Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN cho HS tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Đặc điểm về địa bàn nghiên cứu

2.1.1. Khái quát về tình hình kinh tế – xã hội tại huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

Huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương được tái thành lập ngày 20/08/1999 với diện tích tự nhiên là 524,5 km2, nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Bình Dương, phía Bắc giáp huyện Đồng Phú (tỉnh Bình Phước), phía Đông và Nam giáp huyện Tân Uyên, phía Tây giáp huyện Bến Cát.

Huyện có 1 thị trấn và 10 xã với hơn 70,000 người, mật độ dân số: 133,5 người/km2. Với điều kiện tự nhiên có nhiều thuận lợi, nằm trên địa hình đồi thoải lượn sóng và các dải đất hẹp ven Sông Bé, đất có độ cao trung bình thấp và tương đối bằng phẳng. Đất Phú Giáo chủ yếu là đất bazan xám rất thích hợp cho các cây công nghiệp như: cao su, điều, tiêu và các loại cây ăn quả. Riêng dải đất ven Sông Bé là đất phù xa mới, trồng lúa và các loại rau đậu rất tốt. Khí hậu Phú Giáo ôn hòa, mỗi năm có 2 mùa, 6 tháng mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4) và 6 tháng mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10). Có thể nói, đất đai, khí hậu và sông suối của huyện Phú Giáo rất thuận lợi để phát triển nông nghiệp và ngành này đang trở thành một thế mạnh của huyện. Tính đến nay, toàn huyện có hơn 500 trang trại chăn nuôi, trồng trọt, tạo lợi thế đưa nền nông nghiệp của huyện đi lên theo hướng sản xuất lớn. Trồng và khai thác cây cao su hiện nay là một trong những nguồn thu chính của các hộ gia đình trong huyện (Đặng Thành Sang, 2014).

Huyện Phú Giáo có tuyến đường giao thông ĐT 741 nối thành phố Thủ Dầu Một (Bình Dương) với thị xã Đồng Xoài (Bình Phước) là tuyến đường giúp lưu thông hàng hóa từ Thành phố Hồ Chí Minh đi các tỉnh Tây Nguyên, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế của địa phương. Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt 12,44%, cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch đúng hướng, trong đó ngành nông nghiệp – lâm nghiệp chiếm 40%; công nghiệp – xây dựng 31,9%; thương mại dịch vụ 28,1%. Thu nhập bình quân đầu người đến cuối năm 2023 đạt 34,5 triệu đồng/ người/năm. Trong nhiều năm qua, dưới sự lãnh đạo của các cấp lãnh đạo, huyện đã có những tiến bộ khá toàn diện về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, an ninh quốc phòng, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao. (Lê Nhật Nam (2024), Chủ biên, Địa lý địa phương tỉnh Bình Dương).

2.1.2. Khái quát về đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý và tình hình GD nói chung của các trường THPT tại huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội thì giáo dục của huyện Phú Giáo trong nhiều năm qua cũng đã và đang ngày càng khẳng định vị trí của mình trong sự phát triển đó. Được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo và chính quyền địa phương, các trường từ tiểu học đến THPT đều được xây dựng mới đạt chuẩn quốc gia.

Sau đây là số liệu thống kê số lượng CB, GV của các trường THPT trên địa bàn huyện Phú giáo:

  • Bảng 2. 1. Số liệu cán bộ, giáo viên, nhân viên (nguồn thống kê ở các trường)

Bảng số liệu cho thấy số lượng CB, GV ở cả 4 trường trên địa bàn huyện Phú Giáo đều bảo đảm các chức danh công tác trong Trường THPT theo quy định tại Thông tư 16/2024- TT BGDĐT ngày 12 tháng 7 năm 2024 của Bộ GD&ĐT về “Hướng dẫn danh mục khung vị trí việc làm và định mức số lượng người làm việc trong các cơ sở GD phổ thông công lập”. Đây là thuận lợi cơ bản để các trường hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Dưới đây là bảng thống kế số lượng học sinh tại các trường THPT huyện Phú Giáo qua các năm học 2023-2024 và 2024-2025.

  • Bảng 2. 2. Thống kê số liệu học sinh(nguồn thống kê ở các trường)

Bảng số liệu trên cho thấy tình hình HS THPT cả 4 trường trên địa bàn huyện Phú Giáo tương đối ổn định, mức dao động hàng năm không đáng kể. Nguyên nhân là do chủ trương phân luồng sau Trung học cơ sở của Sở GD&ĐT Bình Dương. Đây cũng là một thuận lợi cho các trường. Do số lượng ổn định nên yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục mọi mặt có thể dễ đạt được những kết quả khả quan, trong đó có hoạt động giáo dục SKSS VTN.

  • Bảng 2. 3. Thống kê học lực học sinh (nguồn thống kê ở các trường)
  • Bảng 2. 4. Thống kê số lượng HS tốt nghiệp, trúng tuyển đại học (nguồn thống kê ở các trường)

Bảng thống kê thể hiện chất lượng giảng dạy của 4 trường: loại khá giỏi chiếm 50%, loại yếu, kém chỉ còn dưới 4%. Tỉ lệ tốt nghiệp THPT trên 99%, trúng tuyển Đại học trên 80%.

Tốc độ phát triển nhanh và mạnh của trên địa bàn huyện Phú Giáo đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao, có đầy đủ thể lực và trí lực tốt để đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương trong thời gian tới là rất bức thiết. Vì vậy, đào tạo HS có đầy đủ năng lực để tiếp tục học lên cao đẳng, đại học hoặc đi vào lao động sản xuất là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng của huyện Phú Giáo.

Hiện nay, toàn huyện có 4/4 trường THPT công lập các bậc học đạt chuẩn quốc gia, chiếm tỷ kệ 100%. Đây là một trong những thuận lợi giúp các trường yên tâm hơn và tập trung vào công tác nâng cao chất lượng giảng dạy của trường. Trong toàn huyện có 4 trường THPT thì cả 4 đều là trường công lập và đạt chuẩn quốc gia. Với những kết quả đáng ghi nhận về giáo dục của huyện trong những năm qua như tỉ lệ học sinh đậu tốt nghiệp phổ thông của các trường THPT trong huyện Phú Giáo luôn đứng vào tốp các trường có tỷ lệ đậu tốt nghiệp cao trong tỉnh. Huyện cũng đã thực hiện tốt công tác phổ cập giáo dục, chống mù chữ. Đến nay, giáo dục của huyện ngày càng khẳng định được vị trí và tầm quan trọng của mình trong việc đào tạo ra đội ngũ nguồn nhân lực cho tỉnh Bình Dương nói chung và huyện Phú Giáo nói riêng.

2.2. Tổ chức nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho HS tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

2.2.1. Mục tiêu nghiên cứu

Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý công tác giáo dục SKSS cho học sinh ở các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

2.2.2. Nội dung nghiên cứu

Đề tài tập trung khảo sát và đánh giá hai nội dung sau: (1) thực trạng giáo dục SKSS cho học sinh ở các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương và (2) thực trạng quản lý công tác giáo dục SKSS cho học sinh ở các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

2.2.3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong đề tài là phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, ngoài ra, người nghiên cứu còn sử dụng phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động, phương pháp phỏng vấn CBQL và phương pháp lấy ý kiến chuyên gia làm phương pháp bổ trợ để tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho học sinh 4 trường THPT trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

2.2.3.1 Mẫu khảo sát và thông tin về mẫu khảo sát

Mẫu khảo sát được chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo cách “chọn mẫu phân tầng” (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2015). Mẫu khảo sát gồm 24 cán bộ quản lý (BGH), 96 giáo viên và 120 học sinh ở cả 3 khối lớp 10, 11 và 12 của 4 trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, gồm: trường THPT Phước Hoà, trường THPT Nguyễn Huệ, trường THPT Phước Vĩnh, và trường THPT Tây Sơn.

Sau khi phát phiếu khảo sát, chúng tôi thu về được 120 phiếu hợp lệ đối với nhóm khách thể CBQL và GV, 120 phiếu hợp lệ đối với nhóm khách thể HS. Thông tin về mẫu khảo sát cụ thể bên dưới.

Sau khi tiến hành khảo sát, chúng tôi lọc bỏ những phiếu không hợp lệ, kết quả còn lại 120/120 (tỉ lệ 100%) phiếu với 24 CBQL và 96 GV, thông tin cụ thể như sau: Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

Bảng 2. 5. Thông tin cá nhân mẫu khảo sát (nguồn thống kê ở các trường)

  • Kết quả ở bảng 2.5 cho thấy:

Về khối môn giảng dạy và QL, do chọn mẫu theo khối/cụm và do đặc điểm GV các môn khoa học tự nhiên nhiều hơn khoa học xã hội nên khách thể nghiên cứu hơi lệch về phía khoa học tự nhiên. Có 62.5% CBQL thuộc khối tự nhiên và 37.5% khối xã hội. Đối với GV thì tỉ lệ này tương đương nhau (52% tự nhiên và 48% xã hội)

Về thâm niên công tác, thấy rằng số năm công tác của đội ngũ GV NV tập trung cao nhất đối với mức độ từ 20 năm trở lên (42.0%) và GV là từ 10 đến 20 năm (32%).

Về thâm niên làm công tác quản lý của CBQL, số liệu từ bảng 2.5 cho thấy số năm làm công tác quản lý của CBQL tập trung cao nhất ở mức từ 10 đến 20 năm.

Đây là khoảng thời gian CBQL đã có nhiều kinh nghiệm và có thể đây thế mạnh của các trường về mặt nguồn nhân lực.

Về trình độ CM và trình độ tin học của CBQL và GV đều đạt chuẩn 100%. Trong đó trình độ tin học nâng cao của GV chiếm gần 48% và không có CBQL, GV nào không có chứng chỉ tin học. Về trình độ chuyên môn trên chuẩn vẫn còn đạt tỷ lệ khá thấp chiếm 8.3% đối với CBQL và 9.8% đối với GV.

Như vậy qua nghiên cứu về thực trạng thông tin cá nhân của đội ngũ CBQL và GV có kết luận: (1) Về đội ngũ, GV có thâm niên giảng dạy và CBQL có thâm niên QL từ 10 đến 20 năm chiếm tỉ lệ cao và (2) Về trình độ CM 100% đạt chuẩn.

  • Bảng 2.6. Thông tin về mẫu khảo sát học sinh

Như vậy qua nghiên cứu về thực trạng thông tin của các em học sinh có thể hiện: (1) mỗi trường chọn ngẫu nhiên 30 HS, 15 nam, 15 nữ. (2) mỗi trường chọn ngẫu nhiên 30 HS trải đều ra 3 khối, (3) mỗi trường chọn ngẫu nhiên 30 có đầy đủ học lực, xuất sắc, giỏi, khá, trung bình và yếu.

2.2.3.2 Xây dựng công cụ khảo sát

Để tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản cho học sinh ở các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, người nghiên cứu đã xây dựng hai thang đo dựa trên cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục SKSS đã được xây dựng ở chương 1. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

Phiếu khảo sát 1 dành cho CBQL và GV gồm có 6 câu với 3 phần. Phần 1 là thông tin cá nhân. Phần 2 là thực trạng hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên tại các trường THPT gồm các câu hỏi liên quan đến tầm quan trọng của giáo dục SKSS VTN; thực trạng về nội dung, hình thức, người thực hiện, phương pháp thực hiện giáo dục SKSS cho HS. Phần 3 là thực trạng quản lý hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản cho HS tại các trường THPT gồm các câu hỏi liên quan đến: tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động giáo dục SKSS, các quy trình quản lý giáo dục SKSS cho HS (công tác xây dựng kế hoạch; tổ chức thực hiện; chỉ đạo thực hiện; kiểm tra, giám sát và đánh giá việc thực hiện hoạt động giáo dục SKSS cho HS) và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho HS.

Phiếu khảo sát thứ 2 được xây dựng dành cho HS tại các trường THPT. Thang đo gồm có 4 câu với 2 phần. Phần thứ nhất là thông tin cá nhân. Phần thứ 2 tìm hiểu thực trạng hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên tại các trường THPT gồm các câu hỏi liên quan đến tầm quan trọng, thực trạng về nội dung, hình thức, người thực hiện, phương pháp thực hiện giáo dục SKSS cho HS.

Phiếu khảo sát dành cho CBQL và GV và phiếu khảo sát dành cho HS được thiết kế như sau: (1) trước khi soạn thảo phiếu, người nghiên cứu phỏng vấn sơ khởi một số CBQL, GV và HS. Mục đích để tìm hiểu về thực tiễn công tác quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho HS tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Kết hợp giữa nội dung thu được sau khi phỏng vấn và nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác quản lý giáo dục SKSS cho HS, chúng tôi xây dựng thành 2 phiếu khảo sát chính thức.

Phiếu khảo sát sử dụng thang đo Likert-scales 5 mức độ được sắp xếp theo mức độ tăng dần (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2012). Điểm số được quy đổi theo thang bậc 5. Điểm thấp nhất là 1, cao nhất là 5 và chia làm 5 mức với cách tính điểm như sau:

  • Bảng 2.7. Cách phân bố điểm của thang đo

2.2.4. Xử lý số liệu Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

Chúng tôi sử dụng chương trình SPSS để xử lý số liệu thu thập được. Các phép tính thống kê được sử dụng trong đề tài là:

  • Phân tích ĐTB;
  • Kiểm định One-Sample T-Test được sử dụng để so sánh ĐTB

Đặt giả thuyết:

  • H0: Không có sự khác biệt mang ý nghĩa về mặt thống kê trong việc ĐG một chỉ tiêu nghiên cứu giữa hai hay nhiều nhóm đối tượng được khảo sát.
  • H1: Có sự khác biệt mang ý nghĩa về mặt thống kê trong việc ĐG một chỉ tiêu nghiên cứu giữa hai hay nhiều nhóm đối tượng được khảo sát.

Kết quả:

  • Nếu giá trị Sig. (2-tailed) nhỏ hơn 0.05, ta bác bỏ H0 và chấp nhận H1. Nếu giá trị Sig. (2-tailed) lớn hơn hoặc bằng 0.05, ta chấp nhận H0.
  • Trong đó, qui định về ý nghĩa của ĐTB của thang đo như sau:
  • Giá trị khoảng cách của các mức độ là max 𝑚𝑖𝑛 = 5−1 = 0.8

Bảng 2.8. Ý nghĩa của ĐTB của thang đo

2.2.5. Đối tượng nghiên cứu

Một số CBQL, GV và HS. Nhằm tìm hiểu về thực tiễn công tác quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho HS tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Kết hợp giữa nội dung thu được sau khi phỏng vấn và nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác quản lý giáo dục SKSS cho HSLuận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

2.3. Thực trạng hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

Để đánh giá thực trạng giáo dục SKSS cho học sinh tại các trường THPT huyện Phú Giáo, người nghiên cứu đã tiến hành khảo sát thực trạng thực hiện nội dung giáo dục SKSS, các hình thức giáo dục SKSS, các phương pháp sử dụng, người thực hiện giáo dục SKSS cho học sinh và nhận thức của CBQL và GV về công tác giáo dục SKSS tại trường. Kết quả khảo sát được thể hiện bên dưới.

2.3.1. Nội dung giáo dục SKSS VTN được thực hiện tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

  • Bảng 2.9. Nội dung giáo dục SKSS VTN

Kết quả ở bảng 2.9 cho thấy tất cả CBQL và GV đều nhận xét rằng các nội dung: “Tâm sinh lý của trẻ vị thành niên”, “Tình bạn”, “Tình yêu”, “Tình dục”, “Sức khỏe sinh sản”, “Các quyền và thông tin pháp luật về SKSS “, “Hôn nhân gia đình”, và “Kế hoạch hoá gia đình” đều được đưa vào giáo dục cho học sinh tại các trường THPT ở mức “thỉnh thoảng” hoặc là “không thường xuyên” (TTB từ 2.80 đến 3.17).

Trong khi đó, học sinh cho rằng nhà trường hiện nay “thường xuyên” giáo dục các em các nội dung về “Tình bạn” (TTB: 4.07) và “rất hiếm khi” giáo dục các em kiến thức về “Tình dục” (TTB: 2.46). Cũng giống như ý kiến của CBQL và GV, học sinh cho rằng hiện nay nội dung như “Tâm sinh lý của trẻ vị thành niên”, “Tình yêu”, “Sức khỏe sinh sản”, “Các quyền và thông tin pháp luật về SKSS “, “Hôn nhân gia đình”, và “Kế hoạch hoá gia đình” không được thực hiện thường xuyên tại trường THPT.

Như vậy kết quả cho thấy mặc dù CBQL và GV thể hiện họ bước đầu quan tâm giáo dục đa dạng các nội dung liên quan đến SKSS cho học sinh, tuy nhiên mức độ thực hiện giáo dục các nội dung trên thì không thường xuyên. Qua ý kiến đánh giá của học sinh, có thể thấy các trường THPT tại huyện Phú Giáo thường xuyên giáo dục các nội dung về tình bạn cho học sinh hơn là những nội dung khác, đặc biệt hiện nay các em hiếm khi được giáo dục về kiến thức tình dục.

2.3.2. Thực trạng thực hiện các hình thức giáo dục SKSS vị thành niên tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

  • Bảng 2.10. Mức độ thực hiện các hình thức giáo dục SKSS VTN

Từ kết quả ở bảng 2.10 chúng tôi nhận thấy rằng thực tế hiện nay việc thực hiện giáo dục SKSS dưới hình thức là “Môn học riêng”, “Sinh hoạt câu lạc bộ”, “Chuyên gia báo cáo” và “Hòm thư tư vấn” là nhà trường chưa đưa vào thực hiện hoặc rất hiếm khi thực hiện (TTB: từ 2.33 đến 2.39). Các hình thức giáo dục SKSS như “Tư vấn trực tiếp”, “Tổ chức lồng ghép thông qua sinh hoạt văn nghệ”, “Thi tìm hiểu về SKSS”, “Thảo luận chuyên đề”, “Lồng vào nội dung môn học “ và “Sinh hoạt ngoại khóa” được CBQL và GV nhận xét là “không thường xuyên” hay “thỉnh thoảng” được thực hiện tại trường. Qua phỏng vấn một GV chia sẻ: “Nhà trường thỉnh thoảng có tổ chức các buổi sinh hoạt ngoại khóa cho học sinh về chủ đề SKSS nhưng cũng không nhiều. Bản thân tôi và nhiều đồng nghiệp tôi biết cũng chỉ chú trọng việc dạy môn học chứ ít khi nói về SKSS” (GV 003). Một GV khác cũng cho rằng: “Tôi có lồng ghép kiến thức giáo dục SKSS trong quá trình dạy môn Sinh học, như thật ra chúng tôi chỉ dạy theo kinh nghiệm và chia sẻ quan điểm cá nhân cho học sinh nếu có thắc mắc. Mà các em cũng ít khi thắc mắc về vấn đề này, có lẽ do các em cũng ngại…” (GV 005).

Tương đồng với ý kiến của CBQL và GV, học sinh cũng nhận xét rằng các hình thức như giáo dục SKSS thông qua “Môn học riêng”, “Sinh hoạt câu lạc bộ”, “Thảo luận chuyên đề”, “Chuyên gia báo cáo” và “Hòm thư tư vấn” và “Tư vấn trực tiếp” là nhà trường chưa đưa vào thực hiện hoặc rất hiếm khi thực hiện (TTB: từ 1.45 đến 2.48). Các hình thức giáo dục SKSS còn lại như “Tổ chức lồng ghép thông qua sinh hoạt văn nghệ”, “Thi tìm hiểu về SKSS”, “Lồng vào nội dung môn học “ và “Sinh hoạt ngoại khóa” được học sinh nhận xét là “không thường xuyên” hay “thỉnh thoảng” được thực hiện tại trường (TTB: 2.63 đến 3.29).

Kết quả khảo sát mức độ thực hiện hình thức giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương cho thấy hầu như CBQL và GV cũng như học sinh cho thấy các trường THPT tại huyện Phú Giáo chưa sử dụng đa dạng các hình thức giáo dục SKSS cho học sinh tại trường. Một số hình thức đã được quan tâm triển khai tuy nhiên chỉ ở mức độ thi thoảng hoặc không thường xuyên. CBQL, GV và học sinh cho rằng việc giáo dục SKSS chưa được xem là một môn học chính thức, các hình thức giáo dục SKSS được thưc hiện với xu hướng bổ sung, kết hợp như lồng vào nôi dung môn học, sinh hoạt ngoại khóa, thông qua thi văn nghệ… Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

2.3.3. Phương pháp thực hiện giáo dục SKSS vị thành niên tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

  • Bảng 2.11. Mức độ thực hiện phương pháp giáo dục SKSS VTN

Kết quả ở bảng 2.11 cho thấy cả CBQL, GV và học sinh đều nhận xét rằng phương pháp giáo dục SKSS “giảng giải, giải thích” (TTB của QCQL và GV là 3.89; TTB của HS là 3.44) và “Trò chuyện” (TTB của QCQL và GV là 3.41; TTB của HS là 3.48) được CBQL và GV sử dụng “Thường xuyên”. Ngược lại, các phương pháp giáo dục SKSS VTN như: “Tập luyện, rèn luyện”, “Cho HS tham gia các hoạt động thực tiễn”, “Làm gương, nêu gương”, “Khen thưởng” và “Trách phạt” được nhà trường sử dụng ở mức độ “thỉnh thoảng” hoặc “không thường xuyên’. (TTB của ý kiến CBQL và GV từ 2.62 đến 2.98, còn TTB của ý kiến HS là từ 2.65 đến 3.04).

Như vậy, kết quả khảo sát mức độ thực hiện các phương pháp GDSKSS cho vị thành niên tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương cho thấy phương pháp phổ biến là phương pháp dùng lời giải thích và trò chuyện. Trong khi đó, HS ít được tham gia rèn luyện và thực hành thực tiễn. Có thể thấy, đây chính là một trong những hạn chế của giáo dục Việt Nam khi đặt nặng lý thuyết và ít chú trọng vận dụng thực hành, cụ thể trong quá trình giáo dục SKSS cho HS.

2.3.4. Thực trạng người thực hiện hoạt động giáo dục SKSS vị thành niên tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

  • Bảng 2.12. Mức độ thực hiện của người phụ trách giáo dục SKSS VTN

Kết quả bảng 2.12 cho thấy CBQL và GV nhận xét rằng việc giáo dục SKSS cho HS được “thường xuyên” thực hiện bởi “Giáo viên giảng dạy môn học” (TTB: 3.54). Trong khi đó, “Giáo viên chuyên trách GDSKSS”, “Chuyên viên tư vấn tâm lý trong trường” và “Chuyên gia tâm lý học ngoài trường” được nhận xét là rất hiếm khi hoặc rất không thường xuyên thực hiện công tác giáo dục SKSS cho HS (TTB: từ 2.26 đến 2.8). “Cán bộ y tế trong trường”, “Cán bộ đoàn hội” và “Giáo viên chủ nhiệm” được nhận xét là thỉnh thoảng hoặc không thường xuyên thực hiện giáo dục SKSS cho HS.

Tương tự như ý kiến của CBQL và GV, học sinh cũng cho rằng “Giáo viên chuyên trách GDSKSS”, “Chuyên viên tư vấn tâm lý trong trường” và “Chuyên gia tâm lý học ngoài trường” rất hiếm khi hoặc rất không thường xuyên thực hiện công tác giáo dục SKSS VTN (TTB: từ 2.23 đến 2.47). Còn “Giáo viên giảng dạy môn học”, “Cán bộ y tế trong trường”, “Cán bộ đoàn hội” và “Giáo viên chủ nhiệm” được học sinh nhận xét là thỉnh thoảng hoặc không thường xuyên thực hiện giáo dục SKSS tại nhà trường (TTB từ 2.75 đến 3.27).

Tóm lại, kết quả khảo sát mức độ thực hiện của cá nhân phụ trách hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương cho thấy người thực hiện GDSKSS cho HS thường là các thầy cô giảng dạy trong từng môn học.

2.3.5. Nhận thức và đánh giá chung của CBQL và GV về hoạt động giáo dục SKSS VTN tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

Để đánh giá thực trạng nhận thức của đội ngũ CBQL và GV cũng như HS về thực trạng giáo dục SKSS VTN tại các trường THPT tại huyện Phú Giáo tỉnh Bình Dương, người nghiên cứu đã tiến hành khảo sát và kết quả như sau:

  • Bảng 2.13. Đánh giá chung về hoạt động giáo dục SKSS VTN tại các trường THPT

Kết quả bảng 2.13 cho thấy cả CBQL, GV và HS đều thể hiện “rất đồng ý” rằng “GDSKSS là hoạt động cần thiết và bổ ích cho HS” (TTB của CBQL và GV: 4.23 và TTB của HS: 4.45). Hầu như CBQL, GV và HS cũng nhận xét rằng họ đồng ý một phần rằng: “Nội dung GDSKSS của nhà trường đa dạng và phù hợp với yêu cầu của cuộc sống”, “Phương pháp và hình GD SKSS phong phú và hấp dẫn”, “Có chương trình GDSKSS thống nhất cho học sinh” và “GV/HS hài lòng với chất lượng giáo dục SKSS tại trường” (TTB của CBQL & GV từ 2.61 đến 3.12; TTB của HS từ 2.81 đến 3.35). Cả CBQL, GV và HS đều “đồng ý” rằng: “Hoạt động giáo dục SKSS đáp ứng nhu cầu của HS” và “Học sinh hưởng ứng và tham gia học tập tích cực các nội dung GDSKSS”

Như vậy kết quả khảo sát nhận thức về hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương cho thấy cả 2 nhóm khách thể đều rất đồng ý rằng GDSKSS ở trường THPT là một hoạt động càn thiết và bổ ích cho HS. Tuy nhiên, cả CBQL, GV và HS cũng nhận xét rằng nội dung GDSKSS của nhà trường chưa hoàn toàn đa dạng và phù hợp với yêu cầu của cuộc sống, phương pháp và hình thức GD SKSS cũng chưa hoàn toàn phong phú và hấp dẫn và hiện nay cũng chưa có chương trình GDSKSS thống nhất cho học sinh ở các trường THPT tại huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

2.4. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

Nhằm giúp đánh giá đúng thực trạng quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho học sinh tại các trường THPT huyện Phú Giáo, người nghiên cứu đã tiến hành khảo sát thực trạng hiệu trưởng thực hiện các quy trình: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá việc thực hiện hoạt động giáo dục SKSS VTN cho HS. Đồng thời, người nghiên cứu khảo sát đánh giá chung về hiệu quả thực hiện quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho HS theo các quy trình trên. Cuối cùng, là khảo sát những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN cho HS tại các trường THPT huyện Phú Giáo. Kết quả khảo sát được thể hiện như sau:

2.4.1. Lập kế hoạch hoạt động giáo dục SKSS VTN tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

  • Bảng 2.14. Lập kế hoạch giáo dục SKSS VTN tại các trường THPT

Kết quả bảng 2.14 cho thấy, cả CBQL và GV đều nhận xét trong quy trình quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN, hiệu trưởng “thường xuyên” “xác định mục tiêu chương trình giáo dục SKSS” của nhà trường (TTB: 3.48) và Xác định chương trình, nội dung, PP và hình thức GDSKSS dự kiến” (TTB: 3.43).

Đối với các nội dung “Yêu cầu GV xây dựng kế hoạch theo năm/tháng/tuần cho GDSKSS”, “Dự trù kinh phí để thực hiện công tác GDSKSS”, “Xây dựng kế hoạch mua sắm, bảo trì trang thiết bị, CSVC phục vụ hoạt động GDSKSS”, “Lập kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao NL tổ chức GDSKS cho CB và GV” và “Thông báo các kế hoạch về hoạt động GDSKSS rộng rãi đến GV và HS” (TTB từ 2.76 đến 2.88), CBQL và GV đánh giá là hiệu trưởng “không thường xuyên” thực hiện. Qua phỏng vấn, một CBQL chia sẻ rằng: “ …Thực ra, nhà trường dành rất ít và đôi khi không có kinh phí dành cho hoạt động cho GDSKSS vì nó không nằm trong kế hoạch chi tiêu của nhà trường. Các giáo viên thực hiện GDSKSS vì tâm huyết thôi…”. Một GV cũng chia sẻ: “chúng tôi hầu như không được tham gia các lớp chuyên đề tập huấn hoặc bồi dưỡng về kiến thức giáo dục SKSS VTN, những gì chúng tôi giáo dục HS về SKSS trong quá trình dạy môn học chủ yếu là dựa vào hiểu biết và kinh nghiệm của mình” (GV 002).

