Luận văn: Thực trạng PL hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng PL hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng pháp luật về hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại các ngân hàng thương mại qua thực tiễn tại Thành Phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Thực trạng các quy định pháp luật về hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại các ngân hàng thương mại

2.1.1. Nhóm các quy định pháp luật về chủ thể tham gia hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại các ngân hàng thương mại

Theo Luật thương mại 2005, chủ thể thực hiện khuyến mại là thương nhân thực hiện khuyến mại. Thương nhân là bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Tại Khoản 2 Điều 88 Luật thương mại 2005 quy định:

  • Thương nhân thực hiện khuyến mại là thương nhân thuộc một trong các trường hợp sau đây:
  • Thương nhân trực tiếp khuyến mại hàng hóa, dịch vụ mà mình kinh doanh;
  • Thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thự hiện khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ của thương nhân khác theo thỏa thuận với thương nhân đó.”

Thương nhân hoạt động khuyến mại tại Việt Nam gồm nhiều loại.

Phụ thuộc vào quốc tịch của thương nhân, có thể chia thành thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài, trong đó thương nhân nước ngoài là thương nhân được thành lập, đăng ký kinh doanh theo pháp luật nước ngoài hoặc được pháp luật nước ngoài công nhận. Trong khuôn khổ quy định pháp luật của nước sở tại, thương nhân nước ngoài thực hiện hoạt động khuyến mại thông qua chi nhánh của mình hoặc thông qua hợp đồng dịch vụ khuyến mại ký kết với thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại. Luận văn: Thực trạng PL hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh.

Phụ thuộc vào mục đích thực hiện quyền hoạt động khuyến mại, có thể chia thành hai loại: thương nhân thực hiện khuyến mại cho mình và thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại. Thương nhân hoạt động khuyến mại cho mình tự thực hiện hoạt động khuyến mại để thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho mình trên cơ sở quyền tự do hoạt động khuyến mại được pháp luật ghi nhận. Thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện hoạt động khuyến mại nhưng nhằm thúc đẩy cơ hội thương mại cho thương nhân khác trên cơ sở hợp đồng dịch vụ để hưởng thù lao (Lê Văn Tranh, 2020).

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 91 Luật thương mại 2005 quy định về quyền của thương nhân: “Thương nhân Việt Nam, Chi nhánh của thương nhân Việt Nam, Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam có quyền tự tổ chức khuyến mại hoặc thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện việc khuyến mại cho mình. Văn phòng đại diện của thương nhân không được khuyến mại tại Việt Nam cho thương nhân mà mình đại diện”. Đối với văn phòng đại diện, do chỉ làm chức năng đại diện cho thương nhân nên không trực tiếp thiết lập các quan hệ thương mại, trừ khi được thương nhân ủy quyền theo từng vụ việc cụ thể.

Trong hoạt động ngân hàng, thương nhân là các Tổ chức tín dụng, chi nhành ngân hàng nước ngoài có quyền tự tổ chức khuyến mại hoặc thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện việc khuyến mại cho mình.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2.1.2. Nhóm các quy định pháp luật về hành vi hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại các ngân hàng thương mại

Theo khoản 1 Điều 88 Luật thương mại 2005 quy định: “Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định”.

Trong đó, thương nhân thực hiện Khuyến mại là thương nhân thuộc một trong các trường hợp theo khoản 2 Điều 88 Luật thương mại 2005 như sau: “Thương nhân trực tiếp khuyến mại hàng hóa, dịch vụ mà mình kinh doanh; Thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ của thương nhân khác theo thỏa thuận với thương nhân đó”.

Các hành vi bị cấm trong hoạt động khuyến mại được quy định tại Điều 100 Luật thương mại 2005 như sau:

“Điều 100. Các hành vi bị cấm trong hoạt động khuyến mại Luận văn: Thực trạng PL hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh.

  1. Khuyến mại cho hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh; hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh; hàng hoá chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa được phép cung ứng.
  2. Sử dụng hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại là hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh; hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh; hàng hóa chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa được phép cung ứng.
  3. Khuyến mại hoặc sử dụng rượu, bia để khuyến mại cho người dưới 18 tuổi.
  4. Khuyến mại hoặc sử dụng thuốc lá, rượu có độ cồn từ 30 độ trở lên để khuyến mại dưới mọi hình thức.
  5. Khuyến mại thiếu trung thực hoặc gây hiểu lầm về hàng hoá, dịch vụ để lừa dối khách hàng.
  6. Khuyến mại để tiêu thụ hàng hoá kém chất lượng, làm phương hại đến môi trường, sức khoẻ con người và lợi ích công cộng khác.
  7. Khuyến mại tại trường học, bệnh viện, trụ sở của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân.
  8. Hứa tặng, thưởng nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng.
  9. Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
  10. Thực hiện khuyến mại mà giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại vượt quá hạn mức tối đa hoặc giảm giá hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại quá mức tối đa theo quy định tại khoản 4 Điều 94 của Luật này”.

Có thể hiểu khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại khoản 9 Điều 100 Luật thương mại 2005 là hành vi lạm dụng khuyến mại nhằm lôi kéo khách hàng, gây thiệt hại cho chủ thể cạnh tranh khác, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi họ không có khả năng thực hiện các biện pháp khuyến mại tương tự để thu hút khách hàng.

Nếu khuyến mại bị lạm dụng, đặc biệt là khi bị lạm dụng quá mức, trường hợp nghiêm trọng có thể làm các doanh nghiệp vừa và nhỏ phá sản. Hệ quả là người tiêu dùng sẽ không còn cơ hội lựa chọn nhà cung cấp khác và doanh nghiệp khuyến mại sau khi đã chiếm lĩnh được thị trường sẽ bỏ khuyến mại và có thể sẽ áp đặt những điều kiện thương mại bất lợi cho khách hàng.

“Điều 45 Luật Cạnh tranh 2018 quy định về hành vi Cạnh tranh không lành mạnh bị cấm, đã bỏ hành vi Khuyến mại nhằm Cạnh tranh không lành mạnh, bổ sung hành vi lôi kéo khách hàng bất chính bằng hình thức đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn về hoạt động khuyến mại. Tuy nhiên, từ những nhận thức chung về cạnh tranh, hành vi Cạnh tranh không lành mạnh và hoạt động khuyến mại, ta thấy rõ được các hành vi Cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động khuyến mại là những hành vi thông qua hoạt động khuyến mại của thương nhân nhưng nhằm gây ra những bất lợi cho đối thủ cạnh tranh của mình nhằm thu về cho mình những lợi ích nhất định, đặc biệt là các Doanh nghiệp nhỏ không có khả năng tự mình thực hiện hoạt động khuyến mại mà phải nhờ thương nhân kinh doanh dịch vụ Khuyến mại thực hiện Khuyến mại (Nguyễn Thị Hồng Phước, 2021)

Bên cạnh đó, ta có thể xác định hành vi Cạnh tranh không lành mạnh tại khoản 7 Điều 45 Luật Cạnh tranh 2018: “Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh  khác bị cấm theo quy định của luật khác” tương đồng và được xem là một dạng hành vi Cạnh tranh không lành mạnh tại Khoản 9 Điều 100 Luật thương mại 2005 Khuyến mại nhằm Cạnh tranh không lành mạnh. Các yếu tố được dùng để xác định hành vi Cạnh tranh không lành mạnh là: “Khuyến mại là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp; Hành vi khuyến mại này trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh; Hành vi khuyến mại này gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác” (Nguyễn Thị Hồng Phước, 2021). Luận văn: Thực trạng PL hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh.

Ngoài ra, tại Điều 34 Nghị định số 71/2014/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh có 4 hành vi Khuyến mại nhằm Cạnh tranh không lành mạnh bao gồm: “Tổ chức khuyến mại mà gian dối về giải thưởng; Khuyến mại không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hóa, dịch vụ để lừa dối khách hàng; Phân biệt đối xử đối với các khách hàng như nhau tại các địa bàn tổ chức khuyến mại khác nhau trong cùng một chương trình khuyến mại; Tặng hàng hóa cho khách hàng dùng thử nhưng lại yêu cầu khách hàng đổi hàng hóa cùng loại do doanh nghiệp khác sản xuất mà khách hàng đó đang sử dụng để dùng hàng hóa của mình”.

