Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh tại các trường tiểu học Khu vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT
Theo khoản 1 – Điều 89 – Chương VI Luật GD 2019 nêu rõ “Nhà trường có trách nhiệm thực hiện kế hoạch phổ cập GD, quy tắc ứng xử; chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để tổ chức hoặc tham gia các hoạt động GD theo kế hoạch của nhà trường, bảo đảm an toàn cho người dạy và người học; thông báo về kết quả học tập, rèn luyện của HS cho cha mẹ hoặc người giám hộ.” (Luật GD, 2019) Trong chương trình GD phổ thông cấp tiểu học ban hành theo Quyết định số 16/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộ trưởng Bộ GDĐT (Bộ GD và đào tạo, 2006). GDGT được đưa vào trong nội dung giảng dạy của chương trình môn Khoa học lớp 5. Theo Chương trình GD phổ thông năm 2018 ban hành theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018, nội dung GDGT được đưa vào Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội từ lớp 1, lớp 2, lớp 3 và Chương trình môn Khoa học lớp 4, lớp 5. Các nội dung liên quan đến GDGT như phòng tránh xâm hại,… cũng được đưa vào nội dung của một số môn học khác như Đạo đức, Hoạt động trải nghiệm từ lớp 1. (Bộ GD và đào tạo, 2022)
Đề tài “Quản lý hoạt động GD giới tính cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh” tập trung hệ thống hoá cơ sở lý luận về hoạt động GDGT cho HS tại trường tiểu học cũng như phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3 thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết (phân tích, tổng hợp và phân loại, hệ thống lý thuyết), nghiên cứu thực tiễn (điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu, nghiên cứu tài liệu, sản phẩm hoạt động) và phương pháp xử lý dữ liệu để làm sáng tỏ thực trạng hoạt động GDGT như: ý nghĩa của hoạt động GDGT cho HS, mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức, đánh giá kết quả hoạt động GDGT cho HS. Người nghiên cứu đã phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học theo các chức năng quản lý cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
Tại các trường tiểu học Khu Vực 3, trong thời gian qua hoạt động GDGT cho HS đã được triển khai, áp dụng và đạt những kết quả nhất định. Nhưng vẫn còn một bộ phận CBQL, GV và CMHS chưa nhận thức đầy đủ về hoạt động GDGT trong thực hiện mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức GDGT mới chỉ đạt ở mức từ trung bình đến khá.
Luận văn đã phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh qua việc thực hiện các chức năng quản lý: Xây dựng kế hoạch động GDGT cho HS trong trườngt tiểu học; Tổ chức thực hiện động GDGT cho HS trong trường tiểu học; Chỉ đạo thực hiện động GDGT cho HS trong trường tiểu học; Kiểm tra, đánh giá thực hiện hoạt động GDGT cho HS trong trường tiểu học. Kết quả nghiên cứu cho thấy, quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh còn một số hạn chế như: Chưa có kế hoạch riêng về hoạt động GDGT, việc lập kế hoạch chưa thật sự được quan tâm đúng mức; Tổ chức thực hiện hoạt động GDGT chưa đồng bộ, thường xuyên, nhiều nội dung lạc hậu không phong phú, không mang tính thời sự; Chỉ đạo hoạt động GDGT cho HS còn hạn chế trong thực hiện hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình và các tổ chức xã hội. Điều kiện cơ sở vật chất để thực hiện hoạt động GDGT còn hạn chế, chưa được quan tâm đầu tư; Công tác kiểm tra, đnáh giá hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học chưa thường xuyên và hiệu quả.
Từ kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, tác giả đã đề xuất 5 biện pháp quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể là: Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên và cha mẹ HS về hoạt động GDGT và quản lý hoạt động GDGT Lập kế hoạch GDGT cụ thể, khả thi trên cơ sở phát huy vai trò của tổ chuyên môn và giáo viên; Tổ chức bồi dưỡng năng lực GDGT cho giáo viên, tạo điều kiện cho đội ngũ giáo viên tích cực tham gia thực hiện hoạt động GDGT; Chỉ đạo lựa chọn nội dung, đổi mới phương pháp, hình thức GDGT cho HS; Tăng cường công tác kiểm tra đánh giá hoạt động GDGT cho HS. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
Các biện pháp trên được CBQL khẳng định tính cần thiết và tính khả thi cao. Chúng có mối quan hệ biện chứng, tác động, hỗ trợ nhau và không tách rời nhau trong quá trình thực hiện quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, tuỳ vào điều kiện và tình hình thực tế của các trường, Hiệu trưởng có thể lựa chọn và áp dụng các biện pháp đề xuất trên một cách thích hợp và phù hợp trong thực tiễn quản lý tại mỗi trường.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục giới tính (GDGT) ở trẻ em luôn được xem là một trong những vấn đề nổi bật và được sự quan tâm từ phía xã hội. Bên cạnh trách nhiệm của nhà trường, gia đình cũng là nền tảng vững chắc để giúp cho con hiểu những nội dung nhạy cảm về giới tính và ngay từ khi còn nhỏ. GDGT là vấn đề được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm. Nội dung này đã là một phần của chương trình toàn diện bắt buộc trong trường học ở nhiều quốc gia như Thụy Điển từ năm 1955, ở Pháp từ năm 1973…(Nguyễn Minh Giang, 2016)
Tại Việt Nam, GDGT đang được xã hội đặc biệt quan tâm, do tỉ lệ trẻ em bị bắt cóc và xâm hại ngày càng tăng cao. Trước tình hình này, vấn đề GDGT trở nên cấp thiết và quan trọng hơn bao giờ hết. Với đà phát triển tâm sinh lý của trẻ em, tuổi dậy thì của trẻ ở các thành phố lớn đang bắt đầu rất sớm, từ 8-12 tuổi và thuộc giai đoạn HS tiểu học. Giai đoạn này, trẻ rất cần được trang bị những kiến thức về giới tính. Đòi hỏi cần cung cấp cho trẻ những vốn kiến thức liên quan đến GT. Có kiến thức về GT sẽ giúp trẻ có thái độ tôn trọng, yêu quý bản thân, có quyền và trách nhiệm bảo vệ sự an toàn của bản thân, giúp trẻ có sự nhận thức và biết trân trọng những giá trị về bản thân, tình bạn.Vì vậy, nhà trường tiểu học cần hết sức quan tâm đến GDGT cho HS (HS). (Nguyễn Thanh Bình và nnk., 2005)
Theo khoản 1 – Điều 89 – Chương VI Luật GD 2019 còn nêu rõ “Nhà trường có trách nhiệm thực hiện kế hoạch phổ cập GD, quy tắc ứng xử; chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để tổ chức hoặc tham gia các hoạt động GD theo kế hoạch của nhà trường, bảo đảm an toàn cho người dạy và người học; thông báo về kết quả học tập, rèn luyện của HS cho cha mẹ hoặc người giám hộ.” (Luật GD, 2019) Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
Trong chương trình GD phổ thông cấp tiểu học ban hành theo Quyết định số 16/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộ trưởng Bộ GDĐT (Bộ GD và đào tạo, 2006). GDGT được đưa vào trong nội dung giảng dạy của chương trình môn Khoa học lớp 5.
Theo Chương trình GD phổ thông năm 2018 ban hành theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018, nội dung GDGT được đưa vào Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội từ lớp 1, lớp 2, lớp 3 và Chương trình môn Khoa học lớp 4, lớp 5. Các nội dung liên quan đến GDGT như phòng tránh xâm hại,… cũng được đưa vào nội dung của một số môn học khác như Đạo đức, Hoạt động trải nghiệm từ lớp 1. (Bộ GD và đào tạo, 2022)
Như vậy, nội dung về GDGT đã được đưa vào chương trình các môn học chính thức, bắt buộc trong các lớp ở bậc tiểu học, các nội dung đưa vào bảo đảm phù hợp với phát triển tâm lý lứa tuổi của HS. Để GDGT đạt kết quả tốt cần sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội, đặc biệt sự quan tâm tổ chức, chỉ đạo của hiệu trưởng nhà trường đối với hoạt động GDGT cho HS. Tăng cường GDGT cho HSTH là cần thiết, không còn tranh cãi song trên thực tế hiện nay HSTH còn ít hiểu biết về giới tính và ít kiến thức cũng như các kỹ năng bảo vệ chính mình.
Vấn đề đặt ra là, nội dung GDGT cho HS với các phương pháp và hình thức giáo dục (GD) như thế nào để đạt kết quả thiết thực, công tác quản lý hoạt động GDGT cho HS cần triển khai sao cho đồng bộ và hiệu quả. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về hoạt động GDGT và quản lý hoạt động GDGT song vẫn cần có những nghiên cứu trên các địa bàn khác nhau, nhất là tại các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh.
Tại các trường tiểu học khu vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, thời gian qua đã triển khai thực hiện hoạt động GDGT, cán bộ quản lý đã có sự quan quan tâm tổ chức chỉ đạo hoạt động này. Tuy nhiên, hoạt động GDGT còn hạn chế về chất lượng và hiệu quả. Bởi lẽ, GDGT chưa được phổ biến rộng rãi, đồng đều trên toàn khu vực. Đa phần những trường ở trung tâm thành phố có điều kiện thực hiện tốt hơn các trường ở khu vực xa thành phố. Những trường xa thành phố hầu như nhận thức về GDGT còn khá mới mẻ, nội dung cũng không được chú trọng nhiều, hình thức tổ chức thì đơn giản thiếu sáng tạo, cơ sở vật chất cũng gặp nhiều bất cập. Có thể có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên như: việc chú trọng về nội dung giảng dạy kiến thức phổ thông chiếm khung thời gian hơn so với GDGT, nội dung GDGT cũng còn hạn hẹp mang tính khuôn mẫu, đội ngũ giáo viên (GV) chưa được bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn về GDGT. Ngoài ra, công tác lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra hoạt động GDGT chưa đạt hiệu quả như mong đợi. Trong bối cảnh đổi mới GD, phát triển toàn diện năng lực, phẩm chất cho người học đòi hỏi người GV và cán bộ quản lý (CBQL) phải chú trọng về hoạt động GDGT cho HS tiểu học, đảm bảo cho các em phát triển về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, đáp ứng với yêu cầu thực tiễn.
Vì nhiều lý do trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh” làm để tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục.
2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng quản lý hoạt động GDGT của Hiệu trưởng các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, từ đó rút ra nguyên nhân và đề xuất biện pháp quản lý với mức độ cần thiết và tính khả thi cao nhằm nâng cao chất lượng hoạt động GDGT trong trường tiểu học Khu vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu:
- Hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học.
3.2. Đối tượng nghiên cứu:
- Quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
4. Phạm vi nghiên cứu
4.1. Về nội dung:
Đề tài đi sâu nghiên cứu quản lý hoạt động GDGT trong trường tiểu học theo tiếp cận chức năng quản lý; đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GDGT nhằm nâng cao chất lượng GDGT ở các trường tiểu học công lập Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Chủ thể quản lý là hiệu trưởng trường tiểu học.
4.2. Về địa bàn nghiên cứu: Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
Do thành phố Thủ Đức hiện nay được chia thành 3 khu vực, do đó tác giả tập trung khảo sát thực trạng GDGT và quản lý hoạt động GDGT ở một số trường tiểu học công lập Khu Vực 3 của thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
4.3. Về thời gian nghiên cứu:
Thời gian nghiên cứu từ tháng 10/2022 đến tháng 7/2023. Số liệu sử dụng trong đề tài luận văn được thu thập từ năm học 2021 – 2022 đến năm 2022 – 2023.
5. Giả thuyết khoa học
Hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh chưa được quan tâm nhiều, chỉ được lồng ghép tích hợp trong hoạt động của Chi đội hoặc của Đoàn Thanh niên.
Công tác quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh còn chung chung, việc thực hiện các chức năng quản lý hoạt động GDGT cho HS còn hạn chế, đặc biệt là tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra hoạt động GDGT. Nếu tiến hành khảo sát, đánh giá và phân tích kết quả thực trạng một cách khách quan chính xác về công tác quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh thì sẽ đề xuất được các biện pháp quản lý có tính cần thiết và khả thi cao.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDGT cho HS tại trường tiểu học.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
7. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
Để thực hiện đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả luận văn sử dụng kết hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau đây:
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Mục đích: Hệ thống hóa những nội dung của cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDGT cho HS tại trường tiểu học.
Nội dung và cách thực hiện: Sử dụng nhiều phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh các nguồn tài liệu như chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà Nước, Luật GD, các văn bản, quy chế, thông tư hướng dẫn có liên quan, sách, tạp chí, các công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước, các bài viết khoa học, nhằm tìm hiểu sâu sắc bản chất của vấn đề nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài. Từ đó, phân loại và hệ thống hóa những nội dung lý luận làm cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDGT cho HSTH để giải thích kết quả nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Mục đích: Thu thập số liệu, dữ liệu để làm rõ thực trạng hoạt động GDGT và quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
Nội dung: Tập trung khảo sát thực trạng hoạt động GDGT và quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Chẳng hạn như: nhận thức của CBQL và GV về hoạt động GDGT, về quản lý hoạt động GDGT; thực trạng thực hiện mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức GDGT…những thuận lợi và khó khăn; những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong việc thực hiện các chức năng quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn cũng sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi để khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất.
Cách thức thực hiện: Xây dựng công cụ gồm phiếu khảo sát các đối tượng là Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn, GV, Bí thư Đoàn Thanh niên, Tổng phụ trách Đội và cha mẹ HS (CMHS). Sau đó, tiến hành khảo sát trên 09 trường tiểu học tại Khu Vực 3, trên địa thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Cụ thể là: Trường tiểu học Hoàng Diệu; Trường tiểu học Linh Chiểu; Trường tiểu học Lương Thế Vinh; Trường tiểu học Bình Triệu; Trường tiểu học Trương Văn Hải; Trường tiểu học Bình Chiểu; Trường tiểu học Linh Đông; Trường tiểu học Từ Đức; Trường tiểu học Bình Quới.
- Phương pháp phỏng vấn sâu Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
Mục đích: Phương pháp này để thu thập thêm thông tin, dữ liệu một cách trực tiếp; đối chiếu và so sánh với kết quả khảo sát thực trạng qua phương pháp điều tra bằng bảng hỏi. Đồng thời làm rõ thêm thông tin cần thiết từ người được phỏng vấn mà khảo sát qua phiếu hỏi chưa đáp ứng được.
Nội dung: Tham gia phỏng vấn trực tiếp dựa theo bảng hỏi phỏng vấn đã soạn sẵn như: Ưu điểm, hạn chế của hoạt động GDGT, quản lý hoạt động GDGT và đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
Cách thức thực hiện: Dùng bảng câu hỏi để đàm thoại, phỏng vấn trực tiếp hoặc qua điện thoại 3 Hiệu trưởng, 3 Phó hiệu trưởng, 3 tổ trưởng chuyên môn, 6 GV, 3 CMHS, 3 HS.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, sản phẩm hoạt động
Mục đích: Tìm hiểu thực tế hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh..
Nội dung: Tìm hiểu những nội dung đã được triển khai, cách thức tổ chức thực hiện quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
Cách thức tiến hành: Tiến hành nghiên cứu các hồ sơ quản lý; kế hoạch; biên bản; báo cáo sơ kết, tổng kết; sản phẩm sau khi thực hiện của CBQL, GV có liên quan đến hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh các năm học 2020 – 2021; 2021 – 2022; 2022 – 2023.
7.3. Nhóm phương pháp xử lý dữ liệu
Chúng tôi sử dụng chương trình SPSS 16.0 và phần mềm Microsoft Excel để tính các giá trị như sau: tính giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, tính % để mô tả kết quả thực trạng, vẽ biểu đồ…Trên cơ sở so sánh các giá trị thu được từ quá trình điều tra.
PP xử lý dữ liệu định tính: Các cuộc phỏng vấn và những câu hỏi dạng định tính sẽ được phân tích bằng phương pháp trích lọc nội dung theo từng phần. Các nội dung này được phối hợp với dữ liệu định lượng để làm rõ nét hơn thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
PP xử lý dữ liệu định lượng: Sau khi thu thập các phiếu khảo sát, với kết quả thu được, tác giả sử dụng phần mềm SPSS mã nguồn mở và phần mềm Microsoft Excel để tính các giá trị như sau: tính độ lệch chuẩn, tính % để mô tả kết quả thực trạng, giá trị trung bình, vẽ biểu đồ…Trên cơ sở so sánh các giá trị thu được từ quá trình điều tra.
8. Đóng góp của luận văn
8.1. Về lý luận Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
Đề tài hệ thống hóa lý luận về quản lý hoạt động GDGT cho HS tại trường tiểu học; từ đó làm cơ sở cho việc khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
8.2. Về thực tiễn
Đánh giá đúng thực trạng về công tác quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
Tác giả đề xuất được một số biện pháp có tính cần thiết, khả thi về công tác quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Các biện pháp phù hợp với tình hình thực tế có thể làm tài liệu tham khảo cho CBQL, GV tại các trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức và rộng hơn là thành phố Hồ Chí Minh.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm có 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh tại trường tiểu học.
- Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh tại trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
- Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh tại trường tiểu học Khu Vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Liên quan đến hoạt động GDGT và quản lý hoạt động GDGT cho HSTH được nhiều nhà quản lý, các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Các nghiên cứu đa dạng từ những vấn đề chung nhất về hoạt động GDGT và quản lý GDGT trong các cơ sở GD như quan niệm về GDGT, vai trò của GDGT, các nguyên tắc quản lý, phương pháp thực hiện,… đến các nghiên cứu về thực tế hoạt động GDGT cho HS tiểu học. Trong phạm vi công trình nghiên cứu này, tác giả khái quát một số nghiên cứu có liên quan đến GDGT và quản lý hoạt động GDGT ở nước ngoài và trong nước:
1.1.1. Những nghiên cứu nước ngoài
Trong cuốn sách “Sơ lược về GD giới tính” của M.E đã nêu rằng GDGT là một vấn đề được nhiều nước ở Châu Âu tiến hành rất sớm. Năm 1921 Thụy Điển đã nghiên cứu vấn đề GDGT. Ngay từ giai đoạn đó Thụy Điển đã coi GDGT là một nhiệm vụ quan trọng và là quyền bình đẳng nam nữ chính là trách nhiệm của công dân đối với xã hội. Năm 1942 Bộ GD Thụy Điển quyết định đưa thí điểm GDGT vào trong nhà trường và đến năm 1956 thì dạy phổ cập ở tất cả các loại trường từ tiểu học đến Trung học.
Tại Indonexia trong công tác GDGT cho HSTH, các phương tiện truyền thông. Phù hợp với tuyên bố này, nhà nghiên cứu Kurniastuti Lestari, (2006) nói rằng thông qua các phương tiện truyền thông, wayang kagok là một phương tiện di động và hiệu quả bất cứ nơi nào bởi vì nó là một phương tiện truyền thông in ấn, như một phương tiện có thể truyền đạt tìm hiểu về GDGT cho trẻ từ 7-12 tuổi. (Kurniastuti Lestari, 2006) Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
Ở Hàn Quốc, theo tác giả Kim JM, Lee MS, Song HJ (2008) trong bài báo khoa học An analysis of risk factors for falls in the eloderly by gender (tạm dịch là: Phân tích các yếu tố nguy cơ xấu ảnh hưởng đến trẻ em về vấn đề giới tính) đã chỉ ra để GDGT cho HS tiểu học đạt hiệu quả về nội dung và cách truyền đạt phải khác nhau, nhất là theo giai đoạn phát triển của trẻ như: sở thích, nhu cầu, đặc điểm, v.v. nên được xem xét.
Và cùng quan điểm về GDGT cho HSTH, tác giả Lee JH, Yu HK, Cho YS (2011) trong bài báo tạp chí The development of a parents-involved group counseling program to improve sexual-consciousness of elementary school students in higher grade (tạm dịch là: Xây dựng chương trình tư vấn nhóm có sự tham gia của CMHS nhằm nâng cao nhận thức về giới tính cho HS tiểu học) trình bày như sau: trường tiểu học bao giờ hết các nghiên cứu can thiệp GD giới tính trong đời sống dựa trên phương pháp GD giới tính truyền thống và tư vấn nhóm.
Còn theo quan điểm của tác giả Iqbal, A.M (2013) trong cuốn sách Konsep Pemikiran Al-Ghazali tentang Pendidikan, Madiun (tạm dịch là: Khái niệm tư tưởng về GD của Al-Ghazali, Madiun) chỉ ra rằng, trường học trở thành môi trường thứ hai sau gia đình, và GV là cha mẹ thực sự. Al- Ghazali có nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo, GD con cái không chỉ cho đến khi trưởng thành thậm chí còn nhiều hơn thế, trong đó có nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo, GD trẻ em vào những giờ cụ thể được bàn giao cho nhà trường lấy GV làm mũi nhọn của GD.
Còn Weatherley và cộng sự (trong Gambaran Pemahaman Anak Usia Sekolah Dasar Tentang Pendidikan Seksual Dalam Upaya Pencegahan Kekerasan Seksualpada Anak, 2017) giải thích rằng phòng chống bạo lực tình dục sẽ không đạt hiệu quả tối ưu nếu chỉ có cha mẹ GDGT, nhưng sẽ hiệu quả hơn nếu nhà trường cũng hỗ trợ GDGT cho lứa tuổi học đường những đứa trẻ. Những tiến bộ công nghệ hiện tại cũng là một thách thức trong việc cung cấp dịch vụ phù hợp nhằm GDGT cho trẻ. (Permatasari, E.&Ginanjar, S. A, 2017).
1.1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
Một số đề tài luận văn thạc sĩ về GDGT có thể kể đến là: Năm 1994, đề tài luận văn thạc sĩ: “Thực trạng nhận thức và thái độ của HS đối với một số nội dung GD giới tính” của Nguyễn Văn Phương. Năm 1998, đề tài luận văn tốt nghiệp: “Khảo sát thực trạng nhận thức, thái độ của HS về một số vấn đề cơ bản của nội dung GDGT tại một số trường tiểu học” của Lê Khắc Mỹ Phượng.
Từ năm 1985, có rất nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về giới tính, về tình dục về hôn nhân gia đình đã bắt đầu được công bố. Các tác giả Đặng Xuân Hồi, Trần Trọng Thủy, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan, Nguyễn Thị Tho, Bùi Ngọc Oánh, Lê Nguyên, Phạm Ngọc, Minh Đức…đã nghiên cứu nhiều vấn đề của giới tính và GDGT. Nhiều công trình nghiên cứu về giới tính, tình dục và hôn nhân gia đình được tiến hành từ năm 1985 đến nay, bước đầu làm cơ sở cho việc GDGT cho thanh niên và HS. (Cao Thị Tuyết Mai, 2010).
Kết quả nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Diệu Thương (2017) với đề tài “GD giới tính cho trẻ em ở lứa tuổi 6 – 10 trong các gia đình tại thành phố Vinh – tỉnh Nghệ An (Nghiên cứu tại trường hợp phường Hà Huy Tập). Cho thấy thực trạng GDGT cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình GDGT cho con cái trong các gia đình tại TP. Vinh, Nghệ An.
Cuốn sách dành cho GV và sinh viên ngành GD tiểu học “GDGT cho HSTH” của tác giả Nguyễn Minh Giang được ra đời vào năm 2020 và được ấn hành bởi Nhà xuất bản Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh. Cuốn sách đã trình bày cơ sở khoa học của GDGT ở tiểu học như mục tiêu, nội dung, cách thức thực hiện, phương pháp và phương tiện GDGT. (Nguyễn Minh Giang, 2020)
Với bài viết “Xây dựng khung năng lực GDGT của giáo viên tiểu học và trung học cơ sở” Tác giả Nguyễn Thị Phương Nhung và Phạm Xuân Sơn (2021). đăng Tạp chí khoa học, Tập 50 – Số 3B/2021, tr. 73-84. Bài viết công bố nhiều nghiên cứu về khung năng lực – tiêu chí đánh giá năng lực của GV tiểu học và Trung học cơ sở về GDGT, đồng thời là cơ sở giúp GV và CBQL nhận thức được nhiều yêu cầu cụ thể về hoạt động GDGT cho HS.
Trên thực tế ở Việt Nam, rất nhiều trường từ cấp mầm non đến tiểu học đã đưa chủ đề GDGT vào chương trình giảng dạy, song GDGT cũng còn rất hạn chế, còn mang nặng tính hình thức và thành tích. Cần thiết phải GDGT cho trẻ ngay từ cấp tiểu học vì các em bây giờ phát triển rất sớm do môi trường và chế độ ăn uống. Bên cạnh đó, phải đưa cả kiến thức về giới LGBT vào giảng dạy ở các cấp học cao hơn. Mục đích là để trẻ có nhận thức chính xác về LGBT, hiểu rõ chính mình, không bị lôi kéo bởi những thành phần xấu; bản thân trẻ LGBT cũng sẽ được tôn trọng, được công nhận là bình thường trong xã hội, không bị bạn bè và những người xung quanh dè bỉu, khinh miệt. (Khánh Thu, 2022)
Như vậy, điểm qua các nghiên cứu về GDGT ở nước ngoài và trong nước cho thấy, GDGT đã thu hút sự quan tâm của các nhà khoa hoc, các nhà nghiên cứu và được đề cập nhiều khía cạnh khác nhau của GDGT như: quan niệm về tình bạn, tình cảm khác giới, nhận thức về giới tính và bình đẳng giới,…Tuy nhiên, theo nghiên cứu của tác giả luận văn chưa có nghiên cứu nào về quản lý hoạt động GDGT cho HSTH tại các trường tiểu học thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
1.2. Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
1.2.1. Khái niệm hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh tại trường tiểu học
- Khái niệm giáo dục hoạt động giáo dục
Theo Từ điển Bách khoa, GD là hình thức học tập theo đó kiến thức, kỹ năng, được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu. (Dewey, John, 1966)
Theo Từ điển Tiếng Việt, GD chính là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất. (Hội đồng quốc gia, 2002)
GD (theo nghĩa rộng): GD chính là quá trình tổ chức có mục đích, có kế hoạch thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa chủ thể GD và người được GD nhằm tăng sức mạnh vật chất và tinh thần của người học nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những tri thức, kinh nghiệm của xã hội loài người. (Hà Thị Mai, 2013)
GD (theo nghĩa hẹp): GD là quá trình hình thành niềm tin, lí tưởng, tình cảm, thái độ, cho người học. (Hà Thị Mai, 2013)
Tại Việt Nam, khi được phỏng vấn Giáo sư Hồ Ngọc Đại đưa ra nhận định về GD như sau: GD chính là một quá trình mà kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm của một người hay một nhóm người này được truyền tải một cách tự nhiên không áp đặt sang một người hay một nhóm người khác thông qua hoạt động giảng dạy, đào tạo hay nghiên cứu.
Từ các khái niệm GD và hoạt động như đã trình bày ở trên, hoạt động GD được hiểu là quá trình tiến hành những công việc có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm hình thành phẩm chất và năng lực cho người học. Hoạt động GD được thực hiện thông qua nhiều hình thức. Hoạt động GD là một quá trình đòi hỏi người học phải không ngừng lĩnh hội từ nhiều khía cạnh. Và GD luôn hướng đến mục tiêu cao đẹp, đóng góp cho xã hội và đáp ứng được nhu cầu tiếp nhận thông tin của người học.
- Khái niệm giới tính, hoạt động giáo dục giới tính Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
Theo từ điển Tiếng Việt, giới tính được xem là đặc điểm sinh học tạo nên sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới. (Hội đồng quốc gia, 2002)
Khái niệm về giới tính cần được hiểu một cách đầy đủ, toàn diện về nhiều mặt sinh lí và tâm lí, cá nhân và xã hội, hôn nhân và gia đình, tình yêu và tình bạn, sự giao tiếp nam nữ… (Đỗ Hà Thế Bình, 2007)
Như vậy, giới tính gồm những đặc điểm sinh học tạo nên sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới. Giới tính được xem như món quà tự nhiên giúp phân biệt giữa hai giống mang những đặc điểm riêng biệt của nam và nữ. Sự khác biệt không chỉ về bên ngoài mà còn mang yếu tố bên trong như tâm lý, sinh học, tình cảm,…
GDGT được xem như một lĩnh vực rất phức tạp, vì thế có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề này. Theo tác giả A.G. Khrivcova, D.V. Kolexev, cho biết GDGT chính là quá trình tìm ra những nét, những phẩm chất, những đặc trưng và khuynh hướng phát triển của từng nhân cách của con người đối với người khác (A.G. Khrivcova, D.V. Kolexev, 1981)
Theo giáo sư Phạm Hoàng Gia, GDGT được xem xét như một bộ phận cấu thành của nền GD xã hội. Chúng có mối liên hệ mật thiết với GD dân số, kế hoạch hóa gia đình và với các mặt GD khác trong GD phổ thông. Do vậy rất cần phải thực hiện công tác GDGT một cách đồng bộ, quan hệ có tính chất hệ thống với các mặt GD khác. (dẫn theo Huỳnh Văn Sơn, 1999)
Đỗ Hà Thế Bình cũng chia sẻ GDGT là một bộ phận hữu cơ của phức hợp các vấn đề GD nhân cách, GD con người mới, con người phát triển toàn diện, kết hợp một cách hữu cơ hài hòa sự phong phú về tinh thần, sự thuần khiết về đạo đức và sự hoàn thiện về thể xác. Theo A.X. Makarenko, “khi GD cho đứa trẻ tính ngay thẳng, khả năng làm việc, tính chân thật, tôn trọng người khác, tôn trọng những cảm xúc và hứng thú của họ là chúng ta đã đồng thời GD nó về quan hệ giới tính” (dẫn theo Đỗ Hà Thế Bình, 2007)
Theo “ Từ điển GD học” (2011), NXB từ điển bách khoa: Nêu rõ những kiến thức cơ bản về sự khác biệt về giới tính, về các đặc điểm tâm sinh lý, về các nét tính cách, hành vi khác nhau giữa nam và nữ từ tuổi mẫu giáo đến tuổi dậy thì và tuổi trưởng thành giúp các em có thái độ và hành vi đúng đắn về bạn khác giới, có quan hệ tình bạn chân thành trong sáng, có quan hệ tình yêu lành mạnh và có những sự chuẩn bị về tâm lý thể chất cần thiết cho việc xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc trong tâm thế làm vợ chồng, cha mẹ đàng hoàng.
Và GDGT chính là bộ phận nội dung cần thiết trong GD gia đình và nhà trường nhằm cung cấp những hiểu biết về giới tính cho trẻ em và thanh thiếu niên, đảm bảo cho nam cũng như nữ được phát triển lành mạnh về thể chất trí tuệ, đạo đức và thẩm mỹ trong lĩnh vực giới tính. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
Như vậy, có thể hiểu hoạt động GDGT là quá trình thực hiện các công việc có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm trang bị cho người học những kiến thức về giới tính của bản thân cũng như tôn trọng những đặc điểm giới tính của người khác. Ngoài ra, hoạt động GDGT còn giúp hình thành những kĩ năng vệ sinh và phòng vệ cho chính mình.
- Khái niệm hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh tại trường tiểu học
Điều 2, Điều lệ trường tiểu học ban hành kèm theo Thông tư số 28/2020/TT- BGDĐT ngày 04 tháng 9 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ GD và Đào tạo nêu rõ: Trường tiểu học là cơ sở GD phổ thông của hệ thống GD quốc dân, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng. (Bộ GD và đào tạo, 2020)
Luật GD (2019) xác định: GD tiểu học được thực hiện trong 05 năm học, từ lớp một đến hết lớp năm.Tuổi của HS vào học lớp một là 06 tuổi.
Như vậy, hoạt động GDGT cho HS tại trường tiểu học là quá trình giáo viên cung cấp cho HSTH những kiến thức cơ bản giới tính, về sự khác biệt giới tính, các đặc điểm tâm sinh lý, các hành vi khác nhau của nam và nữ, giúp HS có thái độ và hành vi đúng đắn về bạn khác giới, xây dựng tình bạn trong sáng, lành mạnh đúng với lứa tuổi tiểu học.
1.2.2. Khái niệm quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh tại trường tiểu học
- Khái niệm quản lý
Cụm từ quản lý được nhiều nhà nghiên cứu nhận định. Sau đây là một số định nghĩa. Theo từ điển ngôn ngữ Hà Nội xuất bản 1992, quản lý có nghĩa là:
- Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định.
- Tổ chức và điều khiển các hoạt động trong tập thể cơ quan theo những yêu cầu nhất định.
Tác giả Trần Kiểm có nêu: “Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. (Trần Kiểm, 1997) Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
Về cơ bản quản lý là việc tác động lên con người, sự vật để điều hành các hoạt động nhằm mang đến lợi ích cho tổ chức và đạt được những mục tiêu đề ra. Quản lý là tìm cách xử lý vấn đề một cách thông minh, tế nhị việc thỏa mãn nhu cầu cho con người, trên cơ sở đó động viên con người đem hết năng lực thực hiện công việc được giao hoặc có thể bằng cách nào đó từ sự tác động của quản lý, người bị quản lý luôn tích cực, phấn khởi dùng hết năng lực và trí tuệ của mình để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, tổ chức và xã hội. (Nguyễn Công Hướng, 2020)
Từ những phân tích trên, bản thân tác giả quan niệm: Quản lý là hoạt động tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong một tổ chức thông qua việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá nhằm giúp tổ chức vận hành có hiệu quả và đạt được mục tiêu đề ra.
- Khái niệm quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh tại trường tiểu học
Quản lý hoạt động GDGT là bộ phận của quản lý trường học, bao gồm nhiều hoạt động liên quan đến tiến hành lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của nhà quản lý, của tập thể sư phạm, của các lực lượng GD theo hướng kế hoạch chủ động, nhằm thay đổi hay tạo ra hiệu quả GD cần thiết. (Bùi Ngọc Oánh, 2008)
Trong luận văn này, người nghiên cứu thống nhất với ý kiến của tác giả Bùi Ngọc Oánh. Quản lý hoạt động GDGT cho HS tại trường tiểu học là hoạt động của chủ thể quản lý nhà trường (đứng đầu là Hiệu trưởng) đến toàn bộ nhân sự trong nhà trường trong việc thực hiện các hoạt động GDGT cho HS thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra nhằm đạt được mục tiêu GDGT mà nhà trường đề ra.
1.3. Lý luận về hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh tại trường tiểu học
1.3.1. Đặc điểm học sinh tiểu học
Tại điều 33 Theo thông tư 28/2020/TT-BGDĐT ngày 04/09/2020 Ban hành điều lệ trường tiểu học xác định tuổi của HS vào học lớp một là 06 tuổi và được tính theo năm. Như vậy, độ tuổi của HSTH là từ 6 tuổi đến 10 tuổi.
Độ tuổi tiểu học các em còn rất ngây thơ, hồn nhiên và những hiểu biết về đặc điểm của bản thân mình cũng như thế giới quan còn hạn chế. Đặc điểm riêng biệt của đối tượng GD như sau:
- Đặc điểm cơ thể
Ở lứa tuổi tiểu học có những đặc điểm cơ bản về sinh học như: Bộ xương vẫn tiếp tục phát triển trong đó cột sống có những thay đổi lớn. Các đây chẳng, cơ bắp được tăng cường. Sự cốt hoát các đốt ngón tay được hoàn thiện. Cơ tim của các em 10-11 tuổi phát triển mạnh và được cung cấp đủ máu nên trong não trẻ có sẵn năng lượng hoạt động. Trọng lượng của não tăng bằng + người lớn, đặc biệt thủy trận rất phát triển, tạo điều kiện cho việc hình thành những chức năng tâm lý bậc cao. Có sự cân bằng hơn trong hoạt động của 2 quá trình hưng phản và ức chế (Vũ Thị Nho, 2000)
- Đặc điểm hoạt động Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
Hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo của HSTH. Về bản chất HĐ học tập có đặc điểm là đối tượng hoạt động của nó chính là các khái niệm khoa học, các quy luật khoa học và các phương thức nhằm chiếm lĩnh nó. Ở đây việc lĩnh hội tri thức, những kỹ năng kỹ xảo là mục đích cơ bản và là kết quả chủ yếu của hoạt động. Do đó khi chuyển sang hoạt động mới ở giai đoạn đầu HS nhỏ gặp phải một số khó khăn nhất định. Do vậy cần phải tạo tâm thế cho trẻ vào tiểu học. (Vũ Thị Nho, 2000)
- Đặc điểm nhận thức
Ở trẻ tiểu học diễn ra một sự phát triển toàn diện về các quá trình nhận thức, đáng kể nhất là sự phát triển của tri giác, sự tập trung, trí nhớ, tưởng tượng, tư duy.
Tri giác: Đầu tiểu học: Đặc điểm của tri giác còn mang tính tổng thể, chưa đạt tới trình độ của tri giác phân biệt. Cuối tiểu học, tính tổng thể của tri giác dần dần nhường chỗ cho thị giác chính xác và tinh tế. Sự tập trung: Ở lớp 2; lớp 3 HS đã biết tập trung chú ý vào tài liệu học tập. những điều GV giảng giải. Ở HS lớp 4; lớp 5 ý chủ định của trẻ tăng lên, trẻ có khả năng mở rộng sự chú ý và có kỹ năng phân phối chú ý đối với những dạng hành động khác nhau.
Trí nhớ: Đầu tuổi đi học, hầu hết trẻ em còn bị trí nhớ tự do. Từ lớp 3 trở lên, khả năng ghi nhớ có chủ định ở các em mới hình thành rõ nét và hoàn thiện. Như vậy, với HSTH hai hình thức ghi nhớ chủ định và không chủ định vẫn song song tồn tại, bổ sung cho nhau trong quá trình học tập Tư duy (Vũ Thị Nho, 2000)
- Đặc điểm về xúc cảm, ý chí
Tác giả Vũ Thị Nho (2000) với cuốn sách Tâm lý học phát triển của Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng đời sống xúc cảm, tình cảm của HSTH khá phong phú, đa dạng và cơ bản mang tính tích cực. Ở các em tính tự kiềm chế và tính tự giác được tăng cường bộc lộ sự ổn định của những trạng thái xúc cảm. Tâm trạng sảng khoái, vui tươi thường bền vững, lâu dài là biểu hiện vốn có của HS nhỏ.
- Đặc điểm nhân cách Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
Sự phát triển nhân cách của HSTH chủ yếu diễn ra và bị chi phối bởi hoạt động học tập. Hầu hết các em thường rất ngoan, vâng lời và thực hiện tốt nội quy nhà trường, nếu giáo viên biết thi đua và khích lệ kịp thời những mặt tích cực ở HS. Quan hệ giữa GV và HS là nét đặc thù trong nhân cách của HS nhỏ. HSTH thừa nhận uy tín tuyệt đối của GV. HS sẵn sàng chia sẻ với GV mọi lo lắng, mọi điều xảy ra trong gia đình, GV phân tích và hướng dẫn cách xử lý đúng cho các em… Chính vì vậy hình ảnh của người thầy giáo có ý nghĩa rất to lớn trong việc GD nhân cách cho các em. (Vũ Thị Nho, 2000)
Trong tác phẩm “Giáo trình Tâm lí học tiểu học” của đồng tác giả Bùi Văn Huệ, Phan Thị Thanh Mai, Nguyễn Xuân Thức (2019) cho rằng: Nhân cách của HS tiểu học còn đang trong quá trình hình thành và chưa có sự ổn định, do đó các em sẽ luôn bộc lộ tính cách một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng với những nhận thức, tư tưởng, tình cảm và những suy nghĩ của HS. Bên cạnh đó thì khả năng cảm xúc của các em chưa biết kiềm chế, các em còn dễ xúc động, dễ khóc, dễ giận nhưng các em đã có sự trưởng thành hơn về mặt nhân cách so với trẻ ở mầm non.
Như vậy, HSTH còn đang trong quá trình phát triển toàn diện về mọi mặt, nhân cách của các em sẽ được hoàn thiện dần cùng với tiến trình phát triển của mình. Chính vì vậy, GDGT cho HSTH cần được thực hiện và chú ý đến đặc điểm tâm sinh lý của các em.
1.3.2. Vị trí, vai trò của hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh tại trường tiểu học
- Theo “Tâm lý học giới tính và GDGT”, GDGT có các vai trò sau:
Hình thành và trang bị cho thế hệ sau này những tri thức khoa học, thái độ và quan niệm đúng đắn về những vấn đề của đời sống giới tính, sinh lí tính dục, về cấu trúc và chức năng của hệ cơ quan sinh dục; về sự cư xử đúng đắn, phù hợp trong các mối quan hệ với mọi người, với người khác giới; Giúp cho các em có sự tự tin vững vàng bước vào đời sống xã hội, biết bảo vệ, giữ gìn sức khỏe cho bạn và cho chính mình, có khả năng chống chọi với những cạm bẫy, cám giổ của lối sống ăn chơi đồi trụy; Giúp các em có thái độ trân trọng và biết cách bảo vệ những giá trị cao cả của tình bạn; Giúp HS chuẩn bị về tinh thần và khả năng thực tiễn, giúp các em phát triển nhân cách toàn diện, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần xây dựng và giúp xã hội phát triển giàu mạnh. (Bùi Ngọc Oánh, 1989)
- Như vậy, trên cơ sở đặc điểm tâm, sinh lý của HSTH, GDGT có vị trí và vai trò như sau:
Hình thành giúp trẻ nhận biết được những đặc điểm khác biệt về GT giữa nam và nữ; về cấu trúc và chức năng của các hệ cơ quan trọng cơ thể nhất là cơ quan sinh dục; về thái độ, cư xử đúng đắn tôn trọng cơ thể và những đặc điểm riêng biệt về giới tính của bạn bè xung quanh; Biết bảo vệ cơ thể của mình trước những nguy hại từ xung quanh; biết nói không và có những kĩ năng cơ bản để tự phòng, chống xâm hại cho mình; Giúp các em biết tự vệ sinh cơ thể khi bước vào giai đoạn dậy thì; phòng, chống một số bệnh lây nhiễm như HIV/AIDS; Chuẩn bị hành trang vững vàng bước vào những thay đổi về xúc cảm, tình bạn, tình yêu khác giới.
1.3.3. Mục tiêu giáo dục giới tính cho học sinh tại trường tiểu học Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
- Theo tác giả Nguyễn Thanh Bình trong Lý luận GD học Việt Nam (2005) thì mục tiêu GDGT gồm:
Về nhận thức: Giúp HS xây dựng được mối quan hệ nhân văn giữa hai giới; Nắm được sự phát triển và sự khác nhau về giới tính giữa hai giới; Thấy được sự cần thiết phải sống và có quan hệ giới tính lành mạnh.
Về thái độ: Giúp HS hình thành ý thức tự trọng, tự tôn, giữ gìn và bảo vệ những giá trị, nhân phẩm của mình nói riêng và niềm tự hào về giới nói chung; Tôn trọng người khác, giới khác; Tỉnh táo trước các nguy cơ dẫn đến bị xâm hại tình dục, kiên quyết từ chối mọi cam dễ dẫn đến xâm hại tình dục.
Về kĩ năng: Giúp HS có kĩ năng ứng xử phù hợp với bạn khác giới; Biết cách phòng tránh lạm dụng và xâm hại tình dục; Biết bảo vệ người khác khi bị xâm hại tình dục.
- Như vậy, mục tiêu của GDGT cho HS tiểu học là hình thành cho HS:
Giúp HS có những hiểu biết cần thiết về giới và giới tính; Giúp HS có những kỹ năng giao tiếp, ứng xử trong quan hệ với người khác giới, khả năng làm chủ bản thân, kỹ năng vệ sinh cơ thể theo đặc thù giới; GD HS những thái độ tích cực, văn minh trong quan hệ với người cùng giới và khác giới, tự hoàn thiện những phẩm chất riêng về giới của mình.
1.3.4. Nội dung giáo dục giới tính cho học sinh tại trường tiểu học
Theo Khoản 2 Điều 30 Luật GD 2019 quy định GD tiểu học phải bảo đảm cho HS nền tảng phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, kỹ năng xã hội; có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có nhận thức đạo đức xã hội; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; (Luật GD, 2019) Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
Tác giả Nguyễn Thanh Bình (2005) xác định nội dung GDGT với tư cách là một hợp phần của nội dung GD nhân cách toàn diện, bao gồm: Tri thức về các phương diện sinh học, tâm lí … của từng giới ở từng lứa tuổi; Đối với HS còn ở tuổi trẻ em dễ có nguy cơ bị xâm hại tình dục, nên cần cung cấp những tri thức và kĩ năng liên quan đến những vấn đề phòng tránh bị xâm hại tình dục cho các em; Những phẩm chất đặc trưng của từng giới như nam tính, nữ tính; Văn hóa ứng xử, ý thức và thói quen hành động theo các chuẩn mực đạo đức – thẩm mỹ trong quan hệ giữa hai giới theo từng lứa tuổi.
Trong Chương trình GD 2006 cũng như Chương trình GD phổ thông 2018, GDGT không được thực hiện theo môn học riêng mà nội dung GDGT cho HS tiểu học được lồng ghép vào các môn học, đặc biệt là nhiều nội dung được đề cập đến trong chương trình GD kỹ năng sống, hoạt động trải nghiệm cho HS. Cụ thể như sau:
GD về tri thức: Do đặc điểm của HSTH là ngây thơ, hồn nhiên nên nội dung cần trang bị cho HS tiểu học những tri thức cần thiết về giới và giới tính:
- GD cho HS phân biệt giới tính nam và giới tính nữ
GD cho HS nhận biết và biết cách gọi tên các bộ phận trên cơ thể mình, đặc biệt là vùng kín. Phân biệt sự khác nhau của cơ thể nam và nữ.
GD tuổi dậy thì
- Tuổi dậy thì: Độ tuổi dậy thì của con gái thường bắt đầu khoảng từ 10 đến 15 tuổi, con trai thường bắt đầu khoảng từ 13 đến 17 tuổi.
- Đặc điểm tuổi dậy thì:
- Về ngoại hình: Cơ thể phát triển nhanh cả về chiều cao và cân nặng
- Về cơ quan sinh sản: Bắt đầu phát triển; Con gái xuất hiện kinh nguyệt, con trai có hiện tượng xuất tinh.
- Về tâm lý: Phát triển tinh thần, tình cảm và khả năng hòa nhập cộng đồng.
- Vệ sinh tuổi dậy thì: GD HS nữ sử dụng băng vệ sinh, vệ sinh vùng kín khi đến ngày kinh nguyệt; GD HS nam mặc quần lót và giữ vệ sinh cơ thể.
GD kiến thức về phòng tránh HIV/AIDS
- Kiến thức: HS nẵm rõ như thế nào là bệnh HIV/AIDS, tác hại của căn bệnh và những con đường lây nhiễm.
- Kĩ năng: Có kĩ năng cơ bản để an toàn khi tiếp xúc với người bị nhiễm.
- Thái độ: Yêu thương, chia sẻ, quan tâm và đồng cảm với những người nhiễm HIV/AIDS.
Phân biệt sự di truyền, các thế hệ Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
- Phân biệt các thế hệ: GDHS các thế hệ trong một gia đình; gia đình mấy thế hệ.
- Vẽ được cây thế hệ: HS vẽ được và biết phân biệt họ nội, họ ngoại theo sự duy truyền liên quan đến GDGT.
Phòng, chống xâm hại
- Nhận biết các trường hợp có nguy cơ xâm hại: Kĩ năng an toàn khi gặp người lạ; Nhận biết các biểu hiện của kẻ xâm hại tình dục.
- Thực hành: Vẽ được quy tắc 5 ngón tay, nhận biết những người an toàn và không an toàn, xử lý các tình huống thực tế được nêu.
GD về thái độ: Lứa tuổi tiểu học chưa có nhận thức đầy đủ vì đặc điểm độ tuổi của các em còn khá non nớt, vì thế cần GD về thái độ sao cho đúng mực với yêu cầu của GDGT bao gồm:
- GD ý thức trách nhiệm: GD HSTH thái độ trách nhiệm đối với sức khỏe của bản thân và sức khỏe của người khác.
- Bình đẳng về giới: Biết quan tâm đến những đặc điểm giới tính của người khác trong quá trình hoạt động chung; Tôn trọng sự khác biệt giữa nam và nữ;
- Đạo đức giới tính: Biết phân biệt tốt xấu, đúng sai trong những hành vi liên quan đến giới tính; GD văn hóa giao tiếp với người khác giới; GD khả năng tự đánh giá hành vi của mình trong quan hệ với người khác;
GD về kĩ năng, hành vi: Dù được bổ sung các kiến thức về giới và giới tính nhưng hầu như kĩ năng của HS tiểu học vẫn còn hạn chế khi thực hiện. Do các đặc điểm các em nhớ nhanh nhưng mau quên và thiếu thời gian thực hành tại nhà trường. Vậy nên, cần GD về kĩ năng với các nội dung như sau:
Kĩ năng tự vệ sinh vùng kín
- Chưa dậy thì: Vệ sinh vùng kín bằng nước sau khi đi đại tiện và tiểu tiện.
- Dậy thì: Thay quần lót ít nhất 2 lần/ngày; Đối với nữ thay băng vệ sinh 4 tiếng/lần.
Kĩ năng phòng, chống hành vi xâm hại tình dục
Kĩ năng cơ bản phòng, chống nguy cơ bị xâm hại: Không đi một mình nơi vắng vẻ; Không ở trong phòng kín với người lạ; Không nhận tiền, quà hoặc sự giúp đỡ đặc biệt của người khác mà không rõ lí do; Không để người lạ vào nhà, nhất là khi trong nhà chỉ có một mình. Kĩ năng xử lý khi gặp trường hợp có nguy cơ bị xâm hại: Biết bỏ chạy và kêu cứu khi có người khác muốn xâm phạm vào vùng nhạy cảm; Nói không khi có người muốn đụng chạm vào cơ thể mình khi bản thân không cho phép; Biết hô hoán để nhận sự giúp đỡ và chạy thật nhanh tới chỗ có nhiều người; Biết chia sẻ khi gặp tình huống bị xâm hại.
Ứng xử với bạn bè cùng giới Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
Thể hiện sự tôn trọng với bạn bè cùng giới thông qua các hành động sau:
- Thể hiện sự quan tâm: Luôn luôn quan tâm đến bạn bè, hỏi han về những điều khó nói của bạn và dành thời gian để lắng nghe, chia sẻ.
- Tôn trọng sự riêng tư: Tôn trọng những bí mật của bạn về thay đổi cơ thể, thay đổi tâm lý.
Giúp đỡ và hỗ trợ bạn bè khi họ cần như:
- Lắng nghe và hiểu vấn đề: Khi bạn bè cần giúp đỡ, hãy lắng nghe kỹ và hiểu các vấn đề của bạn.
- Thể hiện sự quan tâm và sẵn sàng giúp đỡ: Hãy thể hiện sự quan tâm và sẵn sàng giúp đỡ bạn bè của mình. Bạn có thể cung cấp lời khuyên, đưa ra các giải pháp hoặc đơn giản chỉ là lắng nghe và đồng cảm với bạn.
Ứng xử với bạn bè khác giới
- Thể hiện sự tôn trọng với bạn bè khác giới thông qua các hành động sau:
- Thể hiện sự quan tâm: Bày tỏ sự quan tâm đúng mực, đúng độ tuổi.
- Tôn trọng sự khác biệt về: Đặc điểm cơ thể, sự thay đổi về cơ thể của bạn khác giới. Tôn trọng những xúc cảm đầu đời của bạn.
1.3.5. Phương pháp và hình thức giáo dục giới tính cho học sinh tại trường tiểu học
- Phương pháp giáo dục giới tính
Các tác giả Đặng Vũ Hoạt – Nguyễn Hữu Hợp đã nêu các phương pháp GD trẻ TH. Các phương pháp này cũng sử dụng trong GDGT cho HSTH, gồm các nhóm phương pháp sau:
- Nhóm các phương pháp hình thành ý thức cá nhân
Nhóm các phương pháp hình thành ý thức cá nhân bao gồm các phương pháp cụ thể như sau:
Đàm thoại: Tổ chức trò chuyện về chủ đề GD dựa trên một hệ thống câu hỏi; Kể chuyện: GV dùng lời của mình thuật lại câu chuyện có ý nghĩa GD; Giảng giải: GV dùng lời của mình để trình bày, giải thích, chứng minh cho hành động, việc làm nói riêng, hay chuẩn mực hành vi nào đó nói chung; Nêu gương. Dùng những tấm gương cụ thể, sống động, ấn tượng để kích thích HS bắt chước hoặc tranh Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
- Nhóm các phương pháp tổ chức hoạt động và hình thành kĩ năng, hành vi ứng xử
Nhóm các phương pháp tổ chức hoạt động và hình thành kĩ năng, hành vi ứng xử với yêu cầu sư phạm là tổ chức cho HS thực hiện nội quy, quy chế. Bao gồm các phương pháp cụ thể như sau:
Tập luyện: Tổ chức cho HS lặp đi lặp lại các thao tác, các hành động nhất định một cách thường xuyên, có hệ thống nhằm biến chúng thành kĩ năng, hành vi, thói quen cần thiết; Thảo luận: Tổ chức cho HS trao đổi, bàn bạc, bày tỏ ý kiến của minh về các vấn đề liên quan HĐ tập thể, công việc của lớp nhằm thống nhất ý kiến về giải quyết vấn đề nêu ra; Rèn luyện: Tổ chức các hoạt động và cuộc sống đa dạng, phong phú cho HS, tạo cho các em điều kiện ứng xử phù hợp với các chuẩn mực xã hội, hình thành các kĩ năng tế chức các hoạt động của mình; Phương pháp “Bàn tay nặn bột” được xem là một phương pháp mới, đòi hỏi HS phải thực hiện thực nghiệm tìm hiểu – nghiên cứu, có thể áp dụng cho việc giảng dạy các môn khoa học tự nhiên.
- Nhóm các phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi
Bao gồm các phương pháp cụ thể như sau:
Khuyến khích: GV biểu thị sự đánh giá tích cực đối với hoạt động và hành vị của cá nhân HS hay của nhóm, tập thể. Trách phạt. GV biểu thị sự đánh giá tiêu cực những hành động, hành vi sai trái của HS không phù hợp với các chuẩn mực hành vi xã hội, nói quy HS.
Qua các phương pháp GD đã trình bày ở trên, người nghiên cứu cho rằng, cần kết hợp các phương pháp GD trong GDGT đối với HS ở trường tiểu học.
- Hình thức giáo dục giới tính
- GDGT được thực hiện dưới các hình thức sau đây:
Lồng ghép GDGT trong các môn học như môn Tự nhiên và xã hội, Khoa học,…Theo Chương trình GD phổ thông năm 2018 ban hành theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018, nội dung GDGT được lồng ghép vào Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội từ lớp 1, lớp 2, lớp 3 và Chương trình môn Khoa học lớp 4, lớp Các nội dung liên quan đến GDGT như phòng tránh xâm hại,… cũng được đưa vào nội dung của một số môn học khác như Đạo đức, Hoạt động trải nghiệm từ lớp 1. (Bộ GD và đào tạo, 2018)
- Lồng ghép GDGT trong các hoạt động GD Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
GDGT ở trường tiểu học được tiến hành lồng ghép thường xuyên, tế nhị trong học tập, vui chơi, lao động, sinh hoạt hàng ngày khi tập trung, khi phân chia theo giới, khi cá biệt tùy theo lứa tuổi và các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể.
- Lồng ghép GDGT trong hoạt động GD kĩ năng sống
Triển khai Kế hoạch số 363/KH-BGDĐT ngày 06/6/2016 của Bộ GD và Đào tạo về việc tổ chức biên soạn bộ tài liệu “GD đạo đức – lối sống văn hóa” và “Thực hành kỹ năng sống”. Trong đó, Quyết định số 2368/QĐ-BGDĐT ngày 13/7/2017 của Bộ GD và Đào tạo về việc phê duyệt bộ tài liệu “Thực hành kỹ năng sống” dành cho cấp tiểu học. (Bộ GD và đào tạo, 2016). Hiện nay, chương trình GD tại các trường tiểu học đã đưa tiết học kĩ năng sống vào nội dung học tập chính thức của các khối từ 1 đến 5. Với nội dung giảng dạy từ trung tâm GAIA Presentation được liên kết với đội ngũ GV nhà trường.
- Lồng ghép GDGT trong hoạt động trải nghiệm
Các hoạt động GD được tổ chức trong nhà trường đều thực hiện mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho HS, giúp HS lĩnh hội các tri thức, rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo cần thiết và phát triển tư duy sáng tạo. Theo công văn số 3535 của Bộ GD và đào tạo, hướng dẫn thực hiện nội dung Hoạt động trải nghiệm cấp tiểu học trong Chương trình GD phổ thông 2018 với các quy định sau:
Hoạt động trải nghiệm các mạch nội dung riêng với lớp 1 như: Hoạt động hướng vào bản thân, hoạt động hướng đến xã hội, hoạt động hướng đến tự nhiên và đối với lớp 2, lớp 3, lớp 4, lớp 5 thì có 4 mạch nội dung. Và hoạt động trải nghiệm được thực hiện bằng 4 loại hình hoạt động như: sinh hoạt dưới cờ, sinh hoạt lớp, hoạt động GD theo chủ đề, hoạt động câu lạc bộ, trong đó câu lạc bộ là loại hình tự chọn. (Bộ GD và đào tạo, 2019)
Như vậy đối với GDGT thông qua hình thức GD trong hoạt động trải nghiệm được thực hiện thường xuyên, gắn liền với các tiết học vì đây được xem là môn học mới và lồng ghép với nhiều hình thức tổ chức hoạt động tại nhà trường. Giúp HS hình thành những kiến thức cơ bản về giới cũng như giới tính; có thái độ đúng mực và hành vi đẹp trong việc giao tiếp cùng bạn bè; xây dựng kĩ năng cơ bản về vệ sinh thân thể, phòng chống xâm hại, vệ sinh tuổi dậy thì,…; góp phần hình thành tình xúc cảm đúng đắn trong tâm lí HSTH. Tóm lại, GDGT cho HSTH có thể tiến hành dưới nhiều phương pháp và hình thức khác nhau tùy vào điều kiện thực tế của đơn vị trường học. HS được trải nghiệm với nhiều hoạt động học tập phong phú, có thể tổ chức ngay tại lớp học, ngoài lớp học, trong khuôn viên trường, tại nhà và những địa điểm ngoài nhà trường.
1.3.6. Kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục giới tính cho học sinh tại trường tiểu học Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
Kiểm tra là hoạt động quan sát và kiểm nghiệm mức độ phù hợp của quá trình hoạt động của đối tượng bị quản lý với các quyết định quản lý đã lựa chọn. Đó là quan điểm của tác giả Trần Kiểm (2014) được nêu trong tác phẩm Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý GD của NXB Đại học Sư phạm Hà nội.
Như vậy, đánh giá kết quả tổ chức hoạt động GDGT cho HS tại trường tiểu học cần được đánh giá dựa trên các nội dung và phương pháp sau:
Nhận thức của HS về giới, giới tính: Sử dụng phương pháp kiểm tra, đánh giá qua phiếu hỏi nhằm thực hiện đánh giá vể nhận thức của HS. Người kiểm tra tiến hành xây dựng các phiếu điều tra bằng các loại câu hỏi đóng, mở. HS tiểu học được đánh giá nhận thức về nội dung như đặc điểm giới, giới tính; vai trò của giới; tuổi dậy thì; giữ gìn sức khỏe vệ sinh tuổi dậy thì, phòng, chống xâm hại,…
Thái độ của HS trước các vấn đề về giới và giới tính: HS tiểu học được đánh giá thái độ của các em trong các vấn đề như: Quan điểm bình đẳng giới, phân biệt giới, đặc điểm tuổi dậy thì, vệ sinh tuổi dậy thì, phòng, chống xâm hại,…; Bằng phương pháp đánh giá qua phiếu hỏi để thực hiện đánh giá thái độ của HS. Có thể xây dựng các phiếu điều tra bằng các loại câu hỏi đóng, mở. Cũng có thể nêu các tình huống để HS bày tỏ thái độ của mình.
Kỹ năng hành vi của HS trong giao tiếp với người khác giới: HSTH được đánh giá các kỹ năng làm chủ hành vi, kỹ năng phòng tránh xâm hại, kỹ năng giữ gìn sức khỏe dậy thì,… Phương pháp đánh giá qua hoạt động thực hành trong các tiết học, hoạt động trải nghiệm của HS, cách thức HS xử lý tình huống.
1.3.7. Điều kiện giáo dục giới tính cho học sinh tại trường tiểu học
- Nhằm thực hiện hoạt động GDGT đạt hiệu quả cao, cơ sở GD cần đáp ứng những điều kiện cơ bản như sau:
Đảm bảo nguồn nhân lực trong nhà trường: Nguồn nhân lực được xem như một nguồn vốn song song với các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Cho thấy rằng nguồn nhân lực từ đội ngũ CBQL, GV, công nhân viên (CNV) của nhà trường đều góp phần quan trọng trong hoạt động GDGT cho HSTH. Trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng dạy học và tài liệu phục vụ GDGT cho HS tại trường tiểu học như: Tài liệu, giáo trình liên quan GDGT,… Chú trọng cơ sở vật chất trường học bao gồm các đồ vật, những của cải vật chất, môi trường tự nhiên xung quanh nhà trường, cơ sở kỹ thuật của nhà trường gồm nhà cửa (phòng học, phòng thí nghiệm, phòng chức năng,…), sân chơi, các máy móc và thiết bị dạy học phục cho hoạt động GDGT cho HSTH. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
Xây dựng nguồn kinh phí cho hoạt động: Cũng như các hoạt động GD khác, GDGT cần kinh phí để tổ chức các hoạt động. Nguồn kinh phí từ ngân sách hoặc công tác xã hội hóa GD. Nguồn lực tài chính mang yếu tố có ý nghĩa quan trọng trong nâng cao chất lượng các hoạt động GDGT cho HSTH.
- Sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong GDGT cho HS:
Gia đình được xem như “mầm sống” của xã hội, nơi con người sinh sống, lớn lên, hình thành và phát triển nhân cách của mình. Gia đình còn là mái trường đầu tiên và suốt đời đối với sự hình thành và phát triển các phẩm chất giới tính của con người. Về phía nhà trường, đóng vai trò “cầu nối” trong việc phát triển nhân cách con người theo hướng tích cực trên cơ sở thực hiện nhiệm vụ GD, đào tạo thế hệ trẻ và chịu trách nhiệm trước nhà nước, trước CMHS về công tác.GDGT trong nhà trường.
Các tổ chức xã hội trong đó có cơ quan y tế học đường và còn các tổ chức xã hội khác cũng tổ chức các hoạt động chung của cộng đồng có sự tham gia của HS góp phần mở mang kiến thức cho các em. Ban đại diện CMHS cũng đóng góp trong quá GDGT cho con em mình. (Nguyễn Công Hướng, 2020)
Tóm lại, các điều kiện giúp thực hiện hoạt động GDGT cho HS tại trường tiểu học bao gồm nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, thiết bị, tài chính và sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong GDGT cho HS. Những điều kiện này đóng vai trò tiên quyết tác động đến chất lượng của công tác GDGT.
1.4. Lý luận về quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh tại trường tiểu học Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
1.4.1. Tầm quan trọng của quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh tại trường tiểu học
Quản lý hoạt động GDGT cho HSTH thực chất là quá trình của chủ thể quản lý lập kế hoạch, tổ chức và chỉ đạo thực hiện, kiểm tra, đánh giá hoạt động GDGT cho HS tiểu học. Lập kế hoạch GDGT có tác dụng định hướng cho hoạt động GDGT cho HS của nhà trường, tạo điều kiện cho người quản lý giám sát, kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh việc thực hiện GDGT. Trên cơ sở đó sắp xếp, phân bổ nhân lực, vật lực, huy động toàn bộ tổ chức xã hội cùng chung tay thực hiện quá trình GDGT sao cho đồng bộ, đạt hiệu quả tối ưu nhất.
Tổ chức trong quản lý là việc thiết kế cơ cấu các bộ phận sao cho phù hợp với mục tiêu của tổ chức; đồng thời còn phải chú ý đến phương thức hoạt động, đến quyền hạn của từng bộ phận, tạo điều kiện cho sự phối hợp giữa các bộ phận, GV trong GDGT cho HS. Cụ thể là Hiệu trưởng sẽ phân nhiệm vụ quản lý, điều hành hoạt động chuyên môn cho phó hiệu trưởng chuyên môn. Phó hiệu trưởng chuyên môn sẽ triển khai đến các tổ trưởng chuyên môn về hoạt động giảng dạy, tổ chức thực hiện lồng ghép GDGT qua các môn học, qua các hoạt động GD khác của nhà trường.
Chỉ đạo giúp cho hoạt động GDGT được thực hiện theo kế hoạch, đảm bảo mục tiêu đã đề ra. Đây là quá trình nhà quản lý tác động đến đối tượng quản lý một cách có chủ đích, hướng dẫn, động viên họ nhằm phát huy hết tiềm năng của họ hướng vào việc đạt mục tiêu chung. Chỉ đạo từ cá nhân đến từng bộ phận trong, ngoài nhà trường trong thực hiện GDGT cho HS.
Kiểm tra là chức năng xuyên suốt quá trình quản lý. Trong quản lý hoạt động GDGT, kiểm tra giúp cho CBQL xây dựng được các tiêu chuẩn cụ thể để đánh giá được hiệu quả việc thực hiện, từ đó, kịp thời điều chỉnh các sai lệch nhằm làm cho hoạt động GDGT đạt mục tiêu đã định.
Như vậy quản lý hoạt động GDGT cho HSTH đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động GDGT cho HS của nhà trường. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
1.4.2. Chức năng quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh ở trường tiểu học
- Xây dựng kế hoạch giáo dục giới tính cho học sinh tại trường TH
Nhận định và phân tích tình hình, bối cảnh; dự báo các khả năng; lựa chọn và xác định các mục tiêu, mục đích và hoạch định con đường, cách thức biện pháp để đạt được mục tiêu, mục đích của quá trình. Đây là các vấn đề trọng tâm trong khâu xây dựng kế hoạch vì xây dựng kế hoạch là chức năng đầu tiên và cơ bản của quản lý, trong đó cần xác định những vấn đề như: Xác định hình thành mục tiêu và đảm bảo về các điều kiện, nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu và cuối cùng là quyết định xem hoạt động nào là cần thiết để đạt được mục tiêu đặt ra (Trần Kiểm, 2013).
Xây dựng kế hoạch là khâu đầu tiên của quá trình quản lý. Kế hoạch là công cụ quản lý giúp Hiệu trưởng đưa ra những định hướng phù hợp theo mục tiêu GD mà nhà trường đã đề ra. Ở trường tiểu học, nhà trường thường không xây dựng bản kế hoạch riêng về GDGT mà kế hoạch GDGT là một bộ phận trong kế hoạch GD HS của nhà trường. Nội dung kế hoạch GDGT cho HS ở trường tiểu học cần dựa trên những cơ sở sau:
Dựa trên phân tích thực trạng GDGT trong năm học. Thực trạng này nêu rõ trong kết quả tổng kết năm học. Từ đó thấy được ưu và nhược điểm của công tác GDGT, những vấn đề gì còn tồn tại, xếp ưu tiên từng vấn đề cần giải quyết. Hiệu trưởng cần lưu tâm đến các nội dung đạo đức giới tính, nhu cầu giới tính của HS và những hành vi văn hóa giao tiếp phù hợp với giới tính, các nội dung GD sức khỏe tuổi dậy thì vv.. và những nội dung GD tương ứng.
Dựa trên phân tích các kế hoạch hướng dẫn chung của ngành, trường. Sau đó xây dựng kế hoạch Kế hoạch này là kế hoạch cụ thể về một mặt GD cần thiết của nhà trường. Nêu rõ sự thống nhất GDGT với các mặt GD khác phù hợp với điều kiện của nhà trường.
Dựa trên tìm hiểu đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương. Vì quá trình GDGT thống nhất biện chứng với quá trình xã hội, với môi trường sống.
Tìm hiểu các chuẩn mực, giá trị đạo đức trong xã hội của chúng ta hiện nay và các hình thức GDGT đã triển khai để xây dựng nội dung GDGT cho HS.
Xác định điều kiện GD như: nhân lực, cơ sở vật chất, tài chính, quỹ thời gian, sự phối hợp với lực lượng GD trong trường và ngoài trường.
- Những yêu cầu khi xây dựng kế hoạch GDGT: Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
Kế hoạch thể hiện rõ được tính khoa học, tính kế thừa, toàn diện, cụ thể và trọng tâm trong từng thời gian cụ thể. Kế hoạch phải phát huy những mặt ưu điểm, khắc phục những mặt yếu kém chỉ ra được chiều hướng mới trong việc GDGT của GV. Kế hoạch cần xác định rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, thời gian, hình thức tổ chức, biện pháp, kiểm tra, đánh giá hoạt động GDGT. Kế hoạch nổi bật được sự phân cấp, phân quyền quản lý của Hiệu trưởng đòi hỏi bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và cụ thể.
- Tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh tại trường tiểu học
Theo tác giả Nguyễn Thị Tuyết Hạnh (2015) trong tác phẩm Giáo trình khoa học quản lý GD của NXB GD Hà Nội đã cho rằng: Tổ chức là tập hợp những cá nhân, bộ phận khác nhau dưới sự tác động của quản lý đến phân công trách nhiệm cho từng cá nhân và từng bộ phận trong nhà trường.
Vì vậy, để triển khai các kế hoạch GDGT cho HSTH được đồng bộ và liên quan mật thiết đến tổ chức hoạt động dạy học các môn văn hoá cũng như các hoạt động GD khác trong nhà trường. Tổ chức thực hiện kế hoạch GDGT cho HS bao gồm:
Thành lập Ban tham vấn học đường trong đó có nhánh nhỏ tham vấn GDGT cho HS tiểu học tại trường: Đây là nội dung quan trọng, nếu không có bộ máy tổ chức sẽ không thể điều tiết các hoạt động GDGT, thành lập Ban tham vấn cần lưu ý Hiệu trưởng làm trưởng ban; Phó hiệu trưởng chuyên môn và Phó hiệu trưởng bán trú làm Phó trưởng ban; các tổ trưởng chuyên môn, tổng phụ trách Đội, Bí thư Chi Đoàn, Chủ tịch công đoàn là ủy viên.
Phân công nhiệm vụ của các bộ phận, cá nhân trong Ban tham vấn và phụ trách nhánh GDGT: Hiệu trưởng cần phân công nhiệm vụ rõ ràng, cụ thể cho từng bộ phận, cá nhân trong Ban tham vấn và phụ trách nhánh GDGT như sau:
Đối với Trưởng ban: Xây dựng được kế hoạch tổng thể cho hoạt động GDGT cho HS tại trường tiểu học, từ đó chỉ đạo tổng thể để thực hiện hoạt động một cách đồng bộ trong nhà trường.
Đối với Phó Trưởng ban: Cụ thể hoá kế hoạch hoạt động GDGT cho HS tại trường tiểu học cho GV, nhân viên theo các chuyên đề; cụ thể hoá các mục tiêu, nhiệm vụ theo từng học kì, từng năm học.
Đối với Uỷ viên: Tuỳ theo phân công nhiệm vụ mà mỗi hành viên phải tự xây dựng được kế hoạch cá nhân về hoạt động GDGT cho HSTH.
Đối với lực lượng phụ trách chuyên về nhánh GDGT: Thực hiện trực phòng tham vấn học đường theo lịch phân công của Phó hiệu trưởng chuyên môn; xây dựng kế hoạch và thu thập tài liệu về nội dung GDGT cho HSTH; liên kết với nhân viên y tế, CMHS để cùng thực hiện nhiệm vụ GDGT cho HSTH. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
Triển khai cho GV toàn trường về mục tiêu, yêu cầu và biện pháp thực hiện GDGT: Hiệu trưởng cần triển khai mục tiêu, biện pháp cũng như hình thức thực hiện GDGT cho GV, nhân viên trong trường. Từ đó phân công, giao trách nhiệm cụ thể cho từng thành viên trong nhà trường thực hiện hoạt động GDGT được thống nhất và đi đúng mục tiêu đề ra.
Tổ chức hoạt động bồi dưỡng năng lực GDGT cho GV: Hiệu trưởng xây dựng kết hoạch liên kết với trung tâm GD có mảng GDGT, phân công trách nhiệm phù hợp cho từng cá nhân tham gia giảng dạy trong nhà trường, để xây dựng kế hoạch tự bồi dưỡng thông qua nguồn học liệu được nhận từ bên liên kết.
Huy động các nguồn lực ngoài trường để tiến hành GDGT cho HS: Hiệu trưởng sẽ phân công trách nhiệm rõ ràng cho từng thành viên trong nhà trường; các tổ trưởng chuyên môn hướng dẫn GV chủ nhiệm lên kế hoạch tổ chức thực hiện các buổi sinh hoạt với gia đình HS để thống nhất mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức thực hiện hoạt động GDGT cho HSTH.
Tổ chức môi trường GD để thu hút GV và HS tham gia tích cực, phát huy vai trò chủ đạo của giáo viên và vai trò tự giác, tích cực, chủ động của HS: Hiệu trưởng tổ chức các hoạt động GDGT cho HS tại trường tiểu học (GV dạy lồng ghép, tích hợp GDGT trong các môn học; GDGT trong các hoạt động GD; GDGT trong GD kĩ năng sống, hoạt động trải nghiệm…); các phong trào Đoàn, Đội tổ chức, lồng ghép GDGT có sự tham gia của GV và HS .
Xác định các nguồn lực cần huy động (cơ sở vật chất, kinh phí, nguồn nhân lực,…) trong GDGT cho HS tiểu học: Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch hoạt động GDGT cho HS có sự phân công rõ ràng với Phó hiệu trưởng chuyên môn, Phó hiệu trưởng bán trú, các tổ trưởng chuyên môn và đại diện CMHS nhà trường về kinh phí tổ chức hoạt động GDGT, điều kiện cơ sở vật chất, nhân lực tham gia hoạt động GDGT cho HSTH.
Tổ chức thông tin trong suốt quá trình GDGT cho HS tiểu học: Hiệu trưởng xây dựng kênh thông tin báo cáo qua email, zalo để thường xuyên phản ánh kịp thời những vấn đề gặp khó khăn cần giải quyết và những vấn đề cần điều chỉnh hoạt động GDGT cho HS trong suốt quá trình thực hiện.
- Chỉ đạo hoạt động GD giới tính cho HS ở trường tiểu học
Chức năng chỉ đạo đóng vai trò quan trọng trong sự quyết định đến việc thành công của tổ chức. Đây là chức năng thứ ba trong quá trình quản lý, giúp nhà chủ thể quản lý huy động mọi lực lượng vào việc thực hiện hiệu quả mục tiêu kế hoạch đề ra. (Trần Kiểm, 2012).
Hiệu trưởng chỉ đạo thực hiện kế hoạch GDGT thông qua bước chỉ huy, ra lệnh cho các cá nhân, bộ phận trong nhà trường thực hiện những hoạt động để bảo đảm việc GDGT được diễn ra đúng mục tiêu, đúng kế hoạch, tập hợp và phối hợp các lực lượng GD sao cho đạt hiệu quả. Cụ thể việc chỉ đạo hoạt động GDGT thông qua các môn học, các hình thức GD trong nhà trường như sau: Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
- Chỉ đạo thực hiện GD giới tính thông qua các môn học như: Môn Tự nhiên và xã hội, Khoa học,…
Hiệu trưởng chỉ đạo tổ chuyên môn hướng dẫn GV chủ nhiệm xây dựng nội dung chương trình cụ thể và tổ chức thực hiện chương trình đã xây dựng thông qua các buổi học chuyên đề, các tiết học tích hợp. Chương trình cần bảo đảm các nội dung sau:
Khái niệm chung về giới tính, tâm lý lứa tuổi, sự phát triển ở tuổi dậy thì, cách vệ sinh cơ thể tuổi dậy thì. GD đạo đức giới tính cho HS nam và HS nữ, GD chuẩn mực giao tiếp với bạn khác giới, rung động đầu đời với bạn khác giới…GD sức khỏe tuổi dậy thì và cách phòng tránh xâm hại…
- Chỉ đạo thực hiện GDGT thông qua hoạt động GD ngoài giờ lên lớp
Tổ chức cho HS nghe nói chuyện về các GDGT. Người truyền đạt phải là những GV có am hiểu về GDGT như: bác sĩ, chuyên gia về tâm lý,… Tổ chức hội thi vẽ tranh, thuyết trình, hùng biện trong phạm vi toàn trường. Hội thi mang lại không khí thi đua, tìm hiểu, vừa rèn cho các em khả năng thuyết trình, phát triển ngôn ngữ nói. Thi sáng tạo tranh ảnh, sáng tác văn, thơ, soạn kịch bản đề tài GDGT. Thi văn nghệ: múa hát, đóng kịch, kể chuyện,…Thi rung chuông vàng tìm hiểu về giới tính, tâm lý lứa tuổi…
Hiệu trưởng cũng nên quan tâm chỉ đạo GV và Đoàn, Đội tổ chức các Câu lạc bộ em yêu thích (các môn văn hoá, năng khiếu, thể dục,…), các sân chơi theo các chương trình truyền hình (siêu trí tuệ, ai là triệu phú,..), tìm hiểu khoa học, tìm hiểu văn hóa quê hương, giao lưu văn hoá, văn nghệ, hoạt động thể dục thể thao, vệ sinh trường lớp, khu dân cư,…
- Chỉ đạo thực hiện GDGT thông qua hoạt động tuyên truyền, sinh hoạt tập thể của HS.
Tổ chức các buổi sinh hoạt, trao đổi, thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm về phương pháp GDGT cho HS; các hình thức tổ chức GD sinh động hiệu quả, giúp HS khắc sâu kiến thức;…
Sưu tầm, cung cấp các tài liệu liên quan đến hoạt động GDGT nhằm giúp GV tự nghiên cứu như: tài liệu cung cấp kiến thức về GDGT; các tranh ảnh, băng hình, mẫu vật, biểu bảng, số liệu,… có liên quan; văn bản, chủ trương, đường lối, của ngành GD về công tác GDGT,… Đây là cơ sở pháp lý giúp GV có đủ tự tin khi thực hiện GDGT trong nhà trường. Sau đó, Hiệu trưởng kiểm tra sự hiểu biết của GV thông qua tọa đàm, hoặc yêu cầu GV viết thu hoạch.
- Chỉ đạo bồi dưỡng nâng cao năng lực GV về GDGT cho HSTH
Nhà trường triển khai chỉ đạo giúp GV nâng cao năng lực GDGT. Không có GV chuyên trách, do các kiến thức GDGT gần gũi với các bộ môn Tự nhiên và xã hội, Khoa học nên đa số các nhà trường đều giao công tác này cho chủ nhiệm lớp đảm nhiệm. Mặt khác GDGT là một trong những nội dung GD mới, tài liệu hướng dẫn giảng dạy quá ít, hoặc hầu như không có, GV chưa có nhiều kinh nghiệm cho nên quản lý việc bồi dưỡng, tập huấn cán bộ GV, CNV trong trường về GDGT là công việc mà Hiệu trưởng cần quan tâm. Việc bồi dưỡng cần có kế hoạch cụ thể ứng với từng tháng, từng kỳ và trong cả năm học. Hiệu trưởng có thể thực hiện bằng nhiều hình thức như: Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
Triển khai các loại văn bản chỉ đạo cấp trên, các văn bản pháp quy của Nhà nước, tài liệu về công tác GDGT.
Mời các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong công tác GDGT (chuyên gia tâm lý, bác sĩ…) về trao đổi cho GV nhằm giúp GV tự nâng cao những hiểu biết về GDGT. Hiệu trưởng sắp xếp khung thời gian phù hợp để thực hiện kế hoạch bồi dưỡng. Hiệu trưởng cần cập nhật kịp thời những văn bản chỉ đạo nhằm bảo đảm tính thời sự của công tác GDGT.
- Chỉ đạo phối hợp các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường để GDGT cho HSTH
Để công tác GDGT cho HS đạt hiểu quả cao thì khi phối hợp các lực lượng cần thực hiện theo nguyên tắc: cộng tác trên cơ sở tôn trọng chức năng, nhiệm vụ, vai trò của nhau, không được làm ảnh hưởng lẫn nhau, vì nhiệm vụ GD chung. CBQL cần chỉ đạo phối hợp lực lượng GD trong nhà trường là Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thanh niên thành phố Hồ Chí Minh,… Lực lượng GD ngoài nhà trường bao gồm: gia đình, chính quyền địa phương, công an, Hội phụ nữ, y tế, Mặt trận Tổ quốc, Hội chữ thập đỏ,…
- Kiểm tra, đánh giá hoạt động GD giới tính cho HS ở trường tiểu học
Kiểm tra là quá trình xem xét thực tiễn, phát hiện sai sót, hạn chế, còn đánh giá là phân loại và xếp hạng, vì vậy kiểm tra và đánh giá phải đi kèm với nhau (Trần Kiểm, 2012). Như vậy, chức năng của kiểm tra là phát hiện, điều chỉnh và khuyến khích các bộ phận, cá nhân thực hiện theo mục tiêu kế hoạch đề ra. Kiểm tra, đánh giá hoạt động GDGT cần chú ý thực hiện các nội dung công việc sau:
- Xác định mục đích kiểm tra, đánh giá là nhận định tình hình, phát hiện những lệch hướng, thiếu sót để kịp thời điều chỉnh, sửa chữa hoạt động
- Xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm tra hoạt động
- Triển khai kế hoạch kiểm tra đánh giá hoạt động GDGT cho HS tiểu học đến các bộ phận trong nhà trường.
- Tổ chức kiểm tra hoạt động GDGT trong từng giai đoạn với các phương pháp, hình thức cụ thể. Chẳng hạn: Kiểm tra việc thực hiện của tổ bộ môn, sinh hoạt chuyên đề, kế hoạch chuyên môn của giáo viên. Yêu cầu của việc kiểm tra, đánh giá: Bảo đảm tính khách quan, công khai, dân chủ, và mang tính quần chúng.
- Kiểm tra, đánh giá các nguồn lực từ nhân lực, vật lực và tài lực. Sau đó là điều kiện, CSVC, trang thiết bị phục vụ GDGT.
- Kiểm tra, đánh giá về năng lực GD của giáo viên thông qua dự giờ, thăm lớp: Hiệu trưởng có kế hoạch kiểm tra GDGT thông qua dạy học các môn học chiếm ưu thế bằng hình thức dự giờ, bằng lấy ý kiến phản hồi từ HS, kiểm tra giáo án của giáo viên trước khi lên lớp,…; Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
- Kiểm tra công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên, giáo án tổ chức hoạt động GD ngoài giờ lên lớp, sổ nhật ký chủ nhiệm,…
- Kiểm tra đánh giá mức độ thường xuyên sử dụng phương tiện, trang thiết bị, công cụ trong GDGT.
- Sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm và điều chỉnh hoạt động quản lý GDGT cho HSTH.
- Khen thưởng các GV hoặc bộ phận thực hiện tốt GDGtT và phê bình nhắc nhở những cá nhân, bộ phận chưa hoàn thành tốt GDGT.
Để đánh giá được kết quả thực hiện hoạt động GDGT cho HS ở trường, hiệu trưởng có thể kiểm tra định kỳ hoặc thường xuyên, cũng có thể trực tiếp hoặc gián tiếp với những tiêu chí đã được xây dựng từ trước, thì kết quả kiểm tra đánh giá mới khách quan công bằng rõ ràng.
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh tiểu học
1.5.1. Các yếu tố khách quan
- Chủ trương, chính sách, định hướng và sự chỉ đạo của ngành GD
Theo Chương trình do Bộ GD và Đào tạo quy định hoạt động GDGT được lồng ghép vào môn Tự nhiên và xã hội, Khoa học để giảng dạy. GDGT hiện nay chưa được coi là môn học chính thức trong các nhà trường mà chủ yếu vẫn được lồng ghép ở các môn GD kỹ năng sống, tự nhiên và xã hội, khoa học…(Luật Giáo dục, 2019)
Mặc khác, tài liệu, sách báo đúng đắn khoa học về lĩnh vực này còn ít. Ngược lại có rất nhiều tài liệu phiến diện hoặc thiếu tính khoa học hoặc theo những quan điểm những cách hiểu khác nhau về giới tính khiến cho người đọc và các em HS hoang mang không biết nên theo tài liệu nào. Thậm chí, có những sách biên soạn lệch lạc, chạy theo thị hiếu, thị trường nhằm mục đích kinh doanh nên nhiều khi lại có tác dụng phản diện.
Cuối cùng, là chưa có chỉ đạo cụ thể của ngành về việc giảng dạy nội dung GDGT theo quy định chung, đa phần mỗi trường truyền tải bằng nhiều hình thức khác nhau.
- Điều kiện kinh tế – xã hội, môi trường văn hoá của địa phương
Điều kiện kinh tế – xã hội, môi trường văn hoá của địa phương có tác động rất lớn đến công tác quản lý hoạt động GDGT cho HS cụ thể như: Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
Phong tục tập quán Việt Nam: Do đặc điểm tâm lý dân tộc, nếp sống xã hội nên người dân Việt Nam thường e ngại khi nói đến vấn đề như giới tính, sinh lí nam nữ nên việc dạy nội dung này cho HS dễ bị dư luận hiểu nhầm, có thành kiến ….
Tình hình xã hội phức tạp. Văn hóa phẩm đồi trụy tràn lan nhiều tệ nạn XH như ma túy, trôm cắp ảnh hưởng không tốt tới hiệu quả GD. Hiện trạng đó có thể làm tăng thêm nỗi e ngại của mọi người nếu dạy cho HS những vấn đề như tình yêu, tình dục, sinh lí cơ thể người.
- Nhận thức và trình độ văn hoá của gia đình và các tổ chức xã hội có liên quan
CMHS có tác động rất lớn đến hoạt động GDGT cho HS, giúp HS hình thành nhân cách, kĩ năng và thái độ khi thực hiện những gì liên quan đến giới và giới tính. Khi còn nhỏ, HS ở với ba mẹ sẽ chịu ảnh hưởng rất nhiều qua cách cư xử của cha mẹ, những hành vi đúng mực của cha mẹ qua thời gian sẽ giúp HS hình thành những thái độ đúng mực khi tiếp xúc với người khác giới.
Đối với những trường hợp trẻ bất hạnh phải sống tại mái ấm hoặc cơ sở chăm sóc, thì các tổ chức xã hội cũng phải có trách nhiệm trong việc GDGT cho HS thông qua cách ứng xử hằng ngày, cách GD tập thế,…nhằm giúp công tác GDGT tại nhà trường đạt hiệu quả cao hơn.
- Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học
Hiện nay, tình trạng trẻ hóa trong độ tuổi dậy thì ngày càng tăng cao, dù HSTH được đánh giá là ngây thơ, hồn nhiên, vô tư. Nhưng với thực tế, các em trưởng thành hơn trong suy nghĩ. Vì thế, HS e ngại hoặc không dám đọc một số bài về kinh nguyệt, cấu tạo cơ quan sinh dục nam nữ.
Độ tuổi tiểu học đang có nhu cầu tìm hiểu cao về môi trường xung quanh, nên HS tiểu học sẽ học nhiều điều mới trên phương tiện công nghệ thông tin. Mà lứa tuổi này, các em chưa biết chọn lọc những nội dung nào cho phù hợp. Vì thế, việc bị ảnh hưởng bởi những hoạt động không tốt từ xã hội là điều rất lớn, tác động trực tiếp đến suy nghĩ, hành vi về giới tính.
1.5.2. Các yếu tố chủ quan Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
- Năng lực quản lý của Hiệu trưởng
Nhằm thực hiện tốt công tác quản lý hoạt động GDGT cho HSTH thì năng lực quản lý của Hiệu trưởng được xem như điều kiện tiên quyết. Đây là cũng là một thách thức đối với nhà quản lý. Vì vậy, nếu CBQL nhận thấy được vị trí, tầm quan trọng của GDGT ở cấp tiểu học thì sẽ xây dựng được kế hoạch GDGT khoa học, khả thi. Mặt khác, CBQL sẽ phân công lực lượng tham gia GDGT, trong đó quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế phối hợp của các lực lượng này.
- Năng lực giáo dục của đội ngũ giáo viên
Hiệu quả GDGT chịu ảnh hưởng từ trình độ, năng lực của đội ngũ GV. Đây là vấn đề trọng tâm. Vì, GV là người trực tiếp giảng dạy nội dung GDGT cho HS, việc đòi hỏi GV có đủ năng lực, trình độ chuyên môn là điều cần thiết. Ngoài ra, tác phong sư phạm cũng quan trọng, vì GV chính là tấm gương hành vi chuẩn mực cho HS noi theo. GV cũng cần tự nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân về lĩnh vực GDGT thông qua tự học, tham gia chuyên đề, có tinh thần hăng say nghiên cứu, tiếp nhận những phương pháp giảng dạy mới nhằm nâng cao chất lượng GDGT tại trường tiểu học.
- Sự phối hợp giữa cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và cha mẹ học sinh
Cán bộ quản lý, GV, nhân viên và CMHS là đối tượng trực tiếp tham gia vào hoạt động GDGT cho HS. Vì thế, những đối tượng trên cần thống nhất về nội dung GDGT, từ nhà trường – gia đình – xã hội. Đồng thời, sử dụng hiệu quả và linh hoạt các hình thức GDGT phù hợp với mục tiêu đề ra. Có sự liên kết chặt chẽ nhằm tiếp nhận thông tin GDGT một cách nhanh nhất và cụ thể nhất. Nếu xây dựng được mối liên kết giữa họ trong quá trình GDGT cho HSTH thì hiệu quả mang lại rất cao, có ý nghĩa không chỉ với HS, phụ huynh mà còn với đội ngũ GD của ngành.
Kết luận chương 1 Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
Trong đề tài này, GDGT được hiểu là một phần cần thiết, không thể tách rời của quá trình GD toàn diện trong nhà trường nhằm cung cấp những hiểu biết về GT cho trẻ em, đảm bảo cho nam cũng như nữ được phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức và thẩm mỹ trong lĩnh vực giới tính. Ngoài ra, GDGT cho HSTH còn giúp HS có nhận thức, thái độ và hành vi phù hợp với giới và giới tính. Nội dung GDGT cho HS tiểu học được tiến hành phù hợp với lứa tuổi và phù hợp với mục tiêu GD của nhà trường, bao gồm các vấn đề GD đạo đức giới tính, nhu cầu giới tính, hành vi văn hóa giới tính, GD sức khỏe tuổi dậy thì, vấn đề bình đẳng giới, định kiến về giới, phân biệt giới, phòng chống xâm hại. GD giới tính cần vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo các phương pháp GD và hình thức tổ chức GD có hiệu quả.
Quản lý hoạt động GDGT cho HS tại trường tiểu học là sự tác động cuả Hiệu trưởng đến các đối tượng là CBQL, GV, CNV, HS và CMHS thông qua việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá hoạt động GDGT cho HS.
Ngoài ra, để thực hiện công tác quản lý hoạt động GDGT cho HS tại trường tiểu học, cần quan tâm đến các yếu tố ảnh hưởng như: Chủ trương, chính sách, định hướng và sự chỉ đạo của ngành; Điều kiện kinh tế – xã hội, môi trường văn hoá của địa phương; Nhận thức và trình độ văn hoá của gia đình và các tổ chức xã hội có liên quan; Năng lực quản lý của Hiệu trưởng; Trình độ văn hoá của đội ngũ GV; Đặc điểm tâm sinh lý của HS tiểu học; Sự phối hợp giữa cán bộ quản lý, GV, nhân viên và cha mẹ HS. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh.
Kết quả nghiên cứu ở chương 1 là cơ sở lý luận giúp tác giả xây dựng bộ công cụ khảo sát và tiến hành khảo sát thực trạng hoạt động GDGT và quản lý hoạt động GDGT cho HS tại các trường tiểu học Khu vực 3, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục giới tính cho học sinh

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh […]