Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục mầm non có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách con người. Theo điều 22, chương II, mục 1, Luật giáo dục ghi rõ: “Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một”. Muốn đạt được mục tiêu giáo dục trên, vấn đề đầu tiên là phải quan tâm đến năng lực sư phạm của đội ngũ nhà giáo, bởi vì đây là người trực tiếp tác động đến sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ.
Thực tế cho thấy, vấn đề bảo vệ và chăm sóc trẻ em hiện nay còn nhiều bất cập, đặc biệt là tình trạng bạo hành, xâm hại và tai nạn thương tích ở trẻ em ngày càng gia tăng và trở thành một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em. Hiện nay có khoảng 3 triệu trẻ em từ 0-6 tuổi được chăm sóc tại các trường mầm non, chiếm 26% số trẻ em trong độ tuổi. Điều đáng quan tâm là trẻ em dưới 6 tuổi là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương và dễ gặp rủi ro thương tích do trẻ lứa tuổi này thường thể hiện bản tính hiếu động trong khi các em vẫn còn non nớt cả về thể chất lẫn tinh thần, chưa có sự hiểu biết về kỹ năng sống, chưa có kinh nghiệm trong phòng ngừa các tai nạn, rủi ro. Chính vì thế khả năng tự bảo vệ mình ở lứa tuổi này còn bị hạn chế hơn so với các nhóm lứa tuổi khác. Hội nghị thế giới về sự sống còn, bảo vệ và phát triển trẻ em, họp ngày 20-30/3/1990 tại trụ sở Liên Hợp Quốc ở New York đã tuyên bố: “Tất cả trẻ em trên thế giới đều trong trắng, dễ bị tổn thương và còn phụ thuộc. Đồng thời các em ham hiểu biết, ham hoạt động và đầy ước vọng. Tuổi của các em phải được sống trong vui tươi, thanh bình, được chơi, được học và phát triển. Tương lai của các em phải được hình thành trong sự hòa hợp và hợp tác”. Muốn được như vậy, chính ở trong môi trường nhà trường, trẻ em không chỉ được tiếp nhận tri thức mà còn phải được học cách hình thành các kỹ năng và năng lực sống cho bản thân.“Giáo dục các giá trị sống để có KNS ngày càng được nhìn nhận là có sức mạnh vượt lên khỏi lời răn dạy đạo đức chi tiết đến mức hạn chế trong cách nhìn hoặc những vấn đề thuộc về tư cách công dân. Nó đang xem là trung tâm của tất cả thành quả mà GV và nhà trường tâm huyết có thể hy vọng đạt được thông qua việc dạy về giá trị, KNS”.
Kỹ năng sống của trẻ bao gồm rất nhiều kỹ năng: Kỹ năng giao tiếp ứng xử, kỹ năng vệ sinh, kỹ năng thích nghi với môi trường sống, kỹ năng hợp tác chia sẻ,… Dạy kỹ năng sống cho trẻ là truyền cho trẻ những kinh nghiệm sống của người lớn nhằm giúp trẻ có những kỹ năng đương đầu với những khó khăn trong cuộc sống. Trẻ biết vận dụng, biến những kiến thức của mình để giải quyết những khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày cho phù hợp.
Muốn vậy, người lớn phải tạo cho trẻ có môi trường để trải nghiệm, thực hành. Nhưng trên thực tế, trong xã hội hiện nay các gia đình thường chú trọng đến việc học kiến thức của trẻ mà chưa chú ý đến phát triển các kỹ năng sống cho trẻ. Luôn bao bọc, nuông chiều, làm thay trẻ khiến trẻ ỷ lại, ích kỷ, không quan tâm đến người khác và các kỹ năng trong cuộc sống rất hạn chế. Khó khăn cho trẻ trong việc khi có tình huống bất ngờ xảy ra Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
Xuất phát từ những lý do trên đây, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương” làm đề tài nghiên cứu.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Quản Lý Giáo Dục
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận, đề tài tiến hành khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Đề tài đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa lý luận về hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi và quản lý hoạt động giáo dục cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non.
- Khảo sát và phân tích thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Đề xuất các biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
5. Giả thuyết khoa học
Trên thực tế hiện nay hoạt động GDKNS và quản lý hoạt động GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi đã và đang được triển khai ở các trường mầm non nói chung và các bậc học nói riêng. Tuy nhiên, quản lý hoạt động GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường MN vẫn còn tồn tại những yếu kém bất cập từ khâu lập kế hoạch cho đến tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá, phương thức chưa phù hợp với yêu cầu của thực tiễn giáo dục mầm non. Nếu đề xuất và thực hiện được những giải pháp quản lý hoạt động GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi thì sẽ nâng cao được hiệu quả giáo dục KNS hình thành, phát triển được KNS phù hợp cho trẻ MN.
6. Phạm vi nghiên cứu
6.1. Về nội dung Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
Đề tài khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương dưới sự điều hành, lãnh đạo của hiệu trưởng nhà trường.
6.2. Về đối tượng khảo sát:
Đề tài khảo sát cán bộ quản lý (Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng, tổ phó) và giáo viên dạy lớp 5-6 tuổi tại một số trường mầm non công lập trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
6.3. Về thời gian
Đề tài khảo sát thực trạng trong năm học 2019-2020
7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận
7.1.1. Quan điểm hệ thống – cấu trúc
Quan điểm hệ thống – cấu trúc nghiên cứu hiện tượng một cách toàn diện, trên nhiều mặt, dựa vào việc phân tích đối tượng thành các bộ phận. Xác định mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố của hệ thống để tìm quy luật phát triển. Qua cách tiếp cận quan điểm này, người nghiên cứu tìm hiểu được mối liên hệ chặt chẽ giữa quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi và quản lý các hoạt động sư phạm khác ở nhà trường. Thông qua việc nghiên cứu, quan điểm hệ thống – cấu trúc giúp người nghiên cứu tìm hiểu chính xác thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
7.1.2. Quan điểm lịch sử – logic
Tìm hiểu sự hình thành và phát triển của công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non nói chung, quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi nói riêng trên thế giới, tại Việt Nam và trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Quan điểm này giúp người nghiên cứu xác định phạm vi không gian, thời gian và điều kiện hoàn cảnh cụ thể, để điều tra thu thập số liệu chính xác, đúng với mục đích nghiên cứu đề tài, trình bày công trình nghiên cứu theo một trình tự hợp lý.
7.1.3. Quan điểm thực tiễn Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xuất phát từ thực tiễn của công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi trên địa bàn tỉnh Bình Dương nói chung và thành phố Thủ Dầu Một nói riêng để tìm ra những tồn tại, khó khăn trong công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở các cơ sở giáo dục này. Từ đó, đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non phù hợp với thực tiễn.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu
7.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp sách báo và các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, phân loại và hệ thống hoá những nội dung lý luận nói trên làm cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non.
7.2.2. Các phương pháp thực tiễn
Để đánh giá khách quan về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau đây:
7.2.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Điều tra giáo dục là phương pháp khảo sát một số lượng lớn các đối tượng nghiên cứu ở một hay nhiều khu vực, vào một hay nhiều thời điểm nhằm thu thập số liệu phục vụ cho mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.
Mục đích: Nhằm phối hợp với các phương pháp khác để thu thập thông tin về thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương mà đề tài đề xuất.
Nội dung: Nội dung xoay quanh về công tác quản lý, hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi (gồm câu hỏi đóng và câu hỏi mở ở các đối tượng: Ban giám hiệu và giáo viên dạy lớp 5-6 tuổi) nhằm thu thập thông tin về thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi.
Cách tiến hành: Xây dựng phiếu khảo sát Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
Phiếu 1: Dành cho cán bộ quản lý (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng) và giáo viên giảng dạy các lớp 5-6 tuổi tại các cơ sở giáo dục mầm non tuổi trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Phiếu 2: Phiếu khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp
7.2.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Mục đích phỏng vấn nhằm khẳng định những vấn đề được trả lời trong phiếu điều tra và thu thập thông tin cho những vấn đề còn chưa được trả lời rõ ràng trong số liệu điều tra viết. Đây là phương pháp bổ trợ cho phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
Nội dung phỏng vấn về những thuận lợi khó khăn cũng như thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi và công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi của hiệu trưởng ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Ngoài ra chúng tôi còn trò chuyện với một số trẻ học ở lớp 5-6 tuổi về một số kỹ năng sống cơ bản mà trẻ học được sau giờ tổ chức hoạt động của giáo viên trên lớp cũng như các hoạt động khác trong ngày.
Cách thức phỏng vấn: Chúng tôi chọn mẫu và phỏng vấn một số cán bộ quản lý, giáo viên và trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Số lượng mà người nghiên cứu phỏng vấn bao gồm 4 hiệu trưởng, 04 tổ trưởng chuyên môn, 04 giáo viên và 10 trẻ học lớp 5-6 tuổi tại các trường mầm non trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Số liệu phỏng vấn sẽ dùng vào việc đối chiếu, so sánh để làm rõ kết quả điều tra về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
7.2.3. Phương pháp thống kê toán học
Mục đích chính của phương pháp này là xử lý thông tin thu được một cách chính xác, khoa học để đưa ra những kết luận cụ thể về đối tượng nghiên cứu.