“Khi so sánh Luật Cạnh tranh 2004 và Luật Cạnh tranh 2018, có thể thấy rằng các nhà làm luật đã có sự thay đổi một chút trong các tư duy về hành vi Cạnh tranh không lành mạnh, đặc biệt là hành vi Khuyến mại tại Điều 46 Luật Cạnh tranh 2004, đã được quy định cụ thể hơn ở Khoản 6 Điều 45 Luật Cạnh tranh 2018:”“Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến loại bỏ doanh nghiệp khác cùng kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó”. Trước đó quy định là Khuyến mại nhằm Cạnh tranh không lành mạnh, bởi lẽ việc cung ứng dịch vụ hoặc bán hàng hóa với những ưu đãi nhất định – khuyến mại, hoặc cụ thể hơn là ưu đãi hơn khi so sánh với mức giá mà khách hàng phải bỏ ra khi mua hoặc sử dụng dịch vụ của Doanh nghiệp, thương nhân khác, và đây có thể được coi là hành vi Cạnh tranh không lành mạnh nếu có thể xét thấy ý định loại bỏ đối thủ cạnh tranh. Trước đó, tại Luật Cạnh tranh 2004 hành vi bán hàng hoá hoặc dịch vụ dưới giá thành toàn bộ được điều chỉnh dưới góc độ pháp luật chống hạn chế cạnh tranh tại Khoản 1, Điều 13 Luật Cạnh tranh 2004: “Bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh” về các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh trên thị trường bị cấm. Tuy nhiên, quy định tại Luật Cạnh tranh 2004 vẫn còn nhiều hạn chế như: Doanh nghiệp thực hiện hành vi bán hàng hóa hoặc dịch vụ dưới giá thành toàn bộ có thể là Doanh nghiệp đang chiếm vị trí thống lĩnh song hành vi này vẫn gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Doanh nghiệp khác; Nếu hành vi đó được thực hiện vì mục đích gây rối hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp khác là đối thủ đối thủ cạnh tranh trong một thị trường hàng hoá, dịch vụ thì vẫn được xem là hành vi Cạnh tranh không lành mạnh. Luận văn: Thực trạng PL hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh.

Quy định tại Luật Cạnh tranh 2018 đã mở rộng phạm vi áp dụng so với Luật Cạnh tranh 2004, quy định tại Luật Cạnh tranh 2018 không yêu cầu đáp ứng điều kiện nhằm cạnh tranh loại bỏ đối thủ cạnh tranh do vậy không xét đến mục đích hành vi Khuyến mại của Doanh nghiệp. Mà bắt buộc Doanh nghiệp có trách nhiệm khi thực hiện hành vi Khuyến mại bán hàng hóa dịch vụ cung ứng dưới giá thành toàn bộ có khả năng hoặc gây thiệt hại đến Doanh nghiệp khác.

Theo quy định của Điều 9 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 quy định về hợp tác, cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng:

“Điều 9. Hợp tác và cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng

  1. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được hợp tác và cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật.
  2. Nghiêm cấm hành vi hạn chế cạnh tranh hoặc hành vi cạnh tranh không lành mạnh có nguy cơ gây tổn hại hoặc gây tổn hại đến việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, an toàn của hệ thống các tổ chức tín dụng, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
  3. Chính phủ quy định cụ thể các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng và hình thức xử lý các hành vi này”.

Nguyên tắc xác định và xử lý các hành vi Cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng có thể dựa tên tại khoản 1 Điều 4 Dự thảo Nghị định lần 2 của Chính phủ quy định về hành vi Cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng và hình thức xử lí các hành vi này như sau: “Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh quy định tại Điều 39 Luật Cạnh tranh 2004 (Điều 45 Luật Cạnh tranh 2018) trong hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản, cung ứng dịch vụ ngoại hối; Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác trong hoạt động ngân hàng căn cứ theo tiêu chí xác định tại Khoản 1 Điều 3 của Nghị định này”.

“Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của hoạt động Khuyến mại nhằm Cạnh tranh không lành mạnh trong Hoạt động ngân hàng về cơ bản đã bảo đảm được công tác quản lý nhà nước, tạo môi trường pháp lý ổn định, phù hợp và tạo thuận lợi cho các Ngân hàng thương mại thực hiện hoạt động xúc tiến thương mại hàng hoá, dịch vụ của mình, đồng thời cũng bảo vệ được quyền và lợi ích của người tiêu dùng trong việc sử dụng hàng hoá, dịch vụ. Tuy nhiên, cũng còn một số tồn tại và bất cập do có những quy định hiện nay đã không còn đảm bảo tính cập nhật so với sự phát triển nhanh chóng và đa dạng, phức tạp của hoạt động xúc tiến thương mại.” Luận văn: Thực trạng PL hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh.

Thứ nhất, pháp luật cạnh tranh Việt Nam về hoạt động khuyến mại nhằm CTKLM tại các Ngân hàng thương mại còn chưa tập trung (Ths. Phạm Thị Hồng Tâm, Ths. Trần Linh Huân, Trần Thị Thảo, 2023)

“Pháp luật cạnh tranh về khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh là một phần của hệ thống pháp luật cạnh tranh Việt Nam, do đó cũng chịu ảnh hưởng chung của pháp luật cạnh tranh nói chung. Tuy nhiên, các điều khoản quy định về hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng vẫn chưa được xây dựng tập trung thành một văn bản pháp luật nào, mà được quy định rải rác tại nhiều điều luật trong các văn bản pháp luật khác nhau.

Tuy nhiên, do hoạt động ngân hàng mang tính chất đặc thù nhiều hành vi Khuyến mại nhằm Cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng chưa được cụ thể hoá trong Luật Cạnh tranh và Nghị định 71/2014/NĐ-CP, cho đến nay các vụ việc liên quan đến hành vi Cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng gần như chưa được thanh tra, điều tra phát hiện và xử lý. Điều đó đòi hỏi Chính phủ và Ngân hàng nhà nước có văn bản hướng dẫn thực hiện cụ thể cho từng hành vi trên.”

Thứ hai, chính phủ chưa quy định cụ thể các hành vi Cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng (TS. Nguyễn Thị Hồng Phước, 2021) Luận văn: Thực trạng PL hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh.

Khoản 2 Điều 4 Luật Cạnh tranh 2018 quy định: “Trường hợp luật khác có quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, hình thức tập trung kinh tế, hành vi Cạnh tranh không lành mạnh và việc xử lý hành vi Cạnh tranh không lành mạnh khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của luật đó.”“điều đó có nghĩa là, việc xác định hành vi Cạnh tranh không lành mạnh được quy định theo hướng mở là các Luật chuyên ngành được quy định các tiêu chí xác định hành vi Cạnh tranh không lành mạnh phù hợp với đặc thù ngành. Luật các Tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi bổ sung 2017 giao cho Chính phủ quy định về hành vi Cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng và hình thức xử lý các hành vi này.”

“Tuy nhiên, việc quy định các tiêu chí để xác định hành vi Cạnh tranh không lành mạnh nói chung và hoạt động Khuyến mại nhằm Cạnh tranh không lành mạnh nói riêng không phải là chuyện đơn giản, vì nếu không quy định cụ thể, rõ ràng, nó sẽ tác động tiêu cực đến diễn biến hoạt động của thị trường ngân hàng. Hành vi Cạnh tranh không lành mạnh là việc các Tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp cạnh tranh trái pháp luật, gây tổn hại đến chính sách tiền tệ quốc gia, an toàn của hệ thống các Tổ chức tín dụng, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân. Hành vi Cạnh tranh không lành mạnh tác động mạnh mẽ đến sự ổn định chung của thị trường, do đó, để xác định một hành vi cạnh tranh là không lành mạnh không thể dựa trên suy đoán.

2.1.3. Nhóm các nội dung pháp luật về xử lý vi phạm về hoạt động khuyến mại cạnh tranh không lành mạnh tại các ngân hàng thương mại

2.1.3.1. Xử phạt hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh của các ngân hàng thương mại

Thứ nhất, chế tài hành chính Luận văn: Thực trạng PL hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh.

Theo quy định tại Điều 110 Luật Cạnh tranh 2018 và Điều 3 Nghị định số 71/2014/NĐ – CP thì các hình thức chế tài xử lý vi phạm pháp luật về hành vi cạnh tranh nói chung cũng như các hình thức xử lý hành vi Khuyến mại nhằm Cạnh tranh không lành mạnh nói riêng bao gồm: “các hình thức xử phạt chính, hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả. Ngoài ra chủ thể chịu thiệt hại do hành vi Cạnh tranh không lành mạnh gây ra còn có thể bị khởi kiện theo pháp luật dân sự để có thể yêu cầu chủ thể cạnh tranh vi phạm bồi thường”.

