Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tiêu đề: Tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.
Tóm tắt:
Luận văn này phân tích tác động của thu nhập ngoài lãi và các cấu phần của thu nhập ngoài lãi đối với khả năng sinh lời thông qua việc phân tích dữ liệu thu thập từ 25 Ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam trong giai đoạn từ 2014-2023 bằng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng với các mô hình “tác động cố định” (FEM), mô hình “tác động ngẫu nhiên” (REM) và mô hình “hồi quy gộp” (Pooled OLS). Ngoài ra, tác giả cũng nghiên cứu mối quan hệ giữa thu nhập ngoài lãi và một số biến kiểm soát của ngân hàng gồm quy mô tiền gửi, quy mô tín dụng, quy mô ngân hàng, quy mô vốn chủ sở hữu và tỷ lệ chi phí hoạt động. Kết quả phân tích chỉ ra rằng thu nhập ngoài lãi và từng cấu phần của thu nhập ngoài lãi gồm thu nhập từ hoạt động dịch vụ, thu nhập từ hoạt động kinh doanh và đầu tư có tương quan dương với khả năng sinh lời của các ngân hàng. Bên cạnh đó, các biến kiểm soát gồm quy mô ngân hàng, quy mô vốn chủ sở hữu cũng có mối tương quan thuận chiều với khả năng sinh lời; riêng quy mô tiền gửi lại có tác động ngược chiều. Dựa trên kết quả này, tác giả nêu một số khuyến nghị góp phần nâng cao khả năng sinh lời của ngân hàng. Hạn chế của luận văn này là chưa mở rộng phạm vi nghiên cứu sang tất cả các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam như ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và chưa nghiên cứu một số yếu tố cập nhật theo xu hướng hiện nay như công nghệ, thị trường… và một số biến vĩ mô như tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát.
Từ khóa: Thu nhập ngoài lãi, khả năng sinh lời, Ngân hàng thương mại cổ phần.
ABSTRACT
Title: Impact of non-interest income on the profitability of Vietnamese joint stock commercial banks.
Abstract: Luận văn: Tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời.
This thesis studies the impact of non-interest income and other types of noninterest income on profitability by analyzing data collected from the financial statements of 25 joint stock commercial banks in Vietnam. in the period from 2014 to 2023 by analyzing panel data with fixed effects models (FEM), random effects models (REM), and pooled regression models (Pooled OLS). Furthermore, the author analyzes the relationship between non-interest income and some control variables of banks including deposit size, credit size, bank size, equity size, and ratio operating costs. The results show that non-interest income and each type of noninterest income including income from service activities, income from business activities, and investment have a positive impact on the profitability of banks. Besides, for control variables including bank size, and equity size, there is also a positive impact on profitability; deposit size alone has the opposite effect. The author made some recommendations to improve the bank’s profitability based on the research results. The limitation of this thesis is that the scope of research has not been extended to all commercial banks in Vietnam such as joint venture banks, and foreign bank branches, and has not studied a number of factors that update trends, such as technology, market… and some macro variables such as economic growth rate, inflation.
Keywords: Non-interest income, profitability, Joint-stock commercial bank.
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1. Lý do chọn đề tài
Doanh thu từ tín dụng luôn được xem là quan trọng đối với các ngân hàng; tuy nhiên trong đại dịch Covid 19 vừa qua nguồn thu nhập này đã chịu nhiều ảnh hưởng. Ngoài ra, tín dụng cũng là hoạt động mang lại nhiều rủi ro tiềm ẩn cho các ngân hàng nếu chất lượng tín dụng không được kiểm soát chặt chẽ. Trong giai đoạn cách mạng công nghệ 4.0, các NHTMCP luôn hướng đến đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ để có thể nâng cao thu nhập, phân tán và hạn chế rủi ro đặc biệt là rủi ro tín dụng. Xu hướng chuyển đổi số đang được các ngân hàng hướng đến thông qua việc tập trung đầu tư các giải pháp công nghệ vào hoạt động vận hành cũng như các dịch vụ sản phẩm bán chéo. Ngoài ra, gần đây khi quan sát trên BCTC của các ngân hàng, doanh thu từ các hoạt động như dịch vụ thanh toán, hoa hồng bảo hiểm, trái phiếu ngày càng tăng trưởng.
Xét ở góc độ chính sách, ngày 08/08/2020 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 986/QĐ-TTg về việc phê duyệt chiến lược phát triển ngành ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, trong đó đưa ra mục tiêu các ngân hàng phải tăng trưởng tỷ trọng thu nhập hoạt động phi tín dụng trong tổng thu nhập qua giai đoạn 2020-2022 là 12-13% và giai đoạn 2023-2025 là 16%-17%. Luận văn: Tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời.
Xét về mặt học thuật, nhiều nghiên cứu ở Việt Nam và ở các quốc gia khác đã phân tích mối quan hệ của TNNL với KNSL của các NHTMCP. Tuy nhiên, kết luận của tác giả tại các nghiên cứu này lại không đồng nhất về chiều hướng và mức độ tác động của TNNL đến KNSL của ngân hàng. Một vài tác giả kết luận TNNL tác động tích cực đến KNSL của ngân hàng, điển hình là nghiên cứu của Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2017), Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2019), Nguyễn Minh Sáng và Nguyễn Thị Thùy Trang (2020), Ahamed và cộng sự (2019), Nisar và cộng sự (2020), Tolangga và cộng sự (2023). Các nghiên cứu của Ghosh (2022), Maudos (2019), Singh và cộng sự (2018), Delpachitra và Lester (2015), DeYoung và Rice (2006) lại cho rằng TNNL gây bất lợi đến KNSL.
Ở nước ta, các nghiên cứu hầu hết chỉ tập trung chỉ ra sự tương quan giữa TNNL và KNSL của ngân hàng thương mại, chưa phân tích chiều hướng và mức độ ảnh hưởng của từng nguồn TNNL đến KNSL. Do đó, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài “Tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời của các NHTMCP Việt Nam” để thực hiện nghiên cứu tại luận văn này.