Phương pháp xử lý và phân tích số liệu trong quá trình nghiên cứu trên phần mềm SPSS dùng trong môi trường Window về thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
Về lý luận: Đề tài góp phần làm rõ hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thêm cơ sở lý luận về công tác quản lý 5-6 tuổi ở các trường mầm non.
Về thực tiễn: Nhận xét, đánh giá đúng thực trạng hoạt động phát triển giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Từ đó, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non có hiệu quả nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường.
9. Cấu trúc của luận văn
Cấu trúc của luận văn gồm:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non.
- Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
- Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN Ý HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ 5-6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Những nghiên cứu nước ngoài
Kỹ năng sống là một thành phần quan trọng của nhân cách con người trong xã hội hiện đại, có ý nghĩa lớn đối với chất lượng cuộc sống cá nhân cũng như sự phát triển bền vững của xã hội. Vì vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống cho con người nói chung và trẻ em nói riêng trong các nhà trường và xã hội.
Khái niệm kỹ năng sống lần đầu tiên được bàn đến trong Hiến chương Ottawa của WHO (1986) về nâng cao sức khỏe, trong đó có nêu mục “các kỹ năng cá nhân” nhằm “hỗ trợ sự phát triển cá nhân và xã hội thông qua cung cấp thông tin, giáo dục sức khỏe và nâng cao kỹ năng sống. Bằng cách đó, nó gia tăng các cơ hội, giúp người dân có khả năng chọn lựa những điều có lợi cho sức khỏe và môi trường” [116][117]. Khái niệm này liên kết kỹ năng sống với việc ra quyết định liên quan tới trách nhiệm cá nhân và và năng lực để thực hiện các lựa chọn hành vi thích hợp cho một cuộc sống lành mạnh. Về sau, WHO (1997) tiếp tục mở rộng khái niệm này, theo đó KNS “có thể được định nghĩa là các khả năng về thích nghi và hành vi tích cực giúp cho các cá nhân có thể đáp ứng hiệu quả các nhu cầu và thử thách trong cuộc sống hàng ngày” [119]. Từ góc độ sức khỏe tâm thần, WHO (1999) xác định 5 lĩnh vực cơ bản của kỹ năng sống bao gồm: Ra quyết định và giải quyết vấn đề; tư duy sáng tạo và tư duy phê phán; thông tin và kỹ năng giao tiếp; ý thức về bản thân và sự đồng cảm; đối phó với cảm xúc và đối phó với căng thẳng
Ngoài ra, một sự phân loại tương tự cũng được thực hiện bởi tổ chức CASEL (Hoa Kỳ), trong đó xác định 5 nhóm năng lực xã hội và cảm xúc nòng cốt: Nhận thức bản thân, nhận thức xã hội, quản lý bản thân, các kỹ năng quan hệ và kỹ năng ra quyết định [66]. Từ những năm 1990, khái niệm KNS đã xuất hiện trong một số chương trình giáo dục của Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), trước tiên là chương trình “Giáo dục các giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ [109]. Trong chương trình đánh giá toàn cầu về GD kỹ năng sống, UNICEF (2012) nhấn mạnh kỹ năng sống “đề cập đến một nhóm các kỹ năng tâm lý xã hội và cá nhân có thể giúp mọi người đưa ra quyết định, giao tiếp hiệu quả, phát triển các kỹ năng đương đầu và tự quản lý nhằm giúp họ có một cuộc sống lành mạnh và hiệu quả” [108]. Nhìn chung, các nghiên cứu về kỹ năng sống trong giai đoạn này mong muốn thống nhất được một quan niệm chung về kỹ năng sống cũng như đưa ra được một bảng danh mục các kỹ năng sống cơ bản mà thế hệ trẻ cần có. Phần lớn các nghiên cứu quan niệm về KNS theo nghĩa hẹp, đồng nhất nó với các kỹ năng xã hội. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
Nhấn mạnh vai trò của KNS và GD kỹ năng sống, Chương trình hành động Dakar của UNESCO được trình bày tại Diễn đàn thế giới về Giáo dục cho mọi người họp ở Senegan (2000) đã đề ra 6 mục tiêu, trong đó mục tiêu 3 khẳng định: “Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục kỹ năng sống phù hợp”, còn mục tiêu 6 yêu cầu: “Khi đánh giá chất lượng giáo dục cần phải đánh giá kỹ năng sống của người học” [111] . Việc dạy kỹ năng sống như các kỹ năng chung có liên quan đến cuộc sống hàng ngày có thể hình thành nền tảng của giáo dục kỹ năng sống nhằm thúc đẩy tinh thần khỏe mạnh, tương tác và hành vi tích cực. Nhiều kỹ năng giải quyết vấn đề cụ thể như đối phó với sự ép buộc từ bạn bè trong việc sử dụng ma túy, quan hệ tình dục không được bảo vệ, hay tham gia vào nhóm phá rối… có thể được xây dựng trên nền tảng này. Nhiều nghiên cứu cho thấy việc giảng dạy các kỹ năng sống trong chương trình giáo dục là một phương pháp hiệu quả để giáo dục phòng ngừa ban đầu, chẳng hạn như: chương trình về công tác phòng chống lạm dụng thuốc (Botvin và cộng sự, 1980, 1984 [61] [60]; Pentz, 1983 [94]) và mang thai vị thành niên (Zabin và cộng sự, 1986 [123] ; Schinke, 1984 [99]), việc phát triển trí thông minh (Gonzalez, 1990 [71] ) và phòng chống bắt nạt ở trẻ (Olweus, 1990 [93]). Chương trình giáo dục kỹ năng sống cũng được phát triển cho công tác phòng chống AIDS [121], cho vấn đề giáo dục hòa bình (Prutzman và cộng sự, 1988 [98] ), nâng cao sự tự tin và lòng tự trọng (TACADE, 1990 [102] ).giáo dục kỹ năng sống với các chương trình thúc đẩy và phòng chống ở phạm vi các lĩnh vực khá rộng đã chứng tỏ giá trị của kỹ năng sống trong việc tăng cường sức khỏe thể chất và tinh thần.
Nghiên cứu của Nasheeda (2008) thực hiện tại Hồng Kong về giáo dục kỹ năng sống cho lứa tuổi thanh thiếu niên cho thấy ở lứa tuổi này, trẻ phải trải qua nhiều thay đổi về phát triển thể chất, nhận thức, tình cảm và xã hội. Lúc này, trẻ cho rằng chúng không thể truyền đạt những gì chúng muốn với cha mẹ, GV và người lớn, thường cảm thấy bản thân nằm giữa xung đột và tranh luận. Những tình huống đó khiến trẻ căng thẳng, tức giận, tự ti, dẫn đến kết quả học tập thấp và có những hành vi gây rối ở trường học cũng như ở nhà. Chương trình giáo dục kỹ năng sống với các kỹ năng cơ bản để phát triển cá nhân và xã hội sẽ giúp trẻ ứng phó với những thách thức hàng ngày trong đời sống. Thông qua đó, trẻ biết được cách thức tốt hơn để giao tiếp với người khác, nâng cao sự tự tin, học cách chịu trách nhiệm về hành động của mình, trưởng thành hơn, thích thú và biết đưa ra những lựa chọn và quyết định đúng đắn [55].
Đối với trẻ mẫu giáo từ 3-5 tuổi, đây là giai đoạn trẻ bắt đầu phát triển thêm các mối quan hệ phức tạp với những người khác đặc biệt hoạt động vui chơi của trẻ thường tập trung vào tổ chức các trò chơi liên quan đến quy tắc và cấu trúc. Trẻ dần phát triển các kỹ năng làm việc và chơi hợp tác, chia sẻ, thay phiên nhau. Chúng cũng đang đạt được khả năng đồng cảm với những người khác và bắt đầu hiểu rõ các khái niệm như sự tôn trọng, công bằng và bình đẳng. Ở lứa tuổi này, trẻ cũng đang bắt đầu áp dụng các kỹ năng và kiến thức mà chúng đã phát triển để tiếp cận với những kinh nghiệm mới, dự đoán kết quả và giải quyết các vấn đề mới. Do đó, trẻ cần được tinh chỉnh các kỹ năng để bản thân có thể thực hiện một loạt các nhiệm vụ tự chăm sóc cũng như phối hợp chơi với bạn đồng trang lứa, bao gồm các kỹ năng như lòng tự trọng, tự tôn để tự tin đối mặt với những kinh nghiệm và thách thức mới, các kỹ năng xã hội, các kỹ năng tự giúp đỡ bản thân, các kỹ năng về tư duy và giải quyết vấn đề [57].