Các hình thức xử phạt chính: Căn cứ theo Khoản 2 Điều 100 Luật Cạnh tranh 2018 có quy định: “Đối với mỗi hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh, tổ chức, cá nhân vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính sau đây: a) Cảnh cáo; b) Phạt tiền”. Tuy nhiên khi nghiên cứu sâu vào hình thức xử phạt các hành vi cụ thể của LCT cũng như Nghị định 71/2014/NĐ-CP ngày 21/07/2014 quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh thì không thấy quy định nào áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo đối với tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi Khuyến mại nhằm Cạnh tranh không lành mạnh. Theo đó hành vi Khuyến mại nhằm Cạnh tranh không lành mạnh chỉ có thể là hình thức phạt tiền. Mức phạt tiền được quy định cụ thể tại khoản 1 và khoản 2 Điều 34 Nghị định 71/2014/NĐ-CP như sau:

Điều 34. Hành vi Khuyến mại nhằm Cạnh tranh không lành mạnh 

  1. Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
  2. Tổ chức Khuyến mại mà gian dối về giải thưởng;
  3. KM không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hóa, dịch vụ để lừa dối khách hàng;
  4. Phân biệt đối xử đối với các khách hàng như nhau tại các địa bàn tổ chức Khuyến mại khác nhau trong cùng một chương trình Khuyến mại; Luận văn: Thực trạng PL hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh.
  5. Tặng hàng hóa cho khách hàng dùng thử nhưng lại yêu cầu khách hàng đổi hàng hóa cùng loại do Doanh nghiệp khác sản xuất mà khách hàng đó đang sử dụng để dùng hàng hóa của mình.
  6. Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này trong trường hợp quy mô tổ chức Khuyến mại thuộc phạm vi từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên ».

Các hình thức xử phạt bổ sung: Ngoài bị phạt tiền các hành vi Khuyến mại nhằm Cạnh tranh không lành mạnh còn có thể bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 28 và Điều 34 Nghị định số 71/2014/NĐ-CP: “Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm bao gồm cả tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm”. Các quy định về hình thức xử phạt bổ sung trong Nghị định 71/2014/NĐ-CP là sự thay thế tiếp nối và mở rộng hơn về hình thức xử phạt đối với hành vi Cạnh tranh không lành mạnh so với Nghị định số 120/2005/NĐ-CP để phù hợp hơn với tình hình kinh tế – xã hội phát triển của đất nước. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề đặt ra đó là trong cả hai văn bản đều chưa đề cập đến việc quy định các thức xác định khoản lợi nhuận thu được từ việc hành vi vi phạm.

Các biện pháp khắc phục hậu quả: Pháp Luật Cạnh tranh chỉ quy định biện pháp khắc phục hậu quả duy nhất là buộc cải chính công khai đối với các chủ thể thực hiện hành vi Khuyến mại nhằm Cạnh tranh không lành mạnh. Biện pháp này được áp dụng nhằm đưa tình trạng cạnh tranh từ chỗ bị sai lệch bởi các hành vi Cạnh tranh không lành mạnh trở về gần nhất với trạng thái ban đầu.

Thứ hai, chế tài hình sự 

Nếu hành vi Khuyến mại nhằm Cạnh tranh không lành mạnh đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ được đặt ra. Căn cứ pháp lý tại Chương XVIII “Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế” – Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017. Cụ thể, hành vi trên có thể cấu thành tội lừa dối khách hàng (Điều 198, Bộ luật Hình sự 2015).

Thứ ba, chế tài dân sự  Luận văn: Thực trạng PL hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh.

Theo pháp Luật Cạnh tranh Việt Nam, khi áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại thì phải dẫn chiếu đến pháp luật dân sự. Vấn đề khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại đối với hành vi Khuyến mại nhằm Cạnh tranh không lành mạnh được áp dụng theo các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Căn cứ pháp lý tại Chương XX – Bộ luật dân sự 2015.

2.1.3.2. Thẩm quyền và hình thức xử lý hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh của các ngân hàng thương mại

Một là, thẩm quyền xử lý hành vi Khuyến mại nhằm Cạnh tranh không lành mạnh trong Hoạt động ngân hàng của Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Kinh doanh ngân hàng là lĩnh vực kinh doanh có điều kiện, cơ quan các thẩm quyền quản lý Hoạt động ngân hàng thuộc về Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Ngân hàng nhà nước Việt Nam thực hiện việc thanh tra, giám sát Hoạt động ngân hàng thông qua Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng. Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng là đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của Ngân hàng nhà nước, thực hiện nhiệm vụ thanh tra, giám sát ngân hàng, phòng, chống rửa tiền; cụ thể Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng thực hiện chức năng thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành và giám sát chuyên ngành về ngân hàng trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ngân hàng nhà nước; tham mưu, giúp Thống đốc Ngân hàng nhà nước quản lý nhà nước đối với các Tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính quy mô nhỏ, Hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng thực hiện hoạt động giám sát chuyên ngành về ngân hàng theo quy định của pháp luật và phân công của Thống đốc Ngân hàng nhà nước. Như vậy, Ngân hàng nhà nước có quyền xử phạt hành vi Khuyến mại nhằm Cạnh tranh không lành mạnh trong Hoạt động ngân hàng được thực hiện thông qua các quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Hai là, thẩm quyền xử lý hành vi Khuyến mại nhằm Cạnh tranh không lành mạnh trong Hoạt động ngân hàng của cơ quan quản lý cạnh tranh. Theo quy định của Luật Cạnh tranh 2018, thì Cục Quản lý cạnh tranh tiến hành thụ lý, tổ chức điều tra các vụ việc liên quan đến các hành vi vi phạm pháp Luật Cạnh tranh, đồng thời triển khai các chương trình phổ biến pháp luật, tham vấn và giải đáp các vướng mắc liên quan đến Luật Cạnh tranh, giúp các Doanh nghiệp định hình chiến lược kinh doanh phù hợp với các quy định của pháp luật. Luận văn: Thực trạng PL hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh.

Tuy nhiên, thẩm quyền, thủ tục xử lý hành vi gian lận trong Hoạt động ngân hàng của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Cục Quản lý cạnh tranh Bộ Công Thương lại không thống nhất với nhau. Đặc biệt:

Trước hết, Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng thuộc Ngân hàng nhà nước Việt Nam xử lý tội phạm gian lận ngân hàng theo thủ tục hành chính, còn việc xử lý hành vi gian lận dựa trên hoạt động khuyến khích cạnh tranh thương mại. Tố tụng cạnh tranh được tiến hành trên cơ sở các thủ tục pháp lý chặt chẽ.

Thứ hai, theo Luật Cạnh tranh, cơ quan cạnh tranh được trao quyền điều tra các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi phản cạnh tranh và hành vi phản cạnh tranh; xử lý và xử phạt hành vi Cạnh tranh không lành mạnh. Tổ chức, cá nhân cho rằng hành vi vi phạm Luật Cạnh tranh xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình có trách nhiệm điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh theo quy định của pháp luật (sau đây gọi là bên khiếu nại) và gửi đơn khiếu nại đến cơ quan quản lý cạnh tranh.Đối tượng điều tra vụ việc cạnh tranh bao gồm: i) Tổ chức, cá nhân có khiếu nại theo quy định tại Điều 58 Luật Cạnh tranh; cá nhân không có dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh, kể từ ngày pháp luật cạnh tranh có hiệu lực. Từ các quy định hiện hành cho thấy, chỉ có Cơ quan quản lý cạnh tranh mới có quyền điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh.

Ngoài ra, ngân hàng là một hoạt động có rủi ro cao, mức độ và phạm vi của các chương trình hành vi Khuyến mại nhằm Cạnh tranh không lành mạnh trong Hoạt động ngân hàng rất lớn. Yêu cầu người tiến hành điều tra không chỉ cần am hiểu pháp luật mà còn cần có hiểu biết nhất định về hoạt động kinh doanh ngân hàng thì mới có thể xử lý hiệu quả. Pháp luật hiện hành không quy định nghĩa vụ chuyển vụ việc cạnh tranh từ Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng thuộc Ngân hàng nhà nước Việt Nam sang Cục Quản lý cạnh tranh Bộ Công Thương nếu phát hiện hành vi gian dối trong hoạt động của Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Các ngân hàng khi thực hiện nhiệm vụ thanh tra, giám sát ngân hàng Hoạt động. Nói cách khác, pháp luật hiện hành chưa phân định rõ thẩm quyền của Cơ quan quản lý ngân hàng và Cục Quản lý cạnh tranh của Bộ Công Thương và mức độ tham gia của các cơ quan thanh tra. Điều tra và xử lý các chương trình khuyến mại nhằm chống lại các sự kiện của ngân hàng.

2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng PL hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh.

2.2.1. Tình hình hoạt động của các ngân hàng thương mại tại Thành phố Hồ Chí Minh

Qua hơn 30 năm phát triển và mở rộng, có thể nói, Hoạt động ngân hàng TP HCM đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng cho phát triển kinh tế – xã hội của TP HCM nói riêng và cả nước nói chung. Hệ thống các Tổ chức tín dụng tại TP HCM đã phát triển mạnh mẽ cả về loại hình sở hữu, quy mô, mạng lưới hoạt động, các dịch vụ ngân hàng cung ứng ngày càng đa dạng và hiện đại, trong đó, nhiều ngân hàng luôn đi đầu ứng dụng công nghệ cao, công nghệ hiện đại vào các sản phẩm, dịch vụ, mang đến cho khách hàng, người tiêu dùng những trải nghiệm tốt nhất, thuận lợi nhất. Hoạt động ngân hàng TP HCM trong năm 2022 đạt được những kết quả quan trọng sau:

Thứ nhất, hoạt động của các Tổ chức tín dụng trên địa bàn ổn định. Mặc dù chịu tác động ảnh hưởng từ các yếu tố khách quan, lạm phát và lãi suất trên thị trường thế giới tăng; nhiều đồng tiền mạnh mất giá so với đồng đô la Mỹ – diễn biến tạo áp lực đối với nhiệm vụ kìm giữ lạm phát, ổn định giá trị tiền đồng và yêu cầu về tăng trưởng kinh tế. Các yếu tố thị trường: lãi suất, tỷ giá cơ bản ổn định và diễn biến theo đúng định hướng điều hành của Ngân hàng trung ương. Trong đó, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng nhà nước công bố tăng khoảng 0,08% so với cuối năm 2021; tỷ giá mua bán tại các Ngân hàng thương mại tăng khoảng 0,35%. Cung cầu ngoại tệ ổn định và đáp ứng tốt nhất nhu cầu ngoại tệ hợp pháp cho người dân, Doanh nghiệp để phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu. Luận văn: Thực trạng PL hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh.

Thứ hai, Hoạt động ngân hàng vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng. Huy động vốn tăng khoảng 6%. Trong đó, tiền gửi tiết kiệm dân cư chiếm 37,2% trong tổng huy động vốn và tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng chung, tăng 9,2% so với cuối năm 2021. Đây là diễn biến tích cực, trong bối cảnh năm 2022, có nhiều yếu tố tác động đến tâm lý người dân, người gửi tiền. Kết quả này phản ánh kênh tiền gửi ngân hàng vẫn là kênh đầu tư mang lại lợi ích tốt nhất cho người dân, an toàn và hiệu quả, tiếp tục phản ánh niềm tin của người dân đối với hệ thống ngân hàng, được pháp luật bảo đảm lợi ích người gửi tiền trong mọi trường hợp. Bên cạnh đó, tiền gửi tiết kiệm dân cư là bộ phận tiền gửi ổn định nhất, tạo điều kiện cho các Tổ chức tín dụng trên địa bàn khai thác và sử dụng vốn hiệu quả.

Kết thúc năm 2022, dự ước tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn TP Hồ Chí Minh đạt trên 3,2 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 14% so với cuối năm 2021. Đây là mức tăng trưởng theo đúng định hướng điều hành của Ngân hàng trung ương và đáp ứng tốt nhu cầu vốn cho Doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh góp phần thực hiện hiệu quả chương trình phục hồi tăng trưởng kinh tế thành phố. Theo đó tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố tăng trên 9%, có đóng góp quan trọng của hoạt động tín dụng ngân hàng thành phố, trong bối cảnh các kênh vốn khác trong năm gặp nhiều khó khăn.

Thứ ba, dịch vụ ngân hàng phát triển. Các hoạt động dịch vụ ngân hàng tăng trưởng ổn định, gắn với quá trình mở rộng và thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn thành phố và trong xu hướng phát triển ngân hàng số. Số lượng máy POS trên địa bàn đạt khoảng 120.000 máy, tăng trên 19% so với năm 2021. Trong khi đó, số lượng máy ATM là 3.967, giảm 3,3% so với cuối năm 2021; Số lượng thẻ tăng 19,3%. Diễn biến này là tín hiệu tích cực, phản ánh xu hướng sử dụng thẻ để thanh toán ngày càng tăng. Thực tế cho thấy, các Ngân hàng thương mại đã và đang mở rộng hệ thống thanh toán thẻ (qua máy POS), số lượng đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ tăng 23% so với năm 2021; cũng như phát triển mạnh dịch vụ ngân hàng điện tử, với tốc độ tăng trưởng từ 23-25% trong năm 2022 (tính theo số món thanh toán của khách hàng sử dụng các dịch vụ ngân hàng điện tử: internet banking; mobile banking; QR code…). Luận văn: Thực trạng PL hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh.

Thứ tư, ngành Ngân hàng thực hiện trách nhiệm nhiệm vụ của chương trình phục hồi tăng trưởng kinh tế thành phố. Trong đó, thực hiện tốt các chương trình hỗ trợ cho Doanh nghiệp: cơ cấu lại nợ; giảm lãi suất cho vay và cho vay mới với lãi suất thấp, tổng dư nợ đạt: 474.192 tỷ đồng. Từ đó, giúp Doanh nghiệp phục hồi nhanh chóng hơn, nhờ giảm áp lực trả nợ vay, giảm chi phí vay vốn để Doanh nghiệp duy trì, ổn định và tăng trưởng. Hơn 1,2 triệu lượt Doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh trên địa bàn được hỗ trợ bằng cơ chế này, giúp Doanh nghiệp vượt qua khó khăn do ảnh hưởng bởi đại dịch. Đây là chính sách hay, rất hiệu quả nhờ phù hợp với thực tiễn khách quan.

Những kết quả hoạt động quan trọng của ngành ngân hàng thành phố, không chỉ đảm bảo cho các Tổ chức tín dụng tăng trưởng và phát triển bền vững mà còn tạo điều kiện hết sức có ý nghĩa trong việc hỗ trợ cho Doanh nghiệp; thực hiện tốt NQ 11 của  Chính phủ và thực hiện hiệu quả chương trình phục hồi tăng trưởng kinh tế nói chung và kinh tế thành phố nói riêng theo kế hoạch đã đề ra. Phân tích ở góc độ quản lý, điều hành cũng như trách nhiệm thực thi và hiệu quả hoạt động của các Tổ chức tín dụng – tất cả sẽ  trở thành bài học kinh nghiệm quý báu và là cơ sở nền tảng để thực hiện tốt nhiệm vụ năm 2023 và những năm tiếp theo (Nguyễn Đức Lệnh, 2023).

2.2.2. Thực hiện hoạt động khuyến mại của các ngân hàng thương mại tại Thành phố Hồ Chí Minh

TP HCM có mật độ mạng lưới giao dịch và số lượng Tổ chức tín dụng, chi nhánh và phòng giao dịch của các Ngân hàng thương mại lớn nhất cả nước, có sự cạnh tranh sôi động về hoạt động KM từ cho vay, huy động vốn, đến tăng lợi ích sử dụng dịch vụ ngân hàng cho khách hàng.

Hình thức Khuyến mại được Ngân hàng thương mại lựa chọn nhiều nhất là hình thức bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi. Bên cạnh hình thức nói trên, các ngân hàng cũng lựa chọn các hình thức như: Tặng hàng hóa cho khách hàng, cung ứng dịch vụ không thu tiền; bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, giá cung ứng dịch vụ trước đó; bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố. Các hình thức khác được Ngân hàng thương mại cũng được thực hiện nhưng chiếm tỉ lệ ít. Luận văn: Thực trạng PL hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh.

Theo số liệu các Khuyến mại đã được đăng ký tại Sở Công Thương TP HCM, hàng hóa, dịch vụ dùng để Khuyến mại trong lĩnh vực ngân hàng thường áp dụng trong các ngành hàng tiêu dùng thiết yếu (chiếm 37 %), ngành hàng tiêu dùng không thiết yếu (31 %), dịch vụ tài chính (27 %). Bên cạnh đó, cũng có một số loại hàng hóa, dịch vụ khác có thực hiện thường xuyên hoạt động Khuyến mại như dịch vụ viễn thông, công nghệ thông tin (3 %), dịch vụ lữ hành, tour du lịch (1 %)…

Về tổng giá trị của chương trình Khuyến mại, phần lớn ngân hàng đã thực hiện các chương trình Khuyến mại với tổng giá trị chương trình dưới 500 triệu (chiếm tỉ lệ 43%), từ 500 triệu đến 1 tỉ (35%), 1 tỉ đồng chỉ chiếm dưới 19%, và 3% cho các giá trị chương trình trên 1 tỷ. Luận văn: Thực trạng PL hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh.

Về thời điểm thực hiện Khuyến mại, có 02 thời điểm được đa số các ngân hàng lựa chọn thực hiện Khuyến mại là dịp lễ tết, ngày kỉ niệm (chiếm 68 %) và dịp có sản phẩm, hàng hóa dịch vụ mới (chiếm 25%). Các dịp còn lại chiếm số lượng không đáng kể (7 %). Điều này cho thấy các chương trình Khuyến mại được các Ngân hàng thương mại thực hiện tương đối sôi động, tập trung vào những thời điểm nhu cầu của người tiêu dùng tăng cao.

Trong những năm qua các ngân hàng đã đưa ra nhiều khuyến mãi khủng đặc biệt là những ngày đầu năm 2023:

Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn (SCB) triển khai chương trình “Ưu đãi dành cho khách hàng bán vàng gửi tiền VND tại SCB” và “Ưu đãi dành cho khách hàng bán USD gửi tiền VND tại SCB”. Theo đó, khách hàng có nhu cầu bán vàng SJC hoặc USD để gửi tiền VND vào bất kỳ sản phẩm tiền gửi nào tại SCB có kỳ hạn từ một tháng trở lên sẽ được SCB áp dụng giá mua cao hơn giá mua niêm yết tại thời điểm thực hiện giao dịch từ 100 nghìn đồng đến 300 nghìn đồng/lượng. Ðối với khách hàng bán USD để gửi tiền VND, SCB sẽ áp dụng giá mua cao hơn giá mua niêm yết tại thời điểm khách hàng thực hiện giao dịch theo tỷ lệ từ 0,1% đến 0,3%. Ðặc biệt, 2.000 lượt khách hàng đầu tiên tham gia chương trình sẽ được tặng ngay một phần quà có giá trị bằng 0,20% số USD mà khách hàng bán. Ngoài ra, SCB hiện đang triển khai chương trình “Tứ Kim Vạn Lộc” dành cho những khách hàng gửi tiền có kỳ hạn từ một tháng đến 11 tháng bằng VND, USD, EUR hay AUD được tham gia bốc thăm trúng thưởng và quay số điện tử hằng tuần với những giải thưởng giá trị như xe máy, máy tính xách tay, Ipad wifi 3G 16 GB…

Trong khi đó, Ngân hàng Vietcombank lại tung ra chương trình khuyến mãi “khủng”: “Du xuân cùng Vietcombank”. Theo đó, với mỗi 10 triệu VND hoặc 500USD tiền gửi có kỳ hạn tối thiểu một tháng, khách hàng sẽ nhận được một mã số dự thưởng. Khách hàng sẽ có cơ hội trúng lớn với 3.011 giải thưởng, trong đó là các chuyến du lịch nước ngoài cho cả gia đình, được tặng thẻ Visa Connect24 có thể chi tiêu toàn cầu trị giá 200 triệu đồng. Tổng giá trị toàn bộ giải thưởng Vietcombank đưa ra dịp này hơn 4,2 tỷ đồng. Luận văn: Thực trạng PL hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh.

Không thể không làm theo hình thức của các các ngân hàng khác, Vietinbank cũng đã triển khai chương trình khuyến mãi “Gửi tiền ngay – Quay trúng lớn”. Sản phẩm tham gia dự thưởng là tiết kiệm lãi suất thả nổi kỳ hạn 36 tháng, định kỳ điều chỉnh lãi suất một, hai, ba tháng/lần; với số tiền gửi tối thiểu là 10 triệu VND hoặc 500 USD. Khách hàng tham gia chương trình sẽ có hai cơ hội trúng các giải thưởng, bao gồm: xe ô-tô Kia, xe máy Piaggio, xe Wave, máy giặt, màn hình LCD, Iphone 4, Galaxy tap… và nhiều giải thưởng giá trị tiền mặt khác.

Ngân hàng Sacombank cũng tung ra chương trình “Cơn lốc tỷ phú” với giải thưởng lên đến một tỷ đồng. Theo đó, khách hàng chỉ cần gửi tiết kiệm năm triệu đồng (lãi suất 0%) hoặc 10 triệu đồng (lãi suất 7%) hay 40 triệu đồng (lãi suất 12%) trong kỳ hạn một tháng sẽ nhận được một phiếu quay số trúng thưởng. Sẽ có hai đợt quay số với 60 giải may mắn (50 triệu đồng/giải), 20 giải đặc biệt (200 triệu đồng/giải) và bốn giải siêu đặc biệt (một tỷ đồng/giải).

Trong khi các ngân hàng đang nhắm vào khách hàng cá nhân, thì Ngân hàng Quốc tế (VIB) lại thông báo dành nguồn vốn tín dụng 1.000 tỷ đồng với lãi suất ưu đãi, thấp hơn lãi suất thông thường 1%/năm cho Doanh nghiệp ngành gạo và dành 2.000 tỷ đồng với lãi suất ưu đãi thấp hơn so mức lãi suất cho vay thông thường 1%/năm cho các Doanh nghiệp sản xuất, với thủ tục vay và giải ngân nhanh chóng. Ngoài ra, để tri ân các khách hàng Doanh nghiệp, VIB cũng đã triển khai chương trình “Chung vui sinh nhật cùng hàng triệu khách hàng” với nhiều quà tặng ý nghĩa và nhiều ưu đãi phí hấp dẫn.

Không chỉ giải thưởng bằng hiện vật và tiền mặt, các ngân hàng còn treo cả giải thưởng bằng vàng. Chương trình “Lộc Vàng Trường Thịnh” của Ngân hàng TinNghiaBank, khách hàng gửi tiền từ  một đến 12 tháng, có số dư tối thiểu từ hai đến mười triệu đồng sẽ nhận được số dự thưởng theo bội số của mức tiền gửi, tương ứng với kỳ hạn gửi ghi trên thẻ tiết kiệm. Ðồng thời, sẽ có cơ hội sở hữu giải đặc biệt 10 lượng vàng SJC 999,9 và nhiều giải thưởng hấp dẫn khác như xe máy Honda SH125cc, xe máy Piaggio Liberty i.e 125cc… Trước đó, Ngân hàng Phương Tây ngày 15-10 cũng bắt đầu mở ưu đãi quay số trúng thưởng đối với các khoản tiền từ 15 triệu đồng hoặc 1.000 USD trở lên. Giải thưởng cao nhất cho từng đợt quay số là một cây vàng SJC, thấp nhất một chỉ vàng và cho lần quay số cuối cùng là hai chỉ vàng đến 10 lượng vàng SJC…

Có thể thấy, sự đa dạng của các chương trình Khuyến mại của các Ngân hàng thương mại đã “hút” được lượng lớn tiền nhàn rỗi trong dân, đồng thời người gửi tiết kiệm sẽ có lợi hơn. Ðiểm khác biệt lớn trong Khuyến mại của các ngân hàng so các năm trước đây là khách hàng chỉ cần gửi kỳ hạn một tháng có thể nhận được chương trình Khuyến mại chứ không bắt buộc gửi dài hạn. Thậm chí, có ngân hàng chấp nhận cho khách hàng thế chấp sổ tham gia dự thưởng khi cần tiền mà không cần phải rút tiền gửi trước hạn. Theo Ngân hàng nhà nước chi nhánh TP Hồ Chí Minh, việc các ngân hàng đua nhau Khuyến mại rầm rộ cho thấy tình hình huy động vốn của các ngân hàng đang biến động và diễn biến phức tạp, nhất là sau khi phục hồi kinh tế sau đại dịch Covid – 19. Luận văn: Thực trạng PL hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh.

