Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL giảng dạy Tiếng Anh tại trường tiểu học hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh tại trường các tiểu học ở thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1 Khái quát tình hình kinh tế – xã hội, giáo dục tiểu học tại địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương
2.1.1. Tình hình kinh tế – xã hội
Kể từ khi tái lập theo quyết định 58/1999/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 1999 của Chính phủ, đến nay đã được 20 năm, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã có những sự phát triển vượt bậc về kinh tế xã hội. Với vị trí địa lý thuận lợi cho sự giao lưu kinh tế, phía Đông giáp quận 9, thành phố Hồ Chí Minh; Tây giáp thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương; Nam giáp quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh; Bắc giáp thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Đồng thời thị xã cũng là cửa ngõ quan trọng tạo nên sự giao lưu kinh tế giữa các tỉnh phía Nam với các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và các tỉnh phía Bắc. Cùng với đó là chính sách mở cửa, khuyến khích đầu tư của lãnh đạo tỉnh, thị xã đã thu hút được hàng nghìn nhà đầu tư trong và ngoài nước đến, xây dựng nhà máy, tuyển dụng lao động và tham gia sản xuất, kinh doanh.
Hiện thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương hiện trung nhiều khu chế xuất và gần chục khu công nghiệp đã đi vào hoạt động dẫn đến nhu cầu lao động rất lớn, kể cả lao động phổ thông và lao động tri thức. Điều này tạo nên sự thách thức lớn trong việc giữ vững ổn định xã hội. Vì vậy, trong thời gian qua chính quyền tỉnh nói chung và thị xã nói riêng đã luôn quan tâm chăm lo đời sống xã hội, chăm lo nhà ở và các chính sách an sinh xã hội, an toàn cho người dân. Các lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, xúc tiến du lịch, giao lưu văn hóa trên địa bàn thị xã cũng được thường xuyên tổ chức tạo nơi vui chơi, giao lưu giữa người dân, bạn bè quốc tế.
Với sự đồng bộ từ chính sách đến thực tiễn, thị xã Dĩ An nói riêng đã góp phần vào sự thành công của đất nước trong sự phát triển kinh tế, bảo đảm an ninh xã hội, tạo cơ hội để con người phát triển. Đây là điều kiện cũng là động lực để thị xã Dĩ An đầu tư phát triển giáo dục tại địa phương, nhằm đáp ứng yêu cầu mới về trình độ nguồn nhân lực, vừa góp phần tạo sự ổn định, phát triển bền vững nền kinh tế – xã hội địa phương trong thời gian tới.
2.1.2. Tình hình giáo dục tiểu học
Với sự chỉ đạo đổi mới giáo dục của Đảng được thể hiện qua Nghị quyết số 29 của Ban chấp hành Trương ương Đảng khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế”, ngành giáo dục Bình Dương nói chung và thị xã Dĩ An nói riêng đã nỗ lực không ngừng vận dụng những điểm mạnh, khắc phục những khó khăn, tổn tại để nâng cao chất lượng dạy học ở tất cả các cấp, trong đó có cấp tiểu học (TH). Mạng lưới trường TH được xây dựng rộng khắp, riêng tại thị xã Dĩ An đã có đến 20 trường TH, qua đó đã dần đáp ứng được nhu cầu giáo dục theo yêu cầu đổi mới hiện nay, đảm bảo chăm lo tốt đời sống giáo dục cho mọi trẻ em trong độ tuổi đến trường tại thị xã. Luận văn: Thực trạng QL giảng dạy Tiếng Anh tại trường tiểu học.
Đến năm học 2024 – 2025 địa bàn thị xã Dĩ An 10/20 trường đạt chuẩn Quốc gia – tỷ lệ 50% gồm TH Tân Đông Hiệp, TH Nguyễn Bỉnh Khiêm, TH Dĩ An, TH Kim Đồng, TH Lê Quý Đôn, TH Đông Hòa, TH Nguyễn Khuyến, TH Bình An, TH An Bình, TH Đoàn Thị Điểm (bảng 2.1).
- Bảng 2.1 : Số lượng CB, GV, NV, HS các trường TH năm học 2024 – 2025
Được sự quan tâm của các cơ quan chính quyền, các trường TH trên địa bàn dần được đầu tư cơ sở vật chất (CSVC), trang thiết bị đảm bảo về số lượng và chất lượng theo hướng chuẩn hóa nhằm nâng cao chất lượng công tác dạy học, đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh và giảng dạy của giáo viên (bảng 2.2). Với những điều kiện trên ngành giáo dục thị xã Dĩ An đã cơ bản giải quyết được các nhiệm vụ trọng tâm được cấp quản lý giao cho đối với các cơ sở đào tạo trong phạm vi quản lý, trong đó có cấp TH. Từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đào tạo trong toàn thị xã, góp phần đẩy mạnh chất lượng giáo dục tỉnh Bình Dương thời gian qua.
Về lực lượng giáo dục: Tỉ lệ đạt chuẩn của GV dạy lớp là 100%; CBQL là 100%; Tỉ lệ trên chuẩn của GV dạy lớp là 90,22%; CBQL là 100%. Điều này cho thấy trình độ của cán bộ, giáo viên hiện đảm bảo chuẩn và trên chuẩn theo quy định hiện nay của ngành giáo dục (bảng 2.2). Bên cạnh đó, giáo dục tiểu học tại thị xã còn một số hạn chế như vẫn còn 10 trường tiểu học chưa đạt chuẩn quốc gia; Học sinh có tỷ lệ tăng cơ học quá nhanh từ việc nhập cư lao động gây áp lực về trường lớp; Sĩ số học sinh quá cao ảnh hưởng đến chất lượng công tác dạy học; Một số trường có trang thiết bị, đồ dùng dạy học được đầu tư đã lâu, có dấu hiệu xuống cấp dẫn đến hiệu quả sử dụng thấp, không đảm bảo cho hoạt động dạy học; cơ sở vật chất, phòng học, phòng chức năng ở một số trường xuống cấp và không đúng quy cách do thời gian sử dụng đã lâu.
- Bảng 2.2: Trình độ cán bộ, giáo viên các trường TH năm học 2024 – 2025
Các nguồn kinh phí ngoài ngân sách của nhà trường, chủ yếu từ sự hỗ trợ địa phương, các nguồn xã hội hóa, so với nhu cầu xây dựng, mua sắm trang thiết bị còn hạn chế nên còn khó khăn trong trong việc triển khai công tác dạy học lấy học sinh (HS) làm trung tâm theo tinh thần đổi mới giáo dục hiện nay. Điều này tác động đến mục tiêu đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động dạy học nói chung và hoạt động dạy học tiếng Anh nói riêng ở các trường TH.
2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng Luận văn: Thực trạng QL giảng dạy Tiếng Anh tại trường tiểu học.
2.2.1. Mẫu nghiên cứu
Tổng số lượng giáo viên tiếng Anh tại 20 trường tiểu học trên địa bàn thị xã Dĩ An tính đến đầu năm học 2024 – 2025 là 79 GV, trung bình khoảng 4 GV/ trường (bảng 2.3). Tuy nhiên GV ở các trường là không đều, vì vậy để đảm bảo dữ liệu thu thập được mang tính khách quan, đảm bảo độ tin cậy để phân tích và khả năng đại diện cho mẫu tác giả lựa chọn là toàn bộ 20 trường.
- Bảng 2.3: Thống kê về GV tiếng Anh các trường TH năm học 2024 – 2025
Đối tượng khảo sát mà nghiên cứu lựa chọn là các cán bộ quản lý (CBQL) bao gồm HT, phó HT với số lượng là 68 CBQL; tổ trưởng bộ môn Tiếng Anh và giáo viên tiếng Anh (GVTA) trong các trường với số lượng là 79 mẫu. Tổng số mẫu là 147 mẫu. Tác giả sẽ thực hiện khảo sát tới tất cả các mẫu, vì vậy số phiếu được phát ra sẽ là 147 phiếu.
2.2.2. Cách thức khảo sát
Tác giả chuẩn bị đầy đủ phiếu khảo sát với số lượng dự phòng, tổng số phiếu là 200 phiếu. Tác giả tiếp cận đến các trường TH ở thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, xin phép ban giám hiệu nhà trường, trình bày lý do và xin được thực hiện cuộc phỏng vấn đối với CBQL, GVTA và HS trong nhà trường về quản lý HĐDH tiếng Anh với mục đích thực hiện nghiên cứu khoa học quản lý để tránh tâm lý e ngại của BGH. Sau khi được sự chấp thuận, tác giả tiến hành xin thông tin liên lạc về CBQL trong nhà trường, tổ trưởng môn tiếng Anh, GVTA, HS.
Đối với CBQL, tổ trưởng môn tiếng Anh, GVTA tác giả sử dụng hình thức phỏng vấn trực tiếp tại trường hoặc tại nhà riêng, liên hệ phỏng vấn qua số điện thoại, gửi thư phỏng vấn đến email hoặc tài khoản mạng xã hội để nhờ đánh giá ý kiến.
Đối với HS tác giả thực hiện phỏng vấn tại lớp, xin phép nhà trường cho thực hiện với đối tượng KS trong giờ ra chơi, giờ sinh hoạt lớp, hoặc xin nhà trường sắp xếp thời gian phù hợp khoảng 15 phút / lớp để thực hiện đánh giá ý kiến.
Thời gian thực hiện khảo sát tương ứng theo lịch trình đã đề cập trong kế hoạch nghiên cứu. Hết thời gian này tác giả sẽ tổng kết số liệu để phân tích, đánh giá dữ liệu thu thập được phục vụ cho nghiên cứu.
2.2.3. Cách thức xử lý số liệu Luận văn: Thực trạng QL giảng dạy Tiếng Anh tại trường tiểu học.
Phiếu khảo sát sau khi thu thập được sẽ được làm sạch và sử dụng các phần mềm chuyên dụng trong phân tích số liệu để phân tích gồm Excel 2019 và phần mềm SPSS 22. SPSS 22 là phần mềm phân tích số liệu liên kết được dễ dàng với phần mềm Excel của hãng phần mềm máy tính Microsofe và khá dễ sử dụng với các nhà không chuyên về đo lường trong giáo dục. Chính vì thế, trong nghiên cứu này tác giả sử dụng SPSS phân tích dữ liệu để có được kết quả nhanh chóng và chính xác. Các thông số cần phân tích bao gồm số lượng đánh giá, tỷ lệ %, trị số trung bình, độ lệch chuẩn, tần suất đánh giá. .
2.2.4. Kết quả quá trình khảo sát và thống kê mẫu
Kết quả khảo sát lực lượng CBQL; GVTA tác giả thu về 145 phiếu, trong đó có 141 phiếu có đủ dữ liệu để tiến hành các bước phân tích, chiếm tỷ lệ 96% số mẫu khảo sát mục tiêu. Tác giả thực hiện các phân tích gồm số lượng, tỷ lệ %, trị số trung bình, độ lệch chuẩn. Tác giả thực hiện thống kê đặc tính đối tượng khảo sát gồm giới tính, vị trí công tác, thâm niên giảng dạy, thâm niên quản lý, trình độ chuyên môn và tình hình đạt chuẩn quốc gia của trường. Cụ thể được trình bày trong bảng 2.4:
Về thành phần giới tính: kết quả phân tích cho thấy tỷ lệ nữ giới chiếm phần lớn với 88,7%, trong khi đó số lượng nam chỉ chiếm 11,3% số lượng mẫu khảo sát là 141 mẫu. Qua số liệu này có thể đánh giá tại các trường TH số lượng CBQL, GV nữ chiếm đa số, đây là một đặc thù trong công tác nhân sự ở các trường TH.