Theo MOE (2006), để giáo dục kỹ năng sống hiệu quả, GV cần sử dụng các phương pháp dạy và học trong đó tạo cơ hội cho những người học xác định các vấn đề của bản thân, thảo luận về các giải pháp, lập kế hoạch và thực hiện các chương trình hành động hiệu quả. Việc dạy và học kỹ năng sống thông qua các phương pháp có sự tham gia của người học cho thấy việc học tập đạt kết quả tốt nhất khi người học phải tích cực tham gia trong giờ học [87]. Các phương pháp dạy và học có sự tham gia của người học được khuyến khích dùng trong giáo dục kỹ năng sống bao gồm: nghiên cứu trường hợp, động não, thăm thực địa, thảo luận phiên, kể chuyện, hát, thảo luận nhóm, tranh luận, áp phích, trò chơi đóng vai, các trò chơi, dự án, biểu diễn thơ và đóng kịch (KIE, 2008 [77]). Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
Nghiên cứu của Barnet và cộng sự (1995) tiến hành tại Pakistan và Ấn Độ về giáo dục kỹ năng sống cho thấy việc phát triển GV ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện chương trình giảng dạy. Nghiên cứu chỉ ra rằng đào tạo GV được coi là một khoản chi phí trong quá trình thực hiện chương trình. Kết quả là thực tế ở nhiều trường học lựa chọn GV không được trải qua đào tạo về kỹ năng sống, hoặc đôi khi là người có kinh nghiệm hay mới chỉ đủ điều kiện để giảng dạy, điều này ảnh hưởng tiêu cực đến việc giảng dạy chương trình [58].
Các nghiên cứu của Buthelezi và cộng sự (2000) [63], Boler và Caroll (2003) [59], Meyers (2011) [86] cho thấy việc giảng dạy kỹ năng sống là một thách thức trong ngành giáo dục. GV ở hầu hết các trường học thường thích dành thời gian vào việc giảng dạy kiến thức và chuẩn bị cho HS tham gia các kỳ thi. Vai trò của GV trong việc phát triển các năng lực tâm lý xã hội là rất quan trọng. GV hỗ trợ và khuyến khích trẻ thông qua việc thúc đẩy trẻ tăng cường sự chủ động. Sự hỗ trợ này là đặc biệt cần thiết đối với trẻ bước vào tuổi thiếu niên. Trong giai đoạn chuyển tiếp này, trẻ cần nhận được sự đồng cảm, chăm sóc và hỗ trợ từ phía GV (Eggen và Kauchak, 2010 [70]). Abobo (2012) xác định những khó khăn liên quan đến giáo dục kỹ năng sống bao gồm thiếu sự đào tạo GV, thái độ của GV tiêu cực, thiếu tài liệu giảng dạy và học tập, thiếu các phương pháp giảng dạy phù hợp. Việc đào tạo GV giảng dạy các kỹ năng sống chưa được coi là một phần trong chương trình đào tạo GV ở các trường đại học và cơ sở đào tạo GV. Về bản chất, GV không được trang bị đầy đủ các kỹ năng có liên quan để giảng dạy kỹ năng sống, do đó họ không thể giáo dục kỹ năng sống một cách hiệu quả [54].
Kolosoa (2010) chỉ ra tình trạng GV tại các trường học thiếu năng lực giảng dạy kỹ năng sống, các chương trình giáo dục phải đối mặt với các thách thức phát sinh từ việc nhà trường không tuân thủ các nguyên tắc về chất lượng giáo dục. Chẳng hạn, các trường học không giới thiệu các biện pháp đo lường, đánh giá và cấp chứng chỉ về GD kỹ năng sống, điều này làm giảm giá trị và sự ghi nhận về vị trí của giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường. Tương tự, người học cũng không có các khóa học được đánh giá một cách nghiêm túc, vì thế họ cũng không dành sự quan tâm xứng đáng cho GD kỹ năng sống. Ngoài ra, tập quán văn hóa của người dân không khuyến khích người lớn và trẻ nhỏ tham gia các cuộc thảo luận liên quan đến tình dục và chủ đề sức khỏe sinh sản. Vì vậy, điều này tạo ra một số xung đột ở cả người học và GV, kết quả là không khuyến khích được người học tham gia, họ có thể cảm thấy khó chịu, miễn cưỡng và nhút nhát khi tham gia thảo luận về tình dục và chủ đề sức khỏe sinh sản (dẫn theo Kitimo, 2014) [80].
Ngoài ra, nghiên cứu trường hợp của Chirwa (2007) về các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các chương trình giáo dục kỹ năng sống tại 4 trường thuộc Quận Zomba, Malawi cho thấy việc thực hiện giáo dục kỹ năng sống bị hạn chế bởi nhiều yếu tố liên quan tới bối cảnh xã hội và cấu trúc [63]. Các trường học nằm trong điều kiện kinh tế – xã hội vững chắc, có các nguồn lực vật chất và con người đầy đủ có thể thực hiện các chương trình giảng dạy ở một mức độ mà các trường học nằm trong điều kiện kinh tế khó khăn khó có thể hoặc không thể thực hiện được (Whitaker, 1993 [116]). Kadzamira (2006) cho rằng môi trường làm việc ở phần lớn các trường học tại các nước đang phát triển chưa đáp ứng yêu cầu, cơ sở vật chất nghèo nàn, quy mô lớp lớn. Các điều kiện khó khăn đó góp phần khiến GV cảm thấy không hài lòng với công việc, ảnh hưởng đến hiệu quả công việc và do đó ảnh hưởng đến việc thực hiện bất kỳ chương trình giảng dạy nào, bao gồm cả giảng dạy kỹ năng sống [75]. Chẳng hạn, theo Lowe (2008), các lớp học có trên 60 HS làm giảm khả năng giảng dạy của GV cũng như khả năng học tập của HS [83]. Ngân hàng Thế giới (1998) khuyến nghị các lớp cấp tiểu học không nên có nhiều hơn 40 HS [115]. Prinsloo (2007) cũng lưu ý rằng lớp học quá tải là một rào cản trong quá trình giảng dạy các môn học. Tác giả viện dẫn trường hợp một GV tham gia trong nghiên cứu của ông về việc thực hiện giáo dục định hướng cuộc sống, kết quả cho thấy để đạt hiệu quả giảng dạy với 40 HS hoặc nhiều hơn cùng một lúc trong một khoảng thời gian ngắn là nhiệm vụ khó khăn. GV cảm thấy rằng không phải lúc nào họ cũng có thể tạo ra được một bầu không khí tin tưởng giữa họ và tất cả các HS trong lớp học [95].
1.1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
Ở Việt Nam, thuật ngữ KNS được biết đến bắt đầu từ chương trình của UNICEF (1996), “GD kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” [4]. Quan niệm về kỹ năng sống được giới thiệu trong chương trình này bao gồm những kỹ năng cốt lõi: tự nhận thức, giao tiếp, xác định giá trị, kiên định, đặt mục tiêu… Đối với ngành giáo dục, việc giáo dục kỹ năng sống cho người học đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng đồng thời được nhiều nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu.
Phân tích tầm quan trọng của kỹ năng sống trong việc hình thành và phát triển nhân cách HS tiểu học, Lục Thị Nga (2009) cho rằng: Nhân cách được hình thành qua hai con đường cơ bản trong nhà trường, đó là con đường dạy học và con đường giáo dục NGLL. Do đó, trên cơ sở làm rõ những vấn đề cơ bản về giáo dục kỹ năng sống cho HS tiểu học, tác giả đã chỉ ra phương pháp dạy học tích hợp kỹ năng sống vào môn Khoa học, đồng thời đưa ra phương pháp dạy học tích hợp kỹ năng sống vào hoạt động NGLL cũng như phân tích ý nghĩa thực tiễn của hoạt động giáo dục NGLL trong việc rèn luyện KNS cho HS tiểu học, chỉ ra các yếu tố cần thiết, hiệu quả của hoạt động NGLL trong việc nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho HS tiểu học [24].
Thử nghiệm một số chủ đề giáo dục kỹ năng sống cho HS trung học phổ thông, Nguyễn Thanh Bình (2008) đã thiết kế và thử nghiệm 5 chủ đề để xác định giá trị, giao tiếp, đương đầu với căng thẳng, giải quyết mâu thuẫn một cách tích cực và lựa chọn nghề với đối tượng HS này. Kết quả thử nghiệm khẳng định bổ ích, tính phù hợp của các chủ đề đã thiết kế, đồng thời cho thấy có sự thay đổi rõ về kiến thức, thái độ và định hướng hành vi của những HS tham gia thử nghiệm [31].