Như vậy, qua phân tích bên trên có thể thấy hiệu trưởng đã xác định cụ thể các mục tiêu trong việc lập kế hoạch quản lý công tác giáo dục SKSS cho HS và xác định nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục SKSS. Tuy nhiên, hiệu trưởng chưa thường xuyên yêu cầu GV tự xây dựng kế hoạch giáo dục SKSS cho HS trong quá trình dạy học, cũng không thường xuyên thông báo rộng rãi đến CB, GV và HS về kế hoạch thực hiện giáo dục SKSS của nhà trường. Ngoài ra, có thể thấy vấn đề lập kế hoạch trang bị kinh phí và trang bị thiết bị GDSKSS cũng như nâng cao hiểu biết và kỹ năng của CBQL và GV về công tác giáo dục SKSS ở nhà trường còn hạn chế.

2.4.2. Tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục SKSS VTN tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

  • Bảng 2.15. Tổ chức thực hiện giáo dục SKSS VTN tại các trường THPT

Kết quả ở bảng 2.15 cho thấy, cả CBQL và GV đánh giá rằng hiệu trưởng thường xuyên thực hiện các nội dung sau: “Lập ban chỉ đạo phụ trách quản lý thực hiện chương trình GDSKSS”, “Phân công cụ thể cán bộ phụ trách GDSKSS phù hợp với quyền hạn và nhiệm vụ được giao” và “Khích lệ giáo viên và học sinh tích cực thực hiện mục tiêu GDSKSS” (TTB từ 3.87 đến 4.14).

Các nội dung cả CBQL và GV đánh giá hiệu trưởng thỉnh thoảng thực hiện gồm: “Bảo đảm đầy đủ các phương tiện, điều kiện CSVC và nguồn lực để thực hiện GDSKSS”, “Phối hợp chặt chẽ với các lực lượng bên ngoài nhà trường thực hiện công tác GDSKSS” và “Xây dựng nội bộ đoàn kết, phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện GDSKSS” (TTB từ 2.86 đến 2.97). Kết quả phỏng vấn từ CBQL và GV cũng cho hiện nay tại các trường THPT huyện Phú Giáo, cơ chế phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội hay các lực lượng giáo dục khác trong việc triển khai thực hiện hoạt động giáo dục SKSS cho HS chưa được thực hiện thường xuyên. Cụ thể, một GV cho rằng:  “ hiệu trưởng chưa huy động tốt sự tham gia của chính quyền địa phương, Hội cha mẹ học sinh và các lực lượng khác trong việc thống nhất mục tiêu giáo dục SKSS cũng như tổ chức các hoạt động giáo dục SKSS trong nhà trường”(GV 006).

Như vậy, có thể thấy hiện nay trong công tác tổ chức thực hiện quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN, hiệu trưởng chủ yếu khích lệ GV và HS tích cực thực hiện mục tiêu giáo dục SKSS, phát huy vai trò chủ thể và tự giáo dục của HS, mà chưa ưu tiên đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất, xây dựng nội bộ đoàn kết cũng như phối hợp chặt chẽ với gia đình và các lực lượng khác trong việc thực hiện giáo dục SKSS cho HS tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

2.4.3. Công tác chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục SKSS vị thành niên tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

  • Bảng 2.16. Chỉ đạo thực hiện giáo dục SKSS VTN tại các trường THPT

Kết quả ở bảng 2.16 cho thấy cả CBQL và GV đánh giá rằng trong quá trình quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho HS, hiệu trưởng thường xuyên chỉ đạo CBQL và GV “lồng ghép nội dung GDSKSS vào các môn học theo quy định của Bộ GD&ĐT”, “Triển khai nội dung GDSKSS thông qua một số chủ đề về hoạt động NGLL” “Mời các chuyên gia, tổ chức trong và ngoài trường để GDSKSS cho học sinh”. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

CBQL và GV cho rằng hiệu trưởng thỉnh thoảng chỉ đạo GV “Quy định cụ thể số tiết lên lớp, thảo luận, làm bài tập của môn học có lồng ghép nội dung GDSKSS”, “Triển khai nội dung GDSKSS thông qua các hoạt động xã hội” “ sử dụng đa dạng các nội dung, phương pháp, hình thức GDSKSS cho HS” (TTB từ 2.79 đến 2.96). Tuy nhiên, CBQL và GV đánh giá rằng hiệu trưởng không thường xuyên chỉ đạo “các tổ chuyên môn lồng ghép nội dung hoạt động giáo dục SKSS vào các buổi sinh hoạt chuyên môn” (TTB: 2.56) để tạo điều kiện GV có cơ hội học hỏi, trao đổi và chia sẻ cũng như thảo luận về nội dung và phương pháp giáo dục SKSS hiệu quả cho HS.

Tóm lại, kết quả khảo sát khâu chỉ đạo thực hiện giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương cho thấy hiện nay công tác giáo dục SKSS VTN được chỉ đạo thực hiện lồng ghép vào các môn học và triển khai lồng ghép thông qua hoạt động NGLL chứ chưa có một môn học riêng, chính thống. Nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục SKSS VTN ở trường THPH cũng chưa được chỉ đạo để đa dạng hoá. Hiệu trưởng cũng chưa chỉ đạo quyết liệt các buổi sinh hoạt tổ chuyên môn cần phải lồng ghép nội dung giáo dục SKSS để mọi người cùng trao đổi với nhau những kinh nghiệm, hiểu biết và thực tiễn triển khai tốt nhất.

2.4.4. Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện giáo dục SKSS vị thành niên tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

  • Bảng 2.17. Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện giáo dục SKSS VTN tại các trường THPT

Kết quả từ bảng 2.17 cho thấy CBQL và GV đều nhận xét hiệu trưởng không thường xuyên thực hiện “Ban hành các quy định về hình thức khen thưởng, kỷ luật liên quan đến công tác GDSKSS của cá nhân và tổ chức có liên quan”, “Tiến hành kiểm tra, giám sát và đánh giá thường xuyên, định kỳ việc thực hiện kế hoạch GD SKSS đã đề ra” (TTB: 2.42) và “Định kì điều chỉnh, cập nhật và cải tiến chương trình GDSKSS” (TTB: 2.34).

Các nội dung cả CBQL và GV nhận xét hiệu trưởng thỉnh thoảng thực hiện, đó là: “Xác định các tiêu chí để ĐG mức độ hoàn thành các mục tiêu về công tác GDSKSS của nhà trường”, “Tiến hành khen thưởng và xử phạt theo qui định kịp thời và hợp lý” và “Tiến hành rút kinh nghiệm và cải tiến công tác GDSKSS sau quá trình kiểm tra, đánh giá” (TTB từ 2.77 đến 2.91).

Tóm lại, kết quả khảo sát khâu kiểm tra, đánh giá công tác quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên của hiệu trưởng tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương cho thấy hiệu trưởng chưa thực sự quan tâm thực hiện công tác kiểm tra đánh giá cũng như giám sát việc triển khai giáo dục SKSS VTN tại trường. Cụ thể, trong công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá, hiệu trưởng chưa thực hiện thường xuyên việc xây dựng và ban hành các quy định về hình thức khen thưởng, kỷ luật liên quan đến công tác giáo dục SKSS VTN; chưa thường xuyên kiểm tra, giám sát và đánh giá việc thực hiện kế hoạch GD SKSS cũng như đánh giá việc điều chỉnh, cập nhật và cải tiến chương trình GDSKSS cho HS.

2.4.5. Ý kiến đánh giá của CBQL và GV về hiệu quả công tác quản lý giáo dục SKSS VTN tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

  • Bảng 2.18. Đánh giá chung về công tác quản lý giáo dục SKSS VTN

Kết quả ở bảng 2.18 thể hiện CBQL và GV đánh giá rằng trong công tác quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN, hiệu trưởng quản lý các khâu: “xây dựng kế hoạch giáo dục SKSS”, “Tổ chức thực hiện giáo dục SKSS” và “Chỉ đạo thực hiện giáo dục SKSS” với hiệu quả ở mức trung bình (TTB từ 2.94 đến 3.01). Riêng khâu cuối cùng: “Kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục SKSS” (TTB: 2.53) , cả CBQL và GV nhận xét hiệu trưởng thực hiện quản lý với hiệu quả ở mức trung bình yếu. Qua phỏng vấn, một GV cho rằng: “công tác giáo dục SKSS cho học sinh tại trường được ban giám hiệu nhà trường rất quan tâm chỉ đạo triển khai, tuy nhiên thực tế triển khai như thế nào, có khó khăn gì hay không, kế hoạch điều chỉnh cải tiến ra sao, thì đôi khi còn bỏ ngõ” (GV 007). Tương tự, một CBQL của một trường THPT chia sẻ: “Giáo dục SKSS cho HS chủ yếu được dạy lồng ghép vào môn học do giáo viên bộ môn phụ trách…có thể nói công tác giám sát và đánh giá thường xuyên việc thực hiện giáo dục SKSS VTN của giáo viên tại nhà trường hiện nay còn yếu vì chưa có quy định cụ thể và rõ ràng, nhà trường chủ yếu giao phó cho GV phụ trách tự kiểm tra đánh giá và điều chỉnh” (CBQL 002).

Tóm lại, kết quả khảo sát đánh giá chung về công tác quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên của hiệu trưởng tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương cho thấy hiệu quả quản lý chưa cao, đặc biệt khâu kiểm tra, giám sát và đánh giá được thực hiện chưa thực sự hiệu quả.

2.4.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

  • Bảng 2.19. Các yếu tố liên quan đến quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN tại các trường THPT

Kết quả ở bảng 2.19 thể hiện, cả CBQL và GV đều “đồng ý” rằng những khó khăn ảnh hưởng tới công tác quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN của hiệu trưởng là: “Giáo viên chưa có chuyên môn, chưa được huấn luyện về GDSKSS” và “Thiếu sự phối hợp giữa các cá nhân, tổ chức trong và ngoài trường khi thực hiện giáo dục GDSKSS” (TTB từ 3.71 đến 3.74). Tuy nhiên, cả CBQL và GV đều “không đồng ý” khi nhận xét “Ban giám hiệu chưa thật sự quan tâm công tác GDSKSS” (TTB: 2.41); “Các lực lượng tham gia GDSKSS chưa nhận thức đúng vai trò quan trọng của hoạt động GD SKSS VTN” (TTB: 2.42) và “Thiếu chế độ chính sách đối với hoạt động GD SKSS cho HS” (TTB: 2.57).

Qua kết quả phân tích bên trên cho phép kết luận Ban giám hiệu các trường THPT huyện Phú Giáo quan tâm đến công tác giáo dục SKSS cho học sinh. Thế nhưng, bên cạnh đó có nhiều yếu tố ảnh hưởng có thể gây khó khăn hoặc không thuận lợi cho việc triển khai quản lý công tác giáo dục SKSS của hiệu trưởng như nguồn lực thực hiện giáo dục thiếu kiến thức và kỹ năng thực hiện giáo dục SKSS và sự phối hợp giữa các cá nhân và tổ chức trong và ngoài trường chưa chặt chẽ.