Ðánh giá về việc này, một chuyên gia kinh tế cho rằng, bên cạnh các chương trình khuyến mãi, các ngân hàng cần nâng cao chất lượng dịch vụ và thái độ phục vụ mới có thể giữ chân khách hàng trong thời điểm này. Trong khi đó, Tổng Thư ký Hiệp hội ngân hàng Việt Nam Dương Thu Hương, khuyến cáo: “Khi mặt bằng lãi suất huy động như nhau, người dân nên xem xét chọn những ngân hàng có chất lượng dịch vụ, phục vụ tốt và khoảng cách địa lý gần để gửi tiết kiệm. Ðây là những yếu tố quyết định trong bối cảnh hiện nay chứ không phải cách chạy đua theo các chương trình Khuyến mại của ngân hàng”. Khi quyết định gửi tiền vào ngân hàng nào nên xét yếu tố uy tín, khả năng thanh khoản và chất lượng phục vụ của ngân hàng trước, còn chương trình Khuyến mại là sau cùng. Thực tế, nhiều khách hàng khi đến gửi tiền mới biết có chương trình Khuyến mại. Và phần thưởng dự thưởng khi tham gia chương trình Khuyến mại chỉ là yếu tố may mắn, chứ không phải là yếu tố quyết định để khách hàng lựa chọn gửi tiền (Nguyễn Quốc Huy, Trương Minh Hoàng, Lê Khánh Duy, 2022)

2.2.3. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh từ hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại tại Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng PL hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh.

2.2.3.1. Tổ chức gian dối về giải thưởng

Các Ngân hàng thương mại thu hút khách hàng bằng cách tổ chức các hoạt động Khuyến mại, trúng thưởng cho khách hàng, từ đó thu hút khách hàng quan tâm đến các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng. Khuyến mại bằng hình thức tặng thưởng cho khách hàng dựa trên mong muốn nhận thưởng của khách hàng. Tuy nhiên trong thực tế, khách hàng không có cơ hội nhận thưởng từ hình thức Khuyến mại này, hoặc phần thưởng không đúng như niêm yết trong chương trình Khuyến mại. Do đó, có gian lận giải thưởng trong các chương trình Khuyến mại. Ngoài ra các Ngân hàng thương mại còn vi phạm hành vi Cạnh tranh không lành mạnh Khuyến mại gian dối về giải thưởng còn thể hiện thông qua trường hợp đưa ra giá trị giải thưởng Khuyến mại rất lớn nhưng thực hiện việc trao giải thưởng thì rất nhỏ. Tổ chức khuyến mãi mà những người trúng thưởng toàn là người nhà, người quen của nhân viên ngân hàng…

Trong thực tế, các Ngân hàng thương mại thường xuyên tổ chức hoạt động Khuyến mại. Hình thức Khuyến mại thông qua việc trao tặng các giải thưởng cho khách hàng là hình thức thu hút được nhiều khách hàng đến với ngân hàng. Vấn đề đặt ra là, các ngân hàng trong quá trình thực hiện chương trình Khuyến mại, có thể gian dối trong việc trao giải thưởng cho khách hàng. Một trong các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng Khuyến mại gian dối xuất phát từ sự quản lý chưa chặt chẽ của các cơ quan chức năng hoặc do các ngân hàng thiếu đạo đức trong kinh doanh, vì hám lợi trước mắt mà quên nguồn lợi lâu dài từ khách hàng.

2.2.3.2. Khuyến mại không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hoá; dịch vụ để lừa dối khách hàng

KM không trung thực là việc đưa thông tin Khuyến mại không đúng về hàng hóa, dịch vụ khiến khách hàng nhầm lẫn, tin theo thông tin Khuyến mại sai lệch mà mua hàng hóa hay sử dụng dịch vụ đó. Việc Khuyến mại không trung thực này tác động đến tâm lý “hám lợi” của người tiêu dùng, hay khách hàng mà khiến họ tiêu thụ nhiều hơn hàng hóa, dịch vụ của Doanh nghiệp. Đồng thời, việc Khuyến mại sai lệch này cũng làm tác động xấu đến đối thủ cạnh tranh, làm giảm mức tiêu thụ hàng hóa của đối thủ cạnh tranh. Điều này là do việc xuất hiện tâm lý so sánh các sản phẩm, dịch vụ của Doanh nghiệp thực hiện chương trình Khuyến mại với sản phẩm, dịch vụ của đối thủ cạnh tranh. Bên cạnh đó, thông tin Khuyến mại sai lệch còn ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của khách hàng nếu như họ không nắm bắt được thực chất của thông tin đưa ra Khuyến mại (Ngô Tuấn Dũng, 2018).” Luận văn: Thực trạng PL hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh.

Hiện nay, kinh doanh thẻ ngày càng được các ngân hàng chú trọng phát triển như một kênh thu hút khách hàng cũng như quảng bá thương hiệu. Các cuộc chạy đua mở thẻ ngân hàng ngày một gia tăng mạnh mẽ dẫn đến tình trạng dư thừa số lượng lớn “thẻ rác”. Các ngân hàng đã sử dụng nhiều biện pháp để thu hút khách hàng, đặc biệt là hoạt động quảng cáo, Khuyến mại. Hành vi quảng cáo không rõ ràng, nói quá lên với các cụm từ “nhất”, “số một”, …có nguy cơ vi phạm pháp luật về hành vi Cạnh tranh không lành mạnh.

Tình trạng Khuyến mại không trung thực, gây nhầm lẫn đối với khách hàng về hàng hóa, dịch vụ để lừa dối khách hàng đang xảy ra rất đa dạng và rất khó phát hiện. Các ngân hàng luôn nghĩ ra nhiều cách thức khác nhau để khách hàng “mắc bẫy”, và đạt được mục đích bán hàng, giới thiệu sản phẩm của ngân hàng. Trong quy định của Luật Cạnh tranh thì cấm những hành vi này, vì nó ảnh hưởng đến lợi ích của khách hàng và đối thủ cạnh tranh. Trên thực tế, những hành vi Khuyến mại gian dối gây ảnh hưởng đến lợi ích của cả người tiêu dùng và các Doanh nghiệp kinh doanh cùng mặt hàng vẫn diễn ra phổ biến. Hành vi này đã thể hiện rõ bản chất lừa dối khách hàng thông qua hoạt động Khuyến mại và cũng tạo lợi thế cạnh tranh cho Doanh nghiệp thông qua con đường “không lành mạnh.

2.2.3.3. Phân biệt đối xử đối với các khách hàng tại các địa bàn tổ chức khác nhau trong cùng một chương trình khuyến mại

Nhà làm luật đã quy định hành vi này thuộc hành vi cấm trong Luật Cạnh tranh. Hành vi này được hiểu là trong một chương trình Khuyến mại chung, các thương nhân đưa ra chương trình Khuyến mại nhưng lại không khách quan, công bằng, phân biệt đối xử đối với các khách hàng như nhau trong các địa bàn tổ chức Khuyến mại khác nhau. Luật quy định rất chung chung như trên gây ra cách hiểu không chính xác về điều luật. Ở đây, cần phải làm rõ khái niệm “phân biệt đối xử”, “các khách hàng như nhau”. Hành vi phân biệt đối xử tức là hành vi của thương nhân ưu ái khách hàng này hơn khách hàng kia, dành cho họ lợi ích nhiều hơn khách hàng kia mà thực tế thì phải dành cho họ những lợi ích như nhau. Các khách hàng như nhau thì cần được hiểu tiêu chí nào là như nhau. Luận văn: Thực trạng PL hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh.

Cần một cách hiểu rõ ràng hơn đối với quy định này của Luật Cạnh tranh. Trên thực tế đã xảy ra nhiều trường hợp, các Doanh nghiệp đã cố tình phân loại khách hàng để cho hưởng Khuyến mại.”

Điển hình như việc cùng một ngân hàng nhưng tuỳ chi nhánh và phòng giao dịch, mức lãi suất áp dụng khác nhau. Tại một chi nhành ngân hàng PVcomBank, mức lãi suất cao nhất giao dịch viên chào mời lên tới 12,8% cho kỳ hạn 15 tháng. Để được hưởng mức lãi suất cao chót vót này, ngoài số tiền gửi lớn, khách hàng còn được chào mời mua kèm gói bảo hiểm Prudential. Theo đó, nếu gửi 1 tỉ đồng mua kèm gói bảo hiểm 20 triệu đồng thì khách hàng được cộng thêm 2% lãi suất từ 10,8% lên 12,8%/năm. Ở kỳ hạn 12 tháng, lãi suất ngân hàng chào mời hiện ở mức 10,5%/năm. Tại một chi nhành cùng hệ thống, lãi suất cao nhất lên tới 11,1% cho kỳ hạn 12 tháng. Lãi suất niêm yết công khai tại quầy là 9,4%/năm cho kỳ hạn 12 tháng. Tuy nhiên, nhân viên ngân hàng “rỉ tai” khách hàng: “Nếu chị gửi 1 tỉ đồng, mua kèm gói bảo hiểm trong 1 năm thì lãi suất lên tới 10,9%/năm. Nếu chị mở tài khoản số đẹp và để số tiền trị giá 0,2% tổng số tiền chị muốn gửi tiết kiệm (tương đương 20 triệu đồng) trong vòng 6 tháng không rút thì sẽ cộng thêm 0,2% lãi suất. Như vậy, mức lãi suất cao nhất cộng dồn các chương trình là 11,1%/năm”. Giữa tháng 12.2022, khi cuộc đua lãi suất huy động liên tục nóng, Hiệp hội Ngân hàng đã tổ chức cuộc họp kêu gọi các ngân hàng đã có sự đồng thuận hạ mức lãi suất huy động không quá 9,5%/năm. Thậm chí vào ngày 15.12.2022, Ngân hàng nhà nước đã có văn bản yêu cầu các ngân hàng phải báo cáo lãi suất tiền gửi và cho vay của các giao dịch phát sinh mới trong kỳ báo cáo hàng tuần cho Vụ Chính sách tiền tệ, thuộc Ngân hàng nhà nước. Mục đích của yêu cầu này, theo Ngân hàng nhà nước, là để phục vụ việc quản lý hoạt động ngân hàng và điều hành chính sách tiền tệ. Để không bị Ngân hàng nhà nước “tuýt còi”, nhiều ngân hàng đã “đổi chiến thuật” để hút tiền gửi của người dân. Thay vì niêm yết công khai trên website, một số ngân hàng “đi đêm” lãi suất để chào mời các khách hàng VIP (Lan Hương, 2023). Rõ ràng là đã có sự phân biệt đối xử với các khách hàng trong chương trình Khuyến mại.

Tại khoản 2 điều 91 Luật các tổ chức tín dụng 2010 (đã được sửa đổi bổ sung) quy định Tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của Tổ chức tín dụng. Luận văn: Thực trạng PL hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh.

Tại điều 3 thông tư hướng dẫn số 07/2014/TT-NHNN ngày 17-3-2014 quy định TCTD niêm yết công khai lãi suất tiền gửi bằng đồng Việt Nam tại các địa điểm nhận tiền gửi theo quy định của ngân hàng Nhà nước. Nghiêm cấm Tổ chức tín dụng khi nhận tiền gửi thực hiện Khuyến mại dưới mọi hình thức (bằng tiền, lãi suất và các hình thức khác) không đúng với quy định của pháp luật và thông tư 07/2014.

“Tuy đây là một hình thức được quy định trong Luật Cạnh tranh, nhưng trên thực tiễn thì trường hợp phân biệt đối xử này thường ít diễn ra bởi điều kiện khách quan của nền kinh tế đất nước và mong muốn chủ quan của các ngân hàng là cần có thêm nhiều khách hàng và mở rộng thị trường của mình. Những trường hợp phân biệt đối xử trong Khuyến mại chủ yếu là hành vi xuất phát từ phía chủ quan của thương nhân muốn dành những ưu đãi của mình cho những khách hàng lâu dài và tin cậy của họ.

2.2.3.4. Tặng hàng hóa cho khách hàng dùng thử nhưng lại yêu cầu khách hàng đổi hàng hóa cùng loại do doanh nghiệp khác sản xuất mà khách hàng đó đang sử dụng để dùng hàng hóa của mình

Điều kiện bắt buộc của hành vi này là hành khách phải mang hàng hóa đang sử dụng của một chủ thể khác để đổi lấy hàng hóa của mình. Thông qua hành vi này, ngân hàng tiến hành Khuyến mại có thể nhanh chóng chiếm lĩnh được thị trường do hàng hóa đã có khả năng tác động rất lớn đến tâm lý người tiêu dùng, khiến hàng hóa của ngân hàng nhanh chóng có mặt, chiếm lĩnh được thị trường.

Tuy nhiên, với hành vi này ngân hàng Khuyến mại đã trực tiếp gây rối, cản trở hoạt động kinh doanh của ngân hàng khác, làm phá vỡ sự ổn định trong hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh tranh, phá vỡ thói quen tiêu dùng từ trước của người tiêu dùng và quyền tự do lựa chọn hàng hóa của họ.”

Nhiều ngân hàng đã có hành vi yêu cầu khách hàng chỉ sử dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng vì đang vay ở ngân hàng của mình sẽ được hưởng lãi suất cho vay ưu đãi. Hành vi này thường yêu cầu khách hàng chuyển dòng tiền từ ngân hàng khác qua ngân hàng của mình, không sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng khác,… Tuy nhiên trên thực tế hành vi này chỉ được thực hiện qua hình thức tư vấn của các giao dịch viên, cán bộ quan hệ khách hàng chứ không có văn bản hướng dẫn chỉ đạo cụ thể của ngân hàng nên rất khó chứng minh xử lý vi phạm này.

2.2.3.5. Các hoạt động khác mà pháp luật cấm

Thực tế cho thấy cùng với đà phát triển của nền kinh tế đang hội nhập của Việt Nam, hoạt động Khuyến mại nói riêng và các hoạt động xúc tiến thương mại nói chung đang ngày càng phát triển phong phú hơn, kéo theo đó, các hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh cũng đa dạng hơn. Ngoài bốn hành vi nói trên, tùy từng trường hợp mà pháp luật cạnh tranh và các hệ thống pháp luật khác sẽ có quy định cụ thể cho hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh này.

2.2.4. Xử lý vi phạm về hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh của các ngân hàng thương mại tại Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng PL hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh.

Tại “Báo cáo tổng kết 12 năm thi hành Luật Cạnh tranh” mà Bộ Công thương trình Quốc hội cho thấy, về các hành vi Cạnh tranh không lành mạnh, tính đến hết năm 2016, đã có hơn 330 hồ sơ khiếu nại, trong đó có 182 vụ đã được điều tra, xử lý. Các vụ việc Cạnh tranh không lành mạnh diễn ra dưới nhiều hình thức, theo nhiều dạng vi phạm khác nhau. Sau hơn 12 năm thi hành, Luật Cạnh tranh 2004 đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập trong nội dung quy định. Nhằm tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, đáp ứng các yêu cầu thực tiễn, cũng như phù hợp với sự thay đổi của bối cảnh kinh tế – xã hội, xu hướng hội nhập quốc tế, Luật Cạnh tranh 2018 đã được Quốc hội khóa XIV thông qua ngày 12 tháng 6 năm 2018 thay thế cho Luật Cạnh tranh 2004 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2019. Luận văn: Thực trạng PL hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh.

Trong giai đoạn từ năm 2017 đến 2021, Cục cạnh tranh và Bảo về người tiêu dùng đã tiến hành điều tra theo thủ tục tố tụng cạnh tranh với 18 vụ việc có dấu hiệu vi phạm quy định về Cạnh tranh không lành mạnh theo Luật Cạnh tranh 2004, thu về tổng số tiền phạt 1,621,000,000 đồng. Các hành vi Cạnh tranh không lành mạnh bị điều tra và xử lý tập trung chủ yếu vào các dạng hành vi: quảng cáo nhằm Cạnh tranh không lành mạnh, dèm pha Doanh nghiệp khác, chỉ dẫn gây nhầm lẫn, bán hàng đa cấp bất chính. Mặc dù tại thời điểm hiện tại, Cục không tiến hành được công tác điều tra, xử lý theo thủ tục tố tụng cạnh tranh theo Luật Cạnh tranh 2018 (do Nghị định quy định về cơ cấu, chức năng, nhiệm vụ của Ủy ban cạnh tranh Quốc gia chưa được ban hành). Cục vẫn tiếp nhận các phản ánh, khiếu nại liên quan đến các hành vi có dấu hiệu vi phạm Luật Cạnh tranh để làm rõ sự việc và đưa ra các khuyến cáo cần thiết nhằm ngăn chặn hành vi Cạnh tranh không lành mạnh

Qua số liệu thực tế thực hiện pháp Luật Cạnh tranh không lành mạnh nói chung và hành vi Cạnh tranh không lành mạnh trong Khuyến mại nói riêng cho thấy Luật Cạnh tranh đã phần nào giải quyết được yêu cầu đặt ra của pháp luật và thực tiễn. Thực tế các vụ việc về hành vi Cạnh tranh không lành mạnh trong Khuyến mại xuất hiện rất ít trong tổng số các vụ vi phạm Luật Cạnh tranh trong đó không có hành vi Khuyến mại nhằm cạnh tranh trong Hoạt động ngân hàng được xử lý. Tuy nhiên, trên thực tế hành vi Khuyến mại nhằm Cạnh tranh không lành mạnh tại các Ngân hàng thương mại có sự vi phạm nhưng chưa phát hiện và không thể chứng minh hành vi vi phạm của các ngân hàng được.