1.2. Mục tiêu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu tổng quát
Đưa ra các bằng chứng thực nghiệm về tác động của TN ngoài lãi và các cấu phần trong TN ngoài lãi đến KNSL của các NHTMCP tại Việt Nam. Dựa trên tiền đề đó nêu ra một số hàm ý chính sách góp phần nâng cao KNSL cho các ngân hàng TMCP Việt Nam trong tương lai.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Nghiên cứu xác định ba mục tiêu cụ thể như sau:
- Một là xác định được chiều hướng và mức độ tác động của TNNL đến KNSL của các NHTMCP Việt Nam.
- Hai là xác định được chiều hướng và mức độ tác động của từng thành phần trong TNNL đến KNSL của các NHTMCP Việt Nam.
- Cuối cùng, nêu một vài hàm ý chính sách giúp nâng cao KNSL cho các NHTMCP Việt Nam trong tương lai.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Tương ứng với từng mục tiêu nghiên cứu cụ thể đã trình bày ở trên, luận văn đặt ra các câu hỏi nghiên cứu để thực hiện như sau: Luận văn: Tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời.
- Chiều hướng và mức độ tác động của TNNL đến KNSL của các NHTMCP Việt Nam ra sao?
- Chiều hướng và mức độ tác động của từng loại TNNL đến KNSL của các NHTMCP Việt Nam như thế nào?
- Những hàm ý chính sách nào nhằm nâng cao KNSL cho các NHTMCP Việt Nam ở thời gian tới?
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu: Tác động của TNNL đến KNSL của các NHTMCP Việt Nam.
Về phạm vi nghiên cứu: Trong bài nghiên cứu này, tác giả thu thập thông tin dữ liệu từ BCTC thường niên đã được kiểm toán hàng năm của 25 NHTMCP đang niêm yết trên các sàn chứng khoán Việt Nam trong vòng 10 năm từ năm 2014 đến năm 2023.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu khi xem xét ảnh hưởng của TNNL lên KNSL của các NHTMCP Việt Nam, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng hồi quy dữ liệu bảng bằng sự trợ giúp của phần mềm STATA.
Trong luận văn này, có 3 mô hình được sử dụng là mô hình “hồi quy gộp” (Pooled OLS), mô hình “tác động cố định” (Fix effects model – FEM), và mô hình “tác ngẫu nhiên” (Random effects model – REM). Kiểm định F test được dùng để lựa chọn giữa Pooled OLS và FEM, sử dụng kiểm định Lagrange multiplier nhằm lựa chọn giữa Pooled OLS và REM, sử dụng kiểm định Hausman để lựa chọn giữa FEM hay REM. Nếu mô hình mắc các khuyết tật, tác giả sử dụng phương pháp GLS để khắc phục (Wooldridge, 2004).
1.6. Đóng góp của đề tài
Nghiên cứu góp thêm bằng chứng thực nghiệm về chiều hướng cũng như mức độ tác động của TNNL, và các nhân tố khác như quy mô tiền gửi, quy mô tín dụng, quy mô ngân hàng, quy mô VCSH, chi phí hoạt động đến KNSL của các NHTMCP
Việt Nam. Ngoài ra, điểm mới của đề tài này là tác giả đã làm rõ tác động của từng thành phần của TNNL như TN từ hoạt động dịch vụ, TN từ hoạt kinh doanh và đầu tư, và TN từ hoạt động ngoài lãi khác lên KNSL của các ngân hàng.
Tác giả nêu một số hàm ý chính sách là căn cứ cho các ngân hàng dựa vào đó đưa ra chính sách quản lý nhằm nâng cao KNSL.
1.7. Bố cục của đề tài
Kết cấu của đề tài gồm năm (05) chương. Cụ thể:
Chương 1: Giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu. Trình bày một cách khái quát về đề tài nghiên cứu.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan đến tác động của TNNL đến KNSL của NHTMCP. Trình bày cơ sở lý thuyết về TNNL, KNSL của các NHTMCP; kết quả lược khảo, tổng hợp các nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan từ đó nêu ra khoảng trống nghiên cứu.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Đưa ra mô hình nghiên cứu của đề tài căn cứ trên các công trình nghiên cứu trước, đồng thời mô tả phương pháp nghiên cứu và dữ liệu được dùng ở đề tài này.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Trình bày kết quả thống kê mô tả các biến; phân tích tương quan và kết quả hồi quy dữ liệu bảng. Luận văn: Tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời.
Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách. Đưa ra nhận xét, kết luận về chiều hướng cũng như mức độ ảnh hưởng của TNNL và các cấu phần trong TNNL đến KNSL của NHTMCP tại Việt Nam dựa trên kết quả ở Chương 4, từ đó gợi ý một số chính sách nhằm góp phần cải thiện khả năng sinh lời cho các ngân hàng. Đồng thời, nêu một số hạn chế của luận văn, đưa ra hướng nghiên cứu trong thời gian tới nhằm hoàn thiện hơn các nghiên cứu liên quan đến đề tài.
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Ở Chương này, tác giả đã đưa ra tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu cùng những thông tin liên quan đến mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu… cũng như vai trò của đề tài nghiên cứu trong thực tiễn hoạt động của các NHTMCP tại Việt Nam.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN TÁC ĐỘNG CỦA THU NHẬP NGOÀI LÃI ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NHTMCP
2.1. Cơ sở lý thuyết về TNNL, KNSL của các NHTMCP
2.1.1. Thu nhập ngoài lãi của NHTMCP
2.1.1.1. Thu nhập ngoài lãi
Theo Isshaq và cộng sự (2021), lĩnh vực hoạt động cốt lõi của các NHTM là huy động và cho vay. Tuy nhiên, để phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế hiện đại, các dịch vụ thanh toán khác cũng được yêu cầu. Khi các ngân hàng cung cấp các dịch vụ này, chúng tạo ra TNNL.
Smith và cộng sự (2005) cho rằng việc đa dạng hóa hoạt động giúp giảm thiểu rủi ro trong ngành TCNH. Điều này thể hiện thông qua việc nhiều ngân hàng tập trung vào việc tạo ra TNNL.
Hoàng Ngọc Tiến và Võ Thị Hiền (2012) đã chỉ ra TNNL của ngân hàng thương mại bắt nguồn từ chênh lệch giữa doanh thu thu được từ hoạt động cung cấp sản phẩm dịch vụ phi tín dụng và chi phí tiêu tốn cho các hoạt động này. Theo Stiroh (2006), việc hoạt động mang lại TNNL được coi là thang đo cấp độ đa dạng hóa hoạt động phi ngân hàng. Khác với TN lãi, khoản thu nhập này đa phần ít chịu tác động bởi các giai đoạn kinh tế và hầu như luật pháp không giám sát chặt chẽ (Bodla và Verma, 2008).
2.1.1.2. Các thành phần của TNNL
Clark và Siems (2004) cho rằng TNNL được hình thành từ các hoạt động kinh doanh ở nước ngoài cụ thể như lãi và phí môi giới, lợi nhuận mang lại từ hoạt động thanh lý tài sản, chứng khoán hóa ròng, phí quản lý tài khoản, phí giao dịch. Hidayat và cộng sự (2014), cũng cho rằng TNNL xuất phát từ các dịch vụ truyền thống, như séc và quản lý tiền mặt, cũng như từ các dịch vụ tài chính mới như quản lý tài khoản ngân hàng và ngân hàng đầu tư. TNNL của ngân hàng chủ yếu là thu nhập từ phí dịch vụ, phí phạt, bán tài sản và cho thuê tài sản.
Hoàng Ngọc Tiến và Võ Thị Hiền (2012) cho rằng TNNL là những khoản TN từ hoạt động dịch vụ; kinh doanh ngoại hối, vàng bạc, đá quý; mua bán chứng khoán và các hoạt động dịch vụ khác.
Dựa trên các nghiên cứu trong và ngoài nước về TNNL, trong phạm vi nghiên cứu của bài luận văn này, TNNL của các NHTMCP bao gồm các khoản thu khác được thể hiện trên BCTC ngoài thu nhập từ hoạt động tín dụng. Trong đó, TNNL được tính theo công thức như sau: TNNL = TN từ hoạt động dịch vụ + TN từ hoạt động kinh doanh và đầu tư + TN từ hoạt động khác.
- Trong đó:
TN từ hoạt động dịch vụ bắt nguồn từ: dịch vụ thanh toán; dịch vụ ngân quỹ; nghiệp vụ ủy thác và đại lý; cung ứng dịch vụ bảo quản tài sản, cho thuê tủ, két an toàn, tư vấn, môi giới tiền tệ; các dịch vụ khác.
TN từ hoạt động kinh doanh bắt nguồn từ: kinh doanh ngoại hối và vàng; kinh doanh chứng khoán; hoạt động góp vốn, chuyển nhượng vốn góp, cổ phần. Luận văn: Tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời.
TN từ hoạt động khác bắt nguồn từ: các khoản nợ đã xử lý bằng quỹ dự phòng rủi ro; tiền phạt khách hàng, tiền khách hàng bồi thường do vi phạm hợp đồng được hạch toán vào thu nhập; tiền bảo hiểm được bồi thường được hạch toán vào thu nhập sau khi đã bù đắp khoản tổn thất đã mua bảo hiểm; các công cụ tài chính phái sinh khác; nghiệp vụ mua bán nợ; chuyển nhượng, thanh lý tài sản; hoàn nhập dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn; hoạt động khác theo quy định của pháp luật.
2.1.1.3. Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi
Theo tác giả Hoàng Ngọc Tiến và Võ Thị Hiền (2012) tỷ lệ TNNL của NHTM là chỉ tiêu áp dụng rộng rãi trong ngành TCNH. Tuy nhiên, NHNN chưa có văn bản chính thức hướng dẫn phương pháp tính cụ thể chỉ tiêu này; phương pháp xác định chỉ tiêu này chỉ được các NHTM sử dụng trong nội bộ hoặc công khai trên các BCTC.
- Để xác định TNNL của NHTM cần kể đến những chỉ tiêu như:
Tỷ lệ TNNL trên tổng tài sản của ngân hàng: phản ánh một đồng tài sản bình quân sẽ tạo ra bao nhiêu TNNL trong kỳ. Tỷ lệ này càng cao cho thấy quy mô và hiệu quả của các hoạt động phi tín dụng càng cao và ngược lại; là căn cứ để dự đoán, đánh giá xu thế phát triển của các hoạt động mang lại TNNL (Nguyễn Minh Sáng và Nguyễn Thị Hạnh Hoa, 2014).
- Tỷ lệ TNNL x 100%
Tỷ lệ TNNL trên tổng TN của ngân hàng: Tỷ lệ TNNL là tỷ lệ phần trăm giữa thu nhập thuần từ hoạt động ngoài tín dụng trên tổng thu nhập thuần của ngân hàng. Một số nghiên cứu sử dụng phương pháp tính này như Nguyễn Minh Sáng và Nguyễn Thị Thùy Trang (2020), Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2019), Maudos (2019).
- Tỷ lệ TNNL x 100%
Trong đó:
- Tổng TN thuần của ngân hàng = TN thuần từ hoạt động tín dụng + TN thuần từ hoạt động phi tín dụng.
- Trong phạm vi luận văn này, tỷ lệ TNNL trên tổng TN của ngân hàng được tác giả sử dụng để tính toán và áp dụng vào mô hình nghiên cứu.
2.1.2. Khả năng sinh lời của các NHTMCP Luận văn: Tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời.
KNSL là khả năng doanh nghiệp có được khoản lợi nhuận còn lại sau khi đã trừ hết những chi phí ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất. KNSL là mục tiêu quan trọng đối với chiến lược ngắn hay dài hạn của bất cứ doanh nghiệp nào. Đạt được mục tiêu lợi nhuận là mối bận tâm hàng đầu của các cấp lãnh đạo tại các doanh nghiệp và các chuyên gia kinh tế bởi nó có ảnh hưởng đối với nền kinh tế toàn cầu (Taylor, 2010). Tỷ suất sinh lời cho biết năng lực của doanh nghiệp trong việc thu được lợi nhuận mong muốn và thu hồi vốn đầu tư. Các tỷ lệ trên là thước đo phản ánh sức mạnh tài chính và tính tự chủ của doanh nghiệp đối với hoạt động quản lý tài sản của công ty (Lesakova, 2009).
Petersen và Schoeman (2010) cho rằng có hai thước đo chính về KNSL của ngân hàng là ROA và ROE. Cụ thể, ROA cung cấp thông tin trung bình một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận; do đó ROA là một chỉ số về mức độ HQHĐ của một ngân hàng. ROE là chỉ tiêu phản ánh một đồng vốn đầu tư của chủ sở hữu đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi đã trừ thuế thu nhập doanh nghiệp.
Theo Ngô Kim Phượng và Lê Hoàng Vinh (2023), tỷ suất sinh lời trên tài sản (Return on assets – ROA) đo lường HQHĐ của một doanh nghiệp trong việc tận dụng tài sản để tạo lợi nhuận sau thuế, không phân biệt tài sản này được hình thành bởi nguồn vốn vay hay VCSH, phản ánh HQHĐ đầu tư của tổ chức. Bên cạnh đó, tỷ suất sinh lời trên VCSH (ROE) dùng để phản ánh một đồng vốn đầu tư của chủ sở hữu vào doanh nghiệp mang tới bao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi đã trừ thuế thu nhập doanh nghiệp. ROE có mối liên hệ với chi phí lãi vay, liên hệ với chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp vì vậy nó được xem như là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của chủ sở hữu dưới tác động của đòn bẩy tài chính.
- Công thức tính ROA như sau: ROA
- Công thức tính ROE như sau: ROE (%)
Ngoài ROA và ROE thì tỷ lệ thu nhập lãi thuần (Net Interest Margin – NIM) cũng được sử dụng để đánh giá KNSL của ngân hàng. Theo Rose (1996), tỷ lệ thu nhập lãi thuần đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được. Chỉ số này phản ánh hiệu quả của hoạt động huy động và cho vay thông qua việc kiểm soát tài sản sinh lời và tìm kiếm các nguồn vốn có chi phí thấp. Trịnh Hồng Hạnh (2017) cho rằng NIM là chỉ tiêu đo lường tính hiệu quả cũng như KNSL của ngân hàng. Tỷ lệ này là công cụ để các nhà đầu tư hiểu rõ hơn về HQKD của doanh nghiệp, tỷ lệ càng thấp thì ngân hàng đó kinh doanh càng hiệu quả. Luận văn: Tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời.
- Công thức tính tỷ lệ thu nhập lãi thuần như sau: NIM
2.1.3. Tác động của TNNL đến KNSL của các NHTMCP
Tác động của TNNL đến KNSL của các NHTM được nhiều tác giả trong nước và quốc tế tiến hành nghiên cứu. Dẫu vậy, kết luận đồng nhất vẫn chưa được đưa ra. Một số nghiên cứu cho thấy giữa TNNL và KNSL có mối quan hệ cùng chiều (Nguyen, 2014; Brahmana và cộng sự, 2020; Najam và cộng sự, 2024) khi các ngân hàng đầu tư nguồn lực và chú trọng vào việc kiểm soát chất lượng và hiệu quả của hoạt động mang lại TNNL (Andrzejuk, 2019). Nisar và cộng sự (2020) cũng đồng ý rằng mở rộng các nguồn TN sẽ có ảnh hưởng tốt đối với lợi nhuận và sự bền vững của ngân hàng vì vậy ngân hàng có thể xem xét việc mở rộng sang các hoạt động mang lại TNNL thông qua việc chuyển hướng sang những con đường mang lại TNNL khác thay vì dựa vào thu nhập từ phí và hoa hồng. Ahamed (2019) đưa ra quan điểm tỷ lệ TNNL cao sẽ mang lại lợi nhuận cao hơn, đặc biệt là ở những ngân hàng có chất lượng tài sản thấp. Trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19, việc mở rộng kinh doanh sang những hoạt động phi lãi vay giúp ngân hàng tiết kiệm chi phí và gia tăng doanh số vì nguồn doanh thu ngoài lãi có quan hệ thuận chiều với KNSL đồng thời có quan hệ ngược chiều với rủi ro (Li và cộng sự, 2023).
Việc chuyển hướng sang lĩnh vực dịch vụ, đầu tư và kinh doanh phi truyền thống giúp ngân hàng mở rộng thị phần tăng khả năng tiếp cận và chăm sóc khách hàng tốt hơn. Khi các NHTM phát triển hoạt động sang lĩnh vực kinh doanh, công nghệ và dịch vụ, đầu tư sẽ cắt giảm được nguồn chi phí nhân sự. Dựa vào nguồn khách hàng sẵn có để quảng bá các sản phẩm và nâng cao doanh số (Baele và cộng sự, 2009). Hơn nữa, đa dạng hoá nâng cao khả năng cạnh tranh của các ngân hàng trên quy mô thị trường lớn hơn, làm tăng sự linh hoạt và hiệu quả trong việc xây dựng và cung cấp dịch vụ TCNH (Lepetit và cộng sự, 2010).
Ngoài ra, vẫn còn một số quan điểm khác cho rằng khi NHTM chuyển hướng sang các hoạt động phi lãi vay nhằm đa dạng hoá nguồn TN sẽ làm cho: (1) ngân hàng dễ gặp rủi ro hơn theo kết luận của Maudos (2019) và Williams (2018); (2) tác động bất lợi lên KNSL của các ngân hàng (DeYoung & Roland, 2003; Hahm, 2010; Apergis, 2016). Việc chú trọng vào các hoạt động không liên quan đến lãi suất làm tăng thêm sự đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro được gây ra bởi sự gia tăng nguy cơ mất khả năng thanh toán (Ammar và cộng sự, 2021; Emongor, 2022).
Nhìn chung, đã tồn tại nhiều nghiên cứu tìm hiểu về tác động của TNNL lên KNSL hay HQHĐ của ngân hàng. Tuy nhiên vì khác nhau về đối tượng nghiên cứu, thời điểm, vị trí địa lý và phương pháp nghiên cứu. .. mà kết luận cuối cùng vẫn chưa đi đến đồng thuận.
2.2. Tổng quan các nghiên cứu trước đây Luận văn: Tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời.
2.2.1. Nghiên cứu trong nước
Các nghiên cứu ở nước ta về tác động của TNNL đến KNSL của các NHTM hầu hết đều kết luận TNNL có mối tương quan dương với KNSL. Kết quả lược khảo các nghiên cứu theo thứ tự thời gian từ trước đến nay như sau:
Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2017) dùng phương pháp ước lượng hồi quy dữ liệu bảng từ 37 NHTM trong giai đoạn từ 2008 đến 2015 nhằm tìm hiểu mối liên hệ giữa đa dạng hóa TN với lợi nhuận và rủi ro của các NHTM tại Việt Nam. Nghiên cứu kết luận rằng mức độ đa dạng hóa càng cao thì lợi nhuận của NHTM càng cao đồng thời các NHTM cũng gặp nhiều rủi ro hơn.
Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2019) đã phân tích tương quan giữa TNNL và HQKD của 26 NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn từ 2008 tới 2018 bằng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng khẳng định rằng TNNL tương quan dương với HQKD. Bên cạnh đó, các tác giả còn chỉ ra rằng tỷ lệ cho vay, tỷ lệ VCSH, tỷ lệ chi phí hoạt động, tỷ lệ tiền gửi, tốc độ tăng trưởng kinh tế và lạm phát đều có tác động đến HQKD của ngân hàng.
Nghiên cứu của Hà Văn Dũng và Nguyễn Đặng Hồng Anh (2019) hồi quy dữ liệu bảng với mô hình Pooled OLS, FEM, REM và PCSE để chỉ ra quan hệ giữa TN phi lãi vay và KNSL cũng như rủi ro của các NHTMCP Việt Nam từ năm 2007 – 2016. Tác giả khẳng định TN phi truyền thống làm tăng KNSL của ngân hàng, nhưng đồng thời làm gia tăng rủi ro. Ngoài ra, quy mô ngân hàng, NIM, tỷ lệ chi phí hoạt động và tăng trưởng kinh tế là các nhân tố có ảnh hưởng đến KNSL của NHTMCP.
Nguyễn Minh Sáng và Nguyễn Thị Thùy Trang (2020) sử dụng số liệu của 26 NHTMCP trong nước từ 2010 – 2018 bằng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng với mô hình FEM và REM, bên cạnh mối liên hệ giữ TNNL và KNSL, nghiên cứu còn phân tích quan hệ giữa KNSL và rủi ro với tỷ lệ dư nợ cho vay khách hàng, tỷ lệ VCSH, quy mô ngân hàng, tỷ lệ chi phí dự phòng rủi ro tín dụng và mức tăng tổng tài sản mỗi năm. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy các hoạt động mang lại TNNL làm tăng KNSL nhưng không làm gia tăng rủi ro.
Nguyễn Minh Sáng và Trần Thị Thanh Tâm (2022) phân tích ảnh hưởng của TNNL đến HQKD của 26 NHTM Việt Nam trong khoảng năm 2010 – 2019 bằng phương pháp GMM. Tác giả kết luận TNNL ảnh hưởng tích cực đến HQHĐ của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu. Điều này góp phần khẳng định xu hướng đa dạng hóa hoạt động phi tín dụng nhằm gia tăng tỷ lệ TNNL của các NHTM Việt Nam.
Phân tích tác động của TNNL đến HQKD dựa trên số liệu của 22 NHTM từ năm 2010 – 2022 với mô hình “tác động ngẫu nhiên” và mô hình “tác động cố định”, sử dụng kiểm định Hausman để lựa chọn mô hình phù hợp, Văn Thị Thái Thu (2024) kết luận TNNL có tương quan cùng chiều với biến ROE và ROA đại diện cho HQKD của các NHTM. Đồng thời, tác giả cũng khẳng định trong các hoạt động mang lại TNNL thì hoạt động dịch vụ giúp nâng cao HQKD hơn so với hoạt động còn lại.
2.2.2. Nghiên cứu nước ngoài Luận văn: Tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời.
2.2.2.1. Thu nhập ngoài lãi có tác động cùng chiều với KNSL của các NHTM
Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới kết luận rằng TNNL có tác động cùng chiều với KNSL. Cụ thể như sau:
Lee và cộng sự (2016) đã sử dụng dữ liệu của 967 NHTM thuộc 22 đất nước ở Châu Á giai đoạn 1995-2011 để phân tích ảnh hưởng của TNNL đến lợi nhuận và rủi ro của ngân hàng. Tác giả dùng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng với mô hình GMM và kết luận rằng các hoạt động mang lại thu nhập phi lãi suất làm giảm rủi ro cho ngân hàng nhưng lại không làm tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, khi nghiên cứu đối với từng nhóm quốc gia cụ thể, các ngân hàng ở những nước có thu nhập cao thì TNNL lại gia tăng rủi ro nhưng cũng làm tăng lợi nhuận. Các nước thu nhập trung bình và thấp thì TNNL làm tăng KNSL và hạn chế rủi ro của các ngân hàng tại những quốc gia này.
Bian và cộng sự (2017) dùng dữ liệu của 107 NHTMCP ở Trung Quốc trong giai đoạn 2009-2014 về sự dịch chuyển của các ngân hàng sang các lĩnh vực mang lại TNNL tác động ra sao đến lợi nhuận và rủi ro. Kết quả thu nhập từ hoa hồng, phí dịch vụ làm giảm đáng kể rủi ro cho ngân hàng.
TNNL được coi là một nguồn thu nhập bổ sung cho các NHTM, điều quan trọng để gia tăng KNSL của các NHTM ở Kenya. Oniango (2017) nghiên cứu dữ liệu từ BCTC của tất cả 43 ngân hàng thương mại ở Kenya trong giai đoạn 2012 đến 2016 bằng mô hình hồi quy. Tác giả kết luận rằng TNNL có mối quan hệ thuận chiều với KNSL của các ngân hàng thương mại, các NHTM nên tiến hành mở rộng hoạt động để tăng thu nhập. Điều này sẽ cho phép các NHTM giảm thiểu rủi ro vì họ có nguồn thu nhập đa dạng.
Ahamed (2019) phân tích dữ liệu thu thập từ BCTC của các ngân hàng tại Ấn Độ trong giai đoạn từ năm 1998 đến 2016 cho rằng tỷ lệ TNNL cao mang lại lợi nhuận cao hơn, nói cách khác việc đa dạng hóa thu thập dưới dạng gia tăng các nguồn
TNNL sẽ làm tăng lợi nhuận và lợi nhuận hiệu chỉnh rủi ro cho các ngân hàng. Hơn nữa đa dạng hóa tổng doanh thu có lợi cho ngân hàng có chất lượng tài sản thấp hơn là đối với các ngân hàng có chất lượng tài sản cao.
Nisar và cộng sự (2020) hồi quy dữ liệu của 200 NHTM từ tất cả các nước thuộc khu vực Nam Á từ năm 2002 – 2016, tác giả cho rằng việc đa dạng hóa tổng doanh thu thành TNNL có tác động tích cực đến KNSL và sự bền vững của các NHTM ở Nam Á. Ngoài ra, các loại hoạt động tạo TNNL khác nhau có mức ảnh hưởng khác nhau đến HQHĐ và sự bền vững của ngân hàng. Trong khi thu nhập từ phí dịch vụ và hoa hồng có tác động tiêu cực đến lợi nhuận và sự bền vững của các NHTM Nam Á thì các khoản TNNL khác lại có tác động ngược lại. Luận văn: Tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời.
Tolangga và cộng sự (2023) căn cứ vào dữ liệu của các NHTM tại Indonesia từ năm 2009-2018 nhằm xem xét liệu việc gia tăng các hoạt động TNNL có làm tăng KNSL cho các NHTM hay không và khác biệt như thế nào giữa các nhóm ngân hàng dựa trên tình trạng sở hữu và chất lượng tài sản. Tác giả chỉ ra rằng ảnh hưởng tích cực của đa dạng hóa nguồn TN, được đo bằng NII, đối với KNSL của ngân hàng, được thể hiện qua ROA và ROA điều chỉnh theo rủi ro. Hơn nữa, đối với việc đa dạng hóa thu nhập, các ngân hàng có chất lượng tài sản thấp hơn hưởng lợi nhiều hơn các ngân hàng có chất lượng tài sản cao hơn.
2.2.2.2. Thu nhập ngoài lãi có tác động ngược chiều đến khả năng sinh lời của các NHTM
Bên cạnh ảnh hưởng tích cực của TNNL đến KNSL, một vài nghiên cứu khác tại nhiều nơi trên thế giới như Mỹ, Úc, Nam Á lại có kết luận trái ngược khi cho rằng TNNL có tác động ngược chiều đến KNSL, làm tăng rủi ro cho các NHTM:
DeYoung và Rice (2006) nghiên cứu về các NHTMCP ở Mỹ trong khoản thời gian từ năm 1989 – 2003 cho thấy TNNL làm giảm HQHĐ của ngân hàng. Thu nhập từ tín dụng vẫn giữ vị trí cốt lõi trong ngân hàng.
Delpachitra và Lester (2015) đã nghiên cứu trên 09 ngân hàng tại Úc từ năm 2002 đến 2011 bằng phương pháp “ước lượng bình phương nhỏ nhất” đã chỉ ra TNNL và đa dạng hóa doanh thu làm giảm KNSL và tăng rủi ro cho các ngân hàng.
Singh và cộng sự (2018) thực hiện nghiên cứu số liệu thu thập được từ các ngân hàng Ấn Độ từ 2005-2015 kết luận TNNL có mối tương quan ngược chiều với lợi nhuận của ngân hàng. Điều này giải thích cho việc các ngân hàng tại nước này không đẩy mạnh đa dạng hóa nguồn doanh thu theo cách tạo ra nhiều TNNL.
Maudos (2019) nghiên cứu bằng phương pháp “hồi quy đa biến” đối với các ngân hàng Châu Âu trong giai đoạn 2004-2014 để đánh giá tác động của cấu trúc thu nhập đến rủi ro và KNSL của từng ngân hàng. Tác giả khẳng định rằng các ngân hàng với cấu trúc thu nhập càng phong phú thì KNSL càng thấp và rủi ro càng ở mức cao. Có thể thấy điều này rõ nhất vào giai đoạn nền kinh tế bị sụt giảm vì suy thoái, đồng thời cũng đã tạo nhiều ảnh hưởng không tốt lên hoạt động của hệ thống ngân hàng qua đó gây tác động xấu đến những hoạt động đem lại nguồn TNNL.
Ghosh (2022) phân tích dữ liệu của 5491 NHTM tại Mỹ từ tháng 6 năm 2003 đến tháng 3 năm 2018 nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của tổng TNNL và mỗi loại TNNL đến rủi ro và lợi nhuận của mỗi ngân hàng. Tác giả cho biết tổng TNNL và mỗi cấu phần khác nhau của nó đều gây ra thêm rủi ro cho ngân hàng và từng loại TNNL đều có hướng ảnh hưởng khác nhau đối với lợi nhuận và điều này rõ hơn trong giai đoạn sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Kết quả cũng cho thấy cần thiết phải tăng cường quy định và kiểm soát những hoạt động TNNL được phân chia khác nhau sao cho chi phí tham gia vào những hoạt động này không vượt quá lợi ích mà chúng đem lại cho ngân hàng. Luận văn: Tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời.
Bảng 2.1 Tổng hợp các nghiên cứu về tác động của TNNL đến KNSL của ngân hàng
| Stt | Tác giả | Vấn đề nghiên cứu | Biến phụ thuộc | Biến độc lập | Biến kiểm soát |
| Nghiên cứu trong nước | |||||
| 1 | Văn Thị Thái Thu (2024). | Tác động của TNNL đến HQKD của NHTM trong giai đoạn 2010-2022. | ROE, ROA. | Tỷ lệ TNNL. | Quy mô ngân hàng, Tỷ lệ dư nợ tín dụng, Tỷ lệ VCSH, Tỷ lệ tiền gửi khách hàng. |
| 2 | Nguyễn Minh Sáng và Trần Thị Thanh Tâm (2022). | Tác động của TNNL đến HQHĐ của NHTM Việt Nam giai đoạn 2010 – 2019. | ROAA, ROAE. | Tỷ lệ TNNL. | Quy mô ngân hàng, Tỷ lệ dư nợ cho vay, VCSH, Tỷ lệ tiền gửi khách hàng, Tỷ lệ chi phí chung. |
| 3 | Nguyễn Minh Sáng và Nguyễn Thị Thùy Trang (2020). | Tác động của TNNL đến rủi ro và KNSL của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2010-2018. | ROA, ROE; SDROA và SDROE (đo lường rủi ro của ngân hàng).
|
Tỷ lệ TNNL. | Tỷ lệ dư nợ cho vay khách hàng, Tỷ lệ VCSH, Quy mô ngân hàng, Tỷ lệ chi phí dự phòng rủi ro tín dụng, Mức tăng tổng tài sản hàng năm. |
| 4 | Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2019). | Mối quan hệ giữa TNNL và HQKD của ngân hàng của 26 NHTMCP Việt Nam từ 2008 đến 2018. | ROA, ROE; SHROA và SHROE (HQKD điều chỉnh rủi ro). | Tỷ lệ TN thuần từ hoạt động dịch vụ, Tỷ lệ TN thuần từ hoạt động kinh doanh, Tỷ lệ TN thuần từ các hoạt động ngoài lãi khác. | Quy mô ngân hàng, Tỷ lệ dư nợ cho vay, VCSH, Tỷ lệ chi phí hoạt động, Tỷ lệ tiền gửi khách hàng, Tăng trưởng kinh tế, Tỷ lệ lạm phát. |
| 5 | Hà Văn Dũng và Nguyễn Đặng Hồng Anh (2019). | Mối quan hệ của thu nhập phi truyền thống với KNSL và rủi ro của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 20072016. | ROA, ROE; SDROA và SDROE. | Tỷ lệ TNNL. | Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, Quy mô ngân hàng, Tỷ lệ dư nợ cho vay, VCSH, Tỷ lệ tiền gửi khách hàng. |
| 6 | Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2017). | Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến lợi nhuận và rủi ro của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn từ 2008 đến 2015. | ROAA, ROAE; RAROA, RAROE và Z_Score (đo lường rủi ro của ngân hàng). | HHI_REV (đo lường sự thay đổi trong thu nhập của ngân hàng). | Quy mô ngân hàng, Tỷ lệ dư nợ cho vay, Tỷ lệ tăng trưởng tài sản, Tỷ lệ tiền gửi khách hàng, Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ cho vay. |
| Nghiên cứu nước ngoài có kết quả TNNL tác động cùng chiều với KNSL | |||||
| 7 | Tolangga và cộng sự (2023). | Tác động của việc gia tăng các hoạt động TNNL đến KNSL của các nhóm ngân hàng tại Indonesia (dựa trên tình trạng sở hữu và chất lượng tài sản) giai đoạn từ 20092018. | ROA và ROA điều chỉnh. | Tỷ lệ TNNL. Luận văn: Tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời. | Quy mô ngân hàng, Rủi ro tín dụng, VCSH, Thành phần tài sản và tăng trưởng tài sản. |
| 8 | Nisar và cộng sự (2020). | Tác động của đa dạng hóa doanh thu đối với KNSL và sự ổn định của ngân hàng tại Nam Á trong giai đoạn 2002 đến 2016. | ROA, ROE; SHROA, ROAA, Z-Score (đo lường rủi ro của ngân hàng). | NIITA; NII1; NII2. | Chi phí tài trợ, VCSH, Chi phí quản lý, Đầu tư, Quy mô ngân hàng, Rủi ro tín dụng, Tăng trưởng kinh tế, Khủng hoảng tài chính toàn cầu, Lạm phát. |
| 9 | Ahamed (2019). | Tác động của TNNL đến KNSL của các nhóm ngân hàng có chất lượng tài sản khác nhau tại Ấn Độ giai đoạn 1998 đến 2016. | ROA và ROA hiệu chỉnh. | Tỷ lệ TNNL. | Quy mô ngân hàng, Tỷ lệ dự phòng cho vay, VCSH, Thành phần tài sản và tăng trưởng tài sản, Tăng trưởng kinh tế. |
| 10 | Oniango (2017). | Tác động của TNNL đến lợi nhuận của các NHTM ở Kenya giai đoạn 2012 đến 2016. | ROA. | Tỷ lệ TNNL. | Tỷ lệ an toàn vốn, Thanh khoản của ngân hàng, Quy mô của ngân hàng, HQHĐ. |