Ngoài ra, bộ sách giáo dục kỹ năng sống trong môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Sinh học, Giáo dục công dân của trường trung học phổ thông thử nghiệm của Bộ Giáo dục và Đào tạo do các tác giả Lưu Thu Thủy, Nguyễn Thị Hồng Vân, Nguyễn Thị Thanh Mai, Nguyễn Thị Minh Phương, Trần Quý Thắng và Nguyễn Trọng Đức (2010) biên soạn đã nêu ra một số vấn đề chung về KNS và giáo dục kỹ năng sống cho HS trong trường trung học phổ thông, cụ thể là các quan niệm, phân loại, tầm quan trọng của kỹ năng sống, định hướng giáo dục kỹ năng sống cho HS trung học phổ thông và giáo dục kỹ năng sống trong môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Sinh học, Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông. Trong đó, các hình thức tổ chức, cách tiếp cận và phương pháp GD kỹ năng sống, nguyên tắc, kỹ thuật dạy học hiện đại cũng được đề cập và hướng dẫn sử dụng vào các bài dạy để thực hiện việc rèn luyện các kỹ năng sống cụ thể cần thiết cho HS [26]. Cũng theo chiều hướng này, nhóm tác giả Hoàng Hòa Bình, Lê Minh Châu, Phan Thanh Hà, Nguyễn Thị Việt Hà, Trần Hiền Lương, Nguyễn Tuyết Nga, Trần Thị Tố Oanh, Phạm Thị Thu Phương, Nguyễn Thị Phương Thảo, Lưu Thu Thủy và Đào Vân Vi (2011) xây dựng bộ sách giáo dục kỹ năng sống trong các môn học ở tiểu học nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản về kỹ năng sống, giúp HS hoàn thiện nhân cách và định hướng cho cuộc sống và sự nghiệp trong tương lai; nội dung mang tính thực tiễn và có hướng dẫn cụ thể giải quyết những vấn đề trong cuộc sống thường ngày [18] . Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
Bàn về giáo dục kỹ năng sống của sinh viên Khoa Sư phạm, Trường Đại học An Giang, Hoàng Thế Nhật (2015) điều tra mức độ nhận thức và việc thực hiện các kỹ năng sống của sinh viên, kết quả cho thấy sinh viên đã nhận thức được tầm quan trọng của kỹ năng sống trong xã hội hiện nay. Tuy nhiên, kỹ năng sống của sinh viên chỉ đạt mức trung bình, xuất phát từ nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do ý thức rèn luyện của sinh viên chưa tốt. Nghiên cứu cũng đề xuất một số giải pháp cần thiết để phát triển kỹ năng sống cho sinh viên như: Nhà trường phải coi trọng giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên, quan tâm và triển khai việc giáo dục kỹ năng cho sinh viên; gia đình cần quan tâm đến lối sống của con cái, tôn trọng sự độc lập và học cách làm bạn cùng con để hiểu con mình hơn; xã hội cần phát huy vai trò của phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền, phổ biến các chuẩn mực giá trị và các vấn đề liên quan đến kỹ năng sống để thế hệ trẻ nói chung và sinh viên nói riêng rèn luyện kỹ năng sống [19] .
Trong một nghiên cứu khác, Nguyễn Thanh Bình (2013) đề cập đến sự cần thiết phải đưa nội dung giáo dục kỹ năng sống vào đào tạo sư phạm. Đồng thời, tác giả trình bày mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy và đánh giá kết quả sau khi học chuyên đề này ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cho học viên sau đại học giáo dục học, qua đó cho thấy khung lý thuyết về giáo dục kỹ năng sống và phương pháp dạy học tích cực cũng như phương pháp đánh giá theo cách tiếp cận năng lực khi tổ chức dạy-học chuyên đề này [32].
Riêng đối với giáo dục kỹ năng sống cho trẻ MN, trong “Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi”, Bộ GD&ĐT (2009) đã tích hợp KNS trong các năng lực thuộc lĩnh vực phát triển tình cảm và quan hệ xã hội nhằm rèn luyện các kỹ năng cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi chuẩn bị vào lớp 1 như: Trẻ thể hiện sự nhận thức về bản thân, tin tưởng vào khả năng của bản thân, biết cảm nhận và thể hiện cảm xúc, có mối quan hệ tích cực với bạn bè và người lớn, hợp tác với bạn bè và mọi người xung quanh, có các hành vi thích hợp trong ứng xử xã hội, thể hiện sự tôn trọng người khác [11]
Hướng tới nhóm đối tượng CMHS, Lê Bích Ngọc (2009) bàn luận về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5-6 tuổi, trong đó phân loại thành 7 nhóm KNS; mỗi nhóm gồm nhiều kỹ năng sống, mỗi KNS có hướng dẫn về tên gọi, những điều cha mẹ cần hướng dẫn cho trẻ và gợi ý các hoạt động, phương tiện, hình thức giáo dục [23].
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường mầm non
1.2.1.1. Quản lý
Quản lý là một một khái niệm rất rộng và được hiểu theo nhiều hướng khác nhau tùy vào đối tượng nghiên cứu. Chính vì thế mà hiện cũng có rất nhiều khái niệm về quản lý được các nhà nghiên cứu đưa ra.
Stoner (1995) thì cho rằng “Quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức và sử dụng mọi nguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt được mục tiêu của tổ chức”. Khái niệm của Phạm Thị Châu và Trần Thị Sinh (2000) cũng cho rằng “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu đề ra”.
Các tác giả Harol (1993), W. Taylor được Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2004) dẫn lại thì quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, phối hợp, hướng dẫn hoạt động của những người khác biết chính xác cái họ cần làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất.
Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2004) thì cho rằng “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý). Trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. Tác giả Nguyễn Minh Đạo (1997) cũng cho rằng “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra“.
Viện ngôn ngữ học (2013) nêu khái niệm quản lý trong trong cuốn Từ điển Tiếng Việt đã lột tả bản chất của thuật ngữ “quản lý” trong thực tiễn. Nó gồm hai mặt tích hợp vào nhau, quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định; quá trình “lý” gồm sửa sang sắp xếp, đưa vào thế “phát triển”.
Đến bây giờ vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về quản lý. Tuy nhiên nhìn vào các khái niệm trên cho thấy quản lý vừa mang tính nghệ thuật vừa mang tính khoa học.
Vậy có thể hiểu quản lý vừa là một môn nghệ thuật, vừa có tính chất khoa học nhằm tác động có định hướng của chủ thể quản lý (cán bộ quản lý) đến khách thể quản lý (GV) nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức với thời gian, tiền bạc, vật chất là ít nhất và sự hài lòng của khách thể quản lý là cao nhất.
1.2.1.2. Quản lý giáo dục
Cũng giống với khái niệm quản lý nói chung thì khái niệm về quản lý giáo dục vẫn còn nhiều sự khác biệt, có nhiều phát biểu khác nhau.
Phạm Thị Châu (2014) cho rằng “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến”. Sau đó lại đưa ra một số chỉnh đổi Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tấc cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng (Phạm Thị Châu, Trần Thị Sinh, 2000). Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
Trần Kiểm (2004) cũng cho rằng: Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của giáo dục, của sự phát triển tâm lý và thể lực của trẻ em.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang (1989) thì “Quản lý GD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho sự vận hành theo đường lối GD của Đảng thực hiện các tính chất của nhà trường XHCN mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – GD thế hệ trẻ, đưa GD tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”.
Thân Thị Hoàng Vy (2013) thì phát biểu Quản lý giáo dục là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một hệ thống tổ chức giáo dục nhất định, nhằm thực hiện có hiệu quả các mục tiêu đề ra.
Nguyễn Hữu Lê Huyên (2011), Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống được quản lý vận hành theo đường lối giáo dục và nguyên lý của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học- giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất.
Đến đây có thể thấy khái niệm về quản lý giáo dục có sự tương đồng cao hơn khái niệm quản lý nói chung. Từ các phát biểu trên có thể hiểu rằng quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hiệu trưởng, cán bộ quản lý) đến tập thể giáo viên, nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường đề ra.
1.2.1.3. Quản lý trường mầm non
Theo điều 4, Luật giáo dục 2005 (Luật Giáo dục, 2014) thì cấp học mầm non thuộc cấp học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân. Trường mầm non là tổ chức chuyên thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi. (Bộ GD&ĐT , 2005)
Cơ sở giáo dục mầm non bao gồm nhà trẻ, nhóm trẻ nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến ba tuổi; Trường, lớp mẫu giáo nhận trẻ em từ ba tuổi đến sáu tuổi; Trường mầm non là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi. Vậy trường mầm non đã được quy định rõ trong luật giáo dục là “cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi”.
Quản lý trường mầm non là một bộ phận cấu thành không thể tách rời của QLGD nói chung. Mục tiêu của giáo dục mầm non là “giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một”. Chính vì thế mọi khía cạnh quản lý nhà trường đều phải đảm bảo các mục tiêu trên được thực hiện đúng, đủ. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
Quản lý trường mầm non có nhiều cấp như quản lý cấp bộ (Bộ GD&ĐT), quản lý cấp vụ (Vụ mầm non), quản lý cấp sở (Sở GD&ĐT), quản lý cấp phòng (Phòng GD&ĐT) và quản lý cấp cơ sở (các cơ sở trường mầm non). Các cấp quản lý này có nhiệm vụ khác nhau trong quản lý các hoạt động của các trường mầm non về công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ. Trong nghiên cứu này tác giả chỉ đề cập đến quản lý cấp cơ sở tại các nhà trường.
Từ các khái niệm đã nêu về quản lý, quản lý trường học, mục tiêu của trường mầm non và phạm vi nghiên cứu tác giả rút ra khái niệm về quản lý trường mầm non: Quản lý trường mầm non chính là “việc thực hiện các tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hiệu trưởng, cán bộ quản lý) đến tập thể GV, nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài trường mầm non nhằm hoàn thành mục tiêu giúp trẻ mầm non phát triển về toàn diện về các mặc thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ”.
1.2.2. Kỹ năng sống, hoạt động giáo dục kỹ sống
1.2.2.1. Kỹ năng sống
Nếu hiểu kỹ năng sống là năng lực ( tổng hòa cả kiến thức, thái độ và hành vi) theo nghĩa rộng thì kỹ năng sống là khả năng áp dụng những hiểu biết và kỹ năng để thực hiện những cách ứng xử đúng hoặc chính xác khi tương tác với người khác hoặc trong các tình huống khác nhau của môi trường xung quanh dựa trên nền văn hóa nào đó.
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), kỹ năng sống là khả năng để có hành vi thích ứng (adaptive) và tích cực (positive), giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày.
Theo quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), kỹ năng sống là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới. Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng.
Theo Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO), kỹ năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là:
- Học để biết (Learning to know) gồm các kỹ năng tư duy như: giải quyết vấn đề, tư duy phê phán, ra quyết định, nhận thức được hậu quả,…;
- Học làm người (Learning to be) gồm các kỹ năng cá nhân như: ứng phó với căng thẳng, cảm xúc, tự nhận thức, tự tin,…;
- Học để sống với người khác (Learning to live together) gồm các kỹ năng xã hội như: giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông;
- Học để làm (Learning to do) gồm kỹ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ như kỹ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm,…
Quan niệm của WHO nhấn mạnh đến khả năng của cá nhân có thể duy trì trạng thái tinh thần và biết thích nghi tích cực khi tương tác với người khác và với môi trường của mình. Quan niệm này mang tính khái quát nhưng chưa thể thể hiện ngay các kỹ năng cụ thể, mặc dù khi phân tích sâu thì thấy tương đối gần với nội hàm kỹ năng sống theo quan niệm của UNESCO.
1.2.2.2. Hoạt động giáo dục kỹ năng sống Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
Thông qua nhu cầu giao tiếp tích cực, ở tuổi mẫu giáo lớn xuất hiện nhiều hoạt động phối hợp, đa dạng với các bạn cùng lứa tuổi. Trẻ tích cực hướng sự chú ý của người khác tới mình, mong muốn chia sẻ với bạn bè về kiến thức, ý tưởng, cảm nhận, ý kiến của mình, tập trung sự chú ý. Qua đó, trẻ so sánh bản thân với các bạn, bắt đầu đánh giá bản thân và đánh giá bạn trên quan điểm, uy tín. Và mong muốn được công nhận, khen ngợi những ưu điểm của mình. Trẻ quan tâm hơn tới bạn cùng chơi, hướng tới nhận thức những cảm nhận, trạng thái, hành động, ý định của các bạn, có mong muốn đánh giá những hành vi, hành động, trạng thái của các bạn trên cơ sở lĩnh hội những khái niệm đạo đức. Trong quá trình phối hợp với các bạn khi chơi, trẻ thể hiện bản thân với những biểu hiện đa dạng: lắng nghe, chia sẻ, tranh luận, hay cũng có thể là ra lệnh,… Những biểu hiện này diễn ra một cách bản năng nhất, tạo nên sự giải phóng không giới hạn, sự tự do không theo khuôn mẫu nhất định. Và chính bạn bè cùng trang lứa giúp trẻ bộc lộ khả năng, cá tính của trẻ. Nói chung, ở lứa tuổi này là thời kì trẻ có khả năng tìm kiếm các mối tương quan với bạn bè, với các mối quan hệ để từ đó thiết lập quan hệ trong từng cách chơi. Trong khi phối hợp với các bạn cùng chơi trong nhóm trẻ có những biểu hiện về KNS một cách ngẫu nhiên và tự nhiên nhất. Thông qua đó tạo nên bầu không khí, mầm móng mà trong đó chứa đựng các nhân tố của KNS [8].
1.2.3. Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống các trường mầm non
Quản lý hoạt động GDKNS là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới các đối tượng quản lý, nhằm đưa hoạt động GDKNS đạt được kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất. Quản lý hoạt động GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi trong trường mầm non là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý lên tất cả các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động GDKNS nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục. Quản lý hoạt động GDKNS là bộ phận của quản lý trường học, bao gồm hàng loạt những hoạt động tiến hành lựa chọn, tổ chức và 22 thực hiện các nguồn lực, các tác động của nhà quản lý, của tập thể sư phạm, của các lực lượng giáo dục theo kế hoạch chủ động và chương trình giáo dục, nhằm thay đổi hay tạo ra hiệu quả giáo dục cần thiết.
1.3. Hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở trường mầm non
1.3.1. Vị trí, vai trò của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi trường mầm non
Kỹ năng sống có vai trò rất quan trọng đối với trẻ em trong việc hình thành và phát triển các phẩm chất tâm lý, năng lực thích ứng với cuộc sống và xã hội. Có thể kể ra một số biểu hiện của vai trò kỹ năng sống đối với trẻ em.
Kỹ năng sống được hình thành ở trẻ sẽ thúc đẩy sự phát triển nhân cách của các em và từ đó thông qua hoạt động của mình sẽ đóng góp cho sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Kỹ năng sống chính là những nhịp cầu giúp trẻ có được kỹ năng chuyển biến kiến thức đã lĩnh hội và tiếp thu được trở thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
Kỹ năng sống góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, ngăn ngừa các vấn đề xã hội và bảo vệ quyền con người của chính trẻ và những thành viên khác trong xã hội.
Giáo dục kỹ năng sống sẽ thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống và giảm các vấn đề tiêu cực xã hội. Giáo dục kỹ năng sống còn giải quyết một cách tích cực nhu cầu và quyền con người, quyền công dân được công nhận trong pháp luật Việt Nam và quốc tế.
Trẻ thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, vào lối sống ích kỷ, lai căng, thực dụng, đẫn đến phát triển lệch lạc về nhân cách.
Giáo dục và hình thành kỹ năng sống cho trẻ giúp các em có khả năng ứng phó tích cực trước sức ép của cuộc sống và sự lôi kéo thiếu lành mạnh, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè, và mọi người trong xã hội, sống an toàn, lành mạnh và phát triển tốt nhân cách cũng như thể chất của cá nhân.
Trong quá trình phát triển nhân cách, nếu trẻ được sớm hình thành kỹ năng sống và tôn vinh các giá trị đích thực thì các em sẽ có một nhân cách phát triển toàn diện, bền vững, có khả năng thích ứng và chống chọi với mọi biến động xã hội, biết tự khẳng định mình trong cuộc sống và phát triển cho cá nhân và xã hội.
Giáo dục mầm non là giai đoạn giúp trẻ học, tiếp thu, lĩnh hội các giá trị sống để phát triển nhân cách, do đó cần giáo dục kỹ năng sống sớm để trẻ có nhận thức đúng và có hành vi ứng xử phù hợp ngay từ khi còn nhỏ trong các môi trường gia đình, nhà trường và xã hội.
Có thể nói, kỹ năng sống của trẻ có vai trò rất quan trọng đối với chính bản thân các em và đối với xã hội. Vì vậy mà giáo dục kỹ năng sống phải được bắt đầu từ rất sớm, dường như từ lúc mới sinh ra và phải được diễn ra thường xuyên trong mọi môi trường như gia đình, nhà trường và xã hội. Đặc biệt, cần chú ý đến việc hình thành, phát triển và giáo dục kỹ năng sống cho các em trong môi trường nhà trường vì đây là cấp học nền tảng tạo dựng nên nhân cách đầu tiên của trẻ trong hệ thống giáo dục quốc dân.
1.3.2. Mục tiêu hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non
Mục tiêu hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ở các trường mầm non là những mong đợi của nhà giáo dục về các giá trị sống và kỹ năng sống tương ứng mà trẻ có thể đạt được. Mục tiêu hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ở các trường MN bao gồm mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể.
Mục tiêu chung là hướng tới hình thành ở trẻ sự tự tin, giúp trẻ biết hợp tác trong đội nhóm, giúp trẻ ý thức về giá trị của bản thân, giúp trẻ biết giải quyết mâu thuẫn một cách hòa bình, giúp trẻ có khả năng tự lập, giúp trẻ biết sống có trách nhiệm, giúp trẻ biết biểu lộ sự bao dung, sự tôn trọng người khác, giúp trẻ biết quan tâm đến nhu cầu của người khác và sẵn sàng giúp đỡ họ.
Với mục tiêu cụ thể về hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ở các trường mầm non bao gồm những kỹ năng, thái độ và kiến thức cụ thể, tương ứng với giá trị cần giáo dục, phù hợp với từng độ tuổi của trẻ, với điều kiện kinh tế – văn hóa – xã hội của mỗi địa phương. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
1.3.3. Nội dung hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non
Xuất phát từ mục tiêu giáo dục mầm non; từ giá trị sống cần hình thành của con người nói chung và trẻ mầm non nói riêng, đặc biệt đối với trẻ mầm non cần 4 giá trị cơ bản : Siêng năng, sạch sẽ, kỷ luật, yêu thương ( Phân tích trong 8 kỹ năng xây dựng ra ; từ khung kỹ năng sống của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo và chuẩn đầu ra trẻ 5-6 tuổi; từ hoạt động chủ đạo của trẻ mầm non; đặc điểm của bối cảnh hiện nay và dựa vào các quy định trong Công văn 463/BGD&ĐT-GDTX về việc hướng dẫn triển khai thực hiện giáo dục kỹ năng sống tại các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên của Bộ GD&ĐT (2015); Điều lệ trường mầm non, ban hành kèm theo Quyết định ban hành Điều lệ trường MN số 04/VBHN-BGD&ĐT, ngày 24/12/2015 và Quy chế tổ chức và hoạt động trường mầm non tư thục, ban hành kèm theo Thông tư số 13/2015/TT-BGD&ĐT ngày 30/06/2015 của Bộ GD&ĐT để xác định 8 kỹ năng sống cơ bản cần giáo dục cho trẻ 5- 6 tuổi ở trường mầm non đã trình bày ở trên. Nội dung cụ thể của hoạt động giáo dục các kỹ năng này như sau:
- Kỹ năng tự phục vụ
Giáo dục kỹ năng này giúp cho trẻ chủ động chăm sóc bản thân mình về diện mạo bên ngoài cũng như sức khỏe bên trong và một số thói quen phục vụ cho bản thân mình, giúp trẻ có cuộc sống tốt hơn, dễ dàng hơn mà không phụ thuộc vào người khác. Đó là các kỹ năng cụ thể sau:
- Kỹ năng tự phục vụ bao gồm: kỹ năng chăm sóc diện mạo (mặc quần áo, đi giầy dép, đội mũ, quấn khăn…),
- Kỹ năng chăm sóc sức khỏe của bản thân (ăn uống, giữ gìn vệ sinh..)
- Kỹ năng trong học tập, sinh hoạt và vệ sinh cá nhân (kỹ năng chơi, thu dọn đồ chơi, đi tiểu tiện, đại tiện..).
Kỹ năng tự bảo vệ bản thân (phòng tránh tai nạn thương tích , phòng bệnh)
Hoạt động giáo dục kỹ năng này giúp cho trẻ có những thói quen tốt bảo vệ bản thân để giữ cho trẻ sống an toàn cho cuộc sống của trẻ cũng như tính mạng của bản thân. Đó là các kỹ năng cụ thể sau:
- Kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích (phòng ngừa điện giật, bỏng nước sôi, đồ vật nóng, tai nạn trường học)
- Kỹ năng phòng bệnh (ăn chín uống sôi, vệ sinh tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh…).
Kỹ năng giao tiếp, lịch sự lễ phép
Hoạt động giáo dục kỹ năng này giúp giúp trẻ mạnh dạn tự tin trong ngôn ngữ cũng như cách hành sử phù hợp với cộng đồng mà trẻ sống một cách tốt nhất. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
Hoạt động giáo dục kỹ năng nhằm hình thành ở trẻ các kỹ năng giao tiếp sau: kỹ năng sử dụng lời nói, kỹ năng tự tin và trả lời trong giao tiếp, kỹ năng tôn trọng người khác, lắng nghe người khác nói, kỹ năng biết hỏi, trả lời lưu loát các tình huống cụ thể.
- Kỹ năng về nhận thức
Có kỹ năng nhận thức giúp cho trẻ hòa nhập với cuộc sống trên mọi phương diện của cuộc sống xảy ra hàng ngày xung quanh trẻ.
Hoạt động giáo dục kỹ năng nhằm hình thành ở trẻ các kỹ năng về nhận thức sau: kỹ năng thể hiện ý thức của bản thân, kỹ năng nhận thức về môi trường xã hội, nhận thức về môi trường tự nhiên, nhận thức về nghệ thuật.
- Kỹ năng hợp tác
Hợp tác tốt tạo ra mối quan hệ tốt và hiệu quả khi trẻ chơi cũng như quá trình tương tác với nhau một cách hài hòa và bổ ích.
Hoạt động giáo dục kỹ năng nhằm hình thành ở trẻ các kỹ năng hợp tác sau: Kỹ năng trẻ biết lắng nghe ý kiến của bạn, của người khác. Biết trao đổi ý kiến của mình với các bạn. Biết tìm cách giải quyết mâu thuẫn, chấp nhận sự phân công của nhóm bạn và người lớn, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ đơn giản cùng người khác.
- Kỹ năng thể hiện cảm xúc
Khi trẻ có kỹ năng về cảm xúc, trẻ sẽ điều tiết cảm xúc trong các tình huống xảy ra trong đời sống của trẻ.
Hoạt động giáo dục kỹ năng nhằm hình thành ở trẻ các kỹ năng thể hiện cảm xúc sau: Trẻ có khả năng nhận biết trạng thái cảm xúc, vui, buồn, sợ hãi, ngạc nhiên, xấu hổ… qua tranh, qua nét mặt, cử chỉ giọng nói. Biết biểu lộ cảm xúc cảm xúc vui, buồn, sợ hãi, ngạc nhiên, xấu hổ, tức giận. Biết chia sẻ, an ủi, chia vui với người thân, bạn bè. Quan tâm thích thú với các hiện tượng tự nhiên trong thiên nhiên. Thích chăm sóc cây cối, con vật thân quen. Thay đổi hành vi và thể hiện cảm xúc cho phù hợp với hoàn cảnh, cố gắng kiềm chế những cảm xúc tiêu cực.
- Kỹ năng thích ứng với môi trường xã hội.
Nhận biết được những hành động và có thái độ đúng đắn của mình cũng như của người lớn trong môi trường trẻ sống.
Kỹ năng thích ứng với môi trường xã hội bao gồm: Trẻ biết được hành động hoặc việc làm của mình ảnh hưởng tới người khác như thế nào. Biết chào hỏi, xưng hô lễ phép với người lớn, cảm ơn, xin lỗi.… Biết đề nghị sự giúp đỡ của người khác khi cần thiết. Biết một số hành vi đúng sai của người lớn đối với môi trường.
- Kỹ năng sáng tạo
Kỹ năng sáng tạo là tiền đề cho mọi lĩnh vực đặc biệt lĩnh vực học tập cũng như vui chơi thật phong phú và đa dạng của trẻ .
Hoạt động giáo dục kỹ năng nhằm hình thành ở trẻ các kỹ năng sáng tạo sau: Kỹ năng biết đặt tên mới cho đồ vật, câu chuyện, đặt lời mới cho bài hát. Thực hiện một số công việc theo cách riêng của mình. Thể hiện ý tưởng cái mới, độc đáo của bản thân thông qua các hoạt động khác nhau: trong trò chơi hoặc trong tạo hình, âm nhạc. Kể thêm hoặc thay đổi diễn biến của câu chuyện đã biết một cách hợp lý.
1.3.4. Hình thức tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
Thông qua thực hiện các chế độ sinh hoạt hàng ngày để giáo dục: Các sinh hoạt thường xuyên trong một ngày thường giúp trẻ đa dạng về mọi hoạt động trong một ngày. Trẻ em sẽ định hướng và tích lũy được những kỹ năng cần thiết phục vụ cho bản thân cũng như mọi sinh hoạt ăn ngủ, …
Hoạt động học tập: Quá trình hoạt động học tập sẽ giúp trẻ dần dần hình thành kinh nghiệm, cũng như kiến thức nhất định giúp trẻ tăng thêm kỹ năng sống cho bản thân mình một cách tích cực.
Hoạt động vui chơi: Vui chơi giúp trẻ hướng tới sự hào hứng và độ an toàn khi chơi.
Hoạt động giao tiếp: Dùng lời nói bày tỏ về quan điểm và thể hiện bản thân giúp trẻ tăng thêm vốn từ cần sử dụng như kỹ năng dùng từ, dùng câu chuẩn xác dần và diễn tả rõ nét điều mình cần mong muốn.
Hoạt động lao động: mọi hoat động trải nghiệm trong hoạt động lao động bao giờ cũng kích thích trẻ tinh thần tự tin và cảm giác về sự khéo léo của đôi bàn tay thông qua qúa trình lao động.
Hoạt động ngày hội ngày lễ: Hướng tới các hoạt động lễ hội là quá trình trải nghiệm tuyệt vời của mỗi đứa trẻ. Hoạt động này giúp trẻ gắn kết tình bạn và tình yêu mến cùng nhau trong các mùa lễ hội
Hoạt động thăm quan dã ngoại: Thăm quan dã ngoại là thời gian trải nghiệm không gì so sánh được. Trẻ tự khám phá về thế giới và môi trường xung quanh giúp trẻ có được sự gần gũi với thiên nhiên và dễ dàng thích ứng với môi trường sống xung quanh.
Mục tiêu của giáo dục kỹ năng sống là nhằm giúp cho trẻ thay đổi cách ứng xử của mình theo hướng tích cực, hiệu quả. Chỉ có cách học dựa trên tự khám phá bản thân hoặc lĩnh hội thì mới giúp trẻ thay đổi căn bản hành vi của mình. Các hình thức trên có tính ưu việt về thời gian cũng như mọi hoạt động giúp trẻ có kỹ năng sống hiệu quả và phù hợp hơn cả.
1.3.5 Kiểm tra, đánh giá động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non
Đánh giá hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non dựa trên hình thức quan sát hàng ngày, dự giờ, tình huống, các mục tiêu của độ tuổi… qua đó biết được hiệu quả của các hoạt động, mức độ kết quả đạt được theo dự kiến, làm sáng tỏ những vấn đề nhất định đòi hỏi có kế hoạch bổ sung.
- Kiểm tra đánh giá kết quả đạt được của trẻ so với mục tiêu của chủ đề đã đặt ra hoặc theo yêu cầu cần đạt về kiến thức, kỹ năng, thái độ của hoạt động động giáo dục kỹ năng sống
- Đánh giá sự phù hợp của những nội dung, các hoạt động giáo dục kỹ năng sống của chủ đề với năng lực của trẻ, xác định nguyên nhân để bổ sung điều chỉnh kế hoạch hoạt động giáo dục của chủ đề tiếp theo.
1.4. Quản lý hoạt động động giáo dục kỹ năng sống ở trường mầm non
1.4.1. Xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống
Kế hoạch là toàn bộ những điều vạch ra một cách hệ thống về những công việc sẽ làm trong một thời gian nhất định với cách thức, trình tự thời gian tiến hành để đạt mục tiêu mong muốn. Xây dựng kế hoạch là hành động đầu tiên của người QL, là khởi đầu của mọi hoạt động, là việc làm có tổ chức phát triển theo kế hoạch và có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động QL. Để xây dựng kế hoạch thực hiện công tác GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi cần thực hiện các công việc sau:
Trước hết CBQL cần phải phân tích đặc điểm tình hình nhà trường về những thuận lợi và khó khăn của công tác GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi, những cơ hội và nguy cơ khi thực hiện QL công tác trên.
Xác định các mục tiêu trong chăm sóc giáo dục trẻ. Đó là mục tiêu về số lượng, về chất lượng hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ, tỷ lệ trẻ/lớp, mức độ tiến bộ trong học tập và rèn luyện của trẻ, các mục tiêu trong chương trình chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ 5-6 tuổi, xếp thứ tự ưu tiên các mục tiêu khi thực hiện. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
Xác định chương trình GDMN cho trẻ 5 tuổi, những kiến thức cần có, những kỹ năng cần dạy trẻ để giúp trẻ trong việc GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi đạt kết quả. Chuẩn bị cho trẻ những kiến thức cơ bản về thế giới xung quanh, những tình huống, chia sẻ cùng nhau trong các hoạt động hằng ngày ở trường mầm non. Trang bị cho trẻ các kỹ năng, đưa ra những phán đoán kết luận cuối cùng để cùng nhau hoàn thành nội dung chung của nhóm. Từ đó giúp trẻ hình thành được ý thức, thói quen tốt biết nhường nhịn, chia sẻ, lắng nghe… tránh các mâu thuẫn xung đột.
Xác định các nguồn lực cần thiết trong công tác hỗ trợ trẻ và các biện pháp huy động các nguồn lực, sử dụng các nguồn lực. Nguồn lực cần thiết và quan trọng chính là đội ngũ GV phụ trách chăm sóc, giáo dục trẻ 5 tuổi. Tiếp theo là các nguồn lực về CSVC, trang thiết bị, ĐDĐC phục vụ cho hoạt động GDKNS, vấn đề về tài chính. Các nguồn lực bên ngoài như sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, ban đại diện cha mẹ trẻ… cũng góp phần không nhỏ trong quá trình hỗ trợ trẻ hoạt động GDKNS tại trường mầm non.
Lập chương trình, kế hoạch của trường và tổ CM về hoạt động GDKNS. Hiệu trưởng phải đưa vào xây dựng kế hoạch nhà trường, xác định đây là một nội dung trọng tâm, từ đó chỉ đạo cho Phó hiệu trưởng và tổ CM lên kế hoạch hỗ trợ trẻ thực hiện thường xuyên trong các hoạt động hàng ngày và xuyên suốt trong một năm học.
Điều chỉnh kế hoạch (nếu cần). Khi xây dựng kế hoạch tùy vào điều kiện CSVC của nhà trường, điều kiện địa phương mà CBQL có thể điều chỉnh, sửa chữa kế hoạch cho phù hợp với tình hình trường lớp.
Ngoài ra, việc xây dựng kế hoạch QL hoạt động GDKNS tại trường MN còn phải căn cứ vào các quy chế, quy định do Bộ GD&ĐT ban hành và sự chỉ đạo của các cấp QL.
1.4.2. Tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng sống
Trong quá trình QL hoạt động GDKNS trong các trường MN là thực hiện chức năng QL về các hoạt động: thành lập tổ chức, sắp xếp bộ máy, tiếp nhận và phân bổ các nguồn lực, đặc biệt là nhân lực (coi trọng việc bồi dưỡng đội ngũ phù hợp với đặc thù của hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ), ra quyết định… Giai đoạn này có ý nghĩa quan trọng đối với việc triển khai thực hiện công tác hỗ trợ của các trường MN. Để thực hiện các kế hoạch về chương trình GDMN mới trong các trường MN, cần thiết lập các tổ chức, các bộ phận, huy động được các lực lượng cán bộ, GV. Xác lập các mối quan hệ giữa các bộ phận, các tổ chức, sử dụng và phân công một cách hợp lý, biết động viên và khuyến khích các cá nhân trong tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ của mình.
Tổ chức thực hiện hoạt động GDKNS cần được tiến hành đồng bộ các bước như sau:
- Phổ biến kế hoạch thực hiện hoạt động GDKNS
- Xây dựng cơ cấu tổ chức trong nhà trường phù hợp với hoạt động GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi.
- Thành lập ban chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi.
- Sắp xếp, phân bổ nhân sự phụ trách hoạt động GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi. Bồi dưỡng cho GV thực hiện kế hoạch hoạt động GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi.
1.4.3. Chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng sống Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
Sau khi tổ chức cơ cấu bộ máy đã được hình thành thì cần phải có sự chỉ đạo, định hướng, điều phối. Lãnh đạo là sự tác động cụ thể từ người quản lý đến người được quản lý nhằm khích lệ họ tự nguyện, hoạt động tích cực để đạt mục tiêu đề ra của nhà trường. Bên cạnh đó, lãnh đạo là sự can thiệp, chỉ huy của chủ thể trong quá trình GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi. Trong đó, người quản lý phải theo dõi, giám sát các hoạt động của từng bộ phận, từng cá nhân tham gia hoạt động GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi. Có như vậy, nhà quản lý mới kịp thời động viên, khuyến khích các bộ phận, các cá nhân thực hiện đúng tiến độ của kế hoạch đã xây dựng.
Ngoài ra, chỉ đạo xây dựng kế hoạch phải có sự phối hợp với các lực lượng tham gia thực hiện hoạt hoạt động GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi. Đặc biệt, chỉ đạo giáo viên khi thực hiện chương trình bên cạnh việc tuân thủ chương trình giáo dục cứng của Bộ Giáo dục và Đào tạo cần “mềm hóa” chương trình bằng cách tích hợp trong từng hoạt động hằng ngày của trẻ như: hoạt động ngoài trời, hoạt động vui chơi, lao động vệ sinh, hoạt động học… cũng như phối hợp với phụ huynh khi dạy trẻ ở nhà. Hiệu trưởng cần chỉ đạo khi thiết kế chương trình giáo dục bằng các nội dung giáo dục cụ thể cần có sự tham gia, đóng góp ý kiến không chỉ của cán bộ quản lý và giáo viên.
1.4.4. Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng sống
Công tác kiểm tra – đánh giá là việc làm thường xuyên của Ban giám hiệu trong quá trình quản lý nhà trường cũng như hoạt động GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi. Ban giám hiệu nhà trường cần lưu ý một số vấn đề trong kiểm tra đánh giá hoạt động GDKNS: Cần xây dựng các mục tiêu cụ thể, yêu cầu cần đạt ở trẻ, hình thành cho trẻ những kỹ năng nào… cần có sự thống nhất trong toàn trường về các hoạt động xây dựng kế hoạch, mục tiêu, tổ chức, bố trí, phân công lực lượng kiểm tra trong đó lực lượng kiểm tra chủ yếu là các thành viên của Ban chỉ đạo hoạt động GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi.
Theo đó, nội dung quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi bao gồm: Xác định mục tiêu, yêu cầu cần đạt ở trẻ, hình thành cho trẻ những kỹ năng nào, tổ chức lực lượng tham gia kiểm tra đánh giá.
1.4.5. Quản lý các điều kiện phục vụ các hoạt động giáo dục kỹ năng sống
CSVC và TBDH là một trong những thành tố cấu thành của quá trình dạy học, một điều kiện rất quan trọng trong quá trình dạy học. Các thiết bị dạy học công nghệ cao hỗ trợ trình bày bài học một cách sinh động, hỗ trợ cho trẻ tiếp nhận kiến thức trao đổi với bạn một cách dễ dàng, thực hiện các PPDH trực quan, thực nghiệm, tạo ra khả năng thực hành, củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng làm việc, học tập, sự khéo léo chân tay, bồi dưỡng khả năng tự học, tự chiếm lĩnh tri thức, tạo ra sự hứng thú, lôi cuốn kích thích sự chia sẻ giữa trẻ với trẻ khi học hay tham gia hoạt động.
QL các điều kiện phục vụ cho hoạt động GDKNS cho tẻ 5-6 tuổi gồm xây dựng kế hoạch trang bị, bổ sung thiết bị và ĐDĐC; Phân công, phân nhiệm cho lãnh đạo phụ trách chung và các GV trực tiếp phụ trách kiêm nhiệm xây dựng kế hoạch trang bị, bổ sung TBDH và ĐDĐC, từng nội dung cụ thể; Xây dựng quy định sử dụng thiết bị ĐDDH; Tổ chức hướng dẫn sử dụng thiết bị, ĐDDH. Theo dõi, đánh giá việc sử dụng thiết bị, ĐDDH đòi hỏi có đầy đủ hồ sơ QL CSVC của nhà trường, hồ sơ phải được cập nhật thường xuyên và khoa học. Kiểm tra hiện trạng CSVC, TBDH để nắm bắt tình trạng sử dụng của GV đồng thời phát hiện những hư hỏng để sửa chữa và bổ sung kịp thời. Sử dụng kết quả kiểm tra việc sử dụng ĐDĐC để đánh giá GV cuối năm.
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở trường mầm non Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
1.5.1. Các yếu tố khách quan
Chủ trương chính sách, cơ chế quản lý của nhà nước với giáo dục mầm non: Tất cả các văn bản quy chế, thông tư đều mang tính pháp lý để các trường mầm non tổ chức và thực hiện. Các văn bản pháp lý của nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo có tác động và ảnh hưởng đến công tác thực hiện hoạt động GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi. Chính vì vậy, hệ thống các văn bản phải rõ ràng không bị chồng chéo, phù hợp với thực tiễn sẽ tạo sự thuận lợi trong quá trình quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tại trường mầm non và đạt mục tiêu đề ra.
Kinh tế-xã hội của địa phương trong giai đoạn hiện nay: Với nền kinh tế văn hóa – xã hội hiện nay cũng như trình độ dân trí ngày càng nâng cao đã đạo mối quan hệ gắn kết giữa nhà trường với các cơ quan liên quan trường mầm non góp phần ảnh hướng đến hoạt động giáo dục của nhà trường về mặt tiêu cực lẫn tích cực. Từ đó, công tác quản lý hoạt động GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi trong điều kiện kinh tế – xã hội hiện nay có vai trò quan trọng nhằm kiểm soát quá trình hoạt động giáo dục trong nhà trường, trong đó có hoạt động GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi đi đúng hướng và đúng mục tiêu. Mặt khác với sự phát triển của cuộc sống hiện đại, những tác động tiêu cực từ gia đình, những hành động ích kỷ từ trẻ, thói quen nuông chiều của phụ huynh dẫn đến việc trẻ tự ti, tự cao, không biết lắng nghe, nhường nhịn và chia sẻ cùng nhau để hoàn thành một nhiệm vụ chung…
Hơn thế nữa Kinh tế gia đình cũng ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái, có thể cha mẹ chỉ lo làm kinh tế, ít quan tâm tới quá trình phát triển về tâm sinh lý và các yếu tố tác động đến hành vi của con em mình, hoặc ở một số gia đình có cuộc sống kinh tế đầy đủ, con cái có biểu hiện sai lệch hành vi là do phụ huynh chỉ quen cưng chiều, trẻ muốn gì đáp ứng điều ấy, thực hiện thay trẻ, trẻ không biết phải chia sẻ với bạn, tranh giành đồ chơi cho riêng mình… dẫn đến tình trạng nhiều trẻ không được trang bị những kỹ năng chia sẻ, hợp tác khi chơi cùng bạn.
Các điều kiện cơ sở vật chất: Cơ sở vật chất và các trang thiết bị dạy học không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giảng dạy của giáo viên mà còn là phương tiện giúp trẻ trang bị kiến thức thực tiễn, gắn liền giữa lý thuyết và thực tiễn. Tứ đó, cơ sở vật chất và trang thiết bị nhà trường luôn được bảo dưỡng và quan tâm thường xuyên của CBQL nhà trường.
1.5.2. Các yếu tố chủ quan Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
Vai trò và chức năng của Hiệu trưởng trong quản lý hoạt động giáo GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non: Bộ phận quản lý có chức năng điều khiển hệ thống quản lý, thực hiện việc tổ chức phân công và hợp tác lao động xã hội, đó chính là chủ thể quản lý. Chủ thể quản lý có thể là cá nhân, tổ chức. Chủ thể quản lý hoạt động GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi là Hiệu trưởng nhà trường với vai trò là nhà lãnh đạo, tác động lên đối tượng quản lý là giáo viên bằng các công cụ, với những phương pháp quản lý thích hợp. Hiệu trưởng có trách nhiệm phân bổ giáo viên và các nguồn lực khác trong nhà trường, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức của nhà trường để thực hiện việc GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi có hiệu quả nhằm xây dựng kỹ năng sống trẻ toàn diện.
Ý thức trách nhiệm và trình độ đào tạo của đội ngũ giáo viên: Với yêu cầu của xã hội hiện nay, đội ngũ giáo viên đòi hỏi phải có bản lĩnh về kiến thức chuyên môn vững vàng, có trải nghiệm thực tiễn, ứng xử khéo léo, biết quan tâm chia sẻ, gần gũi với trẻ. Từ đó, nhà quản lý cần phải thực hiện tốt trong công tác quản lý đội ngũ giáo viên về công tác tuyển chọn, sử dụng và bồi dưỡng giáo viên theo đúng quy trình và công bằng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường cũng như chất lượng trong hoạt động GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non.
Sự phối hợp các lực lượng tham gia hoạt động GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi: Lực lượng tham gia công tác GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi cần phải nhận thức được vai trò cũng như ý nghĩa của các hoạt động này và sự phối hợp, nắm rõ nội dung giáo dục. Đồng thời, sử dụng linh hoạt và hiệu quả các phương pháp phù hợp với nội dung, mục tiêu, tâm sinh lý trẻ mầm non thông qua các hình thức tổ chức hoạt động GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non. Vì vậy, cần có sự phân công, bồi dưỡng, động viên các lực lượng tham gia GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi phù hợp từ CBQL nhà trường là rất quan trọng.
Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mầm non lứa tuổi 5-6 tuổi: Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ trong giai đoạn này có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động GDKNS. Vì muốn quá trình quản lý đạt được mục tiêu thì chủ thể quản lý phải hiểu được tâm sinh lý lứa tuổi của đối tượng quản lý. Các trình tự học tập của trẻ lứa tuối này diễn ra giống với tiết học, nhưng không nghiêm ngặt, căng thẳng như tiết học. Nhưng tiết học vẫn đủ các bước lên lớp như: tổ chức lớp, tiến hành tiết dạy GV vào bài, nêu câu hỏi đặt vấn đề, giảng giải nội dung, kết thúc tiết dạy bằng cách cho trẻ nhắc lại những nội dung đã học… Với lứa tuổi này trẻ có thể cùng nhau thực hiện một hoạt động chung mà giáo viên đưa ra nhưng trẻ chưa có kỹ năng và kinh nghiệm nhiều khi phân công công việc, lắng nghe bạn, đưa ra nhận xét, giải quyết các xung đột… Do đó, nhà quản lý phải am hiểu về điều kiện tâm sinh lý trẻ đưa ra những hoạt động thích hợp và hiệu quả. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Kỹ năng sống là một trong những kỹ năng quan trọng của mỗi con người, nó giúp con người giải quyết một cách hiệu quả những vấn đề xảy ra trong cuộc sống. Vì thế, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là việc làm rất cần thiết mà các nhà giáo dục cần quan tâm để tạo tiền đề cho trẻ bước vào cuộc sống xã hội một cách vững vàng hơn.
Giáo dục kỹ năng sống là một quá trình tác động sư phạm có mục đích, có kế hoạch nhằm hình thành năng lực hành động tích cực, có liên quan tới kiến thức và thái độ, giúp cá nhân có ý thức về bản thân, giao tiếp, quan hệ xã hội, thực hiện công việc, ứng phó hiệu quả với các yêu cầu thách thức của cuộc sống hàng ngày…
Đối với trẻ Mầm non, hiểu đơn giản kỹ năng sống chính là những thao tác hành động, nhận thức – tình cảm các con sử dụng hành ngày để đáp ứng nhu cầu bản thân và xử lý các tình huống phát sinh trong cuộc sống. Đối với trẻ MG, biểu hiện của kỹ năng sống có thể chỉ đơn giản là việc trẻ thích được cùng bạn vui chơi, chia sẻ ý tưởng cùng bạn, phối hợp hành động chơi với bạn, lắng nghe bạn, phân công công việc hợp lý, giải quyết các xung đột… Như vậy, KNS là một trong những kỹ năng rất cần thiết cho trẻ MG 5-6 tuổi, đó là một trong những tiêu chí đánh giá sự phát triển toàn diện nhân cách của con người.
Biện pháp GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi chính là điều kiện giúp hình thành những kỹ năng sống cần thiết để làm hành trang cho trẻ sau này cũng như giúp trẻ có cơ hội được gần gũi bạn bè, chia sẻ kinh nghiệm, cùng nhau thỏa thuận, đàm phán, thiết lập mối quan hệ với bạn cùng chơi một cách chân thực và rõ nét nhất. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
Biện pháp GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi là cách thức tổ chức các hoạt động của giáo viên mầm non nhằm giúp trẻ biết, hiểu và hàng động cùng nhau khi tham gia tất cả các hoạt động cũng như phát triển một cách toàn diện nhất.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho trẻ

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ […]