Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng phát triển du lịch và công tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Trị dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Điều kiện tự nhiên, KTXH và các yếu tố tác động đến phát triển du lịch của tỉnh Quảng Trị

2.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của tỉnh Quảng Trị

2.1.1.1. Điều kiện tự nhiên 

Tỉnh Quảng Trị nằm trên tọa độ địa lý từ 16018 đến 17010 vĩ độ Bắc, 1060 28 đến 107023 kinh độ Đông, tiếp giáp với Quảng Bình ở phía Bắc, Thừa Thiên Huế ở phía Nam, phía Tây giáp với CHDCND Lào và phía Đông giáp Biển Đông. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh 4.737,44 km2, chiếm 4,94% diện tích vùng BTB và 1,43% diện tích toàn quốc. Quảng Trị có lợi thế về địa lý – kinh tế, là đầu mối giao thông, nằm ở trung điểm đất nước, điểm đầu trên tuyến đường huyết mạch chính của Hành lang kinh tế Đông – Tây nối với Lào – Thái Lan – Myanmar qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo đến các cảng biển miền Trung.

Về mặt địa hình có thể thấy do cấu tạo của dãy Trường Sơn, địa hình Quảng Trị thấp dần về phía Đông, Đông Nam và chia thành 4 dạng địa hình gồm: Vùng núi cao phân bố ở phía Tây từ đỉnh dãy Trường Sơn; Vùng gò đồi núi thấp chuyển tiếp; Vùng đồng bằng nhỏ hẹp chạy dài hướng Bắc Nam dọc lãnh thổ của tỉnh; Vùng cát nội đồng và ven biển. Do địa hình phía Tây núi cao, phía Đông là biển, lại có chiều ngang hẹp nên các sông suối trên địa bàn tỉnh đều ngắn và dốc. Ngoài khơi cách đất liền 28 hải lý có huyện đảo Cồn Cỏ có vị trí quan trọng về kinh tế và quốc phòng, có nhiều điều kiện thuận lợi để khai thác phát triển du lịch.

2.1.1.2. Điều kiện KTXH  Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

Cùng với xu thế đổi mới và mở cửa của cả nước, sự nghiệp phát triển KTXH của tỉnh Quảng Trị trong những năm qua đã đạt được những thành tựu đáng kể trên mọi lĩnh vực: qui mô nền kinh tế không ngừng được mở rộng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, CSHT được cải thiện đáng kể, các lĩnh vực văn hóa xã hội và đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân từng bước được nâng cao. Nền kinh tế tỉnh đang từng bước phát huy các thế mạnh về phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch, công nghiệp chế biến nông sản, thuỷ điện, khai khoáng, trồng cây công nghiệp dài ngày, trồng rừng nguyên liệu, khai thác và nuôi thủy sản, mở rộng giao lưu kinh tế với trong nước và nước ngoài. Tiềm lực kinh tế được củng cố và phát triển, đang tạo những nền tảng cơ bản cho giai đoạn phát triển tiếp theo.

Tuy nhiên do tác động của khủng hoảng kinh tế – tài chính nên đà phát triển kinh tế đã chậm lại. Nếu như giai đoạn trước 2018 tốc độ tăng trưởng luôn đạt trung bình trên 10%/năm thì giai đoạn 2019-2023 tốc độ tăng trưởng chỉ còn khoảng 7,4%. Năm 2024, Quảng Trị cùng với 03 tỉnh Miền Trung bị ảnh hưởng nặng nề bởi sự cố môi trường biển, giá trị tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) ước đạt 16.081 tỷ đồng (giá so sánh 2018), tăng 6,5% so với năm 2023, trong đó khu vực nông lâm thủy sản ước đạt 3.498 tỷ (tăng 2,5%), khu vực công nghiệp – xây dựng ước đạt 3.953 tỷ đồng (tăng 9,3%), khu vực dịch vụ ước đạt 7.658 tỷ đồng (tăng 8,0%).

GDP đầu người bình quân của tỉnh Quảng Trị năm 2024 ước đạt 36 triệu đồng, còn thấp hơn mức trung bình của cả nước (48,6 triệu đồng). Tổng thu ngân sách trên địa bàn năm 2024 đạt 2.152 tỷ đồng.

Tổng mức vốn đầu tư toàn xã hội năm 2024 đạt khoảng 11.098 tỷ đồng, tăng 9,1% so với năm trước, trong đó vốn nhà nước thực hiện 2.963 tỷ đồng (tăng 24%), vốn ngoài nhà nước thực hiện 8.040 tỷ đồng (tăng 4,6%), vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 95 tỷ đồng (giảm 5,5%). Trong năm 2024 Quảng Trị đã cấp phép cho 01 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký là 4,25 triệu USD. Toàn tỉnh hiện có 16 dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) còn hiệu lực và 25 chương trình, dự án ODA (tổng mức đầu tư 5.373 tỷ đồng bao gồm 747 tỷ đồng vốn đối ứng). Quảng Trị cũng đang tích cực thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào những dự án hạ tầng trọng điểm.

Lực lượng lao động ước tính năm 2024 là 349.982 người. Năm 2024 ước tính số lao động được giải quyết việc làm mới ở Quảng Trị đạt 10.065 người; tuyển sinh 7.714 lao động học nghề, góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 46%. Tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 13,73%.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2.1.2. Tài nguyên du lịch Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

Quảng Trị là tỉnh có diện tích nhỏ, tuy nhiên mật độ tài nguyên du lịch tương đối cao và hết sức đa dạng. Cùng với vị trí chiến lược, tính chất đa dạng, đặc sắc của tài nguyên du lịch góp phần khẳng định thế mạnh của du lịch Quảng Trị; vai trò, sự ảnh hưởng đối với du lịch vùng và cả nước. Tài nguyên du lịch Quảng Trị có thể phân thành một số nhóm sau:

2.1.2.1. Tài nguyên du lịch lịch sử – cách mạng:

Có thể nói đây là nhóm tài nguyên du lịch nổi trội, độc đáo và đặc trưng nhất của Quảng Trị, được tạo nên bởi hệ thống di tích đồ sộ với 518 di tích lịch sử cách mạng. Đây chính là sự khác biệt lớn nhất của tài nguyên du lịch Quảng Trị với các địa phương khác trong vùng và với cả nước, tiêu biểu như:

Cụm di tích Đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải được công nhận di tích Quốc gia đặc biệt: Đây là cụm di tích đặc biệt quan trọng, là điểm đến “bắt buộc” khi tới Quảng Trị. Cụm di tích này gồm có: sông Bến Hải, cầu Hiền Lương, cột cờ Hiền Lương, tượng đài Khát vọng Thống nhất, Bảo tàng vĩ tuyến 17, Đồn Công an Hiền Lương và các di tích, chứng tích trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Di tích lịch sử Thành cổ Quảng Trị và những địa điểm lưu niệm sự kiện 81 ngày đêm năm 1972 được công nhận di tích Quốc gia đặc biệt: là chứng tích của bản hùng ca bi tráng 81 ngày đêm mùa Hè đỏ lửa năm 1972. Đây cũng là một trong những địa điểm thu hút khách tham quan và đặc biệt là tri ân các anh hùng, liệt sỹ lớn nhất của tỉnh Quảng Trị và cả nước. Nằm gần Thành cổ Quảng Trị là một số địa điểm du lịch quan trọng khác như Tượng đài Mai Quốc Ca, Nhà hành lễ và Bến thả hoa sông Thạch Hãn, Khu lưu niệm Tổng Bí thư Lê Duẩn,…

Hệ thống di tích Đường Hồ Chí Minh đã được công nhận di tích quốc gia đặc biệt với các điểm tham quan quan trọng nhất bao gồm: Khe Hó, đường Khe Sanh – Sa Trầm – Tà Long, cầu treo Bến Tắt, các điểm vượt Đường 9…

Nghĩa trang Liệt sỹ Quốc gia Trường Sơn và Nghĩa trang Liệt sỹ Quốc gia Đường 9: là nơi quy tụ 10.045 mộ liệt sỹ, nằm ngay bên Quốc lộ 9 – là những địa điểm tri ân đặc biệt quan trọng của Quảng Trị cũng như cả nước.

Di tích Quốc gia đặc biệt Địa đạo Vịnh Mốc và Hệ thống làng hầm Vĩnh Linh: bao gồm nhiều km đường hầm và các công trình, khu chức năng phục vụ đời sống, sinh hoạt thường nhật của người dân – là một hình ảnh thu nhỏ của làng quê Việt Nam kiến tạo trong lòng đất. Địa đạo Vịnh Mốc khác biệt với tất cả các công trình ngầm khác ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Đây là một trong những điểm thu hút khách du lịch, đặc biệt là khách quốc tế mạnh nhất của Quảng Trị.

Đường 9 – Khe Sanh – Làng Vây – Lao Bảo – Sân bay Tà Cơn – đồi Động Tri: là những địa danh nổi tiếng không chỉ ở Việt Nam mà cả trong lịch sử quân sự Hoa Kỳ. Đây là một trong những điểm tham hấp dẫn trên Hành lang kinh tế Đông – Tây.

Căn cứ Dốc Miếu và Hàng rào điện tử Mc. Namara: một di tích nổi tiếng thời chống Mỹ và là hệ thống phòng ngự chiến lược bao gồm nhiều phương tiện chiến tranh và thiết bị điện tử hiện đại nhất, được mang tên của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mc. Namara.

Khu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam: Thuộc địa phận thôn Tân Hòa, xã Cam Thành, huyện Cam Lộ cách thành phố Đông Hà 12km về phía Tây, cách Quốc lộ 9 khoảng 200m về phía Bắc. Được xây dựng vào giữa năm 1973, được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 1971.

Nhà tù Lao Bảo: được Pháp xây dựng từ đầu thế kỷ 20, là một trong những “địa ngục trần gian” cùng với nhà tù Kon Tum và Sơn La thu hút nhiều du khách. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

2.1.2.2. Tài nguyên du lịch biển đảo

Quảng Trị có chiều dài bờ biển khoảng 75km với nhiều bãi biển đẹp, môi trường trong lành, đa số còn nguyên sơ có khả năng khai thác du lịch cao, nhiều bãi biển đã rất nổi tiếng trong cả nước.

Bãi biển Cửa Tùng: Đây là bãi biển có quy mô không lớn, tuy nhiên là bãi biển nổi tiếng nhất của Quảng Trị. Cửa Tùng từng được mệnh danh là “Nữ hoàng của các bãi biển”. Thời gian qua, sự đầu tư phát triển chưa tương xứng và phù hợp cùng với những biến động của dòng chảy đã ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng của bãi biển này. Tuy nhiên đây vẫn là một trong những tài nguyên du lịch biển đảo nổi trội quan trọng của Quảng Trị.

Bãi biển Cửa Việt: Nằm sát với biển Cửa Tùng, kéo dài khoảng 14 km, là bãi biển lớn nhất của Quảng Trị, nằm gần Cảng Cửa Việt. Hạ tầng giao thông của bãi biển này đã được đầu tư tương đối tốt. Với diện tích lớn, chất lượng bãi cát và nước biển cao, khoảng cách chỉ 15km từ Đông Hà, đây sẽ là điểm đón khách du lịch nghỉ dưỡng biển quan trọng của Hành lang kinh tế Đông – Tây.

Đảo Cồn Cỏ: có diện tích khoảng 230ha, không chỉ là tài nguyên biển đảo quan trọng của Quảng Trị, đây còn là một địa danh nổi tiếng từ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với những chiến tích lịch sử anh hùng. Do hạn chế về quỹ đất, trữ lượng nước ngọt, phương tiện vận chuyển… việc phát triển du lịch đảo Cồn Cỏ cần được cân nhắc với quy mô hợp lý. Đặc biệt đây là một trong những địa điểm tiền tiêu, có vị trí đặc biệt quan trọng về an ninh quốc phòng.

Ngoài ra còn có nhiều bãi biển đẹp có thể khai thác du lịch như: Bãi biển Mỹ Thủy xã Hải An ở Hải Lăng; Bãi biển Triệu Lăng ở Triệu Phong … Được định hướng phát triển để phục vụ trực tiếp Khu kinh tế Đông Nam Quảng Trị. Bãi biển Vĩnh Thái, Vĩnh Kim huyện Vĩnh Linh nằm trong tương quan chung trong việc phát triển các khu du lịch biển đảo của Quảng Trị và Quảng Bình.

Đặc biệt là cụm Cửa Việt – Cửa Tùng – Cồn Cỏ là ba điểm hình thành nên tam giác du lịch biển đảo với các thế mạnh bổ sung cho nhau và có thể được xem xét phát triển thành một khu du lịch quốc gia tiềm năng.

2.1.2.3. Du lịch thương mại, công vụ và du lịch đường biên

Nằm ở vị trí chiến lược, là giao điểm của các tuyến giao thông huyết mạch của Việt Nam và khu vực như Quốc lộ 1A và Đường Hồ Chí Minh, Đường sắt Bắc – Nam, Quốc lộ 9 – Hành lang kinh tế Đông – Tây, Quảng Trị là một trong những địa phương có tiềm năng phát triển du lịch thương mại – công vụ và đặc biệt là du lịch biên mậu. Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo là một trong những cửa khẩu đầu tiên và nổi tiếng nhất giữa hai nước Việt Nam – Lào. Đây cũng là cửa khẩu quan trọng nhất trong tuyến Hành lang kinh tế Đông – Tây kết nối Việt Nam với Lào, Thái Lan, Myanmar và Vân Nam (Trung Quốc). Ngoài ra, cửa khẩu La Lay vừa mới được công nhận cửa khẩu Quốc tế cùng với sự hình thành và phát triển của khu kinh tế Đông Nam, cảng Mỹ Thủy. Đặc biệt sau sự hình thành của Cộng đồng kinh tế ASEAN năm 2023, tiềm năng phát triển du lịch thương mại – công vụ của Quảng Trị sẽ còn trở nên mạnh mẽ hơn. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

2.1.2.4. Tài nguyên du lịch văn hóa – tâm linh

Không chỉ phong phú với các tài nguyên du lịch lịch sử – cách mạng, du lịch biển đảo, du lịch sinh thái, hệ thống tài nguyên du lịch văn hóa – lịch sử của Quảng Trị cũng hết sức hấp dẫn. Đó là hệ thống các công trình – di tích tôn giáo, mà nổi bật nhất là Tổ đình Sắc Tứ Tịnh Quang và nhà thờ La Vang. Đây là hai công trình quan trọng đối với hai tôn giáo lớn nhất tại Việt Nam hiện nay. Ngoài ra, Quảng Trị còn có nhiều công trình văn hóa tiêu biểu như hệ thống các giếng Chăm cổ, Đình Hà Thượng (xây dựng năm 1690), Làng cổ Hội Kỳ…

Cụm di tích Ái Tử, Trà Bát, Dinh Cát và các di tích sử – văn hoá thời Chúa tiên Nguyễn Hoàng (tại huyện Triệu Phong) là những tài nguyên du lịch văn hóa – lịch sử có giá trị của tỉnh Quảng Trị và có tiềm năng lớn trong việc xây dựng khu du lịch văn hoá lịch sử Chúa tiên Nguyễn Hoàng.

Không chỉ là tài nguyên du lịch lịch sử cách mạng, Thành cổ Quảng Trị, Nghĩa trang Liệt sỹ Trường Sơn và Nghĩa trang Liệt sỹ Đường 9 cũng có là những điểm du lịch văn hóa – tâm linh hết sức quan trọng.

Quảng Trị cũng có nhiều lễ hội trong đó gồm có các lễ hội gắn với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước như: Lễ hội Thống nhất non sông, Hoa đăng trên sông Thạch Hãn, Huyền thoại Trường Sơn; lễ hội quốc tế như Lễ hội Nhịp cầu Xuyên Á; các lễ hội tôn giáo như: Lễ hội Tổ đình Sắc Tứ Tịnh Quang, Lễ kiệu La Vang; và các lễ hội văn hóa truyền thống như: Lễ hội đua thuyền truyền thống, Lễ hội Chợ đình Bích La, Hội cướp cù Gio Linh, Lễ hội Arieuping…

2.1.2.5. Tài nguyên du lịch sinh thái – sông suối và cảnh quan Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

Không chỉ có biển đảo, Quảng Trị còn có nhiều tài nguyên du lịch tự nhiên đa dạng và hấp dẫn. Quảng Trị có hệ thống sông ngòi khá dày đặc, mật độ trung bình 0,8 – 1 km/km2. Do đặc điểm địa hình bề ngang hẹp, có dãy Trường Sơn núi cao ở phía Tây nên các sông của Quảng Trị có đặc điểm chung là ngắn và dốc. Toàn tỉnh có 12 con sông lớn nhỏ, tạo thành 03 hệ thống sông chính là sông Bến Hải, sông Thạch Hãn và sông Ô Lâu (Mỹ Chánh). Cảnh quan các sông đều rất hấp dẫn cả khu vực hạ lưu và thượng nguồn. Quảng Trị cũng có một số sông chảy về phía Tây thuộc hệ thống sông Mekong như các sông Sê – Pôn, Sê – Bang – Hiêng… Ở khu vực miền núi phía Tây có nhiều dòng suối có giá trị cảnh quan cao.

Quảng Trị có nhiều khu vực có thể phát triển du lịch sinh thái. Những khu vực này có thể được chia thành 2 dạng với hình thức phát triển khác nhau, phục vụ các thị trường khác nhau. Loại thứ nhất là các khu rừng nằm ở đồng bằng như: Rú Lịnh, Trằm Trà Lộc. Các khu rừng này có đặc điểm là diện tích nhỏ nhưng có thảm thực vật đa dạng và nằm tương đối gần Đông Hà và thị xã Quảng Trị thuận lợi cho các chuyến dã ngoại sinh thái cuối tuần, phục vụ nhu cầu nhân dân trong tỉnh. Loại thứ hai là các khu bảo tồn tự nhiên nằm ở khu vực miền núi phía Tây của tỉnh như Đakrông và Bắc Hướng Hóa. Với tính đa dạng sinh học cao, các khu vực này phù hợp cho các hoạt động nghiên cứu khoa học và du lịch sinh thái chuyên sâu.

Các tài nguyên du lịch gắn với văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc ít người cũng là một điểm nhấn của du lịch Quảng Trị, trong đó nổi trội hơn cả là Vân Kiều và Pacô. Những địa điểm có thể đầu tư phát triển du lịch tìm hiểu văn hóa dân tộc thuận lợi là làng Klu, Tà Rụt và Bản Cát. Đặc biệt làng Klu đã được đầu tư tương đối tốt để phát triển du lịch cộng đồng. Suối khoáng nóng Klu – Đakrông cũng là một điểm tài nguyên du lịch có giá trị, góp phần đa dạng hóa tài nguyên du lịch và sản phẩm du lịch của Quảng Trị. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

2.1.3.  Hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch

2.1.3.1. Hệ thống giao thông

Có thể nói trong những năm gần đây, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông của cả nước nói chung và Quảng Trị nói riêng đã được quan tâm đầu tư. Giao thông đường bộ tại Quảng Trị đã được cải thiện rõ rệt, đặc biệt là trên các tuyến 9.

Mạng lưới giao thông vận tải tỉnh Quảng trị hiện tại bao gồm: đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và đường biển. Với đường không có thể kết nối với sân bay quốc tế Phú Bài hay sân bay Đồng Hới để phát triển du lịch.

Trên địa bàn tỉnh Quảng Trị có 7.135,08km đường bộ, bao gồm 6 tuyến quốc lộ, 21 tuyến đường tỉnh, mạng lưới giao thông nông thôn (đường huyện, đường xã, đường thôn xóm), mạng lưới giao thông đô thị, đường chuyên dùng.

Bảng 2.1: Thống kê số liệu mạng lưới giao thông trên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2024

Trên địa bàn tỉnh Quảng Trị hiện có 6 đoạn Quốc lộ đi qua là Quốc lộ 1A dài 87,42km (gồm đoạn tránh Hiền Lương dài 11,92Km); Quốc lộ 9 dài 118,2 km; đường Hồ Chí Minh nhánh Đông dài 44km; đường Hồ Chí Minh nhánh Tây dài 139km; Quốc lộ 49C dài 23,91km (trong đó đoạn qua địa bàn Quảng Trị dài 23,276 km) và Quốc lộ15D dài 12,2km. Tổng chiều dài các tuyến Quốc lộ là 417,90km, kết cấu mặt đường gồm: 61 km đường bê tông xi măng, 351,9 km đường bê tông nhựa; 11,2km đường láng nhựa. Trong các tuyến quốc lộ thì tuyến đường 1A, đường Hồ Chí Minh (nhánh Đông) và Đường 9 là quan trọng nhất đối với phát triển du lịch.

Trong tương lai sẽ phát triển trục giao thông phía Nam kết nối trực tiếp cửa khẩu La Lay với cảng Mỹ Thủy. Đây sẽ là trục giao thông quan trọng đối với phát triển KTXH và du lịch của tỉnh Quảng Trị.

Quảng Trị có 2 cửa khẩu quốc tế là Lao Bảo và La Lay trên các tuyến Quốc lộ 9 và Quốc lộ 15D. Toàn tỉnh hiện có 16 bến xe gồm: 2 bến xe liên tỉnh (tại Đông Hà và Lao Bảo), 6 bến xe nội tỉnh, 7 điểm dừng đỗ xe và 1 điểm dừng xe Bắc Nam tại thị xã Quảng Trị.

Trên tuyến đường sắt Bắc – Nam, đoạn đi qua Quảng Trị dài 76km, có 7 ga tàu hỏa. Các ga đón, trả nhiều khách nhất là ga Đông Hà, Quảng Trị và Sa Lung.

Tuyến đường sông trên địa bàn tỉnh Quảng Trị có chiều dài trên 400 km. Hiện tại 288 km đang khai thác, hoạt động trên 4 sông chính: sông Hiếu, sông Thạch Hãn, sông Bến Hải và sông Ô Lâu. Trong tổng chiều dài đường sông đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Quảng Trị hiện có 125,4 km được đưa vào quản lý; trong đó: 73 km Trung ương uỷ thác tỉnh quản lý, 52,4 km tỉnh quản lý. Tuy nhiên cho đến nay Quảng Trị mới có 1 cảng đường sông (trên sông Hiếu) tại thành phố Đông Hà. Hiện Quảng Trị mới chỉ có 2 cảng biển tại Cửa Việt và Cồn Cỏ, tuy nhiên quy mô còn nhỏ, công suất sử dụng thấp.

Theo định hướng Quy hoạch Giao thông Vận tải, Quảng Trị sẽ có những dự án cảng giao thông quan trọng đó là: (1) Cảng hàng không Quảng Trị tại Quán Ngang, huyện Gio Linh có diện tích 290,8ha; (2) Cảng Cửa Việt (bờ Bắc) và mở rộng Cảng Cửa Việt (bờ Nam); (3) Cảng Mỹ Thủy (có bến cảng hành khách).

Các dự án cảng biển và cảng hàng không này có vai trò cực kỳ quan trọng đối với phát triển du lịch tỉnh Quảng Trị trong vai trò đầu mối tiếp nhận luồng khách nội địa trực tiếp từ các thị trường nguồn lớn tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Cần Thơ cũng như tiếp nhận khách du lịch tàu biển là thị trường khách đang có sự phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây.

2.1.3.2. Hệ thống các công trình thể thao, văn hóa…

Nhìn chung, hệ thống các công trình thể thao, văn hóa của Quảng Trị được quan tâm đầu tư. Ngoài chủ yếu tổ chức các hoạt động phục vụ đời sống văn hóa và thể dục thể thao trong tỉnh, còn có điều kiện để đăng cai tổ chức các sự kiện văn hóa, thể thao lớn của vùng và quốc tế. Cho đến nay ngoài các cơ sở quy mô nhỏ ở các huyện, thị xã, thành phố, toàn tỉnh có một số trung tâm có quy mô tương đối lớn như: Trung tâm văn hóa tỉnh; Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu thể dục thể thao; Bảo tàng Quảng Trị và hệ thống các bảo tàng tại các điểm tham quan, di tích; Thư viện tỉnh; sân vận động và nhà thi đấu thể thao tỉnh; Trung tâm văn hóa thông tin, thể dục thể thao Đông Hà; Rạp chiếu phim Đông Hà.

2.2. Thực trạng phát triển du lịch tại tỉnh Quảng Trị Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

2.2.1. Tình hình du lịch tại tỉnh Quảng Trị

2.2.2.1. Khách du lịch và thị trường khách du lịch

Triển khai thực hiện Kết luận 05 của Tỉnh ủy tổng kết 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 02-NQ/TU về phát triển du lịch Quảng Trị đến năm 2018 và Chương trình nhiệm vụ phát triển du lịch đến 2024, Chương trình kích cầu du lịch của Bộ VHTTDL, ngành du lịch Quảng Trị tiếp tục đạt được những kết quả khả quan trên nhiều mặt.

Bảng 2.2: Hiện trạng khách du lịch đến Quảng Trị giai đoạn 2018-2024

Năm 2024, do ảnh hưởng sự cố ô nhiễm môi trường biển Formosa nên lượng khách du lịch đến Bắc Trung Bộ BTB nói chung và Quảng Trị nói riêng giảm mạnh (năm 2024 giảm gần 30% so với năm 2023). Đây là một sự cố đáng tiếc gây ảnh hưởng nặng nề đối với du lịch BTB nói chung và Quảng Trị nói riêng.

Du lịch Quảng Trị hiện mới ở giai đoạn đầu của sự phát triển và so với các địa phương trong khu vực BTB, hoạt động du lịch Quảng Trị còn khá khiêm tốn. Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng khách du lịch đến Quảng Trị tương đối cao so với tốc độ tăng trung bình của vùng du lịch BTB. Từ năm 2018 đến năm 2023, lượng khách đến Quảng Trị chiếm tỷ trọng tương đối ổn định, chiếm từ 8,62% – 9,74% tổng lượt khách đến các tỉnh thuộc vùng du lịch BTB, năm 2024 lại giảm xuống còn 6,93% do ảnh hưởng sự cố ô nhiễm môi trường biển Formosa.

Bảng 2.3: Hiện trạng khách du lịch đến Quảng Trị và vùng BTB  giai đoạn 2018 – 2024 (khách có lưu trú)

Thị trường khách du lịch quốc tế: Những năm qua khách du lịch quốc tế đến Quảng Trị tăng mạnh về số lượng do gần đây Quảng Trị được lựa chọn là điểm đến hấp dẫn đối với khách du lịch quốc tế trên hành trình du lịch DMZ và du lịch quá cảnh trên Hành lang Kinh tế Đông Tây với thương hiệu “Ngày ăn cơm 3 nước Việt Nam – Lào – Thái Lan”, du lịch Caravan hiện đang phát triển mạnh mẽ qua Hành lang kinh tế Đông – Tây. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

Biểu đồ 2.1: Biểu đồ khách du lịch quốc tế đến Quảng Trị, giai đoạn 2018-2024 Thị trường khách theo quốc tịch: Khách quốc tế đến Quảng Trị chủ yếu từ các nước Đông Nam Á, trong đó thị trường khách Lào, Thái Lan chiếm tỷ lệ tương đối lớn đến 35,7%, tiếp theo là thị trường khách Mỹ, Australia, Tây Âu, các nước Đông Bắc Á,…

Bảng 2.4: Cơ cấu nguồn khách du lịch quốc tế hiện nay của Quảng Trị

Từ năm 2018 cho đến nay, lượng khách Thái Lan, Lào đến Quảng Trị liên tục tăng trưởng. Đáng chú ý, từ tháng 10/2013 Chính phủ Việt Nam cho phép các đoàn caravan của Thái Lan vào Việt Nam thông qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo. Ngoài ra, Lào bỏ visa đối với khách qua Lào và nhập cảnh vào Việt Nam (trung bình mỗi khách xuất cảnh qua Lào vào Việt Nam tiết kiệm được khoảng 60 USD/người cho hai lần qua cửa khẩu); tháng 11/2014, Bộ Giao thông Vận tải ba nước Việt Nam – Lào – Thái Lan tổ chức lễ thông xe thực hiện Hiệp định tạo thuận lợi vận tải người và hàng hóa qua lại biên giới giữa các nước Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng (Hiệp định GMS); tháng 12 năm 2014, cầu Hữu Nghị II bắc qua sông Mê Kông nối liền tỉnh Savannakhet (Lào) với tỉnh Mukdahan (Thái Lan) hoàn thành và đưa vào sử dụng trên tuyến Hành lang kinh tế Đông – Tây đã thu hút lượng khách du lịch nước thứ ba vào Việt Nam tham quan du lịch chủ yếu qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo ngày càng tăng, thành phần quốc tịch đa dạng, đã mở ra thị trường mới cho du lịch Quảng Trị.

Tuy vậy, so với cả vùng BTB thì tốc độ tăng trưởng của thị trường khách quốc tế của Quảng Trị giai đoạn 2018-2023 (khách có lưu trú) còn thấp. Tỷ trọng khách quốc tế trong tổng lượng khách đến Quảng Trị đang có xu hướng giảm. Một trong những nguyên nhân cơ bản là Quảng Trị thiếu sản phẩm du lịch đặc trưng, thiếu các khu nghỉ dưỡng chất lượng cao, thiếu dịch vụ bổ sung để thu hút và giữ chân được khách du lịch quốc tế lưu trú lại lâu hơn. Đặc biệt năm 2024 khách quốc tế đến Quảng Trị giảm rất mạnh do ảnh hưởng bởi sự cố Formosa.

Bảng 2.5. Khách du lịch có lưu trú tại Quảng Trị giai đoạn 2018-2024

Thị trường khách du lịch nội địa: Đây là thị trường khách chủ yếu của tỉnh, trung bình giai đoạn 2018-2024 chiếm đến 83,45% tổng lượng khách du lịch đến Quảng Trị.

Đối với thị trường khách du lịch nội địa, loại hình Du lịch văn hoá – lịch sử với Chương trình du lịch “Hoài niệm về chiến trường xưa và đồng đội”, “Con đường huyền thoại” được tạo nên bởi hệ thống di tích chiến tranh đồ sộ và độc đáo. Các di tích lịch sử nổi tiếng là: Địa đạo Vịnh Mốc, Thành cổ Quảng Trị và những địa điểm lưu niệm sự kiện 81 ngày đêm năm 1972, Đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải, Hàng rào điện tử Mc.Namara, sân bay Tà Cơn, Đường 9 – Khe Sanh, đường Hồ Chí Minh huyền thoại, Nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn và Đường 9… đã để lại dấu ấn sâu sắc cho nhiều du khách.

Biểu đồ 2.2: Biểu đồ khách du lịch nội địa đến Quảng Trị giai đoạn 2018 – 2024

Khách du lịch nội địa đến Quảng Trị thường đi theo đoàn do các công ty du lịch, lữ hành tổ chức hoặc do các tổ chức Công đoàn của các cơ quan, trường học, xí nghiệp tổ chức hoặc tự tổ chức theo các nhóm đến từ các thị trường chủ yếu Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Huế, Tp. Hồ Chí Minh,…

Nằm ở vùng kinh tế BTB, Quảng Trị có lợi thế về vị trí địa lý so với nhiều tỉnh trong vùng để đón các dòng khách du lịch đi lại trong vùng. Lượng khách du lịch nội địa đến Quảng Trị trong những năm qua so với toàn vùng BTB còn rất thấp, do vậy muốn thu hút được khách du lịch đến với Quảng Trị cũng cần phải xem lại việc phát triển sản phẩm du lịch của tỉnh. Đặc biệt là lượng khách có lưu trú. Điều này cho thấy chất lượng cơ sở vật chất và các dịch vụ bổ trợ có tác động lớn đến hiệu quả kinh doanh du lịch do không giữ được chân du khách. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

Ngày lưu trú trung bình: Theo số liệu của Sở VHTTDL Quảng Trị, chỉ tiêu về ngày lưu trú của khách đang có xu hướng tăng lên: năm 2018 khách quốc tế lưu trú tại Quảng Trị vào khoảng 1,3 ngày, đến năm 2024 tăng lên 1,6 ngày. Chỉ tiêu về ngày lưu trú trung bình của khách nội địa tuy thấp hơn so với khách quốc tế nhưng cũng tăng dần qua từng năm, năm 2018 là 1,2 ngày và đến 2024 cũng đạt xấp xỉ 1,25 ngày. Đây là một tín hiệu tích cực của ngành du lịch nói chung và kinh doanh dịch vụ lưu trú nói riêng.

2.2.2.2. Tổng thu từ khách du lịch và GRDP du lịch

Tổng thu từ khách du lịch: Thu nhập từ du lịch chiếm tỷ trọng 4,7% GRDP toàn tỉnh. Với xu thế gia tăng của số lượng khách, tổng thu từ khách du lịch của Quảng Trị duy trì được mức tăng, góp phần tích cực vào sự phát triển KTXH của địa phương (Bảng  2.6).

Bảng 2.6: Tổng thu từ khách du lịch Quảng Trị giai đoạn 2018 – 2024

Số liệu trên cho thấy, tổng thu từ khách du lịch của Quảng Trị tăng trưởng thấp so với khu vực. Giai đoạn 2018 – 2023, tăng trưởng bình quân về thu nhập du lịch ước đạt trên 8,24%/năm (thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng trung bình của vùng  35,54%); năm 2024 do ảnh hưởng bởi sự cố môi trường biển Formosa, cùng với Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị là một trong những địa phương bị ảnh hưởng nặng nề nhất, tổng thu từ khách du lịch giảm đến gần 20% so với năm 2023.

Kết quả thống kê cho thấy có sự thay đổi về cơ cấu chi tiêu của khách theo hướng giảm dần tỷ lệ tổng thu từ khách du lịch qua những khoản chi tiêu từ lưu trú và ăn uống; tăng dần sang tổng thu từ lữ hành – vận chuyển, tổng thu từ bán hàng, tổng thu các dịch vụ bổ sung khác. Với sự thay đổi cơ cấu chi tiêu này sẽ là điều kiện tốt để gia tăng tổng thu nhập của các hoạt động du lịch. Tuy nhiên do mức chi tiêu bình quân của khách còn thấp nên thu nhập du lịch nhìn chung còn hạn chế.

Mức chi tiêu của khách du lịch: Theo số liệu năm 2024 của Sở VHTTDL Quảng Trị thì chi tiêu của khách du lịch tại một số điểm danh lam thắng cảnh và khách sạn, trung bình một khách quốc tế chi tiêu từ 0,7 triệu VND/ngày; khách du lịch nội địa chi trong khoảng 1 triệu VND/ngày.

Trong các khoản chi tiêu của du khách, khoản chi cho phương tiện đi lại chiếm lớn nhất, khoảng 32%; chi cho cơ sở lưu trú để nghỉ ngơi khoảng 22% và chi cho ăn uống, mua sắm hàng hóa, quà tặng, quà lưu niệm chỉ chiếm dưới 17%. Qua khảo sát sơ bộ thị trường hàng hóa lưu niệm tại Quảng Trị cho thấy, cần làm cho các sản phẩm này phong phú, đa dạng, có chiều sâu văn hóa khiến cho du khách sẵn sàng bỏ tiền ra mua. Các sản phẩm hàng lưu niệm du lịch phải mang được đậm đà bản sắc văn hóa của địa phương, phải bền vững để có thể mang về tặng bạn bè và trưng bày nhiều năm để kỷ niệm một chuyến đi. Những du khách khó lòng có thể tìm thấy cái hồn văn hóa trong các hàng chợ mà người sản xuất ra các sản phẩm này mang bán cho họ. Đó là tất cả những gì khiến cho số tiền chi tiêu mua sắm của du khách tại Quảng Trị còn thấp, chỉ chiếm khoảng 8% tổng chi tiêu của khách du lịch. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

Giá trị gia tăng (GRDP) du lịch: Giá trị gia tăng ngành du lịch Quảng Trị năm 2018 đạt 590 tỷ đồng và đến năm 2024 đạt khoảng 1.045 tỷ đồng (chiếm 4,7% GRDP của tỉnh).

2.2.2.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch

Cơ sở vật chất kỹ thuật đóng góp một phần quan trọng trong quá trình phục vụ khách du lịch. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đáp ứng các nhu cầu của khách du lịch về lưu trú, ăn uống, vận chuyển, các điều kiện về vui chơi giải trí và các dịch vụ khác. Việc đánh giá về cơ sở vật chất kỹ thuật phải bao gồm cả đánh giá về số lượng và chất lượng. Chất lượng của cơ sở vật chất kỹ thuật có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh du lịch.

Cơ sở lưu trú: Cơ sở lưu trú du lịch bao gồm, khách sạn, làng du lịch, biệt thự du lịch, căn hộ du lịch, bãi cắm trại du lịch, nhà nghỉ du lịch… Việc thiết kế và phát triển các loại hình cơ sở lưu trú du lịch hợp lý không những sẽ tạo ra sự độc đáo, hấp dẫn của khu du lịch, mà còn nâng cao hiệu quả kinh tế và hiệu quả đầu tư. Trong giai đoạn 2018- 2024, hệ thống cơ sở lưu trú tỉnh Quảng Trị đã phát triển với tốc độ khá nhanh. Năm 2018, chỉ có 82 cơ sở lưu trú đi vào hoạt động với 1.451 buồng ngủ. Đến năm 2024 đã tăng lên 178 cơ sở lưu trú với tổng số 3.017 buồng ngủ. Tốc độ tăng trưởng trung bình cho giai đoạn 2014 – 2024 về cơ sở lưu trú du lịch là 13,8%/năm, về số buồng ngủ là 13,0%/năm (Bảng 2.7).

Bảng 2.7: Hiện trạng cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2018 – 2024

Tốc độ xây dựng các khách sạn tư nhân trong những năm vừa qua tăng đột biến. Trên địa bàn có nhiều dự án đầu tư về lĩnh vực khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 3 sao trở lên đang được tiến hành xây dựng tại các trung tâm thành phố Đông Hà, khu Thương mại đặc biệt Lao Bảo, các khu du lịch biển Cửa Tùng, Cửa Việt… Tuy nhiên, hầu hết hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Trị chưa thật chuyên nghiệp, quy mô nhỏ, chất lượng kinh doanh dịch vụ lưu trú chưa cao, hạn chế trong việc đáp ứng nhu cầu của du khách.

Công suất sử dụng buồng ngủ: Theo các số liệu của Sở thì công suất năm 2023 đạt khoảng 65,0% và năm 2024 giảm còn 42% do ảnh hưởng sự cố môi trường biển Fomosa. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

Sự phân bố các cơ sở lưu trú ở Quảng Trị: Tập trung chủ yếu ở thành phố Đông Hà, thị xã Quảng Trị, Khu dịch vụ du lịch Cửa Việt – Cửa Tùng, Khu thương mại Lao Bảo. Ở một số thị trấn trên địa bàn tỉnh hiện cũng có cơ sở lưu trú, tuy nhiên phần lớn là nhà nghỉ chưa đủ tiêu chuẩn xếp hạng.

Quy mô, chất lượng, cơ sở lưu trú: Hầu hết các cơ sở lưu trú đều đã được quan tâm nâng cao chất lượng dịch vụ như tăng cường trang thiết bị, tiện nghi phục vụ; đào tạo lao động; đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ hướng tới tính chuyên nghiệp trong hoạt động kinh doanh, phục vụ khách. Năm 2024, Quảng Trị có 178 cơ sở lưu trú du lịch với 3.017 buồng ngủ và 5.260 gường (trong đó có 02 khách sạn 04 sao, 08 khách sạn 03 sao, 12 khách sạn 02 sao, 117 nhà nghỉ du lịch).

Phần lớn cơ sở lưu trú du lịch trong tỉnh qui mô nhỏ (dưới 50 buồng) thuộc các hộ kinh doanh cá thể, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nguồn nhân lực phần lớn được đào tạo từ các chuyên ngành khác chuyển sang hoạt động kinh doanh du lịch, trình độ quản trị du lịch, khách sạn còn yếu. Do vậy việc tổ chức kinh doanh du lịch nói chung còn nhiều hạn chế về nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học, quảng bá, xúc tiến, xây dựng thị trường và phát triển sản phẩm du lịch. Chất lượng của nhóm các cơ sở lưu trú du lịch này nhìn chung còn kém và chỉ đáp ứng được các nhu cầu tối thiểu của khách du lịch. Trang thiết bị ở một số khách sạn đã cũ không đồng bộ cần nâng cấp. Một số phòng nghỉ ở các khách sạn tư nhân còn hẹp, bài trí thiết kế nội ngoại thất không hợp lý, vệ sinh chưa đảm bảo theo yêu cầu.

Cơ sở vui chơi giải trí: Các cơ sở vui chơi giải trí – thể thao, dịch vụ phục vụ khách du lịch ở Quảng Trị nhìn chung còn rất hạn chế. Thời gian gần đây các khách sạn lớn đã bổ sung các dịch vụ massage, tennis, bể bơi, karaoke,… Tỉnh cũng đã chú trọng quy hoạch một số khu vui chơi giải trí, các dự án này tập trung chủ yếu ở thành phố Đông Hà, Khu kinh tế Thương mại đặc biệt Lao Bảo và một số thị trấn, thị xã, các khu du lịch nhưng quy mô còn nhỏ. Sự hạn chế về các cơ sở vui chơi giải trí – thể thao, một mặt đã không kích thích được khả năng chi tiêu của khách, mặt khác đã hạn chế khả năng thu hút và thời gian lưu trú của họ. Đây là một nguyên nhân khiến khách du lịch chỉ đi về trong ngày, hoặc những khách đi theo tour, tuyến du lịch xuyên suốt chưa coi Quảng Trị là điểm dừng chân.

Hệ thống cơ sở kinh doanh ăn uống: Các cơ sở ăn uống rất phong phú, đa dạng về loại hình bao gồm nhà hàng, cà phê, quán Bar, quán ăn nhanh… Dịch vụ ăn uống có thể nằm trong các cơ sở lưu trú nhằm phục vụ nhu cầu ăn uống, nghỉ ngơi, hội họp và giao lưu của khách đang lưu trú tại các khách sạn. Ngoài ra còn có các cửa hàng ăn uống tư nhân nhỏ phục vụ chủ yếu các món ăn Việt Nam bình dân nằm ở khu vực thành phố Đông Hà, thị xã Quảng Trị, Lao Bảo, Cửa Việt- Cửa Tùng…

Hệ thống nhà hàng có nhiều biến đổi, cung cách phục vụ được chú trọng hơn. Hiện nay, toàn tỉnh có hơn 3.400 nhà hàng phục vụ ăn uống với 414.000 chỗ ngồi đáp ứng đủ nhu cầu của người dân địa phương và khách du lịch. Cùng với xu thế phát triển chung của ngành du lịch, việc đầu tư phát triển hệ thống các cơ sở ăn uống phục vụ du lịch cũng được chú trọng hơn.

2.3. Thực trạng về công tác quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

2.3.1. Tổ chức thực hiện các chính sách pháp luật và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách phát triển du lịch tại địa phương

2.3.1.1. Công tác thực hiện hiện các chính sách pháp luật và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về du lịch tại địa phương

Luật Du lịch được Quốc hội khóa XI thông qua tại kỳ họp lần thứ 7 ngày 14/6/2013; ngày 01 tháng 06 năm 2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 92/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật du lịch [4], đây được coi là những văn bản quy phạm pháp luật cao nhất, quy định về công tác quản lý, điều hành, và phát triển du lịch. Cùng với Chiến lược và quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2027, tầm nhìn đến năm 2040 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 30/12/2019 là văn bản quan trọng tạo cơ sở cho việc huy động các nguồn lực phát triển du lịch của cả nước. Bám sát nội dung của Chiến lược và quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam và quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng BTB, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Quảng Trị với chức năng, nhiệm vụ được giao đã tích cực phối hợp với các Ban, ngành, chính quyền, đoàn thể các cấp tham mưu Tỉnh ủy, UBND tỉnh, HĐND tỉnh tổ chức triển khai hiện các chương trình, kế hoạch, dự án cụ thể để đẩy mạnh đầu tư khai thác tiềm năng, thế mạnh du lịch trên địa bàn tỉnh, mà gần đây nhất là tham mưu UBND tỉnh trình HĐND tỉnh báo cáo Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Quảng Trị đến năm 2027, định hướng đến năm 2040; Tham mưu Tỉnh ủy Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2025 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; bổ sung, điều chỉnh, lập mới quy hoạch các khu, điểm du lịch trọng điểm như: Khu du lịch Cửa Việt; Đảo Cồn Cỏ, Trung tâm hành hương La Vang, …. Trong quá trình triển khai thực hiện đã gắn liền, kết hợp chặt chẽ với việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; Luật Bảo vệ môi trường năm 2022; Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 18 tháng 3 năm 2021 của Chính phủ về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2027, tầm nhìn đến năm 2040; Thông tư liên tịch số 19/2021/TTLT-BVHTTDL-BTNMT ngày 30 tháng 12 năm 2021 của Bộ VHTTDL và Bộ Tài nguyên và Môi Trường về hướng dẫn bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch, tổ chức lễ hội, bảo vệ và phát huy giá trị di tích; Chỉ thị 18/CTTTg, Nghị định 180/2021/NĐ-CP ngày 14/11/2021 hướng dẫn thi hành Luật Du lịch và Nghị định 158/2021/NĐ-CP ngày 12/11/2021 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo; Thông tư 15/2023/TT-BVHTTDL ngày 22/12/2023 của Bộ VHTTDL Quy định về tổ chức Lễ hội; Nghị quyết 92/NQ-CP ngày 8/12/2022 của Chính phủ về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch trong thời kỳ mới; Chỉ thị 14/CT-TTg ngày 02/7/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, tập trung khắc phục yếu kém, thúc đẩy phát triển du lịch;…. đã góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, làm cho môi trường tổ chức lễ hội, du lịch càng thêm sạch đẹp, lành mạnh, văn hóa, văn minh; KTXH tỉnh nhà phát triển khởi sắc.

Kết quả, tỉnh đã triển khai xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện Chương trình hành động quốc gia về Du lịch; Kế hoạch thực hiện Nghị quyết 06/NQ-TU khóa XIV của Tỉnh ủy về đẩy mạnh đầu tư khai thác tiềm năng, thế mạnh Tuyến Hành lang kinh tế Đông – Tây; Chương trình có mục tiêu của Trung ương về hỗ trợ đầu tư CSHT du lịch, Chương trình phát triển du lịch khu vực miền Trung và Tây Nguyên…; tập trung khai thác tiềm năng, thế mạnh của vùng để phát triển mạnh du lịch biển, ưu tiên nguồn lực xây dựng khu du lịch, dịch vụ Cửa Việt – Cửa Tùng – Cồn Cỏ sớm trở thành vùng động lực phát triển của toàn vùng và của tuyến Hành lang kinh tế Đông – Tây. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

2.3.1.2. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phát triển du lịch

Các cấp ủy đảng, chính quyền chỉ đạo làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, huy động các đoàn thể, Mặt trận Tổ quốc, toàn xã hội và nhân dân nhận thức rõ du lịch là ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng, xã hội hóa cao và có nội dung văn hóa sâu sắc; có khả năng đóng góp lớn vào phát triển kinh tế, tạo nhiều việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạo động lực cho các ngành, lĩnh vực khác phát triển, đem lại hiệu quả nhiều mặt về kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, đối ngoại và an ninh, quốc phòng. Trên cơ sở đó tạo sự chuyển biến về nhận thức và hành động, triển khai đồng bộ, hiệu quả các nội dung Nghị quyết của Bộ Chính trị để huy động mọi nguồn lực đẩy mạnh phát triển du lịch.

Đổi mới mạnh mẽ tư duy, phát triển du lịch theo quy luật kinh tế thị trường, có tầm nhìn dài hạn, đầu tư phát triển có trọng tâm, trọng điểm, dựa trên những tiềm năng, thế mạnh, nhất là những lợi thế đặc thù, khác biệt; phát triển du lịch bền vững trên cơ sở tôn trọng yếu tố tự nhiên, cảnh quan thiên nhiên; khai thác chiều sâu giá trị văn hóa, truyền thống tốt đẹp của quê hương Quảng Trị và nâng cao ý thức trách nhiệm của xã hội; kết hợp phát triển hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu, coi trọng cả du lịch nội địa và du lịch quốc tế, bảo đảm nhất quán từ quan điểm, mục tiêu, chương trình hành động và có chính sách, giải pháp đột phá.

Nâng cao ý thức của người dân, doanh nghiệp và cộng đồng trong xây dựng, bảo vệ hình ảnh, môi trường, góp phần phát triển du lịch bền vững, du lịch có trách nhiệm nhằm bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên du lịch, xây dựng nếp sống văn minh, cùng tham gia phát triển du lịch cộng đồng, không ngừng nâng cao uy tín, thương hiệu và sức thu hút của du lịch Quảng Trị. Phát động phong trào người dân ứng xử văn minh, tận tình hỗ trợ khách du lịch; tuyên truyền vận động nhân dân chung tay giữ gìn vệ sinh môi trường, an ninh trật tự tại nơi công cộng, bãi biển, khu di tích, điểm du lịch.

2.3.1.2. Kết quả khảo sát về công tác tổ chức thực hiện các chính sách pháp luật và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách phát triển du lịch tại địa phương

Bảng 2.8: Kết quả khảo sát đối với cán bộ quản lý nhà nước về du lịch (CB) và doanh nghiệp du lịch (DN) về công tác tổ chức thực hiện các chính sách pháp luật và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách phát triển du lịch tại địa phương  

2.3.2. Xây dựng và tổ chức thực hiện các quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch tại địa phương Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

2.3.2.1. Về tổ chức thực hiện các quy hoạch du lịch

Từ năm 2013, tỉnh Quảng Trị đã xây dựng và phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Quảng Trị đến năm 2018, có tính đến năm 2027 (Quyết định số 1171/QĐ-UBND ngày 10/6/2013). Cùng với các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ liên quan đến công tác xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch của tỉnh Quảng Trị đó là: Quyết định số 321/QĐ-TTg ngày 02/3/2019 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH tỉnh Quảng Trị đến năm 2027; Quyết định số 2473/QĐ-TTg ngày 30/12/2019 phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2027, tầm nhìn đến năm 2040 [5]; Quyết định số 201/QĐTTg ngày 22/01/2021 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2027, tầm nhìn đến năm 2040 [6]; Quyết định số 2161/QĐ-TTg ngày 11/11/2021 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng BTB đến năm 2027, tầm nhìn đến năm 2040 [7], tỉnh Quảng Trị đã triển khai xây dựng và thực hiện quy hoạch phát triển du lịch đó là:

Quy hoạch chung xây dựng Khu dịch vụ – du lịch dọc tuyến đường ven biển Cửa Tùng đến Cửa Việt đến năm 2013 có tính đến năm 2027 tại Quyết định phê duyệt quy hoạch chung số 79/2014/QĐ-UBND ngày 23/11/2014 và Quyết định số 569/QĐ-UBND ngày 01/4/2017 phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng. Tổng diện tích đất quy hoạch là 746.176ha, trong đó diện tích đất quy hoạch 4 Khu dịch vụ – du lịch tập trung là 210,01ha với các dự án đầu tư xây dựng, phát triển du lịch được triển khai đó là: Dự án Khu du lịch dịch vụ Resort Cửa Tùng của Công ty Cổ phần DV-DL & Thương mại Cửa Tùng có Quy mô xây dựng 13,4 ha; dự án xây dựng khu phức hợp du lịch sinh thái Pegasus do Tập đoàn Kinder World đăng ký nghiên cứu lập dự án đầu tư với diện tích khoảng 40 ha và đang mời gọi đầu tư xây dựng các Khu dịch vụ – du lịch biển từ 3 sao trở lên nhằm hình thành và phát triển hạ tầng du lịch hiện đại, chất lượng cao trong tổng thể phát triển du lịch biển tỉnh Quảng Trị.

Quy hoạch chi tiết xây dựng Khu dịch vụ – du lịch Cửa Việt, thuộc thị trấn Cửa Việt, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị được phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/1000 tại Quyết định số 2020/QĐ-UBND ngày 19/9/2020 của UBND tỉnh Quảng Trị với quy mô đất đai 141,17 ha. Cùng với các dự án đầu tư dịch vụ – du lịch, vơi chơi giải trí đã và đang đầu tư như ở bảng sau:

Bảng 2.9. Danh mục các dự án đầu tư dịch vụ – du lịch, vơi chơi giải trí đã và đang đầu tư tại Khu dịch vụ – du lịch Cửa Việt

định số 2038/QĐ-UBND ngày 31/10/2021 của UBND tỉnh Quảng Trị với Diện tích quy hoạch 100ha. Nhiệm vụ then chốt là phát triển du lịch di tích lịch sử về chiến trường xưa và đồng đội kết hợp du lịch sinh thái, xây dựng khu dân cư theo tiêu chuẩn nông thôn mới; là cơ sở dịch vụ cần thiết bổ trợ cho các hoạt động của du khách khi đến thăm viếng Nghĩa trang Liệt sỹ Trường Sơn; là khu dịch vụ du lịch có quy mô với hệ thống sản phẩm dịch vụ đa dạng, chất lượng cao.

Quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 khu du lịch sinh thái Đakrông được phê duyệt tại Quyết định số 2680/QĐ-UBND ngày 25/12/2021. Tổng diện tích quy hoạch khu du lịch là 3.809.530 m2, bao gồm 3 khu vực chính, với các hạng mục khu đón tiếp, nhà hàng, khách sạn, biệt thự nghỉ dưỡng, khu văn hóa tâm linh, khu thể thao cảm giác mạnh, vui chơi giải trí…Khu du lịch sinh thái Đakrông có cảnh quan hùng vỹ của danh thắng Đakrông, được bao bọc bởi dòng sông Đakrông, trải dài theo quốc lộ 9 ở km50 và là điểm khởi đầu của quốc lộ 14, kết hợp với cầu treo Đakrông, suối nước nóng Kalu, Khu du lịch sinh thái Đakrông sẽ trở thành một một điểm đến, điểm dừng hấp dẫn du khách trên tuyến Hành lang kinh tế Đông – Tây.

Danh mục các khu du lịch đã được quy hoạch trên địa bàn tỉnh Quảng Trị được đính kèm tại Phụ lục số 03.

Bảng 2.10. Tổng hợp nguồn vốn bố trí cho hoạt động lập quy hoạch và xây dựng kết cấu hạ tầng về du lịch tại tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2018 – 2024 Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Quảng Trị đến năm 2018, có tính đến năm 2027 đã góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển du lịch của tỉnh giai đoạn 2013-2023. Thị trường khách quốc tế cũng như nội địa đều có mức tăng trưởng đáng kể, hệ thống sản phẩm du lịch bước đầu được định hình, chất lượng dịch vụ đã có những thay đổi căn bản. Tuy nhiên, những năm gần đây tình hình chính trị, kinh tế thế giới có nhiều biến động, đặc biệt khủng hoảng kinh tế – tài chính thời gian qua ảnh hưởng nhiều đến phát triển kinh tế toàn cầu và tác động không nhỏ đến phát triển du lịch Việt Nam nói chung và Quảng Trị nói riêng.

Với nhiều chủ trương chính sách, pháp luật có liên quan tới phát triển du lịch cũng được ban hành như: Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam (2019); Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam (2021); Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng BTB (2021); các Nghị quyết của Trung ương, Chính phủ… Những văn bản này đã xác định đường hướng phát triển phù hợp với tình hình và điều kiện mới cho du lịch cả nước cũng như vùng BTB.

Ngày 14/12/2025, Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Trị đã ban hành Nghị quyết số 35/2025/NQ-HĐND về việc thông qua Đề án “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Quảng Trị đến năm 2035, định hướng đến năm 2040” với mục tiêu: “Đẩy mạnh phát triển du lịch, phấn đấu đến năm 2027, xây dựng du lịch trở ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, chiếm tỷ trọng 7-8% tổng thu nhập; đến năm 2035 tập trung mọi nguồn lực để du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh và có tỷ trọng trên 10% tổng thu nhập của tỉnh, góp phần tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, tạo bước đột phá cho giai đoạn tiếp theo [8].

Xây dựng thương hiệu điểm đến du lịch Quảng Trị là “Ký ức chiến tranh – khát vọng hòa bình”, “Cửa ngõ du lịch Hành lang kinh tế Đông – Tây” kết nối, liên kết du lịch “Con đường Di sản”, “Con đường huyền thoại” của khu vực [9].