| 11 | Bian và cộng sự (2017) | Tác động của TNNL đến hiệu quả lợi nhuận và rủi ro của các NHTM ở Trung Quốc trong giai đoạn 20092014. | ROA và Z- Score. | NTI (Tỷ lệ TNNL); Fee 1 (Tỷ lệ thu nhập từ hoa hồng và phí); Fee 2 (Tỷ lệ thu nhập từ giao dịch). | Quy mô ngân hàng, VCSH, Tỷ lệ nợ xấu, Thay đổi công nghệ. |
| 12 | Lee và cộng sự (2016). | Tác động của TNNL đến lợi nhuận và rủi ro của các ngân hàng tại Châu Á trong giai đoạn 1995-2011. | ROA, ROE Độ lệch chuẩn của ROA, độ lệch chuẩn của ROE. | Tỷ lệ TNNL. | Độ trễ của biến phụ thuộc, Quy mô ngân hàng, Tỷ lệ an toàn vốn, Tỷ lệ cho vay khách hàng, Tốc độ tăng trưởng, Chất lượng tài sản, Tỷ lệ tiền gửi. |
| Nghiên cứu nước ngoài có kết quả TNNL tác động ngược chiều với KNSL | |||||
| 13 | Ghosh (2022). | Tác động của tổng TNNL và từng cấu phần TNNL đối với rủi ro và lợi nhuận của các ngân hàng tại Hoa Kỳ từ 2003- 2018. | ROE và ZScore. | Tỷ lệ từng loại TNNL. | Tỷ lệ thu nhập phí kỳ trước, HQKD, Quy mô ngân hàng, Tỷ lệ cho vay, Tỷ lệ an toàn vốn, Loại sở hữu. |
| 14 | Maudos (2019). | Ảnh hưởng của cấu trúc thu nhập lên rủi ro và KNSL của ngân hàng Châu Âu trong 2004-2014. | ROA, Z- Score. | Tỷ lệ TNNL, Tỷ lệ TN từ hoa hồng và phí, Tỷ lệ TN từ giao dịch. | Quy mô ngân hàng, Tỷ lệ an toàn vốn, Tăng trưởng tín dụng, Chất lượng tài sản, Tỷ lệ tiền gửi. |
| 15 | Singh và cộng sự (2018). | Mối quan hệ giữa TNNL và lợi nhuận của các ngân hàng Ấn độ giai đoạn 20052015. | ROA, ROE. | Tỷ lệ TNNL. Luận văn: Tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời. | Tỷ lệ TNNL kỳ trước, HQKD, Quy mô ngân hàng, Tỷ lệ cho vay, Rủi ro thanh khoản, Chi phí huy động, Tăng trưởng kinh tế. |
| 16 | Delpachitra và Lester (2015). | Tác động của TNNL và đa dạng hóa thu nhập đến lợi nhuận và rủi ro của các ngân hàng Úc từ 2002 đến 2011. | ROA, Z- Score. | Tỷ lệ TNNL. | Sự cạnh tranh, Quy mô ngân hàng, Rủi ro tín dụng, Tỷ lệ an toàn vốn, NIM, Tỷ lệ vốn VCSH, Tăng trưởng kinh tế. |
| 17 | DeYoung và Rice (2006). | Mối quan hệ của TNNL và HQHĐ của các ngân hàng tại Mỹ giai đoạn 1989 đến 2003. | ROE, Biến động của ROE. | Tỷ lệ TNNL. | Chiến lược cho vay, Quy mô, Tốc độ tăng trưởng, Loại hình sở hữu, Số lượng ATM. |
Nguồn: Tác giả tổng hợp
2.3. Khoảng trống nghiên cứu Luận văn: Tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời.
Dựa trên kết quả tổng hợp ở mục 2.2, tác giả nhận thấy tác động của TNNL lên KNSL của NHTMCP còn đang là một chủ đề tranh luận do chưa có các kết quả thống nhất, có kết quả cho thấy rằng TNNL có tác động cùng chiều với KNSL; có kết quả khác thì cho thấy TNNL và KNSL có tương quan ngược chiều.
Các nghiên cứu tại Việt Nam chủ yếu mới tập trung xem xét mối quan hệ giữa TNNL và KNSL của ngân hàng, ít phân tích chiều hướng và mức độ ảnh hưởng của từng cấu phần trong TNNL đối với KNSL của các ngân hàng tại Việt Nam. Ngoài ra, thời gian qua nước ta đã phải trải qua đại dịch Covid 19 khiến cho tình hình xã hội, nền kinh tế nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng cũng bị ảnh hưởng không nhỏ nhưng hầu như các nghiên cứu trước đều không đề cập. Từ các điểm trên, có những khoảng trống để tác giả tiếp tục nghiên cứu đề tài gồm:
- Theo kết quả lược khảo của tác giả, hiện chưa có các nghiên cứu đề tài này với bộ dữ liệu cho đến 31/12/2023.
- Các nghiên cứu trước đây chỉ chú trọng nghiên cứu về tác động của TNNL mà chưa phân tích chi tiết tác động của từng loại TNNL đến KNSL của các ngân hàng, nhất là bối cảnh sau dịch bệnh Covid-19.
- Hầu hết các nghiên cứu chỉ phân tích ảnh hưởng của TNNL tới KNSL thông qua việc sử dụng chỉ số ROA, chưa có nhiều tác giả sử dụng chỉ số ROE để đánh giá.
Chính vì vậy, luận văn được triển khai với mong muốn phân tích tác động của TNNL và từng loại TNNL đến KNSL của các NHTMCP khi sử dụng dữ liệu đến năm 2023, với các giả thuyết về sự tích cực của mối tương quan này đến KNSL của các NHTMCP.
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 Luận văn: Tác động của thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời.
Trình bày lý thuyết về TNNL và những cấu phần hình thành TNNL, KNSL của NHTM. Đồng thời, tổng hợp các bài viết khác ở Việt Nam và trên thế giới để thấy rõ vấn đề nghiên cứu từ đó rút ra khoảng trống nghiên cứu.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC thu nhập ngoài lãi đến khả năng sinh lời

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