2.5. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục SKSS vị thành niên tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

Kết quả phân tích thực trạng giáo dục SKSS VTN tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương thể hiện như sau:

Đa số CBQL và GV bước đầu quan tâm đa dạng hoá các nội dung giáo dục SKSS cho học sinh ở các trường THPT huyện Phú Giáo song việc triển khai các nội dung này trong thực tiễn không xảy ra thường xuyên. Học sinh tại các trường này cũng phản ánh rằng các em được giáo dục nhiều hơn về chủ đề tình bạn so với các kiến thức về các chủ đề khác. Hình thức giáo dục SKSS cho học sinh tại trường chưa đa dạng, chủ yếu được thực hiện lồng ghép vào nôi dung môn học, sinh hoạt ngoại khóa hoặc thông qua thi văn nghệ…Phương pháp giáo dục cũng không phong phú, GV chủ yếu sử dụng thường xuyên là giải thích và trò chuyện với HS để các em hiểu về kiến thức SKSS và người thực hiện giáo dục SKSS cho HS chủ yếu là thầy cô giảng dạy môn học và hiện nay chưa có chương trình giáo dục SKSS thống nhất cho học sinh ở các trường THPT tại huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

Hiệu trưởng ở các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương điều hành hoạt giáo dục SKSS theo các bước: từ lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện đến kiểm tra, đánh giá việc thực hiện. Tuy nhiên, khâu kiểm tra giám sát và cải tiến hiệu trưởng chưa quan tâm thực hiện không thường xuyên, hiệu quả thực hiện khâu này còn thấp. Trong khâu lập kế hoạch, hiệu trưởng đã xác định cụ thể các mục tiêu trong việc lập kế hoạch quản lý công tác giáo dục SKSS cho HS và xác định nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục SKSS. Tuy nhiên, hiệu trưởng chưa thường xuyên yêu cầu GV tự xây dựng kế hoạch giáo dục SKSS cho HS trong quá trình dạy học, cũng không thường xuyên thông báo rộng rãi đến CB, GV và HS về kế hoạch thực hiện giáo dục SKSS của nhà trường. Bên cạn đó, việc lập kế hoạch trang bị kinh phí và trang bị thiết bị GDSKSS cũng như nâng cao hiểu biết và kỹ năng của CBQL và GV về công tác giáo dục SKSS ở nhà trường chưa được thực hiện thường xuyên để giúp GV có kiến thức và kỹ năng cần thiết thực hiện giáo dục SKSS cho HS.

Đối với công tác tổ chức thực hiện quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN, hiệu trưởng chủ yếu khích lệ GV và HS tích cực thực hiện mục tiêu giáo dục SKSS, phát huy vai trò chủ thể và tự giáo dục của HS, mà chưa ưu tiên đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất, xây dựng nội bộ đoàn kết cũng như phối hợp chặt chẽ với gia đình và các lực lượng khác trong việc thực hiện giáo dục SKSS cho HS. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

Trong khâu chỉ đạo, hiệu trưởng chỉ đạo GV thực hiện lồng ghép vào các môn học và triển khai lồng ghép thông qua hoạt động NGLL chứ chưa có một môn học riêng, chính thống. Nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục SKSS VTN ở trường THPH cũng chưa được đa dạng hoá. Hiệu trưởng cũng chưa chỉ đạo quyết liệt các buổi sinh hoạt tổ chuyên môn cần phải lồng ghép nội dung giáo dục SKSS để mọi người cùng trao đổi với nhau những kinh nghiệm, hiểu biết và thực tiễn triển khai tốt nhất.

Trong công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá, HT chưa thực hiện thường xuyên việc xây dựng và ban hành các quy định về hình thức khen thưởng, kỷ luật liên quan đến công tác giáo dục SKSS VTN; chưa thường xuyên kiểm tra, giám sát và đánh giá việc thực hiện kế hoạch GD SKSS cũng như đánh giá việc điều chỉnh, cập nhật và cải tiến chương trình GDSKSS cho HS.

Kết quả khảo sát cho thấy có rất nhiều yếu tố có thể gây khó khăn cho hiệu trưởng trong việc thực hiện quản lý công tác giáo dục SKSS cho HS tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Trong đó, sự thiếu hụt về kinh phí, cơ sở vật chất, GV thiếu kiến thức và kỹ năng thực hiện giáo dục SKSS và sự phối hợp giữa các cá nhân và tổ chức trong và ngoài trường chưa chặt chẽ.

TIỂU KẾT CHƯƠNG II

Kết quả khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương cho thấy Ban giám hiệu nhà trường thực sự quan tâm và đã có nhận thức đúng về vai trò, tầm quan trọng của công tác giáo dục SKSS cho HS. Mặc dù vậy, việc triển khai quản lý hoạt động này trong thực tiễn còn chưa triệt để.

Trong công tác quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN, hiệu trưởng đã thực hiện công tác lập kế hoạch, công tác tổ chức và chỉ đạo triển khai giáo dục SKSS cho HS và mới bước đầu kiểm tra đánh giá giám sát việc triển khai. Tuy nhiên, trong khâu kiểm tra, đánh giá và giám sát, hiệu trưởng chưa thường xuyên thực hiện yêu cầu GV điều chỉnh cải tiến nội dung chương trình giáo dục SKSS cũng như thực tế triển khai, cũng chưa xây dựng và ban hành các quy định về hình thức khen thưởng liên quan đến công tác giáo dục SKSS VTN của GV. Ngoài ra, công tác lập kế hoạch bồi dưỡng kiến thức và nâng cao năng lực cho GV về công tác giáo dục SKSS cũng chưa được hiệu trưởng thực hiện tốt; việc đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất cho hoạt động giáo dục SKSS còn hạn chế và sự phối hợp giữa các lực lượng trong việc triển khai công tác giáo dục SKSS VTN chưa được chặt chẽ.

Với những ưu điểm và những điều còn tồn tại trong công tác quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN của hiệu trưởng cho thấy thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đã khẳng định giả thuyết đã được phát biểu ở phần mở đầu của luận văn. Do đó, có thể cho phép kết luận rằng giả thuyết mà đề tài đặt ra là đúng trong bối cảnh quản lý của các trường THPT tại huyện Phú Giáo.

Nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục SKSS tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, hiệu trưởng cần có hệ thống những biện pháp quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho HS toàn diện và phù hợp với thực tiễn của mỗi trường học. Nội dung các nhóm biện pháp đề xuất được trình bày trong chương 3 của luận văn này. Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp QL giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993