Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên trường Tiểu học Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Giới thiệu khái quát về giáo dục Tiểu học tại trường Tiểu học Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
2.1.1. Khái quát tình hình giáo dục của Huyện Thanh Trì
Thanh Trì là một huyện ngoại thành Hà Nội. Thanh Trì xưa là vùng đất địa linh nhân kiệt, giàu truyền thống lịch sử, cách mạng, văn hoá và hiếu học. Nơi đây có nhiều vị đỗ đại khoa. Từ khoa thi đời Trần Anh Tông (1293 – 1314) đến khoa thi năm Duy Tân tháng 4 năm 1910, Thanh Trì có 82 vị đỗ đạt cao, trong đó có 2 Trạng Nguyên, 3 Bảng Nhãn, 1 Thám Hoa và 14 Hoàng Giáp.
Sự nghiệp giáo dục được quan tâm phát triển toàn diện. Huyện đã chú trọng tập trung cho mục tiêu phát triển bền vững Tiểu học. Hiện đã có 100% số học sinh Tiểu học học 2 buổi/ ngày. Huyện đã tập trung xây dựng mô hình các trường công lập đạt chất lượng cao. Phong trào thi đua “Dạy tốt – Học tốt” không ngừng phát triển và đi vào chiều sâu. Chất lượng giáo dục trong các trường được nâng lên rõ rệt trong thời kỳ đổi mới giáo dục. Số lượng học sinh đạt học sinh giỏi, giáo viên giỏi hàng năm ở mỗi ngành học đều tăng, tỷ lệ tốt nghiệp các cấp học luôn luôn giữ vững ở mức cao và ổn định. Môi trường sư phạm các nhà trường ngày càng được cải thiện, trường lớp ngày càng khang trang sạch đẹp hơn.
Về giáo dục tiểu học, huyện Thanh Trì có 22 trường (21 trường Tiểu học và 01 trường Dạy trẻ Khuyết tật). Được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo nên nhiều trường được xây mới đồng bộ, khang trang, sạch đẹp. Có 14/22 trường Tiểu học được công nhận trường chuẩn Quốc gia mức độ 1(chiếm 63,63%). Được sự quan tâm của UBND huyện, các trường đã được bổ sung đội ngũ tương đối đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu theo Thông tư số 35/TTLT-BGD&ĐT-NV ngày 23/6/2012 của liên Bộ GD&ĐT và Nội vụ về định mức biên chế viên chức các cơ sở giáo dục công lập.
- Bảng 2.1. Thống kê số lượng giáo viên tiểu học tại huyện Thanh Trì
Huyện cũng thực hiện tốt các chế độ chính sách đối với đội ngũ, tạo điều kiện cho các đồng chí cán bộ, giáo viên tham gia học tập nâng cao trình độ, làm tốt công tác phát triển Đảng trong đội ngũ nhà giáo. Về công tác bồi dưỡng giáo viên dạy giỏi, chỉ đạo tốt các Hội thi, trong năm học 2024 – 2025, cấp tiểu học Thanh Trì tiếp tục chỉ đạo tốt Hội thi giáo viên dạy giỏi với những đổi mới và sáng tạo. Hội thi được tổ chức với 2 vòng thi cả lý thuyết và thực hành tạo phong trào thi đua sôi nổi trong các nhà trường. 03 giáo viên tham gia Hội thi giáo viên dạy giỏi cấp Thành phố và đạt kết quả cao. Phong trào làm đồ dùng dạy học được phát động hàng năm và được 100% các nhà trường hưởng ứng.
2.1.2. Đặc điểm trường tiểu học Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên.
Trường Tiểu học Đông Mỹ có bề dày truyền thống 90 năm trưởng thành và phát triển. Năm 2014, trường đã được công nhận là trường chuẩn quốc gia mức độ 1, trường Tiên tiến xuất sắc cấp Thành phố và vinh dự được nhận bằng khen của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT. Năm học 2024-1019, trường được xây dựng tu bổ trở nên khang trang, sạch đẹp, tổng diện tích lên tới 8931m2 với 25 lớp học, 6 phòng chức năng, 01 thư viện, 01 nhà thể chất, 01 bể dạy bơi và các phòng ban khác đáp ứng hoạt động dạy và học của nhà trường với 1130 học sinh. Trong 5 năm trở lại đây, xếp loại hạnh kiểm tỉ lệ học sinh thực hiện đầy đủ nhiệm vụ là 100%; xếp loại học lực với tỉ lệ học sinh được khen xuất sắc là 28% đến 33%, học sinh được khen vượt trội là 43% đến 52%, học sinh đạt là 10 % đến 12%, học sinh yếu chỉ là 0,2% đến 0,5%. Tỉ lệ học sinh hoàn thành chương trình tiểu học là 100%. Các hoạt động phong trào thể dục thể thao, văn hóa, văn nghệ luôn được duy trì.
Trường hiện có 40 cán bộ, giáo viên. Số lượng giáo viên trong 3 năm trở lại đây chỉ duy trì ở mức ổn đ̣inh và tăng lên, do quy mô lớp học liên tục tăng, tuy nhiên một số giáo viên thì vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, số giáo viên hợp đồng nhiều, không ổn định nên ảnh hưởng phần nào tới chất lượng giáo dục. Một số giáo viên ngoài 50 tuổi không đáp ứng được yêu cầu đổi mới ngày càng cao của giáo dục, trình độ tin học còn hạn chế. Một số giáo viên trẻ mới vào nghề trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ còn non yếu, không bằng thậm chí còn tụt hậu so với lớp giáo viên đi trước, cần phải được bồi dưỡng và rèn luyện nhiều. Một số giáo viên trẻ mới ra trường còn thiếu nhiều kinh nghiệm hoặc đang trong độ tuổi sinh con, khó khăn trong bố trí công việc.
- Bảng 2.2: Thống kê trình độ đội ngũ cán bộ, giáo viên trường Tiểu học Đông Mỹ năm học 2024- 2025
Với số lượng như trên, nhà trường đạt tỉ lệ 1,5 giáo viên biên chế/lớp. Tỉ lệ giáo viên đạt trên chuẩn về trình độ đào tạo là 97,1% và 100% cán bộ giáo viên được phân công đúng chuyên môn đã được đào tạo.
2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên.
2.2.1. Mục đích khảo sát
Tìm hiểu thực trạng bồi dưỡng năng lực sư phạm và quản lý bồi dưỡng năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên ở trường Tiểu học Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, từ đó có thể đưa ra các biện pháp quản lý bồi dưỡng năng lực sư phạm cho ĐNGV nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh tiểu học ở địa phương, đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục, mang tính khả thi và phù hợp với thực tiễn của nhà trường.
2.2.2. Địa bàn và khách thể khảo sát
- Địa bàn khảo sát
Trường Tiểu học Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
- Khách thể khảo sát
Tổng số khách thể khảo sát là 40 người, bao gồm: 3 cán bộ quản lý (Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng) và 37 giáo viên của trường.
2.2.3. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Bảng hỏi được thiết kế gồm 4 phần: (1) Thực trạng bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên tiểu học huyện Đông Mỹ, (2) Thực trạng quảng lý bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên tiểu học huyện Đông Mỹ, (3) Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý năng lực sư phạm cho giáo viên tiểu học huyện đông Mỹ, (4) Thông tin cá nhân.
Các câu hỏi được đánh giá trên thang 3 mức độ:
- Mức 1: Không phù hợp/Không cần thiết/Chưa thực hiện/Chưa tham gia
- Mức 2: Phù hợp/Khá cần thiết/Chưa thường xuyên Mức 3: Rất phù hợp/Rất cần thiết/Thường xuyên
Kết quả khảo sát được xử lý theo điểm trung bình và tỉ lệ phần trăm.
- Phương pháp phỏng vấn sâu Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên.
Phiếu phỏng vấn sâu được thiết kế với 4 nội dung tương tự như bảng hỏi. Kết quả phỏng vấn sâu được ghi chép và trích dẫn để bổ trợ cho kết quả khảo sát bằng bảng hỏi.
- Phương pháp thống kê toán học
Số liệu điều tra được nhập và xử lý bằng phần mềm Excel phiên bản 2016 chạy trên môi trường Windows. Các phép thống kê sử dụng bao gồm: thống kê mô tả (phần trăm, điểm trung bình, độ lệch chuẩn) và thống kê suy luận.
2.3. Thực trạng năng lực sư phạm và nhu cầu bồi dưỡng năng lực sư phạm của giáo viên trường tiều học Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
Tìm hiểu mức độ năng lực sự phạm của giáo viên trường tiểu học Đông Mỹ và nhu cầu bồi dưỡng nâng cao năng lực sư phạm của giáo viên là cân thiết để hiểu rõ động lực của giáo viên trong việc tham gia bồi dưỡng, từ đó đánh giá được hiệu quả của hoạt động bồi dưỡng và quản lý bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên.
2.3.1 Thực trạng năng lực sư phạm của giáo viên trường tiểu học Đông Mỹ
- Bảng 2.3. Thực trạng năng lực sư phạm của GV trường tiểu học Đông Mỹ
Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số giáo viên trường tiểu học Đông Mỹ tự đánh giá mình ở mức từ đạt đến khá với cả 4 năng lực cần phát triển. Trong đó, năng lực phát triển chuyên môn nghiệp vụ và năng lực phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội là hai năng lực được đánh giá tương đương nhau và cao hơn so với hai nhóm năng lực còn lại. Giáo viên tự đánh giá mình trội hơn ở năng lực “kiểm tra, đánh giá học sinh theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực” (ĐTB = 1,9) và năng lực “tạo dựng mối quan hệ hợp tác với cha mẹ hoặc người giám hộ của học sinh và các bên liên quan” (ĐTB = 1,8). Năng lực sử dụng ngoại ngữ được đánh giá thấp nhất (ĐTB = 1,1) trong khi năng lực ứng dụng công nghệ thông tin lại được đánh giá cao hơn hẳn các năng lực thành phần khác (ĐTB = 2,0).
Tỉ lệ giáo viên tự đánh giá năng lực của mình ở mức đạt và mức khá là tương đương nhau, trong khi tỉ lệ giáo viên tự đánh giá mình ở mức tốt không bao giờ vượt quá 20% ở mọi năng lực thành phần. Kết quả này cho thấy giáo viên cần bồi dưỡng cả 4 loại năng lực, trong đó cần chú trọng hơn cả vào năng lực sử dụng ngoại ngữ và năng lực xây dựng môi trường giáo dục.
2.3.2 Nhu cầu bồi dưỡng năng lực sư phạm của giáo viên trường tiểu học Đông Mỹ Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên.
- Bảng 2.4: Thực trạng nhu cầu bồi dưỡng năng lực sư phạm của giáo viên
Kết quả đánh giá của giáo viên tiểu học cho thấy đa số giáo viên có nhu cầu bồi dưỡng nâng cao năng lực ở cả 4 nhóm năng lực sư phạm. Trên 90% giáo viên có nhu cầu bồi dưỡng nâng cao trình độ. Chỉ có nhóm năng lực “sử dụng ngoại ngữ và ứng dụng công nghệ thông tin” có giáo viên lựa chọn không có nhu cầu bồi dưỡng (chiếm 5,4% và 2,7%).
Giáo viên có nhu cầu bồi dưỡng cao nhất ở nhóm năng lực phát triển chuyên môn nghiệp vụ và nhóm năng lực phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Giáo viên có nhu cầu thấp hơn ở nhóm năng lực xây dựng môi trường giáo dục, mặc dù tỉ lệ giáo viên đánh giá nhu cầu bồi dưỡng các năng lực thành phần thuộc nhóm này vẫn ở mức cao, dao động trong khoảng 58,6-67,6%.
Giáo viên có nhu cầu bồi dưỡng nhiều nhất là năng lực “phát triển chuyên môn bản thân” (ĐTB = 2,78), tiếp theo là năng lực “xây dựng kế hoạch dạy học và giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh”, năng lực “ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học” và năng lực “Phối hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội để thực hiện hoạt động dạy học cho học sinh” (ĐTB = 2,73).
Giáo viên ít có nhu cầu bồi dưỡng hơn ở năng lực “Kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh” (ĐTB = 2,51) và năng lực “Sử dụng tiếng Anh” (ĐTB = 2,56).
Kết quả trên cho thấy không phải cứ năng lực nào giáo viên đạt mức tốt thì giáo viên ít có nhu cầu bồi dưỡng và ngược lại. Năng lực “Kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh” là năng lực được giáo viên tự đánh giá là tốt nhất, nhưng có tới hơn 50% giáo viên vẫn mong muốn bồi dưỡng thêm năng lực này, dù nhìn chung tỉ lệ giáo viên muốn được bồi dưỡng năng lực này thấp hơn so với các năng lực còn lại. Tương tự, nhóm năng lực phát triển chuyên môn nghiệp vụ và nhóm năng lực phát triẻn mối quan hệ giữa nhà trường với gia đình, xã hội được đánh giá là đang ở mức khá, nhưng giáo viên vẫn có nhu cầu bồi dưỡng các năng lực này nhiều hơn các năng lực mà họ ở mức yếu hơn. Đáng chú ý nhất là năng lực “sử dụng tiếng Anh”, giáo viên tự đánh giá mình ở mức đạt và không có ai đánh giá mình ở mức tốt, nhưng lại là năng lực có nhu cầu bồi dưỡng ở mức gần thấp nhất và có tới 2 giáo viên không có nhu cầu bồi dưỡng.
Như vậy, giáo viên trường tiểu học Đông Mỹ là có nhu cầu bồi dưỡng phát triển những năng lực liên quan đến chuyên môn nghiệp vụ và quan hệ xã hội phục vụ công tác giảng dạy, giáo dục nhiều hơn những năng lực liên quan đến xây dựng môi trường làm việc và năng lực bổ trợ. Giáo viên cũng ưu tiên bồi dưỡng những năng lực mà họ đã thành thục hơn là những năng lực mà họ còn yếu kém. Điều này có thể xuất phát từ hai nguyên nhân. Một là tâm lý sợ, cho rằng mình không thể học và không thể nâng cao các năng lực đó, nên không muốn tham gia bồi dưỡng. Ví dụ, nhiều giáo viên trong trường cho rằng mình không thể học tiếng Anh vì đã lớn tuổi, không có thời gian, khó tiếp thu, khó ghi nhớ, nên họ từ chối tham gia học bồi dưỡng nâng cao trình độ tiếng Anh. Họ chấp nhận việc kém tiếng Anh như một thực tế không thể thay đổi. Hai là do giáo viên coi trọng những năng lực liên quan đến chuyên môn nghiệp vụ nhiều hơn các năng lực khác, vì vậy dù giáo viên đã giỏi những năng lực này nhưng vân có nhu cầu bồi dưỡng để cập nhật kiến thức mới, phương pháp mới, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
- Bảng 2.5: Đánh giá của cán bộ quản lý nhà trường về nhu cầu bồi dưỡng năng lực sư phạm của giáo viên nhà trường
Kết quả đánh giá của cán bộ quản lý nhà trường về nhu cầu bồi dưỡng năng lực cho giáo viên cho thấy so sánh thú vị so với đánh giá của giáo viên. Cán bộ quản lý cho rằng giáo viên cần bồi dưỡng ở hầu hết các nội dung năng lực. Nhiều năng lực được giáo viên đánh giá hiện đã ở mức khá và mức tốt nhưng cán bộ quản lý nhà trường vẫn cho rằng giáo viên cần bồi dưỡng thêm.
Nhóm năng lực được đánh giá cần thiết nhất là năng lực xây dựng môi trường giáo dục (100% cán bộ quản lý đánh giá nhu cầu bồi dưỡng của GV ở mức cao), tiếp theo là nhóm năng lực phát triển chuyên môn nghiệp vụ và năng lực phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Như vậy, có thể thấy ở 3 nhóm năng lực này, quan điểm về bồi dưỡng của cán bộ quản lý khác với của giáo viên. Giáo viên mong muốn bồi dưỡng thêm về năng lực chuyên môn và mối quan hệ với gia đình học sinh, nhưng cán bộ quản lý lại đặt nặng bồi dưỡng năng lực xây dựng môi trường giáo dục song song với kỹ năng phát triển chuyên môn. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên.
Năng lực duy nhất mà giáo viên và cán bộ quản lý đồng tình là ít cần bồi dưỡng nhất là năng lực sử dụng tiếng Anh. Trong khi tự thân 60% giáo viên vẫn có nhu cầu cao bồi dưỡng năng lực này (dù ít hơn hẳn các năng lực còn lại), nhưng không có cán bộ quản lý nào đánh giá là cần thiết bồi dưỡng năng lực này ở mức độ cao. Điều này cho thấy trường tiểu học Đông Mỹ không yêu cầu cao về trình độ ngoại ngữ của giáo viên.
2.3.3 Thực trạng bồi dưỡng năng lực sư phạm của giáo viên trường tiểu học Đông Mỹ
- Bảng 2.6. Hình thức bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên trường tiểu học Đông Mỹ
Đa số giáo viên bồi dưỡng năng lực sư phạm qua tự học và học trên mạng. Có tới gần 50% giáo viên thường xuyên thực hiện hai hình thức này, so với 20% ở hình thức bồi dưỡng tại chỗ và 5,4% ở hình thức bồi dưỡng tập trung. Có thể thấy tinh thần tự học nâng cao trình độ của giáo viên tương đối cao, cùng với sự tiện lợi của mạng Internet, hoạt động tự học, tự bồi dưỡng trở nên thuận tiện và ít tốn kém chi phí hơn các hình thức bồi dưỡng khác.
Bồi dưỡng tại chỗ được thực hiện thường xuyên hơn bồi dưỡng tập trung (ĐTB lần lượt là 2,21 và 2,0), cho thấy những ưu điểm của hình thức này.
Đáng chú ý là có trên 10% giáo viên hiếm khi tham gia các hình thức bồi dưỡng ngoài bồi dưỡng tại chỗ. Con số này phản ánh thực trạng có một bộ phận giáo viên không được tạo điều kiện bồi dưỡng nâng cao trình độ, đồng thời cũng không chủ động tự học, tự bồi dưỡng, mặc dù nhiệm vụ tự bồi dưỡng là một nhiệm vụ của giáo viên. Đây là nhóm cần được chú ý, cán bộ quản lý nhà trường cần quan tâm hơn để tạo động lực học, động lực làm việc ở nhóm cán bộ này.
- Bảng 2.7. Mức độ thực hiện bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên trường tiểu học Đông Mỹ
Kết quả khảo sát cho thấy các chương trình bồi dưỡng hiện có chủ yếu tập trung vào phát triển năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên. 100% giáo viên đã tham gia bồi dưỡng ở cả 4 năng lực thành phần của năng lực phát triển chuyên môn, nghiệp vụ. Đa số giáo viên tham gia ở mức thỉnh thoảng, nhưng cũng có tới 30%- 60% giáo viên thường xuyên được tham gia bồi dưỡng phát triển chuyên môn nghiệp vụ. Nội dung được bồi dưỡng thường xuyên nhất là “Kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh” (67,6% giáo viên thường xuyên tham gia).
Nhóm năng lực phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cũng được quan tâm bồi dưỡng nhiều, với đa số giáo viên tham gia ở mức khá thường xuyên. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên.
Năng lực sử dụng tiếng Anh là năng lực ít được bồi dưỡng nhất, với 100% giáo viên hiếm khi tham gia bồi dưỡng.
Nhóm năng lực xây dựng môi trường giáo dục cũng ít được bồi dưỡng. Chỉ có từ 27-54,1% giáo viên thỉnh thoảng tham gia bồi dưỡng các nội dung về xây dựng văn hóa nhà trường, xây dựng môi trường học đường an toàn, dân chủ, còn lại giáo viên ít khi được tham gia bồi dưỡng các nội dung này.
- Bảng 2.8. Mức độ phù hợp của các nội dung bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên trường Tiểu học Đông Mỹ
Các chương trình bồi dưỡng về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ vẫn là chương trình bồi dưỡng được đánh giá phù hợp nhất, với ĐTB dao động trong khoảng 2,13 đến 2,59. Cũng được đánh giá cao là nội dung bồi dưỡng năng lực ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học (ĐTB = 2,59). Đứng thứ hai là các nội dung bồi dưỡng về năng lực phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Ở mức độ phù hợp thấp nhất là nội dung bồi dưỡng về sử dụng tiếng Anh, với 83,8% giáo viên đánh giá chỉ ở mức khá phù hợp.
Kết quả bảng 2.7 và 2.8 về thực trạng chương trình bồi dưỡng cho giáo viên thể hiện sự tương đồng cao với kết quả bảng 2.3 về năng lực sư phạm của giáo viên. Các năng lực được bồi dưỡng thường xuyên và phù hợp đều là những năng lực được giáo viên tự đánh giá cao. Các năng lực được bồi dưỡng ít và nội dung thiếu phù hợp đều là những năng lực được giáo viên tự đánh giá thấp.
Kết quả bảng 2.7 cũng thể hiện sự tương đồng chặt chẽ với kết quả bảng 2.4 về nhu cầu bồi dưỡng của giáo viên nhưng không tương đồng với bảng 2.5 về đánh giá của cán bộ quản lý về nhu cầu bồi dưỡng của giáo viên. Những nhóm năng lực mà giáo viên có nhu cầu bồi dưỡng thêm đều là những nhóm năng lực mà họ có nhu cầu. Điều này đồng nghĩa với việc nhu cầu bồi dưỡng năng lực sư phạm của giáo viên đang được nhà trường đáp ứng tốt. Ngược lại, nhà trường có mong muốn tăng cường toàn diện năng lực sư phạm của giáo viên trên tất cả các mặt, nhưng thực tế đã không thực hiện được việc này.
2.5. Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực sư phạm của giáo viên trường tiểu học Đông Mỹ Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên.
2.5.1 Đánh giá chung thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực sư phạm của giáo viên trường tiểu học Đông Mỹ
- Bảng 2.9. Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên trường tiểu học Đông Mỹ
Kết quả đánh giá cho thấy việc quản lý bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên trường Tiểu học Đông Mỹ đã được thực hiện ở mức trung bình khá (ĐTB = 2,57). Trong đó, nội dung quản lý được thực hiện tốt nhất là tổ chức bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên (ĐTB = 3,06), tương đương với mức khá. Nội dung lập kế hoạch bồi dưỡng được thực hiện ở mức trung bình yếu, là nội dung yếu nhất trong 4 nội dung quản lý.
2.5.2 Thực trạng lập kế hoạch bồi dưỡng năng lực sư phạm của giáo viên trường tiểu học Đông Mỹ
- Bảng 2.10. Thực trạng lập kế hoạch bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên trường tiểu học Đông Mỹ
Theo đánh giá của giáo viên, hoạt động lập kế hoạch bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên nhà trường được thực hiện ở mức trung bình yếu. Tất cả các nhiệm vụ thuộc chức năng lập kế hoạch đều chưa được thực hiện tốt. Không có giáo viên nào đánh giá các nội dung này ở mức tốt, cho thấy một bức tranh đáng lo ngại về việc lập kế hoạch bồi dưỡng giáo viên trong nhà trường, mặc dù đây được coi là một trong những tiêu chí đánh giá người hiệu trưởng hiệu quả.
