho các giáo viên nhiều kinh nghiệm và năng lực chuyên môn tốt xây dựng thành các báo cáo chuyên đề hay sáng kiến kinh nghiệm. Hình thức thứ hai của SHCM là dự giờ trao đổi kinh nghiệm về bài học, được các nhà trường tổ chức thường xuyên hơn. Sau dự giờ tổ chuyên môn tiến hành thảo luận, rút kinh nghiệm về bài học, được các nhà trường tổ chức thường xuyên hơn. Sau dự giờ tổ chuyên môn tiến hành thảo luận, rút kinh nghiệm và đánh giá xếp loại tay nghề giáo viên dạy.

Sinh hoạt chuyên môn theo NCBH cũng là hoạt động sinh hoạt chuyên môn nhưng ở đó giáo viên tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến người học như: Học sinh học thế nào? Học sinh đang gặp khó khăn gì trong học tập? Nội dung dạy học và phương pháp dạy học có phù hợp, có gây hứng thú cho học sinh không? Kết quả học tập của học sinh có được cải thiện không? Cần điều chỉnh gì và điều chỉnh như thế nào? Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

  • Nguyên tắc sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học

Nguyên tắc 1: Từ bỏ phương pháp truyền thụ kiến thức một chiều, áp đặt kiểu thuyết trình truyền thống. Trong những giờ học như vậy, GV thiên về giải thích các kiến thức còn HS học một cách thụ động. Cách dạy như vậy trước mắt có thể không ảnh hưởng đến kết quả thi cử, tuy nhiên về lâu dài tạo nên nhiều thói quen có hại cho cuộc sống của học sinh như không có tư duy độc lập mà theo tâm lý đám đông. Mặt khác, cách dạy này triệt tiêu sự tham gia tích cực của học sinh vào bài giảng, không khuyến khích sự hợp tác trong học tập giữa học sinh với học sinh. Cách dạy học như vậy theo một nghiên cứu của Mỹ, sau sáu tháng người học chỉ lưu giữ được 5% những gì đã được nghe giảng. Để giải quyết tình trạng này, giáo viên cần biết chấp nhận học sinh, không được rời bỏ các em học yếu, kém. Chuyển đổi phương pháp truyền thụ một chiều thành phương pháp dạy học có sự tham gia tích cực của người học. Những yếu tố sau cần được đưa vào bài học hàng ngày:

  • Các hoạt động tìm tòi, khám phá dựa trên các đồ dùng dạy học trực quan.
  • Các hoạt động của nhóm nhỏ chỉ gồm 3 đến 4 học
  • Đối thoại chia sẻ ý kiến giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh.

Bằng việc học qua giao tiếp, học sinh không những chiếm lĩnh được kiến thức khoa học mà còn xây dựng mối quan hệ bình đẳng, hợp tác và phát triển kỹ năng sống.

Nguyên tắc 2: Sử dụng thiết bị dạy học thực tế. Bài học là của học sinh, bài học cần được gắn liền với thực tiễn cuộc sống của các em. Chống lại các giờ học lí thuyết suông, thiếu thực tiễn, thực hành.

Nguyên tắc 3: Hoạt động nhóm nhỏ hiệu quả, chống lại các hiện tượng ỷ lại, hiện tượng tách nhóm (bị bỏ rơi từ nhóm trung bình xuống nhóm yếu, kém) Trong thực tiễn dạy học hiện nay có những trường hợp tổ chức nhóm thảo luận không hiệu quả. Giáo viên chỉ đối thoại với nhóm trưởng và thư ký, các thành viên khác của nhóm bị bỏ rơi, lâu dần sẽ bị rỗng kiến thức và lọt xuống nhóm học sinh yếu, kém. Do đó cần sử dụng các kỹ thuật dạy học nhóm tích cực như khăn phủ bàn, các mảnh ghép, công não …

Nguyên tắc 4: Giao nhiệm vụ học tập vừa sức, không quá dễ, nhưng không quá khó. Giao nhiệm vụ đơn giản, dễ dàng cho HS dẫn đến các em ở nhóm khá, giỏi không phát triển được năng lực ở mức cao hơn. Do vậy trong thực tiễn dạy học cần giao nhiệm vụ cao hơn, có tính thách thức hơn cho các học sinh nhóm khá, giỏi.