- Bảng 2.4: Thống kê đặc tính mẫu là CBQL, GVTA
Về vị trí công tác: Có 44,0% mẫu là GVTA; 11,3% là Tổ trưởng môn tiếng Anh; 13,5% là HT và 31,2% là phó hiệu trường.
Về thâm niên giảng dạy của GVTA: Qua số liệu phân tích 78 GVTA cho thấy các GVTA có thâm niên có sự phân bổ rộng. Cụ thể thâm niên dưới 05 năm chiếm 38,5% mẫu; 05 – 10 năm chiếm 20,5% mẫu; trong khi đó thâm niên 10 – 15 năm chiểm 19,2% và thâm niên trên 15 năm chiếm 21,8%. Qua số liệu cũng cho thấy lực lượng GV trẻ tuổi, mới tham gia giảng dạy chiếm tỷ lệ khá cao, điều này cho thấy các trường đã có sự chuẩn bị cho sự xu hướng đổi mới chất lượng giáo dục.
Về thâm niên quản lý của CBQL: Qua số liệu phân tích 63 CBQL cho thấy các CBQL có thâm niên tương đối lâu. Cụ thể không có thâm niên dưới 05 năm; từ 05 – 10 năm chỉ chiếm 15,9% mẫu; trong khi đó thâm niên 10 – 15 năm chiểm 30,2% và thâm niên trên 15 năm chiếm 54,0%. Điều này đảm bảo các quy định về thâm niên, kinh nghiệm của CBQL theo quy định của ngành giáo dục. Luận văn: Thực trạng QL giảng dạy Tiếng Anh tại trường tiểu học.
Về thành phần trình độ: Cho thấy trình độ chiếm tỷ lệ lớn nhất là Đại học (cử nhân) với 83,7% số mẫu; tiếp đến là Cao đẳng với 13,5% mẫu; còn lại là Thạc sĩ với 2,8% mẫu. Không có trình độ Trung cấp, điều này cho thấy các trường đã dần nâng chuẩn GV và CBQL theo các quy định mới về trình độ của GV, CBQL trường TH để đạt chuẩn và trên chuẩn. Đây là thuận lợi trong việc triển khai các phương pháp dạy học mới trong các môn học, trong đó có môn tiếng Anh.
Về trường đạt chuẩn quốc gia: Kết quả cho thấy số lượng đối tượng khảo sát đang quản lý, dạy học trong các trường TH đạt chuẩn và chưa đạt chuẩn có số lượng gần tương đương nhau. Điều này phù hợp với thực tế là hiện nay trên địa bàn có 10 trường TH đạt chuẩn và 10 trường chưa đạt chuẩn, sự phân bổ này cũng giúp dữ liệu thu thập được có tính đại diện cao, nâng cao tính chính xác của dữ liệu thu thập.
2.3. Thực trạng hoạt động dạy học tiếng Anh tại các trường TH ở thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương
2.3.1. Thực trạng hoạt động dạy
- Nhận thức của CBQL, GVTA về môn tiếng Anh trong trường Tiểu học
Nhận thức của CBQL, GVTA về vai trò của môn tiếng Anh đối với học sinh Tiểu học: Kết quả khảo sát ý kiến CBQL, GVTA về vai trò của môn tiếng Anh được thể hiện ờ biểu đồ 2.1. Qua phân tích số liệu khảo sát về nhận thức của CBQL, GVTA về vai trò của môn tiếng Anh đối với HS tiểu học cho thấy đa số có đánh giá cao về vai trò của môn tiếng Anh đối với HS tiểu học. Cụ thể đánh giá Rất quan trọng (RQT) chiếm 36,2% số phiếu; Quan trọng (QT) chiếm 29,1% số phiếu; Ít Quan trọng (IQT) chiếm 25,5% số phiếu; Không Quan trọng (IQT) chiếm 9,2% số phiếu. Bên cạnh đó vẫn còn một số CBQL, GVTA còn xem nhẹ vai trò môn tiếng Anh đối với HS tiểu học. Điều này là do một số CBQL, GVTA cho rằng môn tiếng Anh ít có sự vận dụng thực tế ở lứa tuổi, trong nhà trường, còn đặt nặng các môn khoa học tự nhiên như Toán, tiếng Việt. Ngoài ra, cha mẹ HS cũng không quan tâm đến giáo dục tiếng Anh, điều này cũng ảnh hưởng đến tâm lý CBQL, GVTA trong nổ lực quản lý và dạy học môn tiếng Anh trong nhà trường. Từ đó có thể gây cản trở sự cải tiến hoạt động dạy học môn tiếng Anh trong nhà trường.
- Biểu đồ 2.1: Ý kiến của CBQL và GV về vai trò của môn tiếng Anh
Nhận thức CBQL, GVTA kỹ năng quan trọng nhất khi học tiếng Anh giai đoạn Tiểu học: Kết quả khảo sát ý kiến của CBQL và GVTA về kỹ năng quan trọng nhất khi học tiếng Anh ở tiểu học thể hiện ở biểu đồ 2.1. Từ biểu đồ 2.1 cho thấy, các đánh giá về các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết có số lượng gần bằng nhau, có chênh lệch hơn về phía kỹ năng nghe và nói. Điều này phù hợp với quy định về nội dung chương trình tiếng Anh cấp tiểu học theo đó hình thành cho học sinh TH các kỹ năng giao tiếp cơ bản, đơn giản bằng tiếng Anh trong giao tiếp hàng ngày ở nhà trường và gia đình: kỹ năng nghe, nói, đọc, viết; trong đó nhấn mạnh hai kỹ năng nghe và nói. Luận văn: Thực trạng QL giảng dạy Tiếng Anh tại trường tiểu học.
- Biểu đồ 2.2: Đánh giá về kỹ năng quan trọng nhất trong Tiếng Anh tiểu học
2.3.1.2 Hoạt động dạy
Kết quả đánh giá về hoạt động dạy của GVTA được trình bày trong bảng 2.5:
- Bảng 2.5: Đánh giá về hoạt động dạy của giáo viên
Qua bảng 2.5 cho thấy các đánh giá hoạt động dạy của GVTA có sự phân bổ không giống nhau ở các nội dung, cụ thể như sau:
Nội dung GV lập chi tiết đến từng bài dạy, phù hợp với kế hoạch của nhà trường có đánh giá với mức ITX là 34,0%; TX là 29,8%; RTX là 36,2% chiếm số lượng lớn nhất; không có đánh giá KTH. Qua đó cho thấy cho thấy nội dung này được đánh giá thực hiện đa phần ở mức TX và RTX. Theo quan sát thực tế tại các trường thì kế hoạch môn tiếng Anh được nhà trường ban hành dựa theo chương trình môn học, GVTA có nhiệm vụ lập kế hoạch chi tiết kế hoạch dạy học đến từng tiết học, phù hợp với kế hoạch của nhà trường. Nội dung này được xem là công việc bắt buộc, vì vậy việc đánh giá đa phần ở mức TX, RTX là phù hợp. Các đánh giá kết quả thực hiện của nội dung này cũng có đa số ở Tốt và RT với 69,5% số phiếu, thể hiện nhà trường đang thực hiện đầy đủ quy định của ngành giáo dục đề ra trong tổ chức hoạt động dạy học môn tiếng Anh. Tuy nhiên nội dung này cũng có một phần đáng kể đánh giá thực hiện mức ITX, và kết quả mức TB. Điều này cho thấy các trường cần phải quan tâm.
Nội dung GV đảm bảo về chuyên môn, nghiệp vụ; nắm rõ nội dung, phương pháp dạy học tiếng Anh có 44 đánh giá ITX tương ứng với 31,2% số phiếu; 35 đánh giá TX tương ứng với 24,8% số phiếu; 62 đánh giá RTX tương ứng với 44,0% số phiếu. Nhìn vào số liệu trên có thể thấy các đánh giá từ mức TX trở lên chiếm đa số. Theo quan sát thực tế HĐDH tiếng Anh tại các trường thì hầu hết các đảm bảo về chuyên môn, nghiệp vụ; nắm rõ nội dung, phương pháp dạy học tiếng Anh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ dạy học. Ngoài ra, các trường cũng thường tổ chức hoạt động tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ để đảm bảo chất lượng GVTA. Hiện nay GVTA các trường TH trên địa bàn đều đạt chuẩn và trên chuẩn theo quy định của ngành giáo dục. Tuy nhiên, nội dung này cũng có một phần đáng kể đánh giá thực hiện mức ITX với 31,2%, và kết quả mức TB với 39,7% cho thấy các trường cần phải nổ lực hơn nữa để nâng cao hiệu quả nội dung này.
Nội dung GV được hướng dẫn, đào tạo về vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào quá trình dạy học có các đánh giá thực hiện quanh mức TX và kết quả thực hiện quanh mức Tốt. Theo quan sát thực tế, hiện các trường TH trên địa bàn đều thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn, hội thảo hướng dẫn, đào tạo về vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào quá trình dạy học, phù hợp với mục tiêu trong giai đoạn đổi mới giáo dục hiện nay. Qua đó các GV đã được nâng cao kiến thức, kỹ năng về các phương pháp dạy học tích cực và ứng dụng vào quá trình dạy học ở các trường, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng Anh. Luận văn: Thực trạng QL giảng dạy Tiếng Anh tại trường tiểu học.
Nội dung GV soạn thảo bài dạy đa dạng về nội dung, hình thức, các chủ điểm và chủ đề, tình huống giao tiếp hấp dẫn có 51 đánh giá ITX tương ứng với 36,2% số phiếu; 57 đánh giá TX tương ứng với 40,4% số phiếu; 33 đánh giá RTX tương ứng với 23,4% số phiếu. Nhìn vào số liệu có thể thấy mức đánh giá TX là lớn nhất, tiếp đến là đánh giá ITX cao hơn đánh giá RTX. Cũng theo quan sát nội dung một số bài dạy và buổi học tiếng Anh cho thấy sự thay đổi trong việc chuyên đổi phương pháp dạy học tuy được thực hiện nhưng còn một số hạn chế, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Trao đổi với mốt số hiệu trưởng thì được biết một số nguyên nhân như “nhiều GVTA chưa theo kịp sự thay đổi về phương pháp giáo dục mới, lấy người học làm trung tâm, sử dụng những phương pháp tích cực, hướng đến người học; sự hạn chế về CSVC, trang thiết bị ảnh hưởng đến sự đa dạng nội dung, hình thức, các chủ điểm và chủ đề, tình huống giao tiếp trong bài dạy”. Đây là một nội dung cần được chú ý nếu muốn nâng cao chất lượng hoạt động dạy tiếng Anh trong trường TH thời gian tới.
Nội dung GV được hỗ trợ trong quá trình dạy học, nhất là hỗ trợ GV mới có các đánh giá thực hiện phân bổ đa phần mức TX và RTX; kết quả thực hiện phân bổ đa phần mức Tốt và RT. Trong thực tế quản lý dạy học môn tiếng Anh, nội dung này nằm trong hoạt động giáo dục chung của nhà trường, các GVTA luôn được Ban giám hiệu hỗ trợ tốt theo các chính sách dành cho GV, các GV mới được giúp đỡ làm quen với môi trường dạy học và hòa nhập với văn hóa nhà trường, tạo điều kiện để GV hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên số lượng đánh giá thực hiện mức ITX với 41,8%, và kết quả mức TB với 44,0% cho thấy còn nhiều đối tượng chưa hài lòng với nội dung này.
Nội dung Có cơ chế khuyến khích, tạo động lực cho GV tiếng Anh có kết quả tốt trong dạy học, có các đánh giá thực hiện phân bổ quanh mức TX và kết quả thực hiện quanh mức Tốt. Thực tế các trường hiện nay đều thực hiện tốt quy chế, quy định về đánh giá GV, trong đó có GVTA, áp dụng các quy chế khen thưởng, động viên đối với các GV có thành tích trong hoạt động dạy học, trao đổi, giao lưu, tham gia các phong trào thi đua của trường, của ngành. Ngoài ra, một số trường còn có cơ chế hỗ trợ GV trong cuộc sống thông qua các hoạt động công đoàn, các hỗ trợ trong nhà trường khác. Tuy nhiên số lượng đánh giá thực hiện mức ITX với 36,2%, và kết quả mức TB với 41,8% cho thấy còn nhiều CBQL, GV chưa hài lòng với nội dung này.
Về nội dung Chất lượng dạy học đáp ứng yêu cầu chương trình đã đề ra cũng có các đánh giá thực hiện đa phần ở mức TX và RTX; kết quả thực hiện mức Tốt và RT. Tuy nhiên vẫn còn một số lượng không nhỏ các đánh giá mức ITX và kết quả TB. Điều này cho thấy các trường mới chỉ đảm bảo chất lượng giáo dục theo yêu cầu mà chưa phải là đích cuối cùng vì chất lượng dạy học tiếng Anh tuy được cải thiện, nâng cao qua từng năm nhưng chưa hoàn toàn đáp ứng yêu cầu về chất lượng đề ra của công tác dạy học môn tiếng Anh hiện nay.
Tóm lại, qua phân hoạt động dạy môn tiếng Anh cho thấy các GVTA đã tuân thủ đầy đủ các quy định của nhà trường trong công tác dạy học bộ môn như lập kế hoạch bày dạy, đảm bảo chuyên môn nghiệp vụ, vận dụng các phương pháp dạy học tích cực, soạn thảo bài dạy, được nhà trường hỗ trợ trong quá trình dạy học, nhà trường có cơ chế khuyến khích GV, đảm bảo chất lượng hoạt động dạy học. Bên cạnh đó hoạt động dạy học của GV còn một số hạn chế như bài dạy chưa đảm bảo tính đa dạng, còn đơn điệu trong sử dụng một số phương pháp dạy học… Điều này có nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan. Vì vậy để nâng cao chất lượng hoạt động dạy môn tiếng Anh, các trường cần phải xây dựng và thực hiện một số biện pháp phù hợp.
2.3.2. Thực trạng hoạt động học môn tiếng Anh Luận văn: Thực trạng QL giảng dạy Tiếng Anh tại trường tiểu học.
Kết quả đánh giá hoạt động học môn tiếng Anh của HS được thể hiện trong bảng 2.6. Qua đó cho thấy học sinh ở các trường TH hiện chưa có nhiều cơ hội để được thể hiện sự khác biệt năng lực, được tham gia vào quá trình đánh giá kết quả, ít cơ hội được trải nghiệm, ít hứng thú với giờ học và kết quả không phản ánh thực sự các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết mà chương trình tiếng Anh TH hướng đến. Cụ thể:
Về nội dung HS được làm trung tâm của quá trình dạy học, được thể hiện sự khác biệt về năng lực, sở thích, nguyện vọng và các điều kiện học tập có 98 đánh giá ITX tương ứng với 69,5% số phiếu; 43 đánh giá TX tương ứng với 30,5% số phiếu. Số liệu này thể hiện mức độ thực hiện nội dung không được đánh giá cao. Trong các phân tích ở trên đã cho thấy tuy các trường đã vận dụng các phương pháp dạy học lấy trẻ làm trung tâm, nhưng chỉ ở mức độ ít thường xuyên, phương pháp dạy học truyền thụ vẫn chiếm phần lớn trong hoạt động, dẫn đến kết quả đánh giá không cao với mức độ đánh giá kết quả thực hiện mức TB chiếm cao nhất, lên đến 61,7%. Kết quả quan sát thực tế dạy học ở một số tiết tiếng Anh cho thấy, HS vẫn chưa có cơ hội được thể hiện sự khác biệt về năng lực, sở thích, nguyện vọng và các điều kiện học tập mà mục tiêu của việc đổi mới phương pháp dạy học hướng đến.
- Bảng 2.6: Đánh giá hoạt động học tiếng Anh của học sinh
Hai nội dung Học sinh được tham gia vào quá trình đánh giá kết quả học tập; HS được tạo cơ hội trải nghiệm thực tế, tăng cường tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình học tập có các đánh giá KTH và ITH chiếm tỷ lệ cao, trong khi các đánh giá tốt hơn hạn chế. Điều này cho thấy vẫn còn một số trường chưa thực sự thực hiện tốt phương pháp dạy học lấy trẻ làm trung tâm, hướng đến người học, tạo cơ hội để HS phát huy tính tự chủ, sáng tạo trong học tập. Trao đổi với một số GV thì được biết “nguyên nhân là do nhiều CBQL, GV vẫn chưa nắm bắt được hoàn toàn cách thức quản lý, tổ chức thực hiện phương pháp dạy học mới; tình trạng thiếu giáo viên; thiếu CSVC trang thiết bị phù hợp”.
Nội dung HS hứng thú với các giờ tiếng Anh trong trường có 84 đánh giá ITX tương ứng với 59,6% số phiếu; 57 đánh giá TX tương ứng với 40,4% số phiếu. Số liệu này cho thấy HS chưa thực sự hứng thú với các giờ học tiếng Anh. Khi trò chuyện với một số học sinh tại các trường khảo sát, phần lớn các em cho rằng “giờ học tiếng Anh giáo viên chỉ cho rèn các từ, mẫu câu trong tập, không có hình ảnh minh hoạ, không có Flashcard” lớp học ít hấp dẫn, thu hút người học tham gia. Như vậy, trong giờ học tiếng Anh, giáo viên ít thường xuyên tạo cho HS cảm giác hứng thú. Vì vậy kết quả thực hiện có phần hạn chế khi đánh giá TB chiếm phần lớn với 57,4% số phiếu. Luận văn: Thực trạng QL giảng dạy Tiếng Anh tại trường tiểu học.
Nội dung Kết quả đánh giá HS phản ánh thực sự các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết có giá mức thực hiện ITX chiếm cao nhất với 58,9% trong khi các lựa chọn khác gần bằng nhau. Thực tế quá trình quan sát một số buổi học tiếng Anh cho thấy GVTA vẫn tập trung vào việc dạy viết từ vựng và ngữ pháp mà ít chú trọng đến dạy các kỹ năng nghe, nói, đọc. Trò chuyện với một số GVTA thì được cho biết “kết quả bài thi định kỳ vẫn là cơ sở chính để đánh giá kết quả học tập môn tiếng Anh của HS”. Điều này cho thấy kết quả đánh giá HS trong môn tiếng Anh chưa thực sự có sự phân bổ đều cho các kỹ năng, chủ yếu chỉ dựa vào bài kiểm tra (kỹ năng viết) để đánh giá, vì thế các kỹ năng còn lại không được đánh giá đúng.
Theo trò chuyện với một số HS thì phần lớn các em cho rằng “GVTA chỉ cho rèn các từ, mẫu câu trong tập, ít cho HS đọc, nghe và nói; và trong các khả năng tốt nhất của HS là kỹ năng viết”.Về những khó khăn khi học tiếng Anh trong trường thì các HS cho rằng có nhiều khó khăn, nguyên nhân xuất phát từ nhiều phía. Thứ nhất, là nội dung sách giáo khoa chưa cuốn hút, dễ học. Thứ hai, GVTA sử dụng tiếng Việt quá nhiều; đọc không chuẩn âm; không tổ chức cho HS trao đổi, kiểm chứng kỹ năng; cách dạy không phù hợp, khô khan; chủ yếu sử dụng phương pháp dạy đọc, ghi – chép. Thứ ba, CSVC và các trang thiết bị hỗ trợ dạy học tiếng Anh chưa phù hợp, còn thiếu nhiều. Cũng chính vì thế mà qua tiếp xúc với một số HS thì được biết “môn Tiếng Anh là môn học khó, và nhiều HS không thích học môn này, cho rằng đây là môn học khô khan, nhàm chán”. Điều này phù hợp với nhận định của CBQL, GV về hoạt động dạy, trong đó một số hạn chế trong việc đổi mới phương pháp dạy học, thiếu GV chuyên môn phù hợp với yêu cầu mới, thiếu thốn về CSVC, trang thiết bị đã dẫn đến hoạt động dạy học tiếng Anh ở trường còn chưa thu hút HS.
Kết luận: Kết quả phân tích cho thấy hoạt động học từ đánh giá của CBQL, GV và HS cho thấy việc đổi mới phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm vẫn còn chậm, phương pháp dạy đọc, ghi – chép còn sử dụng nhiều; tình trạng thiếu giáo viên tiếng Anh đủ chuyên môn, trình độ; thiếu CSVC trang thiết bị phù hợp cho hoạt động dạy học tiếng Anh. GV bị hạn chế về hình thức, phương pháp dạy học, soạn thảo bài giảng, tổ chức hoạt động dạy. HS ít có cơ hội thể hiện sự khác biệt năng lực, sở thích, nguyện vọng, phát triển các kỹ năng học tập tiếng Anh, qua đó giảm sự chủ động, hứng thú, sáng tạo trong quá trình dạy học tiếng Anh ở trường. Điều này làm cho hoạt động dạy học của GV và HS bị hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động dạy học tiếng Anh trong nhà trường.
2.3.3. Thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học tiếng Anh Luận văn: Thực trạng QL giảng dạy Tiếng Anh tại trường tiểu học.
CSVC, trang thiết bị là một phần quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng hoạt động dạy học môn tiếng Anh trong nhà trường. Các trường cần phải trang bị một số phòng chức năng phục vụ HĐDH tiếng Anh, trang bị sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, các thiết bị dạy học cần thiết như băng, đĩa máy cassette, đĩa CD, máy computer, mạng Internet, tranh ảnh và một số vật dụng, đồ dùng học tập hỗ trợ. Ngoài ra các cấp quản lý đã tổ chức một số đợt tập huấn về công tác sử dụng các thiết bị, đồ dùng dạy học hiện đại đã được trang bị, vì thế khả năng dạy học của giáo viên ngày càng được nâng lên về chất, giúp nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh trong các trường.
- Bảng 2.7 : Đánh giá cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học tiếng Anh
Bảng 2.7 là kết quả khảo sát ý kiến CBQL và GV về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học tiếng Anh. Nhìn vào bảng 2.7, chúng ta thầy, tại các trường TH trên địa bàn thị xã Dĩ An còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học tiếng Anh. Điều này là do kế hoạch đầu tư xây dựng, mua sắm chưa đồng bộ, chỉ tập trung mua sắm một số thiết bị đảm bảo mục tiêu cung cấp kiến thức, nội dung theo chương trình đã quy định cho học sinh, rất ít các thiết bị hiện đại; một số thiết bị xuống cấp, công tác sử dụng và bảo quản không hiệu quả; Số lượng và chất lượng các sách tham khảo, tranh ảnh, một số vật dụng, đồ dùng học tập hỗ trợ hạn chế; Nhiều trường chưa có phòng chức năng phục vụ HĐDH tiếng Anh. Theo đó các nội dung Nhà trường có các phòng chức năng phục vụ HĐDH tiếng Anh; Nhà trường có đầy đủ tài liệu và phương tiện dạy học như sách giáo khoa, tài liệu tham khảo; Nhà trường trang bị thiết bị nghe nhìn, và các phương tiện kĩ thuật để hỗ trợ việc học tiếng Anh thông qua các chủ điểm và chủ đề (máy cát-xét, đĩa CD, máy computer, mạng Internet) đều có các mức đánh giá thực hiện KTH hoặc ITX chiếm tỷ lệ cao nhất và kết quả thực hiện có mức đánh giá TB cao nhất.
Tóm lại, Kết quả này một lần nữa khẳng định sự thiếu về lượng và chất, tính đồng bộ, của CSVC trang thiết bị phục vụ hoạt động dạy học tiếng Anh trong các trường TH thị xã Dĩ An hiện nay. Vì vậy, bên cạnh các biện pháp về hoạt động dạy, hoạt động học thì việc đầu tư xây dựng CSVC, mua sắm trang thiết bị dạy học hiện đại và đồng bộ là điều cần phải được ưu tiên thực hiện để nâng cao chất lượng hoạt động dạy học tiếng Anh tại các trường TH trên địa bàn thị xã Dĩ An.
Thực trạng hoạt động dạy học tiếng Anh bao gồm thực trạng dạy – học – CSVC tại các trường TH ở thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, đây chính là thể hiện kết quả của hoạt động quản lý của nhà trường. Tiếp theo tác giả sẽ đi phân tích công tác quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh được các trường thực hiện như thế nào, từ đó tìm ra các điểm mạnh, điểm yếu và các nguyên nhân.
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại các trường tiểu học ở thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL giảng dạy Tiếng Anh tại trường tiểu học.
2.4.1. Lập kế hoạch hoạt động dạy học tiếng Anh
Lập kế hoạch hoạt động dạy học trong môn tiếng Anh chính là cơ sở để nhà trường quản lý hoạt động dạy học của GV, là cơ sở để GV thực hiện chuỗi hoạt động dạy và để HS triển khai hoạt động học theo đúng mục tiêu đã đề ra. Qua đó xác định mức độ hoàn thành công việc của mỗi thành viên. Kế hoạch môn học được GV thực hiện dựa trên kế hoạch chung của nhà trường đã xây dựng căn cứ vào nội dung chương trình môn học mà ngành giáo dục đã ban hành.
Quản lý lập kế hoạch hoạt động dạy học tiếng Anh có chủ thể là lãnh nhà trường, cụ thể là hiệu trưởng nhà trường. Các nội dung quản lý bao gồm: Nghiên cứu các quy định của ngành giáo dục, xác định nội dung, hình thức, phương pháp dạy học môn học; Xác định về mục tiêu, thuận lợi và khó khăn, các nguồn lực, thời gian thực hiện, kết quả hướng đến của nhà trường; Lập các kế hoạch dài hạn từ 3-5 năm; Lập kế hoạch chi tiết các hành động cụ thể trong một thời gian ngắn như: kế hoạch năm, học kỳ, tháng, tuần, tiết học; Theo dõi và điều chỉnh kế hoạch khi cần thiết. Kết quả đánh giá công tác lập kế hoạch hoạt động dạy học tiếng Anh tại các trường TH ở thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương được trình bày trong bảng 2.8. Cụ thể:
- Bảng 2.8: Công tác lập kế hoạch hoạt động dạy học tiếng Anh
Nội dung Nghiên cứu các quy định, xác định nội dung, hình thức, phương pháp dạy học có 60 đánh giá ITX tương ứng với 42,6% số phiếu; 37 đánh giá TX tương ứng với 26,2% số phiếu và 44 đánh giá TX tương ứng với 31,2% số phiếu. Số liệu trên cho thấy số lượng đánh giá TX và RTX chiếm khá cao. Qua trao đổi với một số hiệu trưởng và GVTA thì được cho biết “các lãnh đạo nhà trường trước khi thực hiện xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh luôn tìm hiểu các quy định, xác định nội dung chương trình, hình thức, phương pháp dạy học tương ứng, phù hợp”. Nhờ đó nâng cao được chất lượng công tác lập kế hoạch HĐDH tiếng Anh. Tuy nhiên về kết quả thực hiện nội dung này 52,5% đánh giá ITX; 29,8% đánh giá TX và 17,7% đánh giá TX cho thấy kết quả thực hiện không cao.
Nội dung Nghiên cứu, tìm hiểu và xác định về mục tiêu; thuận lợi và khó khăn; các nguồn lực; thời gian thực hiện; kết quả hướng đến có 56,0% đánh giá ITX; 26,2% đánh giá TX và 17,7% đánh giá TX cho thấy còn rất nhiều trường thực hiện nội dung này ít thường xuyên. Hiện nay các trường đều thực hiện việc dự báo tình hình tổ chức hoạt động dạy học trong nhà trường, điều kiện tài nguyên trong nhà trường, xác định về mục tiêu; thuận lợi và khó khăn; thời gian thực hiện; kết quả hướng đến. Tuy nhiên các trường đều bị ảnh hưởng lớn từ các mục tiêu của ngành giáo dục và phải hướng đến mục tiêu này, các mục tiêu thường ít thay đổi qua các năm nên nội dung này thường chỉ được lập một lần và sử dụng trong nhiều năm. Điều này làm hạn chế sự đáp ứng sự đổi mới của bảng kế hoạch HĐDH môn tiếng Anh của các trường, vì vậy kết quả đánh giá nội dung này có mức TB chiếm đến 57,4% số phiếu. Luận văn: Thực trạng QL giảng dạy Tiếng Anh tại trường tiểu học.
Nội dung Lập các kế hoạch dài hạn từ 3-5 năm được đánh giá mức thực hiện ITX có 65,2% đánh giá ITX ở mức độ thực hiện; và 72,3 đánh giá TB với kết quả đạt được. Điều này cho thấy các trường chưa thực sự quan tâm đến lập kế hoạch HĐDH tiếng Anh dài hạn từ 3-5 năm. Theo đánh giá của một số CBQL thì “nguyên nhân của vấn đề này là do các trường chỉ tập trung vào các kế hoạch ngắn hạn; thứ hai là do chương trình tiếng Anh đang trong quá trình điều chỉnh, đổi mới vì thế các trường không có cơ sở để lập kế hoạch dài hạn”.
Nội dung Lập kế hoạch chi tiết các hành động cụ thể trong một thời gian ngắn như:kế hoạch học kỳ, kế hoạch tháng, kế hoạch tuần, kế hoạch tiết học có 52,5% đánh giá ITX, 38,3% đánh giá TX và 9,2% đánh giá RTX về mức độ thực hiện; và 57,4% đánh giá TB, 28,4% đánh giá Tốt và 14,2% đánh giá RT về kết quả đạt được. Điều này cho thấy các trường đang thực hiện tương đối tốt công tác lập kế hoạch dạy học môn tiếng Anh với thời hạn năm, học kỳ, tháng, tuần, tiết học. Các trường khi lập kế hoạch HĐDH tiếng Anh dựa vào các quy định của cấp quản lý về nội dung chương trình, hình thức, phương pháp dạy học môn học để ban hành kế hoạch dạy học trong năm, học kỳ, tháng. Tiếp đến GVTA dựa vào kế hoạch năm học của nhà trường để xây dựng kế hoạch chi tiết tuần và cho từng tiết học. Điều này đảm bảo mục tiêu dạy học của nhà trường phù hợp với mục tiêu mà ngành giáo dục đã đề ra. Tuy nhiên một hạn chế ở công tác này là việc GVTA ít chi tiết hóa các hình thức, phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực, chi tiết sử dụng các trang thiết bị hiện đại vào kế hoạch bài dạy. Khi được hỏi một số GVTA cho biết “nguyên nhân là do nhiều trường còn thiếu điều kiện CSVC, trang thiết bị chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ do đó mức độ chi tiết về hình thức, phương pháp dạy học còn hạn chế”.
Nội dung Theo dõi và điều chỉnh kế hoạch khi cần thiết có 56,0% đánh giá ITX, 21,3% đánh giá TX và 22,7% đánh giá RTX về mức độ thực hiện. Điều này cho thấy các trường đã thực hiện theo dõi và điều chỉnh kế hoạch ở các trường, nhiệm vụ được giao cho tổ tiếng Anh, GVTA thực hiện, kết quả thực hiện sẽ được báo cáo cho HT theo định kỳ và thường xuyên nhằm đảm bảo kế hoạch chung của nhà trường được thực hiện đầy đủ. Tuy nhiên nội dung chương trình tiếng Anh hiện nay rất ít thay đổi qua các năm, vì thế kế hoạch dạy học cũng ít khi phải điều chỉnh, vì vậy có đến 62,4% đánh giá TB, 19,9% đánh giá Tốt và 17,7% gia đình RT về kết quả đạt được của nội dung này.
Tóm lại, qua kết quả phân tích hoạt động xây dựng kế hoạch HĐDH môn tiếng Anh cho thấy đa số các nội dung của công tác lập kế hoạch có mức độ thực hiện chưa được đánh giá cao, nhất là nội dung lập kế hoạch dài hạn do nhà trường chưa quan tâm đúng mức. Ngoài ra, một hạn chế trong công tác lập kế hoạch môn tiếng Anh là mức độ chi tiết trong việc đưa các phương pháp, hình thức dạy học học theo hướng phát triển năng lực HS, và sử dụng nhiều thiết bị hiện đại vào kế hoạch bài dạy còn hạn chế do nhiều trường còn thiếu điều kiện CSVC, trang thiết bị phục vụ HĐDH tiếng Anh. Điều này tác động không tốt đến chất lượng công tác lập kế hoạch HĐDH môn tiếng Anh trong nhà trường, ảnh hưởng đến các công tác thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá kết quả HĐDH môn tiếng Anh của các trường.
Vì vậy trong thời gian tới để góp phần nâng cao chất lượng quản lý HĐDH tiếng Anh tại các trường TH ở thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương hiệu trưởng các trường TH cần phải chú trọng hơn đến hoạt động xây dựng kế hoạch môn học, đáp ứng yêu cầu và mục tiêu đổi mới giáo dục mà ngành giáo dục đã đề ra.
2.4.2. Tổ chức triển khai hoạt động dạy học tiếng Anh ở trường tiểu học thị xã Dĩ An Luận văn: Thực trạng QL giảng dạy Tiếng Anh tại trường tiểu học.
Tổ chức triển khai HĐDH tiếng Anh ở trường tiểu học là việc nhà trường tổ chức thực hiện các nội dung của bản kế hoạch được xây dựng, thống nhất và ban hành trong nhà trường. Để thực hiện đạt kết quả cao thì Hiệu trưởng trực tiếp hoặc thông qua Ban chỉ đạo các hoạt động giáo dục (HĐGD) tiến hành xây dựng và ban hành các quy định về dạy học tiếng Anh trong nhà trường; Xây dựng đội ngũ thực hiện và giao nhiệm vụ đến từng đơn vị, cá nhân; Hướng dẫn các đơn vị, cá nhân trong quá trình thực hiện nhằm đảm bảo chất lượng và mục tiêu kế hoạch được hoàn thành; bố trí CSVC, trang thiết bị phù hợp nhằm hỗ trợ HĐDH đạt kết quả mong muốn.
Trong quá trình tổ chức HĐDH môn tiếng Anh, hiệu trưởng hoặc Ban chỉ đạo HĐGD trong nhà trường sẽ điều phối sự phối hợp giữa các đơn vị, cá nhân như tổ trưởng bộ môn, GV bộ môn; và phương tiện liên quan đến việc thực hiện dạy học môn tiếng Anh như CSVC, trang thiết bị, thư viện để thực hiện HĐDH để kết quả đạt được là cao nhất.
Đánh giá hoạt động tổ chức thực hiện HĐDH môn tiếng Anh tại các trường TH ở thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương được thể hiện trong bảng 2.9. Cụ thể các nội dung được đánh giá như sau:
- Bảng 2.9: Đánh giá hoạt động tổ chức thực hiện HĐDH môn tiếng Anh
Nội dung Nhà trường ban hành các quy định về dạy học tiếng Anh trong nhà trường có 52,5% đánh giá ITX, 34,8% đánh giá TX và 19,9% đánh giá RTX về mức độ thực hiện. Điều này cho thấy các trường đã thực hiện tương đối tốt việc ban hành các quy định về dạy học tiếng Anh trong nhà trường. Các trường căn cứ vào các quy định từ các cấp quản lý về sử dụng sử dụng SGK, tài liệu dạy tiếng Anh tiểu học; về hướng dẫn chuyên môn tiếng Anh cấp Tiểu học; quy định về chương trình tiếng Anh TH… để vận dụng hoặc soạn thảo, ban hành quy định riêng về HĐDH tiếng Anh trong nhà trường. Từ đó giúp các trường đảm bảo việc tuân thủ các quy định của cấp quản lý về HĐDH môn tiếng Anh trong nhà trường, từ đó tạo cơ sở để các trường nâng cao chất lượng quản lý HĐDH trong nhà trường, cũng là cơ sở để Tổ tiếng Anh, GVTA vận dụng trong quá trình dạy học. Kết quả thực hiện nội dung này được đánh giá tương đối tốt với 51,1% đánh giá TB, 33,3% đánh giá Tốt và 15,6% đánh giá RT.
Nội dung Xây dựng đội ngũ GV tiếng Anh giỏi, được chuẩn hóa cả chuyên môn và nghiệp vụ có 50,4% đánh giá ITX, 28,4% đánh giá TX và 21,3% đánh giá RTX về mức độ thực hiện cho thấy nội dung này được đánh giá tương đối tốt. Để đảm bảo thực hiện chương trình dạy học tiếng Anh TH thì lực lượng GVTA phải có trình độ Cao đẳng hoặc Đại học chuyên nghành sư phạm tiếng Anh với trình độ năng lực tiếng Anh tương đương cấp độ B2 trở lên của Khung Tham chiếu Chung Châu Âu về Ngôn ngữ. Theo kết quả khảo sát thì hiện nay GVTA các trường tiểu học Anh tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đều đạt chuẩn và trên chuẩn này. Để đạt được điều này một mặt các trường TH đã đề xuất với phòng GD&ĐT thị xã phân bổ GV có đủ trình độ và năng lực theo yêu cầu mới, một mặt tạo điều kiện để GVTA tham gia các khóa đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ trong dạy học tiếng Anh góp phần đảm bảo chất lượng dạy học tiếng Anh trong nhà trường.
Tuy nhiên, một hạn chế hiện nay là các trường còn thiếu GV so với nhu cầu vì phải chịu sự phân bổ của cấp quản lý. Vì vậy, số lượng HS trong mỗi lớp ở cấp TH còn rất đông, lên đến 42 HS/lớp, điều này gây nhiều khó khăn cho GVTA trong việc tổ chức HĐDH, GV khó thể hiện hết khả năng chuyên môn trong khi phải chịu trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ chương trình. Ngoài ra, sự thay đổi theo hướng tăng cao về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ dẫn đến tạo nhiều áp lực đối với GVTA trong hoạt động dạy học, điều này dẫn đến hạn chế sự sáng tạo của giáo viên trong HĐDH. Đây là những rào cản để xây dựng đội ngũ GV giỏi và phát huy hết năng lực của GV trong HĐDH. Trong khi đó do cơ chế phân bổ nhân sự từ cấp trên trong ngành giáo dục công lập, nhà trường ít được tự chủ trong tuyển dụng nhân sự. vì vậy kết quả thực hiện nội dung này có 60,3% đánh giá TB, 21,3% đánh giá Tốt và 18,4% đánh giá RT, cho thấy kết quả đạt được còn hạn chế. Luận văn: Thực trạng QL giảng dạy Tiếng Anh tại trường tiểu học.
Nội dung Phân công nhiệm vụ và tổ chức cơ chế phối hợp trong quá trình dạy học có 55,3% đánh giá ITX, 20,6% đánh giá TX và 24,1% đánh giá RTX, kết quả này cho thấy nội dung này được đánh giá thực hiện thường xuyên. Đây là nhiệm vụ quan trọng của lãnh đạo nhà trường, vì thế các trường đã quan tâm thực hiện. Trong nội dung này lãnh đạo các nhà trường ban hành các quy chế phân cấp trong quản lý chuyên môn, quy định về trách nhiệm, quyền hạn của các thành viên trong nhà trường. Để làm được điều này lãnh đạo nhà trường căn cứ vào các quy định quản lý nhà trường của ngành GD&ĐT, đánh giá CBQL, GV trong nhà trường để vận dụng và chi tiết hóa trong các quy định của nhà trường. Kết quả thực hiện nội dung này được đánh giá tương đối tốt khi có 62,4% đánh giá TB, 20,6% đánh giá Tốt và 17,0% đánh giá RT.
Nội dung Hướng dẫn tổ chuyên môn, GV xây dựng kế hoạch dạy học theo kế hoạch nhà trường đã xây dựng có 62,4% đánh giá ITX, 14,2% đánh giá TX và 23,4% đánh giá RTX, kết quả này cho thấy nội dung này được đánh giá thực hiện tương đối thường xuyên và các trường đã có sự quan tâm đúng mức đến nội dung này. Theo trao đổi với một số CBQL thì được biết nhà trường ban hành kế hoạch năm học, kỳ, tháng dựa trên nội dung chương trình tiếng Anh TH được bộ GD&ĐT ban hành. Giao trách nhiệm và hướng dẫn Tổ chuyên môn, GV xây dựng kế hoạch dạy học chi tiết đến từng tiết học. Điều này đảm bảo kế hoạch dạy học của GVTA phù hợp với kế hoạch mà nhà trường quy định và chương trình tiếng Anh mà bộ GD&ĐT ban hành. Vì vậy, kết quả đánh giá nội dung này đạt mức tương đối Tốt khi có 67,4% đánh giá TB, 12,8% đánh giá Tốt và 19,9% đánh giá RT.
Nội dung Bố trí địa điểm, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ HĐDH tiếng Anh trong trường có 69,5% đánh giá ITX, 17,0% đánh giá TX và 13,5% đánh giá RTX. Kết quả này thể hiện rằng công tác bố trí CSVC, trang thiết bị cho HĐDH môn tiếng Anh chưa đạt được quan tâm đúng mức, cũng như kết quả đạt được chưa cao. Hiện nay với sự quan tâm từ nhà nước, ngành giáo dục một số trường TH trên địa bàn đã xây dựng được phòng học bộ môn tiếng Anh (Language Lab), mua sắm các thiết bị đảm bảo dạy học theo danh mục thiết bị dạy học tối thiểu môn Tiếng Anh. Tuy nhiên, số lượng các phòng học tiếng Anh chưa nhiều, chất lượng các thiết bị được trang bị chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu công tác dạy học tiếng Anh trong thực tế. Các trường hiện chưa có sự đầu tư đồng bộ các trang thiết bị hỗ trợ dạy tiếng Anh mà chỉ mua sắm theo kế hoạch phân bổ, vì thế hiệu quả sử dụng không cao. Một số trang thiết bị đã mua sắm từ lâu đã có dấu hiệu xướng cấp, sách tham khảo, các loại từ điển và các sách công cụ khác trong thư viện chưa phong phú. Ngoài ra các khó khăn trong việc sử dụng, năng lực sử dụng các trang thiết bị của GVTA và sự e ngại đổi mới phương pháp giáo dục cũng làm hạn chế hiệu quả việc vận dụng CSVC, trang thiết bị vào quá trình dạy học môn tiếng Anh trong nhà trường. Luận văn: Thực trạng QL giảng dạy Tiếng Anh tại trường tiểu học.
Điều này gây ra một thực trạng là hiện nay các GVTA đa số vẫn sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống, ít sử dụng các thiết bị công nghệ vào các tiết học, các giờ hoạt động ngoại khóa môn tiếng Anh, phương pháp dạy học chủ yếu là truyền thụ một chiều, hạn chế sự sáng tạo, chủ động của HS mà xu hướng đổi mới giáo dục hiện nay đang hướng đến. Vì vậy các tiết học tiếng Anh có phần trùng lắp, nhàm chán, không thu hút HS, tác động đến chất lượng dạy học môn tiếng Anh trong nhà trường đã được chứng minh trong phần thực trạng HĐDH ở phần trước.
Tóm lại, kết quả phân tích đã cho thấy hoạt động tổ chức thực hiện HĐDH môn tiếng Anh trong các trường TH ở thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương cho thấy đa phần các nội dung được đánh giá thực hiện ở mức tương đối TX và kết quả đạt được tương đối tốt, qua đó thể hiện nhà trường đã tuân thủ tốt các quy định, hoàn thành nhiệm vụ được giao trong quản lý HĐDH tiếng Anh. Tuy nhiên, một số khó khăn trong quá trình thực hiện đã làm hạn chế kết quả công tác này. Cụ thể:
Thứ nhất, tình trạng thiếu GVTA trong khi các trường bị giới hạn về biên chế GV, sỉ số HS quá đông, nội dung chương trình sách giáo khoa quá tải, sĩ số học sinh đông làm hạn chế sự sáng tạo của giáo viên trong HĐDH.
Thứ hai, một số GV chưa thực sự chú trọng đến việc đổi mới phương pháp giảng dạy phù hợp theo hướng phát huy tính tích cực của HS… vì sự quá tải, trách nhiệm phải đảm bảo chương trình, sức học của HS còn hạn chế và không đồng đều.
Thứ ba, CSVC, trang thiết bị phục vụ dạy học tiếng Anh còn thiếu về số lượng, hạn chế về chất lượng, có tình trạng không đồng bộ và xuống cấp, năng lực sử dụng các trang thiết bị của GVTA chưa cao, dẫn đến hiệu quả khai thác CSVC, trang thiết bị phục vụ dạy học còn thấp.
Vì vậy, nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý của hiệu trưởng các trường TH đối với HĐDH tiếng Anh cần phải có những giải pháp phù hợp trong công tác tổ chức thực hiện HĐDH môn tiếng Anh, nhằm góp phần vào sự thành công của công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay.
2.4.3. Chỉ đạo thực hiện hoạt động dạy học tiếng Anh ở trường tiểu học thị xã Dĩ An
Chỉ đạo của hiệu trưởng trong hiện kế hoạch hoạt động dạy học tiếng Anh ở trường tiểu học có vai trò quan trọng trong thúc đẩy, tạo động lực cho các đơn vị, cá nhân trong nhà trường, cụ thể là tổ tiếng Anh, GVTA hoàn thành tốt kế hoạch dạy học đã đề ra. Để làm được điều này, nhà trường chủ động thực hiện các nội dung hỗ trợ, hướng dẫn, giúp đỡ, động động viên, khuyến khích, theo dõi tiến trình và ghi nhận kết quả đạt được của các đối tượng tham gia vào HĐDH tiếng Anh trong nhà trường.
Đánh giá hoạt động chỉ đạo thực hiện hoạt động dạy học tiếng Anh ở trường tiểu học trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương được trình bày tại bảng 2.10. Cụ thể như sau: Luận văn: Thực trạng QL giảng dạy Tiếng Anh tại trường tiểu học.
- Bảng 2.10: Đánh giá hoạt động chỉ đạo HĐDH môn tiếng Anh
Nội dung Cho phép GV chủ động lựa chọn đa dạng nội dung, hình thức phương pháp dạy học phù hợp với điều kiện và kế hoạch của nhà trường có 42,6% đánh giá ITX, 42,6% đánh giá TX và 14,9% đánh giá RTX cho thấy nội dung được thực hiện ở mức tương đối thường xuyên. Điều này cho thấy các GVTA trong trường được cho phép chủ động đa dạng về nội dung, hình thức phương pháp dạy học trong các giờ dạy học trên lớp, các hoạt động ngoại khóa của môn học, sử dụng các phương pháp dạy học khác nhau tùy vào khả năng của GVTA và điều kiện CSVC, trang thiết bị hiện có của nhà trường nhằm đạt được kết quả cao trong HĐDH.
Tuy nhiên về kết quả đạt được của nội dung có 64,5% đánh giá TB, 35,5% đánh giá Tốt, cho thấy số lượng phiếu đánh giá trung bình chiếm đa số. Theo kết quả trao đổi với một số CBQL thì được biết thực tế GVTA gặp nhiều khó khăn: Thứ nhất GV chỉ có thể áp dụng phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực hóa các hoạt động của học sinh đối với một số bài, một số tiết và một số bộ phận học sinh vì nội dung chương trình sách giáo khoa quá tải, sĩ số học sinh đông trong một lớp, sức học của học sinh còn hạn chế, không đồng đều; Thứ hai, GV phải đảm bảo chương trình được thực hiện đúng thời gian, kế hoạch; Thứ ba, công việc của GV quá nhiều dẫn đến rất ít sự đầu tư vào việc tìm tòi những phương pháp giảng dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh, vận dụng các phương pháp tích cực, tôn trọng sự khác biệt của HS. Điều này dẫn đến thực tế hiện nay trong HĐDH tiếng Anh rất ít sự đa dạng nội dung, hình thức, phương pháp dạy học tích cực, ảnh hưởng đến kết quả sự đổi mới trong dạy học.
Nội dung Khuyến khích, hướng dẫn GV tổ chức dạy học tương tác, lấy học sinh là trung tâm có 41,1% đánh giá ITX, 58,9% đánh giá TX cho thấy các trường đã TX thực hiện nội dung này. Theo quan sát, hiện nay các trường TH đã biết xây dựng bầu không khí học tập, phấn đấu, thúc đẩy nâng cao chất lượng HĐDH tiếng Anh trong nhà trường. Các trường cũng ban hành các văn bản khuyến khích và hướng dẫn GV đổi mới phương pháp dạy học, tổ chức dạy học tương tác, lấy học sinh là trung tâm qua đó tạo cơ sở để GV tổ chức thực hiện, giúp HS tăng cường tính chủ động sáng tạo, thu hút HS vào bài học.
Tuy nhiên về kết quả đạt được thì đánh giá trung bình có số lượng lớn hơn khi có 51,8% đánh giá TB, 48,2% đánh giá Tốt. Điều này cho thấy việc tổ chức dạy học tương tác, lấy học sinh là trung tâm trong môn Tiếng Anh ở các trường còn thiếu hiệu quả. Nguyên nhân của tình trạng này là bởi các GV chưa thực sự nắm bắt được cách thức tổ chức các phương pháp dạy học mới theo hướng tích cực; thứ hai, một số GVTA ngại thay đổi và không biết sự thay đổi có nâng cao được chất lượng dạy học; thứ ba, áp lực công việc nhiều ảnh hưởng đến sự đầu tư của GV vào bài dạy. Điều này đã không tạo cơ hội cho sự sáng tạo, cải tiến phương pháp, hình thức để nâng cao chất lượng HĐDH tiếng Anh.
Nội dung Khen thưởng kịp thời đối với GV có thành tích trong HĐDH có 78,0% đánh giá ITX, 12,1% đánh giá TX, 9,9% đánh giá ITX theo đó mức đánh giá TB có tỷ lệ cao nhất. Theo quan sát, hiện nay các trường chưa có cơ chế khuyến khich riêng trong hoạt động dạy học Tiếng Anh, nhà trường vận dụng cơ chế, quy định khen thưởng chung trong HĐDH đối với các GV có thành tích tốt. Tuy nhiên những tiêu chí đa phần chú trọng đến các GV hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, hoàn thành đúng hoặc trước thời hạn, tích cực trong tham gia các phong trào của nhà trường, của ngành giáo dục. Còn trong lĩnh vực cải tiến phương pháp dạy học, vận dụng các phương pháp dạy học mới, các trang thiết bị dạy học thì rất ít các trường hợp được khen thưởng. Điều này dẫn đến các GVTA chỉ chú trọng đến việc hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, ít chú trọng đến việc cải tiến phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng. Chính vì vậy kết quả nội dung này cũng được đánh giá hạn chế 85,1% đánh giá TB, 14,9% đánh giá Tốt và RT. Luận văn: Thực trạng QL giảng dạy Tiếng Anh tại trường tiểu học.
Nội dung Tạo điều kiện cho GV tham gia các khóa đào tạo, hội thảo về dạy học Tiếng Anh nhằm nâng cao năng lực dạy học, đổi mới PPDH, nâng cao chất lượng dạy học có 49,6% đánh giá ITX, 41,1% đánh giá TX, 9,2% đánh giá RTX, cho thấy các trường đã thực hiện tương đối thường xuyên nội dung này. Hiện nay các trường đều sắp xếp, tạo điều kiện để GVTA tham gia các khóa đào tạo do chính quyền, ngành giáo dục tổ chức; các hội thảo về dạy học Tiếng Anh do Sở GD&ĐT tỉnh, Phòng GD&ĐT thị xã hay các trường Đại học, Cao đẳng tổ chức. Qua đó giúp GVTA học hỏi các kiến thức, kỹ năng mới, sử dụng các trang thiết bị hiện đại vào HĐDH để triển khai trong thực tế HĐDH ở nhà trường, nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh. Tuy nhiên việc chỉ đạo GV tham gia các khóa đào tạo, hội thảo không xuất phát từ mong muốn của GV mà theo chỉ định của hiệu trưởng, mục đích của nhà trường hoặc tổ chuyên môn. Điều này sẽ tác động đến tâm lý, sự sẵn sàng, hứng thú đối với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của GVTA, chưa tạo được nhiều động lực để GV tích cực thực hiện BDCM đạt kết quả cao. Chính vì vậy kết quả nội dung này không được đánh giá cao khi 56,7% đánh giá TB và chỉ có 43,3% đánh giá Tốt.
Nội dung Tạo điều kiện và phối hợp các thành viên trong việc khai thác CSVC, trang thiết bị phục vụ dạy học có 45,4% đánh giá ITX, 47,5% đánh giá TX, 7,1% đánh giá RTX, cho thấy các trường đã thực hiện tương đối thường xuyên nội dung này. Để thực hiện HĐDH tiếng Anh có kết quả các GVTA ngoài chuyên môn, nghiệp vụ cao thì cần phải sử dụng CSVC, trang thiết bị hiện có của nhà trường phục vụ dạy học một cách tốt nhất. Nhà trường phải tạo điều kiện để GV tiếp cận với CSVC, trang thiết bị và phối hợp các thành viên khác trong việc sử dụng, bảo quản. Công tác này được nhà trường thực hiện tốt, GV có cơ hội đề xuất mua sắm các trang thiết bị cần thiết; sử dụng cho mục đích dạy học các trang thiết bị hiện có; tổ chức bộ phận trang thiết bị để bảo quản, sửa chữa; có kế hoạch phân bổ, sử dụng giữa các thành viên để tránh trùng lắp góp phần đảm bảo đến chất lượng HĐDH.
Tuy nhiên, theo một số CBQL thì hiện nay các nhà trường TH trên địa bàn còn thiếu sự đầu tư một cách đồng bộ, chất lượng và số lượng đều chưa đảm bảo đáp ứng yêu cầu nhất là phòng tiếng Anh riêng, các trang thiết bị hiện đại như dàn âm thanh chuẩn, máy tính. Trong khi đó số lượng lớp học rất lớn, sĩ số đông cũng dẫn đến nhà trường không sắp xếp được lịch sử dụng các trang thiết bị, phòng chức năng cho tất cả các lớp học, HS, ảnh hưởng đến chất lượng HĐDH tiếng Anh trong nhà trường. Chính vì thế kết quả nội dung này không được đánh giá cao khi 63,8% đánh giá TB và chỉ có 36,2% đánh giá Tốt và RT.
Tóm lại, kết quả phân tích dữ liệu khảo sát về hoạt động chỉ đạo thực hiện HĐDH môn tiếng Anh cho thấy hầu hết các nội dung nhà trường đã thực hiện ở mức tương đối TX, qua đó đã hỗ trợ, hướng dẫn, giúp đỡ, động động viên, khuyến khích và ghi nhận kết quả trong đánh giá các GVTA vào cuối kỳ, năm học. Qua đó đã thúc đẩy, tạo động lực cho các GVTA hoàn thành tốt kế hoạch dạy học đã đề ra. Luận văn: Thực trạng QL giảng dạy Tiếng Anh tại trường tiểu học.
Tuy nhiên, công tác này cũng còn nhiều hạn chế, khó khăn trong quá trình thực hiện dẫn đến kết quả đạt được chưa cao như sách giáo khoa quá tải, sĩ số học sinh đông trong một lớp, sức học của học sinh còn hạn chế, không đồng đều; CSVC trang thiết bị còn thiếu và chưa đồng bộ; các hình thức khuyến khích sáng tạo, vận dụng phương pháp dạy học tích cực chưa được quan tâm đúng mức; việc đào tạo bồi dưỡng GVTA chưa phù hợp với mong muốn… Riêng nội dung khen thưởng kịp thời đối với GV có thành tích trong HĐDH được đánh giá thấp cả về mức độ thực hiện và kết quả thực hiện. Điều này cho thấy công tác khen thưởng đối với GVTA có thành tích cần được quan tâm hơn trong thời gian tới.
Điều này cũng ảnh hưởng đến kết quả HĐDH, dẫn đến một số hạn chế trong HĐDH tiếng Anh trong các trường đã nêu ở phần trên. Vì vậy trong thời gian tới các trường TH trên địa bàn thị xã cần phải có giải pháp toàn diện, phù hợp trong hoạt động chỉ đạo để nâng cao chất lượng HĐDH tiếng Anh trong các trường TH, đáp ứng tốt xu thế đổi mới giáo dục theo hướng phát triển năng lực HS mà ngành giáo dục đang triển khai.
2.4.4. Kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học tiếng Anh ở trường tiểu học thị xã Dĩ An
Kiểm tra, đánh giá của hiệu trưởng đối với hoạt động dạy học tiếng Anh ở trường tiểu học một quá trình thiết lập và thực hiện các cơ chế thích hợp để đảm bảo đạt được mục tiêu trong HĐDH tiếng Anh của nhà trường. Qua kiểm tra nhà trường sẽ đánh giá được mức độ thực hiện, giai đoạn thực hiện và các mục tiêu của mỗi giai đoạn có được đảm bảo, từ đó đề ra các biện pháp thích hợp để điều chỉnh, xử lý hơn nhằm nâng cao chất lượng HĐDH tiếng Anh trong nhà trường trong thời gian tiếp theo. Để đảm bảo hoạt động kiểm tra, đánh giá hiệu quả thì điều quan trọng nhất là nhà trường cần phải xây dựng tiêu chí, xây dựng lực lượng thực hiện kiểm tra, sử dụng những phương pháp kiểm tra và lựa chọn các hình thức xử lý điều chỉnh phù hợp. Hoạt động kiểm tra đánh giá cần phải đảm bảo tính chính xác, phù hợp, minh bạch, công bằng, dân chủ.
Đánh giá về công tác kiểm tra, đánh giá của hiệu trưởng đối với hoạt động dạy học tiếng Anh tại các trường TH trên địa bàn thị xã Dĩ An được thể hiện trong bảng 2.11. Qua đó cho thấy tất cả các nội dung đều được đánh giá mức thực hiện TX, tuy nhiên kết quả thì đa số lại chỉ ở mức TB. Cụ thể: Luận văn: Thực trạng QL giảng dạy Tiếng Anh tại trường tiểu học.
- Bảng 2.11: Đánh giá công tác kiểm tra HĐDH môn tiếng Anh
Nội dung Kiện toàn các quy định, yêu cầu trong việc kiểm tra, đánh giá chất lượng dạy học tiếng Anh có 61,7% đánh giá ITX, 12,1% đánh giá TX, 26,2% đánh giá RTX, cho thấy các trường đã thực hiện tương đối thường xuyên nội dung này. Qua đó cho thấy lãnh đạo các trường không những chỉ thực hiện đúng các quy định từ các cấp quản lý mà đã theo dõi, phát hiện những thiếu sót trong các quy định trong việc kiểm tra, đánh giá chất lượng HĐDH nói chung và môn tiếng Anh nói riêng, qua đó chi tiết hóa, bổ sung các quy định cho hoàn chỉnh hơn nhằm đảm bảo công tác kiểm tra, đánh giá được sâu sát với thực tế, hướng đến việc đảm bảo chất lượng HĐDH, phù hợp với điều kiện của nhà trường mà vẫn tuân thủ tốt các quy định của cấp quản lý. Chính vậy kết quả thực hiện nội dung này được đánh giá ở mức tương ứng với 66,7% đánh giá TB và có 33,3% đánh giá Tốt và RT.
Nội dung Lập kế hoạch và đề ra phương thức kiểm tra chất lượng dạy học tiếng Anh có 53,9% đánh giá ITX, 19,1% đánh giá TX, 27,0% đánh giá RTX, cho thấy các trường đã thực hiện tương đối TX nội dung này. Các trường hiện đang thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm tra chất lượng dạy học tiếng Anh thông qua hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS căn cứ vào các quy định về đánh giá GV và đánh giá HS tiểu học. Trao đổi với một số CBQL thì được cho biết “các trường đã đề ra những phương thức kiểm tra chất lượng HĐDH cụ thể, trong đó có dạy học tiếng Anh. Cụ thể như công tác kiểm tra hoạt động dạy của GV được thực hiện theo kế hoạch định kỳ và một số kế hoạch kiểm tra đột xuất với nội dung kiểm tra GV trong việc thực hiện qui chế chuyên môn và chất lượng giảng dạy trên lớp. Đối với học sinh được thực hiện theo kế hoạch kiểm tra thường xuyên và định kỳ với các phương pháp cụ thể theo quy định”. Với mức đánh giá trên cho thấy các trường hiện đang thực hiện tốt việc lập kế hoạch và tuân thủ các phương pháp kiểm tra HĐDH tiếng Anh trong nhà trường. Tuy nhiên kết quả nội dung này đạt được chưa cao khi có 59,6% đánh giá TB và có 39,4% đánh giá Tốt và RT.
Nội dung Kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện so với yêu cầu chất lượng dạy học tiếng Anh đã đề ra có 53,2% đánh giá ITX, 14,2% đánh giá TX, 32,6% đánh giá RTX, cho thấy các trường đã thực hiện tương đối thường xuyên nội dung này. Điều này cho thấy các trường hiện nay đã thực hiện nghiêm túc việc triển khai các quy định cùa ngành GD&ĐT trong việc kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy của GV, chất lượng học tập tiếng Anh của HS.
Tuy nhiên, kết quả thực hiện nội dung này chưa được đánh giá cao khi có 70,9% đánh giá TB và chỉ có 28,1% đánh giá Tốt và RT. Điều này cho thấy các trường vẫn gặp phải một số khó khăn trong việc triển khai công tác kiểm tra, đánh giá theo các quy định mới đối với HS. Kết quả trao đổi với một số CBQL thì được biết “việc đánh giá HS được đánh giá cả trong quá trình học (đánh giá thường xuyên) và đánh giá định kỳ (kết thúc một giai đoạn), việc đánh giá theo các tiêu chí còn định tính, các mức đánh giá khó phân định, khó vận dụng, mang tính chủ quan của GV. Một số GV đã quen với phương pháp đánh giá cũ thì việc thay đổi điều chỉnh phương pháp đánh giá mới. Ban giám hiệu các trường cũng gặp khó trong đánh giá chất lượng học tập của HS, chất lượng, năng lực giảng dạy của GV”. Từ đó tác động làm hạn chế tính chính xác hoạt động kiểm tra, đánh giá HĐDH trong nhà trường. Luận văn: Thực trạng QL giảng dạy Tiếng Anh tại trường tiểu học.
Nội dung Đánh giá chất lượng dạy học thông qua hai phương thức kiểm tra: thường xuyên và định kì; hình thức kiểm tra: nói và kiểm tra viết có 56,0% đánh giá ITX, 17,7% đánh giá TX, 26,2% đánh giá RTX, cho thấy các trường thực hiện tương đối TX nội dung này. Theo quan sát thực tế, các trường đang vận dụng đầy đủ các quy định trong đánh giá HĐDH trong nhà trường trong môn tiếng Anh trong đó quy định sử dụng phương thức kiểm tra thường xuyên và định kì dựa trên bằng chứng về năng lực giao tiếp học sinh đạt được trong quá trình học tập. Các hình thức kiểm tra cần đa dạng, bao gồm kiểm tra nói và kiểm tra viết.
Tuy nhiên, hình thức kiểm tra viết được sử dụng nhiều nhất vẫn là kiểm tra viết, đánh giá HS vẫn chú trọng qua điểm số bài kiểm tra định kỳ. Việc thiếu các phương tiện kiểm tra kỹ năng nghe, kỹ năng đọc, kỹ năng nói cũng ảnh hưởng đến công tác đánh giá HS. Điều này dẫn đến kết quả đánh giá không hoàn toàn đảm bảo mục tiêu cần đạt về bốn kĩ năng ngôn ngữ nghe, nói, đọc, viết. GV và HS cũng ít quan tâm đến các kỹ năng nghe, nói, đọc dẫn đến sự mất cân bằng giữa các kỹ năng học tiếng Anh của HS, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới kiểm tra đánh giá theo cách tiếp cận năng lực. Chính vì vậy kết quả thực hiện nội dung này có đến 72,3% đánh giá TB và có 27,7% đánh giá Tốt và RT.
Nội dung Nhắc nhở, sửa chữa khi có sai lệch; động viên khích lệ với cá nhân, tập thể có kết quả tốt; cảnh cáo hoặc kỷ luật với cá nhân, tập thể có kết quả không tốt hoặc sai phạm có 63,1% đánh giá ITX, 19,1% đánh giá TX, 17,7% đánh giá RTX, cho thấy các trường thực hiện ITX nội dung này. Theo quan sát, các trường hiện nay đã thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá từ khâu kiện toàn các quy định, triển khai việc kiểm tra, đánh giá và xử lý kết quả sau đánh giá đối với hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS. Kết quả của quá trình kiểm tra, đánh giá được nhà trường sử dụng vào việc nhắc nhở các cá nhân thực hiện chưa đúng các yêu cầu, mục tiêu; sửa chữa các nội dung có sai lệch với kế hoạch đề ra; động viên khích lệ, khen thưởng với cá nhân, tập thể có kết quả tốt giúp nhà trường hoàn thành tốt mục tiêu đề ra; phát đi các cảnh cáo hoặc kỷ luật với cá nhân, tập thể có kết quả không tốt hoặc sai phạm, làm sai lệch mục tiêu đề ra, kế hoạch đã được lập của nhà trường. Tuy nhiên, thực tế triển khai nội dung còn hạn chế do tâm lý nể nang trong nhà trường và thường chỉ sử dụng một hình thức phê bình, khiển trách, rất ít khi nhà trường sử dụng các hình thức cảnh cáo hoặc kỷ luật với cá nhân GV. Còn đối với HS, nhà trường chỉ được đóng góp ý kiến và đánh giá một cách nhẹ nhàng, tránh làm tổn thương trẻ. Qua đó làm giảm các động lực đối với cả GV và HS. Điều này dẩn đến kết quả nội dung đạt được có đến 67,4% đánh giá TB và có 32,6% đánh giá Tốt và RT.
Tóm lại, qua phân tích hoạt động kiểm tra, đánh giá HĐDH tiếng Anh tại một số trường TH thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương cho thấy một thực tế chung rằng hoạt động này được thực hiện ở mức TX, thể hiện các trường đã tuân thủ tốt các quy định quản lý của ngành giáo dục. Tuy nhiên trong thực tế thực hiện vì một số khó khăn khách quan và chủ quan mà công tác kiểm tra, đánh giá HĐDH tiếng Anh chưa đạt kết quả mong muốn, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới công tác đánh giá HS theo cách tiếp cận năng lực. Vì vậy để nâng cao chất lượng HĐDH tiếng Anh các trường cần phải có sự thay đổi mạnh mẽ, thúc đẩy mạnh chất lượng công tác kiểm tra, đánh giá HĐDH tiếng Anh trong nhà trường.
2.5. Đánh giá về một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại các trường TH ở thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL giảng dạy Tiếng Anh tại trường tiểu học.
Trong công tác quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại các trường TH ở thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương các trường phải chịu tác động từ nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Vì vậy cần phải đánh giá mức tác động của những yếu tố trên để có cơ sở đề ra những giải pháp phù hợp nhằm tăng cường hiệu quả quản lý. Kết quả đánh giá về những yếu tố tác động được trình bày trong bảng 2.12:
- Bảng 2.12: Thực trạng các yếu tố tác động đến quản lý HĐDH tiếng Anh trong trường TH thị xã Dĩ An
Qua bảng 2.13 cho thấy yếu tố Chương trình, kế hoạch dạy học tiếng Anh và Cơ sở vật chất, trang thiết bị và các điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy học tiếng Anh có mức đánh giá tác động Rất nhiều đến công tác quản lý HĐDH tiếng Anh trong nhà trường với gần 70% số phiếu. Chương trình tiếng Anh là pháp lệnh của bộ GD&ĐT đối với HĐDH tiếng Anh trong nhà trường, vì vậy nó có tác động mạnh mẽ, quyết định đến công tác quản lý HĐDH của môn học trong nhà trường. Yếu tố cơ sở vật chất, trang thiết bị và các điều kiện hỗ trợ HĐDH tiếng Anh cũng có ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý vì tiếng Anh là môn ngoại ngữ cần sử dụng nhiều trang thiết bị trong quá trình dạy học, vì thế nhà trường phải bố trí, phối hợp, lên kế hoạch sử dụng… để mang lại chất lượng tốt nhất cho HĐDH môn học này. Điều này giải thích về số lượng đánh giá Rất nhiều dành cho hai yếu tố này.
Yếu tố Đặc điểm của học sinh tiểu học được đánh giá với hai mức ở tác động Nhiều và Rất nhiều. Trẻ TH là giai đoạn có sự phát triển tâm sinh lý mạnh mẽ, trẻ không có sự tập trung cao độ, tâm lý không ổn định vì vậy nhà trường cần phải có những biện pháp quản lý HĐDH phù hợp với lứa tuổi này.
Yếu tố Đội ngũ giáo viên tiếng Anh và CBQL là các lực lượng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng HĐDH, vì vậy yếu tố này được đánh giá tác động ở mức Nhiều và Rất Nhiều. Yếu tố Môi trường giáo dục được đánh giá ở hai mức tác động Nhiều và Rất Nhiều đến công tác quản lý HĐDH trong nhà trường.
Những đánh giá về mức tác động của các yếu tố chủ quan và khách quan sẽ giúp tác giả có cơ sở để cùng với các phân tích thực trạng đề ra được giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại các trường TH ở thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương trong thời gian tới. Luận văn: Thực trạng QL giảng dạy Tiếng Anh tại trường tiểu học.
2.6. Nhận xét chung về thực trạng quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại các trường tiểu học ở thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương
2.6.1. Những ưu điểm và nguyên nhân
Từ những phân tích ở phần thực trạng HĐDH môn tiếng Anh, thực trạng quản lý HĐDH môn tiếng Anh và ý kiến phỏng vấn của các CBQL, GVTA và HS có thể rút ra một số nhận xét về ưu điểm và nguyên nhân trong quản lý HĐDH môn tiếng Anh ở các trường TH ở thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương như sau:
Thứ nhất, phần lớn CBQL, GVTA đánh giá cao về tầm quan trọng của môn tiếng Anh đối với HS tiểu học và các kỹ năng nói, nghe, đọc, viết đã được nâng cao. Kết quả nghiên cứu hồ sơ quản lý môn tiếng Anh ở một số trường cho thấy có được kết quả này là do các trường đã làm tốt công tác phổ biến nội dung chương trình tiếng Anh cấp tiểu học, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục theo hướng tiếp cận năng lực.
Thứ hai, đội ngũ CBQL, GVTA các trường ngày càng được đào tạo chuẩn về chuyên nghiệp, nghiệp vụ, dần trẻ hóa, có cơ hội được học hỏi, giao lưu, bồi dưỡng kiến thức, nâng cao trình độ. Kết quả nghiên cứu hồ sơ cho thấy 100% GV trong nhà trường đạt chuẩn và trên chuẩn. Qua đó thúc đẩy quá trình thay đổi phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực HS.
Thứ ba, trong quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh, các trường đã thực hiện khá thường xuyên các nội dung của công tác quản lý HĐDH môn tiếng Anh như công tác lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá. Các trường TH đã tuân thủ các quy định về nội dung, mục tiêu, phương pháp thực hiện hoạt động dạy học, tổ chức đánh giá HĐDH qua đó đảm bảo kết quả đạt được phù hợp với mục tiêu môn học mà ngành giáo dục đã đề ra. Điều này là do các trường có cơ sở về các quy định của ngành giáo dục, pháp luật về định hướng của Nhà nước về mục tiêu, chương trình và phương pháp dạy học rõ ràng, mạch lạc, xuyên suốt để tổ chức thực hiện chính xác, hiệu quả.
2.6.2. Những hạn chế và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng QL giảng dạy Tiếng Anh tại trường tiểu học.
Cũng từ kết quả phân tích thực trạng HĐDH môn tiếng Anh, thực trạng quản lý HĐDH môn tiếng Anh, và đặc biệt là các ý kiến của CBQL, GVTA ở các trường TH ở thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương được phân tích ở trên có thể rút ra một số hạn chế và nguyên nhân trong quản lý HĐDH môn tiếng Anh như sau:
Thứ nhất, một bộ phận CBQL, GVTA, HS còn xem nhẹ vai trò môn tiếng Anh đối với HS tiểu học, xem đây là môn phụ. Điều này làm giảm sự đầu tư, quan tâm đến công tác quản lý HĐDH môn tiếng Anh từ CBQL; hoạt động dạy và hoạt động học từ phía GV và HS, từ đó gây cản trở sự cải tiến hoạt động dạy học môn tiếng Anh trong nhà trường, sự quan tâm chú ý đến môn học của HS.
Thứ hai, các GVTA đa phần đều đảm bảo được trình độ chuyên môn, tuy nhiên nhà trường chưa có sự chỉ đạo xác sao đối với GVTA trong việc vận dụng đa dạng các phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực. Điều này dẫn đến sự đầu tư vào việc soạn thảo bài dạy mang tính sáng tạo của GVTA còn hạn chế, phương pháp dạy đọc, ghi – chép còn sử dụng nhiều, khả năng giao tiếp của HS không tốt; Việc dạy học vẫn còn nặng về việc dạy học truyền thụ kiến thức, chưa xây dựng cho HS những kỹ năng tự học, làm chủ quá trình học tập. Nguyên nhân xuất phát từ áp lực do tình trạng chương trình môn học quá tải, thiếu GV so với số lớp, sỉ số học sinh đông, không đồng đều về năng lực học tập, nên CBQL không muốn gây thêm áp lực cho GVTA.
Thứ ba, tình trạng CSVC, trang thiết bị thiếu và không đồng bộ, nhất là các trang thiết bị hiện đại, công nghệ thông tin phục vụ hoạt động nghe, nhìn trong quá trình dạy học tiếng Anh cũng là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng quản lý HĐDH môn tiếng Anh thiếu hiệu quả, hạn chế trong chỉ đạo thúc đẩy các GVTA vận dụng các phương pháp giáo dục tương tác, tôn trọng sự khác biệt năng lực, sở thích, nguyện vọng, phát triển các kỹ năng học tập tiếng Anh cho HS.
Thứ tư, việc tăng cường dạy học tiếng Anh đến tất cả các lớp thay vì chỉ dạy tiếng Anh từ lớp 3 đến lớp 5 như trước kia đã dẫn đến thiếu GV tiếng Anh, gây khó khăn trong tổ chức phân bổ giờ dạy hợp lý, ảnh hưởng lớn đến kế hoạch dạy học, các trường không chủ động được trong phân công giảng dạy, và áp lực đối với GVTA ngày càng lớn.
Thứ năm, việc tổ chức đào tạo, hướng dẫn GVTA của các trường trong đổi mới phương pháp dạy học chưa hiệu quả, dẫn đến GVTA vẫn chưa hoàn toàn làm chủ được phương pháp dạy học tích cực, hướng đến người học, tạo cơ hội để HS phát huy tính tự chủ, sáng tạo trong học tập. Ngoài ra, các trường còn chưa chú trọng đến việc hướng dẫn sử dụng CSVC, trang thiết bị trong môn học đối với GVTA, vì vậy GVTA chưa làm chủ trong việc sử dụng, năng lực sử dụng các trang thiết bị hiện có, e ngại và ít vận dụng CSVC, trang thiết bị vào quá trình dạy học môn tiếng Anh trong nhà trường. Điều này dẫn đến sự trùng lắp, nhàm chán trong các bài dạy, không thu hút HS, tác động đến chất lượng dạy học môn tiếng Anh trong nhà trường.
Thứ sáu, các trường chưa chú ý đúng mức đến công tác khen thưởng trong lĩnh vực cải tiến phương pháp dạy học, vận dụng các phương pháp dạy học mới theo hướng tiếp cận năng lực, các trang thiết bị hiện đại vào quá trình dạy học. Điều này làm giảm sự phấn đấu của GV trong việc cải tiến phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng.
Thứ bảy, trong công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, tham gia các khóa đào tạo, hội thảo được nhà trường chỉ định không xuất phát từ mong muốn của GV. Điều này sẽ tác động đến tâm lý, sự sẵn sàng, hứng thú đối với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng.
Thứ tám, việc triển khai công tác kiểm tra, đánh giá theo các quy định mới đối với HS còn vướng mắc, khó khăn. Nguyên nhân là do việc đánh giá HS phải được đánh giá thường xuyên và đánh giá định kỳ, việc đánh giá theo các tiêu chí còn định tính, các mức đánh giá khó phân định giữa các mức, khó vận dụng, mang tính chủ quan của GV.
Thứ chín, hình thức kiểm tra viết thông qua các bài kiểm tra định kỳ được sử dụng nhiều nhất làm căn cứ đánh giá HS mà không phải dựa trên khả năng giao tiếp. Nguyên nhân là do các trường vẫn chú trọng việc dạy kỹ năng viết, ghi – chép mà ít chú ý đến các kỹ năng nghe, đọc, nói. Trong đánh giá kết quả học tập của HS nhà trường cũng chỉ chú trọng đến khả năng ghi nhớ và tái hiện kiến thức bộ môn mà ít chú trọng khả năng vận dụng chúng vào thực tế cuộc sống. Việc đánh giá HS chỉ chú trọng đến kết quả định kỳ mà ít chú trọng đánh giá quá trình học tập, rèn luyện của HS. GV vẫn là người nắm giữ vai trò chủ đạo trong việc đánh giá kết quả học tập của HS, HS chưa có nhiều cơ hội để tham giá đánh giá kết quả học tập của bản thân.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 Luận văn: Thực trạng QL giảng dạy Tiếng Anh tại trường tiểu học.
Nội dung chương 2 đã đánh giá thực trạng về công tác quản lý HĐDH môn tiếng Anh tại các trường TH trên địa bàn thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương, căn cứ vào các nguồn dữ liệu thu thập từ nhiều nguồn sơ cấp và thứ cấp liên quan. Kết quả đã các trường đã tuân thủ tốt các quy định vế quản lý HĐDH tiếng Anh trong nhà trường bao gồm lập kế hoạch dạy học, tổ chức thực hiện, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra, đánh giá kết quả dựa theo các quy định đã được bộ GD&ĐT ban hành. Qua đó giúp các trường hoàn thành tốt mục tiêu, nội dung chương trình và chất lượng dạy môn học tiếng Anh cấp tiểu học hiện nay.
Tuy nhiên vì những lý do khách quan và chủ quan dẫn đến trong quá trình quản lý HĐDH tiếng Anh các trường gặp phải những khó khăn, vướng mắc ảnh hưởng đến chất lượng quản lý. Cụ thể: còn một bộ phận CBQL, GVTA, HS còn xem nhẹ vai trò môn tiếng Anh; chưa quan tâm đúng mức đến công tác lập kế hoạch dài hạn và chi tiết hóa các phương pháp dạy học tích cực vào bài dạy của GV; việc chỉ đạo, tổ chức GVTA sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, tạo cơ hội cho HS phát triển năng lực cá biệt, tự chủ, sáng tạo trong học tập còn chưa được quan tâm đúng mức; chưa tạo điều kiện cho HS tham gia nhiều vào quá trình đánh giá kết quả học tập, GV vẫn là người thực hiện; xây dựng CSVC, mua sắm trang thiết bị học tập môn tiếng Anh còn thiếu và chưa đồng bộ; công tác đánh giá chưa chú ý đến việc cải tiến phương pháp dạy học hay vận dụng thiết bị hiện đại vào quá trình dạy học. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý HĐDH tiếng Anh trong nhà trường.
Ngoài ra trong chương 2 cũng phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh; đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu và các nguyên nhân. Đây là những cơ sở để tác giả xây dựng các biện pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý HĐDH môn tiếng Anh tại các trường TH trên địa bàn thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương được trình bày trong chương 3. Luận văn: Thực trạng QL giảng dạy Tiếng Anh tại trường tiểu học.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp QL giảng dạy Tiếng Anh tại trường tiểu học

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