Theo khảo sát các nhân tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ gửi tiền tiết kiệm tại Vietinbank TP HCM của tác giả Lương Quang Long và Hồ Anh Thư năm 2016 bằng phương pháp nghiên cứu định lượng, lấy mẫu thuận tiện với 596 mẫu khảo sát cuối cùng. Tác giả đã tìm ra các nhân tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng Vietinbank là thương hiệu, độ tin cậy, khuyến mãi, chất lượng dịch vụ, ảnh hưởng của sự giới thiệu và truyền thông và cuối cùng là phương tiện hình ảnh.

Theo một nghiên cứu của Tạ Văn Thành về chất lượng dịch vụ khuyến mại, sự thỏa mãn và lòng trung thành của người sử dụng ví điện tử tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2022, qua việc khảo sát 300 người dùng ví điện tử tháng 11/2020 đến tháng 04/2021. Kết quả nghiên cứu cho thất, sự thuận tiện của chương trình khuyến mại là yếu tố quan trọng nhất làm thỏa mãn khách hàng cũng như làm tăng lòng trung thành của họ đối với việc sử dụng ví điện tử.

Qua số liệu thống kê trên, ta thấy mức độ ảnh hưởng của hành vi khuyến mại nhằm Cạnh tranh không lành mạnh đối với các ngân hàng chiếm tỉ lệ khá cao. Như vậy, hành vi khuyến mại nhằm Cạnh tranh không lành mạnh có mức độ ảnh hưởng rất cao tới hoạt động của các đối thủ cạnh tranh trong cùng ngành nghề kinh doanh, đồng thời ảnh hưởng tới quyền lợi người tiêu dùng và không ai khác trong một giới hạn nhất định nếu bị phát hiện thì uy tín, danh tiếng của chủ thể thực hiện khuyến mại cũng bị suy giảm. Luận văn: Thực trạng PL hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh.

2.2.5. Đánh giá việc thực hiện pháp luật về hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh của các ngân hàng thương mại tại Thành phố Hồ Chí Minh

Qua thực tiễn thi hành các hình thức Khuyến mại tại các Ngân hàng thương mại cho thấy các hình thức Khuyến mại ngày càng được áp dụng rộng rãi và diễn ra liên tục, tiếp cận được hầu hết các địa phương trên cả nước. Các hình thức Khuyến mại được áp dụng trong các chương trình Khuyến mại như “Giờ vàng”, “Ngày vàng”, “Tuần lễ giảm giá”, “Tháng khuyến mại” diễn ra với tần suất liên tục. Các chương trình như “Tri ân khách hàng”, “Đổi quà giá sốc” được tổ chức rộng rãi …. đem đến cơ hội cho người tiêu dùng.

Thông qua việc thực hiện các hình thức Khuyến mại ngân hàng đã đem lại lợi ích thiết thực cho khách hàng của mình. Khuyến mại giúp cho người tiêu dùng được hưởng những lợi ích tăng thêm khi mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ. Lợi ích đó có thể là lợi ích vật chất như tiền, hàng hóa hay lợi ích phi vật chất. Hiện nay, các ngân hàng  thực hiện nhiều chương trình Khuyến mại gồm nhiều loại hàng hóa, dịch vụ rất đa dạng với những thông tin của sản phẩm mang sức thuyết phục bằng cách kèm theo nhiều lợi ích nhất định, từ đó nhu cầu tiêu dùng ngày càng phong phú, giúp cho người tiêu dùng có sự lựa chọn hàng hóa, dịch vụ phù hợp với mình hơn.

Áp lực cạnh tranh trên thị trường ngày một gia tăng, nền kinh tế thị trường chứng kiến nhiều hành vi Cạnh tranh không lành mạnh của các Ngân hàng thương mại. Trong đó các hoạt động Khuyến mại nhằm cạnh tranh lành mạnh được các ngân hàng thông qua những hành vi sau: Tổ chức gian dối về giải thưởng, Khuyến mại không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hóa dịch vụ để lừa dối khách hàng, phân biệt dối xử đối với khách hàng như nhau tại các địa bàn tôt chức Khuyến mại khác nhau trong cùng một chương trình Khuyến mại,… Tuy nhiên, việc xử lý các hành vi Khuyến mại nhằm Cạnh tranh không lành mạnh trong Hoạt động ngân hàng còn nhiều hạn chế, những hạn chế đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể đến luật pháp chưa hoàn thiện, thiếu kinh nghiệm trong đấu tranh phòng chống các hành vi Khuyến mại nhằm Cạnh tranh không lành mạnh trong Hoạt động ngân hàng. Luận văn: Thực trạng PL hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh.

Theo số liệu từ Cục Quản lý cạnh tranh số lượng các trường hợp vi phạm Cạnh tranh không lành mạnh được giải quyết còn khá ít so với thực tiễn hoạt động Khuyến mại của các Ngân hàng thương mại. Khi các ngân hàng bất chấp vi phạm pháp luật để mở rộng mạng lưới hoạt động nhằm cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng đến các cá nhân, hộ gia đình, Doanh nghiệp. Quá trình điều tra, xử lý vụ việc Khuyến mại nhằm Cạnh tranh không lành mạnh của các Ngân hàng thương mại gặp nhiều khó khăn do các quy định của Luật còn cứng nhắc dẫn đến sai sót, bỏ lọt hành vi vi phạm, khó chứng minh hành vi vi phạm của các ngân hàng.

Bên cạnh đó, một số hành vi Cạnh tranh không lành mạnh đã được phát hiện và chấn chỉnh kịp thời. Tuy nhiên, các biện pháp can thiệp của Ngân hàng nhà nước cũng mới chỉ là các biện pháp hành chính, chưa có biện pháp giải quyết căn nguyên của tình trạng này. Chẳng hạn, khi xảy ra hiện tượng các ngân hàng “tố” nhau vi phạm trần lãi suất thì Ngân hàng nhà nước chỉ đơn giản là xử lý vi phạm mà chưa đề cập đến hiện tượng việc “tố” này có nhằm mục đích Cạnh tranh không lành mạnh hay không; hoặc số lượng các ngân hàng vi phạm trần lãi suất khá nhiều nhưng các ngân hàng chỉ dừng lại ở việc “xử lý điểm” một vài vụ.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Luận văn: Thực trạng PL hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh.

Nội dung Chương 2 cho thấy pháp luật đã có những quy định và các chế tài xử lý cụ thể các hành vi vi phạm về hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh của các ngân hàng thương mại. Thêm vào đó, nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu, tác giả đã tìm hiểu về thực trạng hành vi của đề tài trong địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và cách xử lý hành vi vi phạm của các cơ quan có thẩm quyền. Từ đó tác giả đưa ra đánh giá về tình hình vi phạm khuyến mại cạnh tranh không lành mạnh theo quy định pháp luật hiện nay của các ngân hàng thương mại tại Thành phố Hồ Chí Minh. Cũng từ đây, tác giả nhận thấy pháp luật hiện hành đối với vấn đề này còn nhiều bất cập và chưa thực sự đáp ứng kịp với xu hướng ngày càng tăng của hành vi vi phạm trên. Chính từ nhận định cá nhân tác giả đã tạo nên động lực thúc đẩy sự tìm tòi của tác giả đối với các bài báo tài chính và các thông tin từ Bộ Tài chính liên quan đến các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật đối với cạnh tranh không lạnh mạnh. Qua đó, tác giả phân tích, rút kinh nghiệm, đúc kết và hoàn thiện lập luận của bản thân; Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật đối với hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh, từ đó mà được hoàn thiện. Luận văn: Thực trạng PL hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Giải pháp PL hoạt động khuyến mại nhằm cạnh tranh

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993