Mặt khác, cũng có những nhiệm vụ riêng có tính phân hóa đối với các HS ở nhóm yếu, kém. Những nhiệm vụ học tập này không quá khó, nằm trong khả năng vươn tới của HS yếu, kém. Những HS ở mức trung bình cũng cần những nhiệm vụ học tập riêng, đòi hỏi phải nỗ lực để chiếm lĩnh. Nếu không thực hiện đầy đủ nguyên tắc này thì dẫn đến hiệu quả bài học không cao.

Nguyên tắc 5: Chia sẻ ý kiến, ý tưởng để xây dựng mối quan hệ GV-HS, HS- HS.

1.3.4. Triết lí sinh hoạt chuyên môn Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học có triết lí nhằm nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên, tạo cơ hội và điều kiện học tập cho tất cả các học sinh. Qua sinh hoạt chuyên môn theo NCBH nhằm phát triển nhà trường một cách bền vững.

  • Đảm bảo cơ hội học tập cho mọi học sinh

Đảm bảo cơ hội học tập thực sự có ý nghĩa cho tất cả học sinh có nghĩa là: Học sinh đã học chưa? Học sinh học như thế nào? Tại sao các em học như vậy? Việc học đó có ý nghĩa không? Việc học thực sự của học sinh thể hiện trên đối tượng học sinh được phân loại: khá, giỏi hay trung bình hay yếu, học sinh khá giỏi học như thế nào? Học sinh trung bình học như thế nào? (Học sinh giỏi không có nghĩa là giáo viên cho học sinh làm thêm nhiều bài hoặc làm bài khó mà giáo viên huấn luyện để học sinh giỏi có thể giúp bạn học, biết dạy cho bạn khác học…) để tất cả các học sinh đều vui vẻ học.

  • Đảm bảo cơ hội phát triển chuyên môn cho mọi giáo viên

Phát triển chuyên môn cho mọi giáo viên nghĩa là giáo viên học các năng lực mới như: Quan sát tinh tế, nhanh nhạy việc học của học sinh và linh hoạt điều chỉnh dạy học cho phù hợp với từng đối tượng và diễn biến của tiết học. Đồng thời biết thiết kế lại kế hoạch bài học và giáo viên biết cách tự học với tư cách của chuyên gia.

Qua quá trình thực hiện SHCM theo hướng đổi mới đã giúp cho giáo viên tăng thêm tình đoàn kết, thân thiện, tăng cường khả năng quan sát, biết cách phân tích tiết học một cách sát thực, chính xác. Đồng thời giúp giáo viên tích lũy thêm nhiều bài học trong quá trình tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh. Đặc biệt, học sinh được chú ý nhiều hơn về phát triển năng lực và phẩm chất.

  • Đảm bảo cơ hội phụ huynh tham gia vào quá trình học tập của học sinh

Quá trình thực hiện SHCM theo hướng đổi mới đã giúp cho ban đại diện phụ huynh học sinh của trường, ngoài mặt đóng góp tài chính cho nhà trường, mà còn đóng góp các ý kiến vào quá trình học tập cũng như phát triển các nội dung SHCM. Vì vậy, nhiệm vụ của ban giám hiệu nhà trường, tổ chuyên môn tăng cường thông tin về tình hình học tập của học sinh từ đó giúp cho phụ huynh nêu lên những ý kiến thiết thực đóng góp vào quá trình SHCM.

1.3.5. Nội dung đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học

Mục tiêu đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học

  • Nâng cao năng lực quản lí và năng lực chuyên môn cho GV và CBQL;
  • Giúp cho CBQL, GV biết chủ động lựa chọn nội dung để xây dựng các chuyên đề dạy học trong mỗi môn học và các chuyên đề tích hợp, liên môn phù hợp với việc tổ chức hoạt động học tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh;
  • Đổi mới nhận thức về mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng dạy học tích cực, hướng vào hoạt động học của học sinh. Đảm bảo cơ hội học tập, góp phần phát triển năng lực cho mọi học sinh; Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.
  • Bồi dưỡng giúp giáo viên nắm vững quan điểm, phương pháp, kĩ thuật dạy học, chủ động điều chỉnh nội dung SGK, tài liệu hướng dẫn học tập/hướng dẫn hoạt động giáo dục phù hợp với đối tượng học sinh, vùng miền và quá trình tổ chức hoạt động học tập;
  • Xây dựng và phát triển quan hệ đồng nghiệp thân thiện, tôn trọng theo hướng hợp tác, hỗ trợ và dân chủ; đảm bảo cơ hội phát triển chuyên môn cho mọi giáo viên;
  • Phát triển quan hệ giữa nhà trường với gia đình và cộng đồng. Tạo điều kiện cho gia đình và cộng đồng tham gia vào quá trình học tập của học sinh trong nhà trường.

Nội dung đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học

  • Thảo luận việc xây dựng các chuyên đề dạy học (căn cứ vào chương trình, SGK hiện hành, lựa chọn nội dung để xây dựng các chuyên đề dạy học phù hợp với việc sử dụng PPDH tích cực trong điều kiện thực tế của nhà trường).
  • Xây dựng kế hoạch và chuẩn bị bài dạy; tổ chức dạy học và dự giờ; phân tích thảo luận và đánh giá bài dạy minh họa của giáo viên theo hướng phân tích hoạt động học tập của học sinh; cùng suy ngẫm và vận dụng để hướng dẫn hoạt động học tập của học sinh.
  • Xây dựng kế hoạch kiểm tra đánh giá quá trình và kết quả học tập của học sinh; thảo luận và biên soạn các phiếu đánh giá, hồ sơ kiểm tra đánh giá học sinh; xây dựng các ma trận đề kiểm tra, đề kiểm tra; mô tả các câu hỏi và bài tập theo 4 mức độ nhận thức: nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng cao theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
  • Thảo luận trao đổi về
  • Tổ chức tham quan và tìm hiểu thực tế dạy học ở các trường trên phạm vi huyện, tỉnh, cả nước.
  • Tổ chức các buổi sinh hoạt tập thể về các chủ đề liên quan tới chuyên môn nghiệp vụ.

Phương pháp đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học

    • Bước 1: Công tác chuẩn bị (dự kiến nội dung công việc, tiến trình hoạt động, phương tiện cần cho hoạt động, giao cho ai làm, thời gian hoàn thành là bao lâu, trao đổi, kết nối thông tin như thế nào, tổ trưởng/nhóm trưởng làm gì)
    • Bước 2: Điều hành buổi sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
  • Lựa chọn thời gian và tiến hành đúng thời gian đã chọn;
  • Tổ trưởng nêu mục tiêu buổi sinh hoạt, công bố chương trình, cách triển khai, định hướng thảo luận rõ ràng; nêu rõ nguyên tắc làm việc.
  • Các thành viên được phân công viết các chủ đề báo cáo nội dung.
  • TTCM tổ chức cho các thành viên thảo luận (TTCM phải biết khêu gợi các ý kiến phát biểu, biết chẻ nhỏ các vấn đề thảo luận, biết lắng nghe, tôn trọng các ý kiến phát biểu).
  • Bước 3: Kết thúc buổi sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học

Kết thúc buổi sinh hoạt chuyên môn theo chủ để phải đưa ra được các kết luận cần thiết, phương hướng triển khai vận dụng kết quả của chủ đề trong thực tế giảng dạy. Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

Đối với các trường quy mô nhỏ, giáo viên mỗi bộ môn ít nên đẩy mạnh hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học với quy mô cụm trường để trao đổi học thuật, nâng cao năng lực chuyên môn theo yêu cầu.

  • Hình thức tổ chức đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học

Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học có thể thực hiện theo các hình thức khác nhau như: sinh hoạt theo môn học, theo nhóm môn học, sinh hoạt trong nhà trường…

  • Kiểm tra – đánh giá đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học

Đối với giáo viên và nhà trường, đánh giá nhằm kiểm soát các hoạt động ngay trong quá trình dạy và học, sau đó ra quyết định điều chỉnh, cải tiến dạy học là cơ chế đảm bảo cho việc phát triển chất lượng dạy học. Đối với học sinh, thông tin kiểm tra đánh giá nhận được (điểm số, nhận xét) từ giáo viên và tự đánh giá của bản thân giúp người học kiểm soát, điều chỉnh việc học của mình.

  • Giáo dục và phát triển người học.

Quá trình đánh giá kết quả học tập được thực hiện một cách hiệu quả có tác dụng phát triển động cơ học tập (lòng mong muốn học tập cho sự phát triển của bản thân) cho học sinh. Muốn như vậy, hoạt động kiểm tra phải được thực hiện thường xuyên và thông tin làm căn cứ cho đánh giá phải đa dạng, cụ thể và khách quan.

Đánh giá góp phần phát triển toàn diện để chuẩn bị cho người học vào đời. Đánh giá học sinh ở tiểu học cần nhận thức sâu sắc về quan điểm giáo dục toàn diện. Muốn cho việc đánh giá có thể góp phần phát triển toàn diện cho người học, những điều dưới đây cần được thực hiện một cách hệ thống và nhất quán:

Đánh giá phải xác định được khối lượng học tập hợp lí cho học sinh để không đẩy các em vào thế học thuộc lòng, hay học đối phó, học chỉ để có điểm, chỉ để biết chứ không để hiểu và áp dụng.

Kết quả học tập cần được đánh giá một cách hiệu quả, đáng tin cậy để có tác dụng hướng dẫn và khuyến khích các phương pháp học tập tích cực, ủng hộ các thói quen học tập có giá trị.

Phương pháp, công cụ kiểm tra cần đa dạng (trắc nghiệm, tự luận, học nhóm, trò chơi, bài tập giải quyết vấn đề, làm đề án..) để kích thích người học tự bổ sung, phát triển những kiến thức, kĩ năng cần thiết cho cuộc sống cũng như nghề nghiệp về sau. Ngoài các kĩ năng học tập, đánh giá cũng cần góp phần phát triển cho người học những kĩ năng và phẩm chất xã hội như kĩ năng giao tiếp, làm việc hợp tác, ý thức cộng đồng, lòng tự trọng Đây là những nhân tố quan trọng đối với con người trong xã hội hiện nay, giúp cho học sinh biết cách sống, cách làm việc với những người xung quanh.

1.4. Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường tiểu học Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

1.4.1 Quản lí lập kế hoạch đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở các trường tiểu học

Lập kế hoạch đổi mới SHCM theo hướng NCBH ở các trường tiểu học là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Hiệu trưởng nhằm để chủ động ứng phó với sự bất định và sự thay đổi của môi trường giáo dục. Việc quản lí việc xây dựng kế hoạch, chương trình giúp cho Hiệu trưởng có cái nhìn tổng thể, toàn diện, qua đó thấy được hoạt động tương tác giữa các bộ phận, nhìn thấy tương lai, điều chỉnh những quyết định để hướng đến mục tiêu. Việc lập kế hoạch còn cho phép Hiệu trưởng lựa chọn những phương án tối ưu, xây dựng nguồn lực tạo hiệu quả cho toàn bộ hoạt động của tổ chức. Việc xây dựng kế hoạch có xác định mục tiêu để đo lường, nên tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra. Chính vì tầm quan trọng đó của việc xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động mà Hiệu trưởng cần quan tâm hàng đầu cho công tác này. Nội dung quản lí việc xây dựng kế hoạch đổi mới SHCM theo hướng NCBH ở các trường tiểu học bao gồm:

  • Ban giám hiệu (BGH) xây dựng kế hoạch, chương trình quản lí đổi mới SHCM theo hướng NCBH.
  • Chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch, chương trình công tác đổi mới SHCM theo hướng NCBH của các bộ phận và cá nhân theo thời gian (tuần, tháng, năm).
  • Chỉ đạo xây dựng chương trình đổi mới SHCM theo hướng NCBH theo khối lớp cho từng năm học.
  • Duyệt kế hoạch, chương trình đổi mới SHCM theo hướng NCBH theo định kỳ thời gian.
  • Chỉ đạo, điều hành quản lí, giám sát việc thực hiện kế hoạch, chương trình đổi mới SHCM theo hướng NCBH.
  • Đề ra các biện pháp xử lý việc thực hiện không đúng kế hoạch, chương trình đổi mới SHCM theo hướng NCBH.

Trong quản lí xây dựng kế hoạch, chương trình đổi mới SHCM theo hướng NCBH ở trường tiểu học, chủ thể quản lí cần phải nhận thức đúng đắn tầm quan trọng, mục tiêu của công tác đổi mới SHCM theo hướng NCBH. Trên cơ sở đó để chủ động chỉ đạo xây dựng kế hoạch, chương trình công tác đổi mới SHCM theo hướng NCBH đảm bảo tính khoa học, kế thừa, toàn diện, cụ thể và có trọng tâm theo từng thời điểm. Bên cạnh đó, phải kịp thời thu nhận các thông tin cần thiết để dự báo xu thế phát triển, phân tích các điều kiện và khả năng thực hiện như CSVC, tài chính, quỹ thời gian, khả năng và công tác phối hợp để đảm bảo được tính khả thi, phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường và tính hài hòa giữa yêu cầu mục tiêu và năng lực của GV và HS.

1.4.2. Quản lí tổ chức quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

Để cho các quyết định đề ra trong kế hoạch trở thành hiện thực, yếu tố quyết định là dựa vào việc tổ chức thực hiện. Nhiệm vụ chủ yếu của Hiệu trưởng trong quản lí việc tổ chức thực hiện công tác đổi mới SHCM theo hướng NCBH ở trường tiểu học bao gồm:

Hướng dẫn qui trình tổ chức công đổi mới SHCM theo hướng NCBH ở các trường tiểu học.

Thống nhất mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp thực hiện công tác đổi mới SHCM theo hướng NCBH ở các trường tiểu học.

Tổ chức thực hiện các hoạt động đổi mới SHCM theo hướng NCBH ở các trường tiểu học theo kế hoạch: Tuyển chọn nội dung, chương trình; lựa chọn, phân công GV có khả năng tham gia đổi mới SHCM theo hướng NCBH ở các trường tiểu học; quản lí việc thực hiện đổi mới SHCM theo hướng NCBH; quản lí việc chuẩn bị bài trên lớp, quản lí giờ lên lớp của GV tham gia chương trình SHCM theo hướng NCBH.

  • Quản lí hoạt động dạy của đội ngũ GV.
  • Quản lí hoạt động học của HS.
  • Theo dõi, kiểm tra, điều chỉnh công tác đổi mới SHCM theo hướng NCBH của GV.
  • Quản lí hoạt động tổ chức các chuyên đề, hội thảo khoa học và trao đổi kinh nghiệm, phương pháp nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ GV.

Tổng kết việc thực hiện kế hoạch, đánh giá chất lượng và hiệu quả của việc thực hiện kế hoạch, phát hiện những khả năng, tiềm tàng chưa sử dụng, tìm hiểu nguyên nhân của thành công và hạn chế, rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết.

1.4.3. Quản lí lãnh đạo đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học

Xây dựng kế hoạch hướng dẫn thực hiện chủ trương đổi mới SHCM theo hướng NCBH, tích cực đôn đốc và tạo điều kiện cho giáo viên thực hiện đổi mới SHCM theo hướng NCBH nhằm mục đích phát triển năng lực học sinh; định hướng cho giáo viên phương pháp thực hiện đúng theo hướng dẫn của Phòng GD.

Quyết liệt triển khai các biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy mang tính sáng tạo và đột phá, phù hợp với đặc điểm tình hình của nhà trường. Tổ chức đánh giá chuẩn hiệu trưởng và chuẩn giáo viên vào cuối năm học.

Xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học và hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học phù hợp với đơn vị. Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của giáo viên theo kế hoạch.

Tạo điều kiện tốt nhất để giáo viên thực hiện thành công việc đổi mới SHCM theo hướng NCBH trong năm học. Thường xuyên động viên, khuyến khích phát huy năng lực công tác của GV bằng vật chất lẫn tinh thần; kiên quyết xử lí các sai phạm trong công tác. Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

1.4.4. Quản lí kiểm tra, đánh giá đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học

Kiểm tra là một chức năng cơ bản và quan trọng của quản lí. Quản lí mà không kiểm tra thì không đảm bảo hiệu quả của công tác quản lí. Kiểm tra trong quản lí là một nỗ lực có hệ thống nhằm thực hiện ba chức năng: phát hiện, điều chỉnh và khuyến khích. Quản lí việc kiểm tra, đánh giá hoạt động đổi mới SHCM theo hướng NCBH có các hình thức sau:

  • Kiểm tra, đánh giá hoạt động đổi mới SHCM theo hướng NCBH thường xuyên và định kỳ.
  • Thông qua kiểm tra, đánh giá hoạt động đổi mới SHCM theo hướng NCBH điều chỉnh kế hoạch tổng thể.

Các phương pháp kiểm tra, đánh giá: Phương pháp quan sát; nghiên cứu sản phẩm (hình thức, nội dung); thống kê, phân tích kết quả; phương pháp phỏng vấn. Quản lí việc kiểm tra, đánh giá công tác hoạt động đổi mới SHCM theo hướng NCBH nhằm để kịp thời phát hiện những ưu điểm và hạn chế, những nhân tố tích cực và những nhân tố gây trở ngại trong quá trình thực hiện kế hoạch từ đó có chỉ đạo điều chỉnh, bổ sung. Đồng thời phát huy khích lệ những nhân tố tích cực, xử lí khắc phục các mặt hạn chế của các nhân tố gây trở ngại trong quá trình thực hiện.

1.4.5. Quản lí các điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học

Quản lí điều kiện CSVC, phương tiện phục vụ cho công tác SHCM là quản lí trường lớp, thư viện, thiết bị dạy học…Đây là các yếu tố cấu thành nên CSVC của một nhà trường, phục vụ thiết thực cho việc tuyên truyền, phổ biến khoa học, kỹ thuật, góp phần nâng cao năng lực giảng dạy và năng lực tự học của HS; mở rộng tầm hiểu biết của GV và HS theo kịp với tốc độ phát triển thông tin của xã hội hiện đại.

Quản lí các hình thức hỗ trợ cho công tác đổi mới SHCM theo hướng NCBH là việc huy động nguồn kinh phí dành cho công tác đổi mới SHCM theo hướng NCBH; cách thức bố trí thời gian hợp lý cho công tác đổi mới SHCM theo hướng NCBH và các yếu tố khác ngoài chuyên môn.

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học

1.5.1. Yếu tố chủ quan

  • Phẩm chất, năng lực cán bộ quản lí: Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

Phẩm chất và năng lực quản lí của CBQL trường tiểu học có ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học ở trường tiểu học. CBQL muốn quản lí tốt hoạt động sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học, trước hết phải là người có phẩm chất chính trị vững vàng, có đạo đức, tác phong mẫu mực, đi đầu trong mọi lĩnh vực hoạt động của nhà trường, phải quản lí thuyết phục đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường bằng chính năng lực của mình, phải nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, chỉ đạo đúng hướng, đúng mục tiêu cấp học. Bên cạnh đó ý thức trách nhiệm và năng lực quản lí của CBQL để hoạt động SHCM theo hướng NCBH được thật sự quan tâm, giúp đỡ tạo mọi điều kiện của BGH nhà trường, Ban ĐDCMHS. Giáo viên trong tổ đều được tham gia các lớp tập huấn do trường và ngành tổ chức, trên thực tế đã có vài năm thực hiện sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học nên đã quen dần và có kinh nghiệm hơn. Đồng thời, CBQL nhà trường phải là người có trình độ nghiệp vụ quản lí cao, có năng lực quản lí sâu đồng thời không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ quản lí của bản thân. Không những có hiểu biết sâu và sát về nội dung quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học mà còn có uy tín, lòng tin của giáo viên và cha mẹ học sinh.

  • Trình độ chuyên môn của GV:

Chú trọng nâng cao năng lực giáo viên tạo điều kiên cho đội ngũ giáo viên trong tổ đoàn kết, nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm cao, chuyên môn vững, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, có ý thức tập thể, phấn đấu vì lợi ích chung. Vì giáo viên là yếu tố quan trọng nhất cho chất lượng giảng dạy học, có vai trò là người hướng dẫn, dẫn dắt người học tiếp cận các tri thức. Do đó giáo viên phải trang bị chuẩn về chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn và kiến thức thực tiễn, kỹ năng sư phạm. Kiến thức chuyên môn vững kết hợp với kỹ năng sư phạm giúp giáo viên chủ động trong quá trình truyền tải và nắm bắt thông tin từ người học từ đó có sự điều chỉnh hợp lí việc phối hợp các phương pháp giảng dạy.

  • Ý thức học tập, tính tích cực của học sinh:

Dạy học là quá trình tác động giữa người dạy- người học và tác động trực tiếp đến chất lượng học tập của học sinh. Quan trọng hơn, sinh hoạt chuyên môn theo NCBH nhằm giúp giáo viên nắm được kiến thức mà học sinh đã tiếp thu được qua tiết dạy, từ đó đưa ra phương pháp dạy phù hợp với từng đối tượng, học sinh mạnh dạn hơn khi hoạt động nhóm trong quá trình học tập. Tỷ lệ chuyên cần của học sinh ngày càng được nâng cao, các em bước đầu đã có ý thức học và tự học.

1.5.2. Yếu tố khách quan

  • Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học: Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học là một điều kiện rất quan trọng để đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Phương tiện kỹ thuật và thiết bị dạy học giúp cho giáo viên tổ chức các buổi thao giảng dự giờ hiệu quả hơn, giúp phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh và hơn nữa phương tiện kỹ thuật và thiết bị dạy học góp phần trong việc đổi mới phương pháp giáo dục dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh.

  • Môi trường kinh tế – xã hội địa phương:

Thực tế không gian lớp học còn chật chội, ảnh hưởng tới việc tổ chức các hoạt động nhóm trong quá trình học. Các em chưa quen với việc dự giờ theo kiểu mới nên còn bỡ ngỡ, rụt rè ít nhiều ảnh hưởng đến giờ học. Trình độ nhận thức của học sinh còn thấp và chưa đồng đều giữa các học sinh, nhiều học sinh còn nhát và trầm, gây khó khăn cho giáo viên trong việc tổ chức các hoạt động. Đặc biệt học sinh tiểu học chịu ảnh hưởng rất lớn từ môi trường sống và học tập. Hoạt động dạy học và chất lượng dạy học của nhà trường chịu ảnh hưởng không nhỏ bởi môi trường địa phương, trong đó có ảnh hưởng của điều kiện kinh tế – văn hóa – xã hội. Kinh tế – văn hóa xã hội của địa phương ảnh hưởng rất nhiều đến giáo dục và hoạt động dạy học của nhà trường. vì vậy, các điều kiện văn hoá, kinh tế – xã hội có ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng dạy và học ở nhà trường. CBQL nhà trường cần quan tâm đến các vấn đề như chủ trương, đường lối, các chính sách địa phương, phải khai thác được thế mạnh, hạn chế những khó khăn của địa phương nhằm tranh thủ sự ủng hộ của chính quyền địa phương, sự tham gia giáo dục học sinh của các tổ chức đoàn thể và nhân dân địa phương, phối hợp tích cực có hiệu quả công tác giáo dục giữa gia đình và nhà trường.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

Qua quá trình nghiên cứu lí luận và lịch sử của đề tài, luận văn đã đề cập đến công tác quản lí hoạt động SHCM theo hướng NCBH nói chung, công tác quản lí hoạt động SHCM theo hướng NCBH ở trường tiểu học nói riêng ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam, đồng thời đã nêu được mục đích của công tác quản lí hoạt động SHCM theo hướng NCBH ở trường tiểu học. Chúng tôi cũng đã cố gắng làm sáng tỏ một số khái niệm cơ bản về hoạt động sinh hoạt chuyên môn. Chúng tôi đã hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề cơ bản về quản lí và biện pháp quản lí. Ở phần này, khái niệm về quản lí nhà trường, các biện pháp quản lí, đặc biệt là biện pháp quản lí công tác quản lí hoạt động SHCM theo hướng NCBH ở trường tiểu học đã được đề cập một cách có hệ thống.

Đổi mới SHCM theo NCBH yêu cầu chủ thể quản lí cần phải nhận thức đúng đắn tầm quan trọng, mục tiêu của công tác đổi mới SHCM theo hướng NCBH. Trên cơ sở đó để chủ động chỉ đạo xây dựng kế hoạch, chương trình công tác đổi mới SHCM theo hướng NCBH đảm bảo tính khoa học, kế thừa, toàn diện, cụ thể và có trọng tâm theo từng thời điểm. Bên cạnh đó, phải kịp thời thu nhận các thông tin cần thiết để dự báo xu thế phát triển, phân tích các điều kiện và khả năng thực hiện như CSVC, tài chính, quỹ thời gian, khả năng và công tác phối hợp để đảm bảo được tính khả thi, phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường và tính hài hòa giữa yêu cầu mục tiêu và năng lực của GV và HS.

Nội dung quản lí đổi mới SHCM theo NCBH gồm: Quản lí lập kế hoạch đổi mới SHCM; Quản lí tổ chức đổi mới SHCM; Quản lí lãnh đạo đổi mới SHCM; Quản lí kiểm tra, đánh giá đổi mới SHCM; Quản lí cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc đổi mới SHCM theo NCBH và những yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới SHCM theo hướng NCBH. Những vấn đề trên là cơ sở lí luận để tiếp tục nghiên cứu, đề ra các biện pháp quản lí đổi mới SHCM theo NCBH ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng QL đổi mới sinh hoạt ở trường tiểu học

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Quản lí đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở trường tiểu học […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993