Nội dung được thực hiện có phần tốt hơn là “lãnh đạo nhà trường thống nhất quan điểm, nội dung, biện pháp, hình thức bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên ở nhà trường, ở gia đình và ở xã hội” (ĐTB = 2,0). Tuy vậy, lãnh đạo nhà trường chưa thực hiện tốt việc xác định mục tiêu bồi dưỡng, nâng cao nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của việc bồi dưỡng, và chỉ rõ cách thức kiểm tra, đánh giá hiệu quả bồi dưỡng. 80% giáo viên đánh giá các hoạt động này ở mức trung bình và yếu.
2.5.3 Thực trạng tổ chức bồi dưỡng năng lực sư phạm của giáo viên trường tiểu học Đông Mỹ Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên.
- Bảng 2.11. Thực trạng tổ chức bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên trường tiểu học Đông Mỹ
Kết quả khảo sát cho thấy đa số các nội dung về tổ chức bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên được thực hiện ở mức khá. Không có giáo viên nào đánh giá các nội dung này ở mức yếu, và chỉ có dưới 20% giáo viên đánh giá ở mức trung bình, cho thấy những đánh giá rất khả quan và tích cực về việc tổ chức bồi dưỡng năng lực. Lãnh đạo nhà trường đã thực hiện tốt nhất nội dung “phân công, sắp xếp, bố trí giáo viên giỏi, giáo viên cốt cán giàu kinh nghiệm thực tiễn, nhiệt huyết kèm cặp, chỉ dẫn giáo viên mới, giáo viên hạn chế, yếu kém kinh nghiệm và năng lực” (ĐTB = 3,4), với 46% giáo viên đánh giá nội dung này được thực hiện ở mức độ tốt. Nội dung “xác định cơ chế, phân cấp quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên” được đánh giá thấp nhất (ĐTB = 2,67), với chỉ 13,6% giáo viên đánh giá ở mức tốt.
Như vậy, các hoạt động phân bố nguồn lực thực tế được lãnh đạo nhà trường thực hiện ở mức tốt hơn các hoạt động liên quan đến xây dựng quy định, quy chế phân cấp quản lý.
2.5.4 Thực trạng chỉ đạo bồi dưỡng năng lực sư phạm của giáo viên trường tiểu học Đông Mỹ
- Bảng 2.12. Thực trạng chỉ đạo bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên trường tiểu học Đông Mỹ
Các nội dung chỉ đạo bồi dưỡng được đánh giá tương đối đồng đều. Nội dung “Giám sát các hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên, bảo đảm các hoạt động được thực hiện đúng mục tiêu, các bộ phận thực hiện đúng phân công, và cách thức thực hiện hoạt động đi đúng hướng” được thực hiện ở mức tốt nhất (ĐTB = 2,86). Đứng thứ hai là nội dung “Kịp thời phát hiện vấn đề và xử lý vấn đề nhằm đảm bảo mục tiêu bồi dưỡng đã đề ra” (ĐTB = 2,80). Nói cách khác, lãnh đạo nhà trường thực hiện khá tốt việc giám sát công tác bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên, đồng thời kịp thời xử lý những vấn đề phát sinh.
Ở mức hiệu quả thấp hơn là các hoạt động tuyên truyền, khuyến khích, xây dựng các mối quan hệ xã hội phục vụ công tác bồi dưỡng. Đây là những nội dung vẫn có đánh giá ở mức “yếu” và “trung bình”.
Như vậy, cán bộ quản lý nhà trường đã thực hiện tốt những hoạt động mang tính chất thường xuyên, nhằm đảm bảo hoạt động bồi dưỡng giáo viên diễn ra thuận lợi. Những hoạt động khác nhằm nâng cao hiệu quả của việc bồi dưỡng chưa được thực hiện, như nâng cao nhận thức của giáo viên về hoạt động bồi dưỡng, tăng cường tinh thần tự học, tự bồi dưỡng, tạo nguồn lực để đẩy mạnh bồi dưỡng, … Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên.
2.5.5 Thực trạng kiểm tra, đánh giá bồi dưỡng năng lực sư phạm của giáo viên trường tiểu học Đông Mỹ
- Bảng 2.13. Thực trạng kiểm tra, đánh giá bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên trường tiểu học Đông Mỹ
Giáo viên đánh giá hoạt động kiểm tra, đánh giá bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên ở mức trung bình khá. Trong 3 nội dung thành phần, hoạt động kiểm tra hoạt động sư phạm của giáo viên được thực hiện ở mức trung bình (ĐTB = 2,48), chỉ có hơn 30% giáo viên đánh giá hoạt động này ở mức khá và tốt. Đây cũng là hoạt động được thực hiện yếu nhất trong 3 hoạt động kiểm tra, đánh giá. Lãnh đạo nhà trường thực hiện tốt hơn ở các nội dung: Kiểm tra công tác bồi dưỡng giáo viên thông qua dự giờ, thao giảng, viết sáng kiến kinh nghiệm của giáo viên và Kiểm tra, đánh giá chất lượng bồi dưỡng giáo viên thông qua kết quả dạy học giữa học kỳ, cuối năm của học sinh.
2.6. Đánh giá chung về thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên trường tiểu học Đông Mỹ
2.6.1. Những thành tựu, ưu điểm
Kết quả nghiên cứu đã cho thấy một số ưu điểm, thành tựu đạt được trong hoạt động quản lý bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên tại trường tiểu học Đông Mỹ như sau:
Lãnh đạo nhà trường đã thực hiện hoạt động bồi dưỡng đáp ứng đúng nhu cầu của giáo viên nhà trường. Các nội dung bồi dưỡng đáp ứng đúng nhu cầu của giáo viên và chất lượng bồi dưỡng ở các nội dung này được đánh giá cao.
Hoạt động quản lý bồi dưỡng năng lực sư phạm được thực hiện ở mức khá. Lãnh đạo nhà trường đã thực hiện hầu hết các nội dung quản lý ở mức khá, cho thấy tính hiệu quả trong công tác lãnh đạo và sự quan tâm đúng mực với hoạt động bồi dưỡng giáo viên.
Việc tổ chức và chỉ đạo bồi dưỡng năng lực sư phạm được thực hiện tốt nhất. Trong đó cán bộ lãnh đạo nhà trường đã phân phối tốt các nguồn lực trong nhà trường (bao gồm cả nhân lực, vật lực và tài lực) để phục vụ hoạt động bồi dưỡng giáo viên, thường xuyên giám sát hoạt động này và có khả năng phát hiện và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh.
Lãnh đạo trường tiểu học Đông Mỹ được đánh giá cao ở các nội dung mang tính hành động (phân công, giám sát, xử lý vấn đề) hơn các nội dung mang tính xây dựng văn bản, quy chế.
2.6.2. Một số hạn chế Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên.
Giáo viên nhà trường về cơ bản có nhu cầu bồi dưỡng, nâng cao trình độ, nhưng giáo viên đề cao các năng lực liên quan đến chuyên môn và quan hệ với phụ huynh học sinh nhiều hơn các năng lực liên quan đến nhà trường và năng lực phụ trợ. Điều này dẫn tới động lực bồi dưỡng năng lực của giáo viên có phần thiên lệch, chưa đáp ứng tiêu chuẩn mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra.
Nhà trường cũng chưa thể hiện rõ trọng tâm bồi dưỡng giáo viên, đánh giá nhu cầu bồi dưỡng của giáo viên có phần dàn trải. Điều này dẫn tới sự yếu kém của nhà trường trong công tác lập kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên. Nhà trường chưa đánh giá được nội dung bồi dưỡng nào cần tập trung vào giai đoạn nào, ở nhóm giáo viên nào; đồng thời cũng chưa xác định được với nội dung nào thì nên khuyến khích hình thức bồi dưỡng gì. Vì vậy, không chỉ việc lập kế hoạch bồi dưỡng còn yếu mà cả việc nâng cao nhận thức cho giáo viên, khuyến khích giáo viên tự bồi dưỡng cũng chưa được đẩy mạnh, mặc dù đây là hình thức bồi dưỡng mà giáo viên tham gia thường xuyên nhất.
Công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá ĐNGV còn nặng về đánh giá, ít tư vấn thúc đẩy nên chưa tạo động lực cho giáo viên vươn lên. Đây là nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế về trình độ, năng lực chuyên môn và nghiệp vụ của một số giáo viên.
Công tác xã hội hóa trong giáo dục còn nhiều hạn chế, bất cập về cơ chế; chưa huy động được các nguồn lực của xã hội đảm bảo các điều kiện và nâng cao chất lượng giáo dục. Trong khi đó, ngân sách đầu tư cho GD&ĐT còn hạn chế, chủ yếu đảm bảo trả lương giáo viên và mua sắm CSVC. Việc huy động vốn ngoài ngân sách chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển. Những cơ chế chính sách của thành phố đầu tư cho giáo dục chưa thực sự có hiệu quả để trở thành động lực thúc đẩy GD&ĐT phát triển.
