Luận văn: Thực trạng QLGD phòng tránh xâm hại tình dục cho HS

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QLGD phòng tránh xâm hại tình dục cho HS hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng công tác quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường trung học phổ thông huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế-xã hội, giáo dục huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận

2.1.1. Điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế-xã hội

  • a/. Điều kiện tự nhiên

Huyện Ninh Sơn nằm ở phía tây bắc tỉnh Ninh Thuận, cách thành phố Phan Rang – Tháp Chàm 36 km, thành phố Đà Lạt 74 km, thành phố Cam Ranh 52 km, tổng diện tích tự nhiên 77.194 ha, chiếm 22,95% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh.

  • Phía đông: giáp Thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
  • Phía Tây: giáp huyện Đơn Dương tỉnh Lâm Đồng.
  • Phía Nam: giáp huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
  • Phía Bắc: giáp huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận.

Huyện Ninh Sơn là cửa ngõ giao lưu của tỉnh Ninh Thuận với tỉnh Lâm Đồng và các tỉnh Tây Nguyên, có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng. Với nhiều cảnh quan thiên nhiên, các điểm du lịch hấp dẫn như rừng nguyên sinh, đèo Ngoạn Mục, thác Sakai, suối Thương, thác Tiên, khu du lịch sinh thái Sông Ông,… là một lợi thế để phát triển du lịch sinh thái rừng, thể thao, leo núi, dịch vụ vui chơi giải trí nghỉ dưỡng. Là huyện có điều kiện tự nhiên thích hợp cho phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, được hưởng lợi đầu nguồn nhà máy thủy điện Đa Nhim, đập thủy lợi Sông Pha, Nha Trinh, hồ Cho Mo và trong tương lai là đập dâng Tân Mỹ, hồ Sông Than,… đây là cơ hội tốt để phát triển kinh tế – xã hội của huyện trong giai đoạn tới. (Trang thông tin điện tử huyện Ninh Sơn, 2021)

  • b/. Tình hình kinh tế-xã hội Luận văn: Thực trạng QLGD phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.

Năm 2024, huyện tập trung chỉ đạo, điều hành nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội trên địa bàn cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu đề ra. Có 14/16 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch; trong đó, kinh tế đạt 6/6 chỉ tiêu, xã hội đạt 7/8 chỉ tiêu, quốc phòng, an ninh đạt 1/2 chỉ tiêu. Tổng thu ngân sách 310,85 tỷ đồng/290,7 tỷ đồng, đạt 106% dự toán năm, tăng 4,6% so với cùng kỳ. Trong đó, thu ngân sách trên địa bàn 61 tỷ đồng/58,9 tỷ đồng, đạt 103% kế hoạch năm, tăng 19,2% so với cùng kỳ. Các hoạt động văn hóa-xã hội được đẩy mạnh; chế độ chính sách đối với người có công, công tác an sinh xã hội được giải quyết kịp thời, đúng quy định; đời sống nhân dân được cải thiện, bộ mặt nông thôn mới có nhiều khởi sắc…

Trong năm 2025, huyện Ninh Sơn đề ra mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng ổn định 11% và phấn đấu cao hơn; trong đó, nông, lâm, thủy sản tăng 6%, công nghiệp, xây dựng tăng 18%, thương mại, dịch vụ tăng 11%. Tổng sản lượng lương thực 80.000 tấn; duy trì tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên 1%, giảm tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất 2,1%, giải quyết việc làm cho 3.100 lao động, đào tạo nghề cho 500 lao động, phấn đấu tăng từ 2-3% dân số tham gia bảo hiểm y tế và đề nghị công nhận 2 trường chuẩn quốc gia. Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; nâng cao hiệu lực quản lí nhà nước trên các lĩnh vực đất đai, tài nguyên rừng, cải cách hành chính, trật tự an toàn xã hội… (Kim Phụng, 2024a)

2.1.2. Tình hình giáo dục

Huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận được thành lập theo Nghị định số 84/2010/NĐ-CP của Chính phủ, trên cơ sở tách ra từ huyện An Sơn và chính thức đi vào hoạt động từ năm 1982. Toàn huyện Ninh Sơn có 43 đơn vị giáo dục, với trên dưới 14.000 học sinh, 778 giáo viên, trong đó 98,97% giáo viên có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn. Với mục tiêu nâng cao chất lượng, thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục, ngay từ đầu mỗi năm học, phòng giáo dục chỉ đạo các trường đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Năm học vừa qua, chất lượng giáo dục được giữ ổn định và có bước chuyển biến tích cực. Đặc biệt, mạng lưới trường học được củng cố, hoàn thiện gắn với mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng nhu cầu dạy và học. Kết quả chất lượng học sinh bậc mầm non đạt 95%, bậc tiểu học đạt 99% và bậc trung học cơ sở đạt 97,5%. Có 1.542 học sinh lớp 1 đúng độ tuổi, đạt 100%; 1.037/1038 học sinh được công nhận tốt nghiệp trung học cơ sở. Công tác giáo dục đạo đức, lối sống và giáo dục thể chất được đẩy mạnh… Luận văn: Thực trạng QLGD phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.

Nhiệm vụ năm học mới với nhiều chỉ tiêu: Phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục và đào tạo. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục các cấp. Đổi mới chương trình giáo dục mầm non, phổ thông. Đẩy mạnh giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng trong giáo dục phổ thông. Nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh ở các cấp học và trình độ đào tạo. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy, học và quản lí giáo dục. Tăng cường công tác giám sát các trường học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học. Đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo dức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với các phong trào thi đua “Mỗi thầy giáo, cô giáo là tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”; “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” và hoàn thành nhiệm vụ năm học mới 2024-2025. (Kim Phụng, 2024b)

Đối với bậc học THPT, huyện Ninh Sơn có tổng cộng 03 trường THPT (THPT Trường Chinh; THPT Nguyễn Du; THPT Lê Duẩn) với những đóng góp rất lớn vào nhiệm vụ giáo dục và đào tạo của tỉnh nhà. Mặc dù đóng trên địa bàn của huyện miền núi nhưng các trường THPT của huyện nhà là những trường có thành tích rất tốt trong công tác dạy và học. Lực lượng giáo viên mạnh, tất cả đều đạt chuẩn và trên chuẩn rất nhiều. Nhiều học sinh trưởng thành từ các trường này đều tham gia rất tốt vào lực lượng lao động có chất lượng của huyện Ninh Sơn nói riêng và tỉnh Ninh Thuận nói chung. Các Hội thi, Hội thao, phong trào đều được các trường tích cực tham gia và nằm ở vị trí dẫn đầu của tỉnh. Phải khẳng định chắc chắn rằng, bậc học THPT của huyện Ninh Sơn đã làm rất tốt vai trò, trách nhiệm theo sự chỉ đạo của chính quyền địa phương.

2.1.3. Sơ lược về 03 trường THPT trên địa bàn huyện Ninh Sơn

Trường THPT Trường Chinh được thành lập ngày 20/7/2004, tính đến nay đã hơn 15 tuổi. Trong khoảng thời gian ấy, trường đã từng bước ổn định và không ngừng trưởng thành, cùng với các trường bạn trong tỉnh Ninh Thuận, trường THPT Trường Chinh đã góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương và đất nước.

Khi mới thành lập, trường chỉ có 25 lớp với khoảng 972 học sinh, đến nay trường đã có 29 lớp với hơn 1.100 học sinh. Ngay từ khi mới được thành lập, mặc dù trường còn gặp rất nhiều khó khăn, như cơ sở vật chất của nhà trường chưa được xây dựng một cách hoàn chỉnh, đội ngũ giáo viên hầu hết là những sinh viên mới ra trường, còn nhiều bở ngỡ chưa thực sự có kinh nghiệm trong giảng dạy, đội ngũ cốt cán của nhà trường còn mỏng, chưa thực sự có kinh nghiệm trong quản lí, nhưng nhờ sự cố gắng của đội ngũ cán bộ và giáo viên, cũng như sự nỗ lực học tập của các em học sinh, trường THPT Trường Chinh đã từng bước được ổn định và hoạt động có hiệu quả rõ nét. Tỉ lệ lên lớp hằng năm học sinh của nhà trường khoảng hơn 96%, học sinh khối 12 thi đậu tốt nghiệp THPT khoảng 84% trong đó có khoảng hơn 37% học sinh đậu vào các trường Đại học công lập. Hằng năm, có từ 01 đến 04 học sinh của Trường nằm trong đội học sinh giỏi của tỉnh Ninh Thuận tham gia thi học sinh giỏi cấp quốc gia. Ngày nay, trường THPT Trường Chinh đã từng bước khẳng định được mình và không ngừng phát triển, là một địa chỉ được phụ huynh tin cậy và gởi gắm con em vào học tập và rèn luyện. (Trường THPT Trường Chinh, 2024)

Trường THPT Nguyễn Du: Thành lập và đi vào hoạt động từ năm học 1973-1974 với tên gọi Trường Trung học Tư thục Quảng Đức, đến năm học 1975-1976, Trường THPT Nguyễn Du (Ninh Sơn) bước vào chặng đường mới mang tên đại thi hào Nguyễn Du. Trải qua hơn 46 năm thành lập và phát triển, thầy và trò nhà trường luôn phát huy tinh thần tự lực, tự cường, nỗ lực vượt khó, hoàn thành tốt nhiệm vụ, từng bước khẳng định vị thế của mình trong hệ thống các trường THPT của tỉnh.

Đến nay, Trường THPT Nguyễn Du đã tập hợp được đội ngũ nhiều giáo viên giỏi, kỷ cương, nền nếp, với 100% cán bộ, GV có trình độ đạt chuẩn, đảm nhận giảng dạy cho 752 học sinh các xã thuộc địa bàn huyện Ninh Sơn. Toàn trường có 14 cán bộ, giáo viên có trình độ thạc sỹ, chiếm 26%; 06 GV được công nhận danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh. Những năm học gần đây, trường luôn nằm trong tốp đầu của tỉnh về kết quả thi học sinh giỏi, thi tốt nghiệp THPT quốc gia, thi đại học với tỷ lệ cao. (trường THPT Nguyễn Du, 2024) Luận văn: Thực trạng QLGD phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.

Trường THPT Lê Duẩn tọa lạc trên diện tích 2,8 ha thuộc địa bàn thôn Nha Hố 2, xã Nhơn Sơn, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Nhà trường giảng dạy cho con em đồng bào các dân tộc Chăm, Raglai, Nùng ở xã Phước Trung huyện Bác Ái; xã Mỹ Sơn, xã Nhơn Sơn thuộc huyện Ninh Sơn và các phường Đô Vinh, phường Bảo An của Tp. Phan Rang- Tháp Chàm.

Nhà trường hiện có 40 cán bộ, giáo viên, nhân viên đạt chuẩn nghiệp vụ chuyên môn và 5 người đang theo học chương trình thạc sĩ. Đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên tâm huyết với nghề, nêu cao tinh thần tự học, tự rèn, thi đua hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn. Có 6 giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh, 1 giáo viên dạy giỏi cấp toàn quốc. Nhiều thầy, cô giáo nêu gương sáng trong phong trào xây dựng trường học thân thiện, yêu thương giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh khó khăn vươn lên đạt thành tích cao trong học tập.

Qua chặng đường hơn 10 năm xây dựng và trưởng thành, nhà trường đã đạt được một số thành tích đáng khích lệ như nhiều năm liền đạt danh hiệu Tập thể Lao động xuất sắc, được Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen. Tổ chức Công đoàn, Đoàn Thanh niên nhà trường liên tục giữ vững danh hiệu vững mạnh, được cấp trên tặng nhiều bằng khen, giấy khen. Năm học 2022-2023, Trường THPT Lê Duẩn vinh dự nhận Cờ Thi đua xuất sắc của Bộ GD&ĐT và đón nhận Bằng khen của Bộ GD&ĐT nhân kỷ niệm 10 năm thành lập trường. (Sơn Ngọc, 2023)

2.2. Tổ chức nghiên cứu thực trạng hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục và quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh các trường THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận

2.2.1. Nội dung khảo sát

  • Nhận thức của CBQL, GV, CMHS, HS về hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
  • Thực trạng hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh ở các trường THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
  • Thực trạng công tác quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh ở các trường THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
  • Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh ở các trường THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.

2.2.2. Công cụ điều tra, khảo sát thực trạng

Sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Chúng tôi sử dụng 03 mẫu khảo sát:

  • Mẫu 1: Dành cho CBQL, GV của 03 trường THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận (Phụ lục 1)
  • Mẫu 2: Dành cho CMHS của 03 trường THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận (Phụ lục 2)
  • Mẫu 3: Dành cho HS của 03 trường THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận (Phụ lục 3)

Để tiến hành khảo sát thực trạng hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh ở các trường THPT và công tác quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh ở các trường THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận, chúng tôi đã hỏi ý kiến CBQL, GV, HS và CMHS. Số lượng đối tượng khảo sát được trình bày ở bảng 2.1 sau đây:

  • Bảng 2. 1: Bảng thống kê số lượng khảo sát Luận văn: Thực trạng QLGD phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.

Chúng tôi tiến hành thăm dò ý kiến của 100% CBQL (27/27), 75% GV (99/132), 15,2% HS (339/2235) và 15,2 % CMHS (339/2235) của 03 trường THPT trên địa bàn để tìm hiểu thực trạng công tác giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh. Đặc điểm của đối tượng khảo sát như sau:

  • Đặc điểm CBQL và GV được khảo sát
  • Bảng 2. 2: Đặc điểm CBQL và GV được khảo sát

Theo số liệu cho thấy đối tượng khảo sát là CBQL, GV có sự tương đối giữa giới tính nam và nữ. Cụ thể: nam là 45,2%, nữ là 54,8%. Về độ tuổi từ 30 đến 50 tuổi chiếm đến 84,9%. Thâm niên công tác của các đối tượng tập trung khoảng từ 10 đến dưới 20 năm với tỉ lệ 63,5%. CBQL, GV có trình độ chuyên môn đạt chuẩn là 76,2% và trên chuẩn là 22,2%.

  • Đặc điểm phụ huynh học sinh được khảo sát
  • Bảng 2. 3: Đặc điểm cha mẹ học sinh được khảo sát

Đối với CMHS, độ tuổi khảo sát tập trung từ 40 đến dưới 50 tuổi chiếm tỉ lệ 58,7% với hơn 40% là nông dân và có số con là 02 chiếm tỉ lệ 54,6%.

  • Đặc điểm học sinh được khảo sát
  • Bảng 2. 4: Đặc điểm học sinh được khảo sát

Với 339 học sinh được khảo sát, trong đó có 256 học sinh là đoàn viên chiếm tỉ lệ 75,5%. Nam sinh và nữ sinh được khảo sát có tỉ lệ gần bằng nhau 50,4% và 49,6%. Riêng khối 10 là 33%, khối 11 là 25,4% và khối 12 là 41,6%.

Như vậy, qua phân tích ở các bảng 2.1, 2.2, 2.3, 2.4 cho thấy đối tượng khảo sát đa dạng, phong phú về độ tuổi, giới tính, trình độ đào tạo, vị trí công tác…cho phép đề tài thu thập được thông tin đa chiều về thực trạng hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD và thực trạng công tác quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh ở các trường THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Luận văn: Thực trạng QLGD phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.

Đối với phương pháp phỏng vấn: Tiến hành phỏng vấn sâu các đối tượng là CBQL (03), GV (03), HS (03) của 03 trường THPT nhằm thu thập các thông tin định tính hỗ trợ cho kết quả nghiên cứu khảo sát. Chúng tôi đã tiến hành mã hóa đối tượng được phỏng vấn đối với CBQL: HP1, HP2, HP3; đối với GV: GV1, GV2, GV3; đối với HS: HS1, HS2, HS3

Tập hợp, phân loại, nghiên cứu hồ sơ quản lí như kế hoạch; biên bản; báo cáo sơ kết, tổng kết; sản phẩm sau khi thực hiện của cán bộ quản lí, giáo viên và học sinh có liên quan đến hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD của 03 trường THPT trên địa bàn huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.

Sau khi thu thập dữ liệu từ bảng khảo sát, tác giả sử dụng phần mềm SPSS 20 và Microsoft Excel 2015 để xử lí thông tin mang tính định lượng. Đối với thông tin định tính (từ bảng khảo sát, phỏng vấn, phân tích hồ sơ), chúng tôi tiến hành trích lọc các ý kiến để phân tích thực trạng của vấn đề nghiên cứu.

  • Kiểm tra độ tin cậy của thang đo

Thang đo được đề cập ở đây là một tập hợp các tiêu chí hoặc các câu hỏi thể hiện được những khía cạnh của một khái niệm. Một thang đo tốt là một thang đo tập hợp được các tiêu chí/câu hỏi/biến quan sát phản ánh đầy đủ mọi khía cạnh của khái niệm, vấn đề cần đo lường và các tiêu chí này không bị trùng lặp nhau về nội dung.

Để kiểm tra độ tin cậy thang đo, chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS 20 nhằm xác định hệ số Cronbach Alpha. Để tính Cronbach Alpha cho một thang đo thì thang đo phải có tối thiểu là ba biến đo lường (biến quan sát). Alpha của Cronbach thường nằm trong khoảng từ 0 đến 1. Các giá trị gần hơn với 1 cho thấy sự thống nhất bên trong của các biến trong thang đo. Nói cách khác, giá trị alpha của Cronbach cao hơn cho thấy độ tin cậy ở quy mô lớn hơn. Thang đo có hệ số Cronbach Alpha ≥ 0.6 là thang đo chấp nhận được về mặt độ tin cậy.

  • Kết quả kiểm tra độ tin cậy của các thang đo
  • Bảng 2. 5: Hệ số Cronbach’s Alpha của các thang đo
  • Kết quả kiểm tra độ tin cậy của thang đo công tác quản lí
  • Bảng 2. 6: Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo công tác quản lí

Như vậy, với kết quả kiểm tra độ tin cậy của thang đo được trình bày ở trên (các giá trị Cronbach’s Alpha đều > 0.8) đã phản ánh một cách đầy đủ mọi khía cạnh của khái niệm và không có sự trùng lắp giữa các biến quan sát. Chúng tôi kết luận rằng: thang đo có độ tin cậy tốt. Luận văn: Thực trạng QLGD phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.

  • Qui ước thang đo

Thang đo sử dụng trong 03 phiếu khảo sát chủ yếu là thang đo thứ bậc và thang đo khoảng cách để xác định các tham số trong thống kê mô tả như trị trung bình, độ lệch chuẩn, tần số, tỉ lệ %,…Ngoài ra, chúng tôi sử dụng thang đo danh nghĩa để xác định tên gọi và đặc điểm của đối tượng khảo sát.

Để thuận tiện cho việc đánh giá, phân tích số liệu hợp lý và khoa học, các thông tin thu thập được từ phiếu khảo sát thực trạng được quy ước dựa vào giá trị trung bình trong thang đo Likert với 5 mức độ.

  • Giá trị trung bình = (Max – Min)/N = (5-1)/5 = 0.8
  • Do đó, ý nghĩa các mức lần lượt tương ứng cụ thể trong bảng sau:
  • Bảng 2. 7: Quy ước mức đánh giá, phân tích số liệu
  • Những quy ước này sẽ được sử dụng để phân tích kết quả khảo sát thực trạng.

2.3. Kết quả khảo sát thực trạng hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh các trường THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng QLGD phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.

2.3.1. Nhận thức của CBQL, GV, CMHS và HS về hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh

Chúng tôi tìm hiểu nhận thức của CBQL, GV, CMHS và HS về nhận dạng các hành vi XHTD; xác định đối tượng thực hiện hành vi XHTD; xác định đối tượng bị XHTD; tầm quan trọng và mục đích của hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh.

  • Nhận dạng các hành vi XHTD

Kết quả khảo sát nhận thức của CBQL, GV, CMHS và HS về việc nhận dạng các hành vi XHTD được trình bày ở bảng 2.8 sau đây:

Bảng 2. 8: Ý kiến của CBQL, GV; CMHS; HS về các hành vi XHTD

  • Bảng 2.8 cho thấy:

Các hành vi được đối tượng khảo sát đồng ý là XHTD bao gồm: khoe bộ phận sinh dục cho trẻ thấy; kể những câu chuyện về tình dục; làm cho trẻ thủ dâm; sử dụng hình ảnh trẻ để khiêu dâm; buộc trẻ thực hiện, xem, chia sẽ hình ảnh, video XHTD; trò chuyện về tình dục qua mạng trực tuyến hoặc điện thoại thông minh.

Các hành vi được đối tượng khảo sát chỉ đồng ý một phần là XHTD bao gồm: chạm vào bất kỳ bộ phận nào trên cơ thể của trẻ; buộc trẻ chạm vào cơ thể người khác.

Hành động chạm vào một bộ phận trên cơ thể của trẻ và buộc trẻ chạm vào cơ thể người khác được CBQL, GV đánh giá thấp nhất trong tất cả nội dung khảo sát. Qua phỏng vấn CBQL, GV đều cho rằng khi một bộ phận trên cơ thể bị động chạm có thể là tay hoặc chân nên chưa phải là hành vi XHTD. Những hành vi như cố tình đụng chạm đến những vùng nhạy cảm của cơ thể thì mới được cho là hành vi XHTD. (HP1, HP3, GV2, GV3) Luận văn: Thực trạng QLGD phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.

Qua trao đổi, tất cả đối tượng được phỏng vấn đều hiểu khá rõ và quan tâm đến vấn đề XHTD hiện nay. Mọi người đều nhận định rằng, việc XHTD xảy ra trong rất nhiều tình huống ở môi trường học đường như khi dạy thực hành các môn Vật Lý, Hóa học, Sinh học, Tin học, Công nghệ, Thể dục (HP2, HP3, GV1, GV3). Khi học sinh tham gia các hoạt động khác như: văn nghệ, thể dục thể thao, các hoạt động trải nghiệm bên trong và bên ngoài nhà trường hoặc các buổi học thêm đều có khả năng bị XHTD. Ngoài ra, trong các trường hợp sau cũng có khả năng HS bị XHTD nhưng rất ít xảy ra đó là: học sinh xin điểm, xin không báo lỗi vi phạm về nhà, xin không nêu tên trước trường,…(HP1, HP2, GV2, GV3)

Các em học sinh thì cho rằng việc chạm lên tóc, má và những bộ phận khác trên cơ thể đều là những hành vi XHTD (HS1, HS2).

Việc xác định rõ những hành động nào được cho là hành vi XHTD có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh. Nếu bất kỳ người nào (không phải cha mẹ) cố tình chạm vào bất kỳ bộ phận nào trên cơ thể của các em học sinh hoặc ép buộc các em chạm vào cơ thể của người khác mà không được sự đồng thuận của các em đều là hành vi XHTD.

Khi hỏi ý kiến CBQL, GV, CMHS và HS về những đối tượng nào thực hiện hành vi XHTD, chúng tôi thu được kết quả trình bày ở biểu đồ 2.1:

Biểu đồ 2. 1: Ý kiến của CBQL, GV; CMHS; HS trong việc xác định đối tượng thực hiện hành vi XHTD

  • Biểu đồ 2.1 thể hiện:

CBQL, GV, CMHS và HS đồng ý cho rằng, đối tượng có thể XHTD đối với HS là: bạn bè, đồng nghiệp; hàng xóm; người lạ (cùng giới hoặc khác giới) Luận văn: Thực trạng QLGD phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.

Trong khi đó, người thân trong gia đình, họ hàng; cấp trên, thầy/cô giáo cũng có thể là đối tượng XHTD.

Học sinh đánh giá điểm thấp nhất đối với đối tượng thực hiện hành vi XHTD là người thân trong gia đình (điểm TB 2,88) và đối tượng nguy hiểm nhất chính là người lạ (điểm TB 4,17). Qua phỏng vấn, các em học sinh có ý kiến như sau: thông thường thì những thanh niên trẻ tuổi, những người thân họ hàng cũng như bạn bè lớn tuổi, mọi người xung quanh và tất cả các đối tượng nguy hiểm khác đều có khả năng là đối tượng thực hiện XHTD. Trong khi đó, CMHS cũng cho rằng người lạ (cùng giới hoặc khác giới) mới chính là đối tượng XHTD cần phải quan tâm với mức đánh giá trung bình 4.19. Cấp trên/thầy cô giáo; người thân trong gia đình, họ hàng ít có khả năng là đối tượng XHTD.

Đối tượng thực hiện hành vi XHTD trải đều ở mọi lứa tuổi, từ thanh niên đến trung niên, người cao tuổi. Theo những gì đang diễn ra thì những đối tượng thực hiện hành vi này không chỉ là người lạ mà còn bao gồm người quen của gia đình, đồng nghiệp, người thân, hàng xóm, thầy/cô giáo, bạn bè…(HS2, HS3)

  • Xác định đối tượng bị XHTD

Tiến hành tìm hiểu nhận định của CBQL, GV, CMHS, HS trong việc xác định đối tượng bị XHTD, kết quả thu được trình bày ở biểu đồ 2.2 sau đây:

  • Biểu đồ 2. 2: Ý kiến của CBQL, GV; CMHS; HS trong việc xác định đối tượng bị XHTD

Trong quá trình lấy ý kiến khảo sát, chúng tôi tiến hành tách đối tượng học sinh thành nam sinh và nữ sinh để xác định rõ hơn đối tượng bị XHTD. Nhìn vào biểu đồ 2.2, chúng ta thấy: các đối tượng khảo sát đều cho rằng nữ sinh là đối tượng dễ bị XHTD nhất (Điểm TBC 4,33), tiếp theo là nam sinh và các đối tượng khác. Trong khi đó, người già; người bệnh tâm thần; người tàn tật cũng có khả năng bị XHTD.

Nữ sinh là đối tượng dễ bị XHTD nhất được CMHS đánh giá với mức khá cao (điểm TB: 4,60) và gần như đây chính là đối tượng thường xuyên bị XHTD nhất trong tất cả các đối tượng được đưa ra khảo sát. Tiếp đó là nam sinh và những người khác. Nam sinh cũng có thể bị XHTD bởi những người đồng tính (Gay) hoặc những người phụ nữ lớn tuổi, con gái yêu thích nam sinh đó. Các đối tượng là người già, người bệnh tâm thần, người tàn tật thì kết quả đánh giá còn khá phân vân và chỉ đồng ý ở một mức độ nhất định. Luận văn: Thực trạng QLGD phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.

  • Tầm quan trọng của hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD

Kết quả khảo sát ý kiến CBQL, GV, CMHS và HS về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD được thể hiện ở bảng 2.9 sau đây:

Bảng 2. 9: Ý kiến của CBQL, GV; CMHS; HS về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh

Nhìn vào bảng 2.9 có thể nhận xét như sau: tầm quan trọng của hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh THPT được đánh giá khá cao và gần như tạo được sự đồng thuận đối với tất cả những người tham gia khảo sát.

Hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh THPT hiện nay rất cần thiết và cấp bách do số vụ XHTD tăng nhanh trong xã hội, đặc biệt là lứa tuổi học sinh. Điều này có ý nghĩa hết sức to lớn trong công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội; tạo sự gắn kết và thấu hiểu giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh với nhau, giữa con cái và cha mẹ (GV2,GV3). Giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh góp phần nâng cao ý thức tự bảo vệ bản thân của các em (điểm TB 4,56) và từng bước xây dựng môi trường học đường an toàn (điểm TB 4,57).

Hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD là hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với lứa tuổi thanh thiếu niên, giúp các em có sự hiểu biết về tâm sinh lí cơ thể, biết bảo vệ bản thân; là hoạt động thiết thực trong nhà trường nhằm xây dựng môi trường giáo dục an toàn, tăng khả năng nhận thức và phòng tránh việc bị người khác XHTD, có điều kiện phát triển trí tuệ và hoàn thiện bản thân trong cuộc sống. (HP3)

  • Mục đích của hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD

Mục đích của hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh chính là trang bị kiến thức, kỹ năng cho học sinh biết tự bảo vệ bản thân, góp phần đẩy lùi vấn nạn xã hội. Qua quá trình khảo sát, chúng tôi thu được kết quả ở bảng 2.10.

  • Bảng 2. 10: Ý kiến của CBQL, GV; CMHS; HS về mục đích của hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh

Bảng 2.10 cho thấy, các đối tượng được hỏi ý kiến đều rất đồng ý về mục đích của hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD là: giúp trang bị kiến thức, kỹ năng cho học sinh; giúp học sinh nhận thấy được nguy cơ bị khai thác, bị XHTD; học sinh nhận thức được vấn đề XHTD có ảnh hưởng rất lớn đối với bản thân. CBQL, GV, CMHS và HS đều thống nhất trong việc xác định mục đích của hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh THPT.

Mục tiêu quan trọng nhất của hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh được các đối tượng khảo sát đánh giá cao chính là giúp học sinh có được cách thức đối phó với vấn đề XHTD (điểm TB 4,52). Những kỹ năng được trang bị trong quá trình giáo dục sẽ giúp các em phòng bị, ngăn ngừa các hành vi mang tính chất tình dục sẽ xảy ra đối với các em.

Hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD sẽ giúp học sinh có kiến thức hiểu biết về sinh lí cơ thể, hiểu rõ những mối quan hệ xã hội lành mạnh hoặc phức tạp, nhất là các hoạt động liên quan đến giới tính; học sinh có được kỹ năng phòng tránh việc bị lợi dụng XHTD, tránh được các nguy cơ tệ nạn xã hội, lây nhiễm bệnh tật (HP2). Mục đích của hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD chính là giúp các em hiểu rõ, sâu sắc về vấn đề XHTD một cách chính xác; giúp các em phát hiện những hành vi, đối tượng có thể bị XHTD; trang bị kiến thức, kỹ năng phòng tránh XHTD; giúp học sinh nhận thức được hậu quả đối với bản thân, gia đình và xã hội. (GV3)

Như vậy, CBQL, GV, CMHS và HS đều có những nhận định khá đầy đủ về các hành vi XHTD, đối tượng thực hiện XHTD, đối tượng bị XHTD. Kết quả thể hiện sự quan tâm đến vấn đề giáo dục phòng tránh XHTD thông qua việc tán thành, nhất trí về mục đích và tầm quan trọng của hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh THPT. Xây dựng và đảm bảo môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện.

2.3.2. Thực trạng nội dung giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng QLGD phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.

XHTD đối với HS cũng như bất kỳ ai dưới 18 tuổi là một trong những vấn nạn thầm lặng lớn nhất trong thời đại chúng ta. Hành vi này ảnh hưởng rất lớn cuộc sống của các em ở hiện tại và tương lai. Việc thực hiện giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh với những nội dung thiết thực, hiệu quả sẽ mang lại những giá trị hết sức to lớn đối với xã hội. Trong thời gian gần đây, các trường THPT huyện Ninh Sơn đã quan tâm đến nội dung giáo dục phòng tránh XHTD và triển khai thực hiện lồng ghép trong công tác giảng dạy để thấy được mức độ nóng của vấn đề này. Kết quả khảo sát thực trạng nội dung hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD được trình bày ở bảng 2.11 dưới đây:

  • Bảng 2. 11:Ý kiến của CBQL, GV; CMHS; HS về thực trạng thực hiện nội dung hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh THPT

Bảng 2.11 cho thấy, ý kiến đánh giá của CBQL, GV và CMHS về việc thực hiện các nội dung giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh các trường THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận ở mức độ thường xuyên với điểm TB từ 3,43 đến 3,61 và kết quả đạt được ở tiệm cận dưới của mức khá với điểm TB từ 3,56 đến 3,67.

Trong quá trình giáo dục, nhà trường thường xuyên giáo dục học sinh nhận biết các dấu hiệu hoặc khả năng bị XHTD (điểm TB 3,51); xây dựng và thực hiện các chủ đề hướng dẫn về XHTD (điểm TB 3,43); giáo dục học sinh tìm hiểu và phát triển cảm xúc phù hợp với lứa tuổi (điểm TB 3,49); hướng dẫn, cập nhật các chính sách và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến công tác phòng tránh XHTD (điểm TB 3,44). Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thì chỉ dừng lại ở mức lồng ghép giảng dạy trong các tiết học của bộ môn Giáo dục công dân đối với luật quy định như Luật Trẻ em, Luật Lao động, Luật hình sự. Đối với bộ môn Sinh học thì hướng dẫn các em về các dấu hiệu hay khả năng bị XHTD, giới tính, sinh sản,…

Khi được hỏi về vấn đề giáo dục phòng tránh XHTD, tất cả quý thầy/cô đều có ý kiến là mới quan tâm trong vài năm trở lại đây, vì vấn nạn XHTD đã trở thành chủ đề nóng và cấp thiết đối với môi trường học đường (HP1, HP3, GV1, GV2, GV3). Nhà trường cung cấp kiến thức cơ bản về XHTD; giáo dục giới tính; cung cấp kiến thức về tâm sinh lí lứa tuổi; giúp các em có hành vi đúng đắn, phù hợp với lứa tuổi; hiểu biết về các mối quan hệ cùng giới, khác giới; trang bị kỹ năng mềm về phòng, chống XHTD trong và ngoài nhà trường (HP2, HP3). Tuy nhiên, nhà trường chưa thực hiện giáo dục học sinh nhận biết các dấu hiệu một cách đầy đủ, chi tiết. Chưa thể hiện rõ nội dung giáo dục phòng tránh XHTD qua kế hoạch hoạt động năm học cũng như chưa tập trung vào nội dung XHTD khi triển khai. Nhà trường chủ yếu thực hiện giáo dục giới tính, giới và bình đẳng giới, tâm sinh lí lứa tuổi, tình yêu, tình bạn, hôn nhân, gia đình. Nội dung giáo dục phòng tránh XHTD chỉ được đề cập thoáng qua và thường tích hợp, lồng ghép khi thực hiện giảng dạy trên lớp và lồng ghép vào các hoạt động của Đoàn thanh niên. Trong khi đó, giáo viên chủ nhiệm vẫn chưa thực hiện tốt các chủ đề theo qui định đối với hoạt động ngoài giờ lên lớp (0,5 tiết/tuần) qua kế hoạch bài dạy đối với hoạt động này. Luận văn: Thực trạng QLGD phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.

2.3.3. Phương pháp giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận

Làm thế nào để mang lại kết quả cao trong công tác giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh là nỗi trăn trở của nhà trường cũng như các bậc phụ huynh. Có nhiều phương pháp được đưa ra như tiến hành tư vấn (trực tiếp hoặc gián tiếp), thực hiện đóng vai, giải quyết vấn đề,… Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện còn có phần lúng túng, chưa thường xuyên và kết quả chưa cao. Đối với vấn đề này, tác giả đã tiến hành khảo sát thực trạng và thu được kết quả thể hiện ở bảng 2.12 dưới đây:

  • Bảng 2. 12: Ý kiến của CBQL, GV; CMHS; HS về thực trạng sử dụng phương pháp giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh THPT

Qua kết quả bảng 2.12 cho thấy các trường THPT trên địa bàn huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận thỉnh thoảng sử dụng các phương pháp giáo dục phòng tránh XHTD và kết quả đạt được chỉ ở mức trung bình. Mặc dù nhà trường và giáo viên đã áp dụng các phương pháp tư vấn trực tiếp, gián tiếp, đặt vấn đề, giải quyết vấn đề nhưng không mang tính chất thường xuyên. Hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD chỉ được tổ chức một vài lần trong năm học. Mỗi phương pháp cũng chưa mang lại hiệu quả giáo dục như mong đợi. Chỉ có phương pháp giải quyết vấn đề được các đối tượng khảo sát đánh giá cao hơn so với các phương pháp khác với mức độ thực hiện có điểm TB là 3,36; mức độ đạt được có điểm TB là 3,50.

Kết quả phỏng vấn học sinh thu được ý kiến như: nhà trường em đang theo học đã có những biện pháp rất hữu ích để giúp mỗi học sinh như chúng em có thể hiểu hơn về XHTD và cách phòng tránh khi gặp phải những điều đó. Các thầy cô đã giáo dục và đề cập đến những biện pháp ấy qua môn Sinh học cũng như Văn học. Bên cạnh đó, việc giáo dục phòng tránh XHTD cũng được lồng ghép qua những chương trình toàn trường tổ chức một lần/năm học như “Khi tôi 18”, “Rung Chuông Vàng”, “Giáo dục giới tính” (HS1, HS3). Thầy cô đã tiến hành lồng ghép vào các buổi học, tổ chức tuyên truyền ở các buổi sinh hoạt ngoại khóa, sân khấu hóa các vấn đề xã hội trong đó có liên quan đến vấn đề XHTD. (HS2)

Đối với việc thực hiện tư vấn trực tiếp (mặt đối mặt) thường gây tâm lí ngại ngùng, học sinh khó khăn trong việc diễn đạt nội dung và thường không mang lại hiệu quả cao.Nếu thực hiện trao đổi thông qua các phương tiện điện thoại thông minh, máy tính thì ít học sinh có điều kiện kinh tế để tham gia. Riêng phương pháp dựa trên nỗi sợ hãi chỉ phù hợp và có tính răn đe với đối tượng thực hiện hành vi XHTD, còn đối với học sinh không phù hợp môi trường học đường và không mang lại hiệu quả cao trong giáo dục. (HP3)

Mỗi phương pháp thực hiện giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh đều có những ưu điểm và hạn chế riêng. Tuy nhiên, làm thế nào để phát huy được các thế mạnh của mỗi phương pháp còn tùy thuộc vào người vận dụng. Các trường THPT huyện Ninh Sơn cần thường xuyên phối hợp sử dụng các phương pháp giáo dục phòng tránh XHTD. Thực trạng chưa được đầu tư, nghiên cứu vấn đề một cách nghiêm túc, thiếu những kế hoạch, hướng dẫn và tổng kết, rút kinh nghiệm trong việc sử dụng các phương pháp nên hiệu quả thấp là điều dễ hiểu.

2.3.4. Hình thức giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng QLGD phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.

Tùy vào điều kiện của mỗi trường mà thực hiện những hình thức giáo dục phòng tránh XHTD cho phù hợp. Nhân lực và kinh phí thực hiện chính là mấu chốt của vấn đề. Nếu nhà trường có một lực lượng tương đối giáo viên hiểu biết về vấn đề và nguồn tài chính dồi dào thì việc triển khai có phần dễ dàng hơn so với những trường bạn. Nhưng cơ bản vẫn là công tác tuyên truyền, trao đổi qua diễn đàn, thông qua các câu lạc bộ để chuyển tải thông tin đến học sinh. Kết quả xử lý thông tin ý kiến của CBQL, GV, CMHS và HS về thực trạng sử dụng các hình thức hoạt động phòng tránh XHTD được thể hiện ở bảng 2.13 sau đây:

  • Bảng 2. 13: Ý kiến của CBQL, GV; CMHS; HS về thực trạng triển khai các hình thức hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh THPT

Số liệu ở bảng 2.13 đánh giá một cách trung thực, khách quan thực trạng triển khai các hình thức giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh hiện nay. Các hình thức thường xuyên được nhà trường chọn lựa đó là: thực hiện tuyên truyền dưới cờ (điểm TB 3,55); tư vấn tâm lí cho học sinh (điểm TB 3,55); giảng dạy tích hợp, lồng ghép (điểm TB 3,63); xây dựng môi trường học đường thân thiện, an toàn (điểm TB 4,05). Trong khi đó, các hình thức tuyên truyền cho phụ huynh bằng tờ rơi, tài liệu (2,88); tổ chức diễn đàn (điểm TB 3,07); phối kết hợp với chính quyền, gia đình, các tổ chức chính trị-xã hội trong và ngoài nhà trường (điểm TB 3,31); ngoại khóa, trải nghiệm sáng tạo (điểm TB 3,20); hoạt động câu lạc bộ kỹ năng (điểm TB 3,10) ; tổ chức đối thoại (lãnh đạo với GV, HS) (điểm TB 3,06) chỉ thỉnh thoảng được nhà trường tổ chức.

Trong quá trình giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh, nhà trường và giáo viên thường xuyên tuyên truyền dưới cờ về vấn đề giới tính, XHTD và có thực hiện trao đổi với học sinh bằng cách đặt các câu hỏi hoặc đọc bài tuyên truyền và được học sinh hưởng ứng khá nhiệt tình. Hiếm khi nhà trường tuyên tuyên truyền bằng tờ rơi, tài liệu vì kinh phí nhà trường không đảm bảo việc thực hiện. Nếu được các tổ chức tài trợ thực hiện thì hiệu quả mang lại cũng không cao. Thông thường các em chỉ đọc lướt qua và ít quan tâm đến nội dung truyền tải. Các tài liệu, tờ rơi được các em học sinh vứt bỏ ngay sau khi kết thúc, vương vãi khắp sân trường. Luận văn: Thực trạng QLGD phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.

Việc tổ chức các diễn đàn; hoạt động Câu lạc bộ kỹ năng hay tổ chức đối thoại chỉ thực hiện từ 01 đến 02 lần trong năm học. Các diễn đàn chỉ tổ chức trong một thời gian có hạn, thường 02 đến 03 giờ. Sau đó, chỉ là những trao đổi trong diễn đàn mà không được tiếp tục thực hiện nên hiệu quả thực sự mang lại không cao. Câu lạc bộ kỹ năng của các trường thì được tổ chức một lần/tháng và mỗi lần tổ chức thực hiện với những kỹ năng khác nhau. Riêng công tác đối thoại với lãnh đạo nhà trường thì gặp nhiều khó khăn do GV, HS ngại tiếp xúc, ngại nói thật, nói thẳng với cấp trên.

Công tác tư vấn tâm lí cho các em với lực lượng nòng cốt là giáo viên chủ nhiệm các lớp. Lực lượng này tuy đông nhưng năng lực thực hiện tư vấn còn hạn chế. GV các bộ môn Giáo dục công dân, Sinh học, Ngữ Văn được chỉ đạo giảng dạy tích hợp, lồng ghép mang lại hiệu quả nhất định. Nhà trường luôn xây dựng môi trường học đường an toàn, thân thiện, xanh-sạch-đẹp để học sinh có cảm giác được an toàn.

Các hình thức thực hiện giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh được thực hiện vào tuần lễ đầu năm học trước khi tổ chức Lễ khai giảng (HP1, HP3, GV1, GV3) và tập trung triển khai chủ yếu vào tháng 10 (HP2,GV1). Nhà trường thường tổ chức giáo dục phòng tránh XHTD thông qua các buổi chào cờ đầu tuần (GV2, GV3), hoạt động ngoài giờ lên lớp 01 lần/tháng, sinh hoạt lớp vào cuối tuần,…

Những hình thức thực hiện giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh của các trường trên địa bàn huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận gần như tương tự nhau. Trong quá trình tổ chức chủ yếu lồng ghép hoặc chỉ đề cập nội dung giáo dục phòng tránh XHTD một cách thoáng qua, chưa khắc sâu đối với học sinh. Nhà trường chưa tổ chức giáo dục phòng tránh XHTD một cách chuyên biệt. Thực tế, trong quá trình giáo dục, nhà trường chỉ tập trung xây dựng môi trường học đường an toàn, thân thiện; tập trung công tác giáo dục 02 mặt (học lực và hạnh kiểm) đối với học sinh. Các trường vẫn chưa quan tâm đến diễn biến tâm lí, tinh thần, thái độ của học sinh. Công tác tuyên truyền cho CBQL, GV, CMHS và HS chưa được thực hiện tốt. Các hình thức như trao đổi qua diễn đàn, hoạt động của câu lạc bộ kỹ năng, đối thoại với lãnh đạo nhà trường cần được thực hiện một cách thường xuyên và có hiệu quả hơn.

2.4. Kết quả khảo sát thực trạng quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh các trường THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng QLGD phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.

Để tìm hiểu thực trạng quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh các trường THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Chúng tôi đã tiến hành kết hợp nhiều phương pháp như điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn, phân tích sản phẩm hoạt động để nắm bắt một cách đầy đủ nhất về vấn đề này. Quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT là hệ thống những tác động có tính chủ động, có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí đến tập thể đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh, phụ huynh học sinh và các tổ chức chính trị-xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm giúp học sinh trung học phổ thông phòng bị, ngăn ngừa các hành vi mang tính chất kích thích, dụ dỗ, lôi kéo, đe dọa, ép buộc, thực hiện các hoạt động mang tính chất tình dục. Quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành phân tích dựa trên một số phương diện nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng, mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Xem xét, đánh giá thực trạng các điều kiện phục vụ cho hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD. Đồng thời đưa ra những nhận định đối với việc quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD tại địa phương.

2.4.1. Nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng của quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận

Nhận thức của CBQL, GV về vai trò, mục đích của công tác quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD là điều cần thiết để thiết lập nên chuỗi giá trị khi thực hiện giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh. Nếu CBQL, GV có cái nhìn đầy đủ, chính xác và vạch ra mục tiêu cụ thể cho cả quá trình thì sẽ giúp nhà trường đẩy mạnh được hiệu quả công tác giáo dục phòng tránh XHTD và ngược lại. Kết quả khảo sát nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng của quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh được thể hiện ở biểu đồ 2.3 sau đây:

  • Biểu đồ 2. 3: Ý kiến của CBQL, GV về tầm quan trọng của quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh

Biểu đồ 2.3 cho thấy, có 95,3% ý kiến khảo sát cho rằng việc quản lí giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh là quan trọng và rất quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Chỉ có một tỉ lệ rất nhỏ khoảng 2,4% ý kiến khảo sát cho rằng việc quản lí giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh là không quan trọng mà cần tập trung hơn cho những nội dung giáo dục khác.

Việc CBQL, GV nhận thức một cách đầy đủ về tầm quan trọng của quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh sẽ tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho người quản lí trong việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện công tác giáo dục phòng tránh XHTD trong nhà trường.

2.4.2. Mục tiêu quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng QLGD phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.

Việc quản lí mục tiêu của hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh là tiền đề cho việc nhà trường lựa chọn nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục phù hợp và mang lại hiệu quả thực sự. Mỗi CBQL, GV phải xác định rõ mục tiêu của hoạt động để lấy đó làm tiêu chí thực hiện. Những câu hỏi cần phải được đưa ra để xác định chúng ta cần trang bị cho học sinh những gì, cách thức thực hiện như thế nào và làm thế nào để đạt được các mục tiêu đã được đặt ra là điều hết sức quan trọng. Quản lí mục tiêu tốt sẽ định hướng rõ con đường mà chúng ta sẽ đi. Biểu đồ 2.4 sau đây trình bày ý kiến của CBQL, GV các trường THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận về thực trạng quản lí mục tiêu hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh THPT.

  • Biểu đồ 2.4: Kết quả khảo sát CBQL, GV về thực trạng quản lí mục tiêu hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh THPT

Qua biểu đồ 2.4 đã thể hiện một cách rõ nét việc quản lí mục tiêu giáo dục phòng tránh XHTD của các trường THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Tất cả các hoạt động đều được đánh giá ở mức khá với mức điểm TB xoay quanh mốc 3,77. Mục tiêu được đảm bảo nhất đó là việc phối hợp với chính quyền nhằm đảm bảo quyền lợi cho học sinh (khi có hiện tượng XHTD) với 3,91 điểm. Bên cạnh đó, nhà trường cũng đã thực hiện tốt trong việc hướng dẫn, tuyên truyền cho các thành viên trong nhà trường và phụ huynh học sinh biết được tầm quan trọng của hoạt động phòng tránh XHTD cho học sinh và cung cấp thông tin, nhân lực cho những học sinh đang tìm kếm sự giúp đỡ.

Trong khi đó, công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện mục tiêu giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh khá thấp so với các mục tiêu còn lại. Thiếu các tiêu chí để thực hiện việc đánh giá một cách chính xác, hiệu quả việc thực hiện của nhà trường.

Khi nghiên cứu, tìm hiểu về kế hoạch, báo cáo sơ kết, báo cáo tổng kết tại 03 trường THPT trên địa bàn huyện Ninh Sơn đều có rất ít văn bản có liên quan đến công tác quản lí giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh. Mục tiêu chủ yếu xoay quanh vấn đề giáo dục bình đẳng giới, giới tính, tình yêu, tình bạn. Thiếu cách thức đánh giá phù hợp, cụ thể đối với mục tiêu hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD. Luận văn: Thực trạng QLGD phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.

Việc quản lí mục tiêu hiệu quả là tiền đề rất tốt đối với công tác quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh. Các trường trên địa bàn huyện Ninh Sơn đã thực hiện khá đầy đủ công tác xác định mục tiêu phù hợp với điều kiện thực tế của đơn vị.

2.4.3. Thực trạng quản lí nội dung giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận

Quản lí nội dung giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh là cực kỳ quan trọng. Hoạt động quản lí này được thực hiện thông qua việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Nội dung phong phú, đa dạng là điều kiện cần cho việc thực hiện giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh. CBQL nhà trường cần triển khai thực hiện và kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh. Thông qua các hoạt động sẽ từng bước định hình cho học sinh cách thức, phương pháp để tự bảo vệ bản thân. Kết quả khảo sát thực trạng quản lí nội dung hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh THPT được trình bày ở biểu đồ 2.5 sau đây:

  • Biểu đồ 2.5: Kết quả khảo sát CBQL, GV về thực trạng quản lí nội dung hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh THPT

Qua các giá trị của biểu đồ 2.5 cho chúng ta thấy rõ thực trạng quản lí nội dung giáo dục phòng tránh XHTD của 03 trường THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Được đánh giá khá cao đó chính là việc xây dựng môi trường học đường thân thiện, xanh-sạch-đẹp và an toàn để HS nhận thấy bản thân được an toàn, được bảo vệ (điểm TB 4,16); nội dung chỉ đạo giáo viên cải tiến nội dung giáo dục phòng tránh XHTD phù hợp hơn với lứa tuổi các em, đa dạng về nội dung tuyên truyền, phong phú về hình ảnh được đánh giá khá cao (điểm TB 4,19). Luận văn: Thực trạng QLGD phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.

Việc quản lí nội dung phòng tránh XHTD đã được quán triệt, chỉ đạo thực hiện ở mức khá. CBQL xác định nội dung giáo dục phòng tránh XHTD là cần thiết đối với học sinh THPT. Hiệu trưởng đã tiến hành phân công cán bộ, GV thu thập tài liệu và chuẩn bị các điều kiện để thực hiện các nội dung hoặc chuyên đề theo cách riêng của mỗi trường. Công tác xây dựng môi trường học đường thân thiện, xanh-sạch-đẹp được chỉ đạo thực hiện khá tốt. Tất cả các trường THPT trên địa bàn huyện Ninh Sơn đều có mảng xanh khá lớn, hình thức đẹp và được chăm sóc cẩn thận. (HP1, HP3, GV1, GV2)

Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện còn chưa khoa học trong việc phân công cán bộ thực hiện. Việc phân công giáo viên thực hiện giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh chưa đúng đối tượng và năng lực thực hiện công việc. Các trường chủ yếu bố trí giáo viên thiếu tiết chuẩn (17 tiết/tuần/GV) để kiêm nhiệm công tác tư vấn và tham gia các hoạt động giáo dục tập thể khác (thể hiện qua bảng phân công chuyên môn và các kế hoạch thực hiện). Việc thu thập tài liệu chưa đầy đủ, thiếu hẳn video clip hoặc hình ảnh minh họa cho các nội dung cần truyền tải. Giáo viên chưa chuẩn bị thật tốt cho công tác tổ chức thực hiện. Các bộ phận còn lúng túng cũng như thiếu sự phối hợp nhịp nhàng trong công tác giáo dục XHTD cho học sinh. Nhà trường còn bỏ ngõ việc sơ, tổng kết nội dung; chưa tiến hành đánh giá, rút kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD. (báo cáo sơ kết, tổng kết của các trường )

Qua phân tích các bản kế hoạch, báo cáo sơ kết, tổng kết cho thấy, các trường chưa đưa mục tiêu, nội dung giáo dục XHTD vào các chuyên đề của nhà trường; Lực lượng giáo viên được tập huấn về giáo dục phòng tránh XHTD, tâm lý học đường rất ít (02 GV/trường). Qua tìm hiểu, phân tích kế hoạch bài dạy của GV bộ môn Sinh học, Giáo dục công dân cho thấy việc lồng ghép giáo dục giới tính cũng như nội dung XHTD còn hạn chế. Những hoạt động của Đoàn thanh niên liên quan đến giáo dục XHTD cho học sinh cũng chỉ mang tính chất tuyên truyền là chính, chưa thể hiện chiều sâu của vấn đề và hiệu quả giáo dục mang lại cũng không cao. Kế hoạch hoạt động năm học của các trường khá đa dạng về nội dung giáo dục song chưa thể hiện rõ công tác xây dựng, tổ chức các buổi giáo dục XHTD riêng biệt. Trong các báo cáo sơ kết, tổng kết năm học cũng không thấy nhà trường đề cập đến vấn đề giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh.

Công tác quản lí nội dung hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh THPT được CBQL quan tâm và chỉ đạo thực hiện. Nhưng trong quá trình tổ chức và kiểm tra lại chưa đảm bảo hiệu quả. Việc tổ chức giáo dục phòng tránh XHTD còn chung chung, mang tính hời hợt. Nhất là công tác kiểm tra, rút kinh nghiệm sau mỗi hoạt động đều chưa được thực hiện. CBQL cần phải nắm bắt được hiệu quả của các hoạt động để tiến hành cải tiến cho các lần tổ chức tiếp theo.

2.4.4 Thực trạng quản lí phương pháp và hình thức giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng QLGD phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.

  • Mỗi phương pháp và hình thức đều có hiệu quả mang lại khác

Chính việc lựa chọn phương pháp và hình thức phù hợp sẽ là điểm nhấn đối với công tác quản lí. Hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh trên địa bàn huyện Ninh Sơn với những chương trình và cách thực hiện gần gũi, thân thiện đối với học sinh. Mỗi học sinh sẽ tự trải nghiệm với những phương thức mà nhà trường mang lại cho các em. Từ truyên truyền dưới cờ đến những diễn đàn trao đổi, câu lạc bộ kỹ năng ,…với mục đích chính là cho các em thể hiện chính kiến và suy nghĩ của bản thân về vấn đề, tự các em giải quyết vấn đề và tự hình thành nên những giá trị sống riêng cho mỗi bản thân các em. Qua khảo sát, tìm hiểu, chúng tôi thu được kết quả đánh giá được trình bày bằng biểu đồ 2.6:

  • Biểu đồ 2.6: Kết quả khảo sát CBQL, GV về thực trạng quản lí phương pháp và hình thức hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh THPT

Qua biểu đồ 2.6 cho chúng ta thấy rõ nét hơn về công tác quản lí phương pháp và hình thức hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh THPT. Mỗi phương pháp, hình thức quản lí được các đối tượng khảo sát đánh giá khá rõ nét. Trong đó, Hiệu trưởng các trường đã ra quyết định và đưa vào hoạt động Tổ tư vấn tâm lí; CBQL đã tiến hành chỉ đạo giáo viên các bộ môn Giáo dục Công dân, Ngữ văn, Sinh học thực hiện lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục phòng tránh XHTD khi giảng dạy trên lớp được sự đồng ý của đa số đối tượng khảo sát.

Ngoài ra, trong quá trình giáo dục, nhà trường đã thực hiện các phương pháp và hình thức khác nhau nhằm thu hút sự tập trung của các em học sinh. Nhiều hoạt động được Đoàn Thanh niên tổ chức có sức lan tỏa rộng như “Lễ Tri ân và trưởng thành”, “Diễn đàn tình bạn đẹp”, “Giới và bình đẳng giới”, “Tình bạn, tình yêu”,…Tuy nhiên, tất cả chỉ được đề cập thoáng qua trong tất cả các hoạt động của nhà trường nên các chỉ số đều được đánh giá ở mức khá.

Công tác tuyên truyền pháp luật liên quan đến XHTD chưa phong phú, chưa thường xuyên (GV1, GV3). Nhà trường đề cập nhiều đến những mặt tích cực và tiêu cực của việc sử dụng mạng xã hội (HP2, GV2, GV3). Việc thực hiện giáo dục chỉ được đề cập qua loa, đại khái cho có triển khai, mà thiếu kế hoạch cụ thể (HP3, GV1, GV2, GV3). Chỉ đạo Đoàn thanh niên phối hợp cùng Tổ tư vấn tâm lý thực hiện biên soạn nội dung, hình thức, phương pháp triển khai (HP1, HP2, HP3, GV2, GV3). CBQL nhà trường mời chuyên gia tâm lý để trao đổi với học sinh với tần suất rất thấp (1 lần/năm học). (HP1, HP2, GV1, GV3) CBQL đã tiến hành nhiều phương pháp và hình thức quản lí khác nhau đối với hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh. Tuy nhiên, nội dung giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh vẫn còn bỏ ngõ, chiếm một phần rất nhỏ trong chương trình thực hiện. Do đó, chưa đảm bảo được đầy đủ các yếu tố góp phần đạt được mục tiêu ban đầu đặt ra.

2.4.5. Thực trạng quản lí các điều kiện phục vụ cho hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận

Bất kỳ hoạt động nào cũng cần đến trang thiết bị, nguồn kinh phí để tổ chức thực hiện. Để thực hiện quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh hiệu quả thì việc chuẩn bị các điều kiện cần thiết thật tốt sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác giáo dục. Qua đó, nhà trường sẽ tổ chức thực hiện giáo dục thuận lợi và chất lượng. Bảng 2.14 thể hiện thực trạng quản lí các điều kiện phục vụ cho hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh các trường THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Luận văn: Thực trạng QLGD phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.

Bảng 2. 14: Kết quả khảo sát CBQL, GV về thực trạng quản lí các điều kiện phục vụ cho hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh THPT

Bảng 2.14 cho thấy, quản lí các điều kiện phục vụ hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh tại các trường THPT huyện Ninh Sơn chưa cao.

Công tác tổ chức, bố trí phòng tư vấn với trang thiết bị, dụng cụ, nguồn kinh phí và việc liên hệ với các trường Đại học, các trung tâm, chuyên gia tư vấn chỉ được đánh giá ở mức trung bình. Trong khi đó, ở mức khá đối với công tác phối hợp với chính quyền địa phương và phụ huynh học sinh; chủ động các nguồn học liệu và thường xuyên kiểm tra, rà soát, bổ sung, sữa chữa các hạng mục phục vụ cho hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD.

Trong quá trình triển khai hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh, các trường đều được sự ủng hộ từ phía chính quyền địa phương; chủ động tìm kiếm, trang bị đầy đủ các nguồn học liệu có liên quan như sách, báo; thường xuyên bài trí phòng tư vấn tâm lí cho phù hợp, tạo không gian thư giãn, thoải mái và thân thiện; kiểm tra hộp thư góp ý hàng ngày để kịp thời nắm bắt những tâm tư, tình cảm của các em học sinh. Bên cạnh đó, cách tổ chức, bố trí phòng tư vấn chung với các phòng khác chưa được đánh giá cao. Nguồn kinh phí để phân bổ cho hoạt động tư vấn chưa được đảm bảo. Giáo viên kiêm nhiệm chỉ được hưởng số tiết kiêm nhiệm theo quy định và không có chế độ hỗ trợ nào khác.

Việc phối kết hợp với các trường đại học, các trung tâm chưa được thường xuyên. Công tác phối kết hợp với các chuyên gia tư vấn tâm lí lại hiếm khi thực hiện nên nhà trường chưa thể đa dạng các hình thức giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh. (HP2, HP3)

Khi thực hiện phỏng vấn, các đối tượng cho rằng những điều kiện để thực hiện hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh đó là: cần phải bố trí phòng riêng cho Tổ tư vấn hoạt động (GV2, GV3); tính toán phụ cấp cho Tổ tư vấn (GV1, GV2, GV3); trang bị tài liệu, tờ rơi, băng rôn tuyên truyền cần thiết để tổ chức thực hiện (HP2, HP3, GV2, GV3). Và quan trọng nhất là tạo được sự đồng thuận giữa chính quyền, đoàn thể trong và ngoài nhà trường.

Để thực hiện hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD đạt hiệu quả và chất lượng thì cần đảm bảo các điều kiện cần thiết nhất về nhân lực, vật lực và tài lực. Tuy nhiên, điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD còn khó khăn và thiếu thốn. Nguồn tài chính hết sức hạn hẹp gây khó khăn rất nhiều trong tất cả các hoạt động giáo dục của nhà trường nói chung và hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh nói riêng.

2.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng QLGD phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.

Có nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến công tác quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh. Trước tiên, đó chính là những đặc điểm của cá nhân học sinh như: giới tính, độ tuổi, xu hướng tình dục, có bị cách ly với xã hội không?, có sử dụng rượu, bia, ma túy hay không? …Thứ hai là các mối quan hệ của các em: cha mẹ ly hôn không?, sự gắn kết của cha mẹ đối với con cái như thế nào?, có được sự quan tâm của cha mẹ hay gia đình không?, có bị bạo lực hay ngược đãi hay không?. Thứ ba là ảnh hưởng từ cộng đồng: các em được sống trong môi trường như thế nào?, nhận thức của cộng đồng đối với vấn đề XHTD và hướng giải quyết vấn đề, tình hình kinh tế của địa phương, nhận thức của người dân,…Thứ tư là xã hội có mức sống, thu nhập như thế nào?, các chuẩn mực của xã hội, hệ thống pháp lí, lao động việc làm, xung đột vũ trang, văn hóa xã hội, tôn giáo tín ngưỡng,…đều tác động đến công tác quản lí của nhà trường.

Kết quả khảo sát về các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh được trình bày ở bảng 2.15 sau đây:

Bảng 2. 15: Kết quả khảo sát CBQL, GV về thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh THPT

Kết quả khảo sát ở bảng 2.15 giúp chúng ta có cái nhìn khách quan trong việc xác định các yếu tổ ảnh hưởng đến công tác quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh.

  • Các yếu tố rất ảnh hưởng đó là: vai trò của gia đình và đặc điểm về tâm sinh lí của học sinh.

Các yếu tố ảnh hưởng ở mức khá: tính đặc thù của nền văn hóa Á đông; những tác động tiêu cực từ văn hóa phẩm ngoại lai; sự kết hợp quản lí giáo dục giữa gia đình, nhà trường và xã hội; hệ thống pháp luật liên quan đến bảo vệ trẻ vẫn còn khoảng trống; nhận thức của người dân, phụ huynh học sinh, học sinh về phòng tránh XHTD; môi trường kinh tế-xã hội của địa phương; nhận thức, kiến thức, năng lực của CBQL và GV nhà trường; công tác tuyên truyền giáo dục phòng tránh XHTD của nhà trường.

Khi tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh, các đối tượng khảo sát đều cho rằng vai trò của gia đình có tác động rất lớn đến công tác này. Chính gia đình là nền tảng, là mấu chốt của vấn đề. Nếu các em có được sự quan tâm của cha mẹ, và cha mẹ xây dựng được mối quan hệ cởi mở, tin cậy với con cái, thường xuyên trò chuyện với con về giới tính và vấn đề tình dục phù hợp với lứa tuổi thì công tác quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD ở nhà trường sẽ thuận lợi hơn rất nhiều. Luận văn: Thực trạng QLGD phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.

Bên cạnh đó, đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi là vấn đề nhà quản lí cần phải quan tâm. Trẻ muốn độc lập, muốn tách ra và ít phụ thuộc vào cha mẹ; chuẩn bị cho mối quan hệ yêu đương, học cách biểu lộ tình cảm và điều khiển cảm xúc. Giai đoạn phát triển đặc biệt này chịu ảnh hưởng rất mạnh mẽ của các điều kiện văn hóa, giáo dục, kinh tế của môi trường gia đình và xã hội đồng thời cũng là giai đoạn gây nhiều lo ngại cho các bậc cha mẹ và thầy cô gây ảnh hưởng rất nhiều đến công tác quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh. Các yếu tố trên đều tác động một cách chủ quan hoặc khách quan, từng phần hoặc toàn bộ đến công tác quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh của các trường THPT trên địa bàn huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.

2.6. Đánh giá chung về thực trạng quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận

Qua quá trình tìm hiểu thực trạng quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Tác giả xác định những ưu và nhược điểm cũng như nguyên nhân của công tác quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh.

2.6.1. Ưu điểm

Đa số CBQL, GV và CMHS đều nhận thức được quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh là rất quan trọng, mang tính cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Mục tiêu hoạt động phòng tránh XHTD cho học sinh được xác định rõ ràng, cụ thể.

Trong quá trình thực hiện, nhà trường luôn được sự quan tâm của chính quyền địa phương trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục, tạo điều kiện thuận lợi để các lực lượng hoàn thành nhiệm vụ được giao. Nhà trường đã ra quyết định thành lập và đưa vào hoạt động Tổ tư vấn tâm lý. Huy động được sự tham gia của các tổ chức đoàn thể trong nhà trường. Xây dựng môi trường học đường thân thiện, xanh-sạch-đẹp và an toàn. Đoàn thanh niên năng động, xung kích, tình nguyện.

CBQL có sự quan tâm, chỉ đạo thực hiện việc giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh thông qua việc tổ chức cho giáo viên xây dựng lồng ghép trong kế hoạch bài học, các hoạt động theo chủ đề phòng tránh XHTD.

2.6.2. Hạn chế Luận văn: Thực trạng QLGD phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.

Nhà trường đã tổ chức tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật liên quan đến phòng tránh XHTD cho toàn thể học sinh cũng như cán bộ, giáo viên nhà trường. Tuy nhiên, thực hiện chưa thường xuyên và chưa hiệu quả. Hoạt động của câu lạc bộ, hoạt động trải nghiệm, hướng dẫn giáo viên thiếu tính đồng bộ.

Nhà trường đã triển khai một số phương pháp và hình thức giáo dục pháp luật nói chung, phòng tránh XHTD nói riêng song còn đơn điệu, chưa đa dạng, chưa mang lại hiệu quả cao.

Công tác kiểm tra, đánh giá về mục tiêu giáo dục phòng tránh XHTD chưa được CBQL quan tâm. Bỏ ngõ công tác sơ kết, tổng kết việc thực hiện nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục phòng tránh XHTD. Đặc biệt, CBQL vẫn chưa tiến hành đánh giá, rút kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh. Từ đó, CBQL chưa cải tiến nội dung, cách thức thực hiện cho các năm học kế tiếp.

Chưa phát huy vai trò của các tổ chức chính trị, đoàn thể trong nhà trường. Thiếu sự phối hợp giữa các lực lượng bên trong và bên ngoài nhà trường. Chưa thường xuyên kết hợp với các trung tâm, các trường đại học, chuyên gia để giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh.

Công tác bố trí, chuẩn bị cơ sở vật chất cho hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh chưa được đảm bảo. Mặc dù các trường có tổ tư vấn tâm lí song tổ chức, bố trí phòng tư vấn chưa phù hợp. Tài liệu, tờ rơi cho công tác tuyên truyền chưa được bổ sung kịp thời. Công tác sửa chữa, mua sắm trang thiết bị phục vụ cho hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh chưa được quan tâm đúng mức.

2.6.3. Nguyên nhân

Với những hạn chế nêu trên, việc xác định rõ nguyên nhân nhằm đưa ra những biện pháp thực hiện là yêu cầu đặt ra đối với các nhà trường. Có nhiều nguyên nhân khác nhau ảnh hưởng đến công tác quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh ở các trường THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận đó là: những tác động từ văn hóa phẩm ngoại lai chưa được kiểm duyệt của các cơ quan chức năng; môi trường kinh tế, xã hội của địa phương; vai trò của gia đình chưa được thể hiện; kiến thức, năng lực của CBQL, GV; sự kết hợp quản lí giáo dục giữa gia đình, nhà trường và xã hội; đặc điểm tâm sinh lí các em.

Nhiều bộ phim, sách truyện có nội dung bạo lực, khiêu dâm vẫn được trình chiếu và bày bán công khai trên thị trường. Học sinh dễ dàng trao đổi, mua bán hoặc tiếp cận nhanh chóng thông qua các trang Web. Sự phối kết hợp lỏng lẻo giữa các cơ quan ban ngành đoàn thể của nhà trường và địa phương đã ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lí giáo dục phòng tránh XHTD.

Tình hình kinh tế, xã hội của địa phương tác động rất lớn đến công tác quản lí giáo dục phòng tránh XHTD đối với học sinh. Nghèo đói, thất nghiệp, mù chữ, thiếu hiểu biết pháp luật, coi thường pháp luật gây ảnh hưởng rất nhiều đến công tác quản lí giáo dục phòng tránh XHTD. Gia đình thiếu quan tâm con cái, không thường xuyên giáo dục đạo đức lối sống cho con trẻ. Cha mẹ thiếu kiến thức và phương pháp giáo dục giới tính cũng như cách thức để giúp cho con phòng tránh bị XHTD.

Bên cạnh đó, kiến thức và năng lực của CBQL và GV có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lí giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh. Nếu CBQL, GV có tầm nhìn tốt, chịu khó học hỏi, thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ sẽ thuận lợi rất nhiều trong công tác tổ chức, triển khai và hỗ trợ học sinh. Ngoài ra, độ tuổi học sinh THPT với những bồng bột của tuổi trẻ, thích khám phá cái mới do sự chuyển biến tâm sinh lí, thiếu kiến thức về giới tính, pháp luật và xã hội đã tác động rất lớn đến công tác quản lí.

Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng QLGD phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.

Ninh Sơn là một huyện miền núi của tỉnh Ninh Thuận với nền kinh tế tập trung chủ yếu là nông nghiệp. Hiện nay trên địa bàn huyện chỉ có 03 trường THPT. Sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn và phân tích các kế hoạch, hồ sơ quản lý, hồ sơ giảng dạy của giáo viên, chúng tôi đã khảo sát thực trạng hoạt động phòng tránh XHTD và quản lí hoạt động phòng tránh XHTD cho học sinh các trường THPT huyện Ninh Sơn. Kết quả khảo sát cho thấy, nhận thức của CBQL, GV về hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD, quản lí mục tiêu của hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh khá đầy đủ.

Bên cạnh đó, hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh THPT với những nội dung, hình thức, phương pháp chưa thật sự phù hợp với lứa tuổi của các em nên dẫn đến hiệu quả giáo dục chưa cao. Những hình thức giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh ở các trường THPT huyện Ninh Sơn chỉ mang tính chất cung cấp thông tin, giải đáp thắc mắc của học sinh.

Công tác quản lí nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh THPT đã được triển khai thực hiện. Tuy nhiên, kết quả vẫn chưa đảm bảo được ý nghĩa, mục đích của hoạt động. Năng lực tổ chức, điều hành của CBQL, GV cần được cải thiện. Công tác kiểm tra, giám sát thực sự trở thành vấn đề cần phải quan tâm. Ngoài ra, các nguồn lực về nhân lực, vật lực và tài lực vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của hoạt động giáo dục.

Khi xét các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh ở các trường THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận thì vai trò của gia đình và đặc điểm về tâm sinh lí của học sinh có ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả giáo dục. Điều này cho thấy, gia đình chính là cái nôi nuôi dưỡng sự hình thành và phát triển của mỗi người và đặc điểm tâm sinh lí cá nhân quyết định rất nhiều đến việc tiếp nhận cũng như không tiếp nhận vấn đề.

Kết quả khảo sát thực trạng ở chương 2 sẽ là căn cứ để đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh ở các trường THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận trong chương 3 của luận văn. Luận văn: Thực trạng QLGD phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp QLGD phòng tránh xâm hại tình dục cho HS

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993