2.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý bồi dưỡng năng lực sư phạm của giáo viên trường tiểu học Đông Mỹ
- Bảng 2.14. Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tới quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên trường tiểu học Đông Mỹ
Kết quả đánh giá của giáo viên nhà trường cho thấy cả 4 yếu tố đề xuất đều được cho là có ảnh hưởng đến quản lý bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên. 100% giáo viên đánh giá các yếu tố này có ảnh hưởng ít nhiều đến hiệu quả quản lý bồi dưỡng giáo viên của hiệu trưởng.
Các yếu tố liên quan đến hiệu trưởng và điều kiện của nhà trường được đánh giá có ảnh hưởng rõ rệt đến quản lý bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên. Trong đó yếu tố “Nhận thức của Hiệu trưởng và giáo viên trường tiểu học về bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên” được đánh giá có ảnh hưởng nhiều nhất đến hiệu quả quản lý: 83,8% đánh giá ảnh hưởng nhiều. Xếp thứ hai là yếu tố “Năng lực của hiệu trưởng trường tiểu học trong quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên”, với 81,1% đánh giá ảnh hưởng nhiều. Xếp thứ ba là yếu tố “Các điều kiện phục vụ bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên tiểu học”. Yếu tố “Chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo về bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên tiểu học”. Nguyên nhân có thể do yếu tố này ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý tại nhà trường ở cấp độ gián tiếp.
Tiểu kết Chương 2 Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên.
Trong chương 2 này chúng tôi đã tiến hành khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý bồi dưỡng NLSP cho đội ngũ giáo viên Tiểu học Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Kết quả nghiên cứu thực trạng năng lực sư phạm và nhu cầu bồi dưỡng năng lực sư phạm của giáo viên đã cho thấy đa số giáo viên có nhu cầu bồi dưỡng nâng cao năng lực ở cả 4 nhóm năng lực sư phạm. Trong đó, giáo viên có nhu cầu bồi dưỡng phát triển những năng lực liên quan đến chuyên môn nghiệp vụ và quan hệ xã hội phục vụ công tác giảng dạy, giáo dục nhiều hơn những năng lực liên quan đến xây dựng môi trường làm việc và năng lực bổ trợ. Giáo viên cũng ưu tiên bồi dưỡng những năng lực mà họ đã thành thục hơn là những năng lực mà họ còn yếu kém, coi trọng những năng lực liên quan đến chuyên môn nghiệp vụ nhiều hơn các năng lực khác. Vì vậy dù giáo viên đã giỏi những năng lực này nhưng vân có nhu cầu bồi dưỡng để cập nhật kiến thức mới, phương pháp mới, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
Kết quả nghiên cứu thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực sư phạm của giáo viên trường Tiểu học Đông Mỹ cho thấy: Lãnh đạo nhà trường đã thực hiện hoạt động bồi dưỡng đáp ứng đúng nhu cầu của giáo viên nhà trường. Các nội dung bồi dưỡng đáp ứng đúng nhu cầu của giáo viên và chất lượng bồi dưỡng ở các nội dung được đánh giá cao. Lãnh đạo nhà trường đã thực hiện hầu hết các nội dung quản lý ở mức khá, cho thấy tính hiệu quả trong công tác lãnh đạo và sự quan tâm đúng mực với hoạt động bồi dưỡng giáo viên. Tuy nhiên nhà trường cũng chưa thể hiện rõ trọng tâm bồi dưỡng giáo viên, đánh giá nhu cầu bồi dưỡng của giáo viên có phần dàn trải. Điều này dẫn tới sự yếu kém của nhà trường trong công tác lập kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên, việc nâng cao nhận thức cho giáo viên, khuyến khích giáo viên tự bồi dưỡng cũng chưa được đẩy mạnh.
Kết quả nghiên cứu thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới bồi dưỡng NLSP cho đội ngũ giáo viên Tiểu học Đông Mỹ cho thấy: Kết quả đánh giá của giáo viên nhà trường cho thấy cả 4 yếu tố đề xuất đều được cho là có ảnh hưởng đến quản lý bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên. Các yếu tố liên quan đến hiệu trưởng và điều kiện của nhà trường được đánh giá có ảnh hưởng rõ rệt đến quản lý bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên. Trong đó yếu tố “Nhận thức của Hiệu trưởng và giáo viên trường tiểu học về bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên” được đánh giá có ảnh hưởng nhiều nhất đến hiệu quả quản lý.
Dựa trên cơ sở lý thuyết của việc quản lý bồi dưỡng phát triển năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên trường tiểu học được trình bày trong Chương 1, từ thực trạng việc quản lý bồi dưỡng phát triển năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên trường tiểu học trình bày trong Chương 2, tác giả đề cập đến các biện pháp quản lý bồi dưỡng phát triển năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên trường Tiểu học trong Chương 3. Luận văn: Thực trạng bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp bồi dưỡng năng lực sư phạm giáo viên

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