2.3.2.2. Về tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển du lịch tại địa phương

Thực hiện Luật du lịch số 44/2013/QH1, tỉnh Quảng Trị đã sớm ban hành Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Du lịch Quảng Trị đến năm 2018, có tính đến năm 2027; xây dựng kế hoạch phát triển ngành Du lịch giai đoạn 2014-2018; xây dựng kế hoạch thực hiện Chương trình hành động quốc gia về Du lịch giai đoạn 2013-2018; Chương trình kế hoạch thực hiện Nghị quyết 06/NQ-TU khóa XIV của Tỉnh ủy về đẩy mạnh đầu tư khai thác tiềm năng, thế mạnh Tuyến Hành lang kinh tế Đông – Tây; Chương trình kế hoạch thực hiện Nghị quyết 13/2015/NQ-HĐND của HĐND tỉnh về Quy hoạch kế hoạch phát triển Thương mại – Du lịch và Tuyến hành lang kinh tế Đông – Tây giai đoạn 2015-2018, tầm nhìn đến năm 2027; tham gia xây dựng quy hoạch phát triển du lịch vùng Bắc Trung bộ đến năm 2027, tầm nhìn đến 2040. Chỉ đạo xây dựng quy hoạch phát triển các khu du lịch và lập các dự án đầu tư: Hoàn thành quy hoạch chung xây dựng và quy hoạch chi tiết du lịch đảo Cồn Cỏ, Quy hoạch chi tiết khu du lịch dịch vụ Cửa Việt, Khu du lịch Cửa Tùng, Khu du lịch hồ Rào Quán, Khu du lịch Rú Lịnh, Hồ Ái Tử, Trằm Trà Lộc, Khu du lịch biển Vĩnh Thái, Khu dịch vụ liền kề nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn… Xúc tiến một số quy hoạch phát triển du lịch chuyên đề khác. Xây dựng các đề án phát triển du lịch chuyên đề như: Du lịch Hoài niệm về chiến trường xưa và đồng đội, Du lịch sinh thái biển, Du lịch đường bộ Hành lang kinh tế Đông – Tây… Tổ chức các diễn đàn, hội nghị công bố, giới thiệu quảng bá các chương trình, các tuyến, điểm du lịch có thế mạnh tại các địa bàn quan trọng như ở Lào, Thái Lan, Hà Nội và một số tỉnh, thành phố lớn khác. Năm 2018, đã tham mưu UBND tỉnh tổng kết 5 năm triển khai Chương trình Du lịch Hoài niệm về chiến trường xưa và đồng đội và đề ra phương hướng phát triển giai đoạn 2018 – 2023. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

Thực hiện Nghị quyết 92/NQ-CP ngày 8/12/2023 của Chính phủ và Chỉ thị 14/CT-TTg ngày 02/7/2023 của Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo phát triển du lịch tỉnh đã tham mưu UBND tỉnh Kế hoạch số 2482/KH-UBND ngày 03/7/2023 thực hiện Nghị quyết 92/NQ-CP về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch trong thời kỳ mới, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về Du lịch; Kế hoạch số 465/KH-UBND ngày 06/5/2023 về thực hiện Chương trình kích cầu du lịch nội địa với chủ đề “Người Việt Nam du lịch Việt Nam – Mỗi chuyến đi thêm yêu Tổ quốc”; Công văn số 2613/UBND-VX ngày 10/7/2023 về việc tăng cường công tác quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển du lịch. Đồng thời Ban Chỉ đạo phát triển du lịch tỉnh ra Công văn số 670/BCĐPTDL ngày 05/8/2023 chỉ đạo các Sở, ban, ngành, địa phương, đơn vị liên quan tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết số 92/NQ-CP và Chỉ thị số 14/CT-TTg. Quá trình triển khai thực hiện đã kết hợp chặt chẽ, lồng ghép hài hòa với việc thực hiện các Chiến lược phát triển du lịch, kế hoạch phát triển KTXH của tỉnh và của các cơ quan, đơn vị, địa phương.

Thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/1/2025 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn có hiệu quả, phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Trị đề ra Chương trình hành động (số 83-CTHĐ/TU ngày 25/7/2025) nhằm đánh giá những kết quả đạt được của ngành du lịch Quảng Trị trong 10 năm (2013-2023); nêu bật những hạn chế, khuyết điểm và nguyên nhân của những hạn chế, khuyết điểm đó. Từ đó đưa ra quan điểm, mục tiêu sớm đưa du lịch Quảng Trị cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh đến năm 2035.

Bảng 2.11: Nguồn vốn dự kiến phân bổ cho các chương trình, dự án du lịch trọng điểm của tỉnh Quảng Trị đến năm 2040

Các hoạt động trùng tu tôn tạo di tích phục vụ cho phát triển du lịch ngày càng được đẩy mạnh. Trong những năm qua, tỉnh Quảng Trị đã tranh thủ các nguồn ngân sách từ Chương trình mục tiêu Quốc gia để bảo tồn, tôn tạo các DTLSVHCM; đồng thời, huy động nguồn lực hoạt động xã hội hóa đầu tư tôn tạo di tích nên nhiều di tích tiêu biểu đã được đầu tư tôn tạo, làm cho diện mạo di tích ngày càng khởi sắc, trở thành một tiềm năng trong phát triển du lịch.

Bảng 2.12: Danh mục các di tích lịch sử văn hóa được đầu tư, tôn tạo giai đoạn 2018 – 2024

Những di tích sau khi được trùng tu, tôn tạo, đưa vào sử dụng đã phát huy tốt giá trị, đáp ứng tâm nguyện, sự mong mỏi và tình cảm của nhân dân, nó không chỉ phục vụ trực tiếp cho di tích mà còn gián tiếp phục vụ đắc lực về nhiều mặt trong đời sống dân sinh cũng như mang lại những hiệu quả lớn lao có tính toàn diện về kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội. Hầu hết các di tích sau khi được trùng tu, tôn tạo đã trở thành điểm tham quan, du lịch, sinh hoạt văn hóa và giáo dục truyền thống một cách có hiệu quả. Các các chương trình “Về nguồn”, “Du lịch Hoài niệm Chiến trường xưa và đồng đội”, “Du lịch vùng phi quân sự (DMZ)” thu hút hàng vạn du khách trong nước và Quốc tế, không chỉ quảng bá hình ảnh mảnh đất, con người Quảng Trị mà còn góp phần phát triển KT-XH địa phương. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

2.3.3. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch, sự phối hợp của các cơ quan nhà nước trong việc quản lý nhà nước về du lịch

2.3.3.1. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch

Hiện tại trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, Sở VHTTDL là cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND tỉnh, tham mưu, giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc lĩnh vực du lịch trong phạm vi quản lý của Sở theo quy định của pháp luật; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động của UBND tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ VHTTDL. Các phòng ban chức năng thuộc Sở VHTTDL Quảng Trị giúp Giám đốc Sở thực hiện chức năng nhiệm vụ quyền hạn của mình thực hiện các chức năng quản l ý nhà nước về lĩnh vực VHTTDL trên địa bàn tỉnh.

Thực hiện Thông tư liên tịch số 07/2023/TTLT-BVHTTDL-BNV ngày 14/9/2023 của liên Bộ VHTTDL – Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch thuộc UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Phòng Văn hoá và Thông tin thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, đến nay các cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước về du lịch tỉnh Quảng Trị đã được sắp xếp lại. Cụ thể, trong cơ cấu Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch có một Phòng Quản lý du lịch với 04 biên chế tham mưu quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh và Thanh tra Sở có 01 cán bộ thanh tra phụ trách mảng du lịch;

Nhiệm vụ và quyền hạn trong công tác quản lý nhà nước về du lịch được quy định: (i)

Tổ chức công bố quy hoạch sau khi được phê duyệt; (ii) Tổ chức thực hiện điều tra, đánh giá, phân loại, xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên du lịch của địa phương theo quy định của Bộ VHTTDL; (iii) Thực hiện các biện pháp để bảo vệ, tôn tạo, khai thác, sử dụng hợp lý và phát triển tài nguyên du lịch, môi trường du lịch, khu du lịch, điểm du lịch ở địa phương; (iv) Tổ chức lập hồ sơ đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh công nhận khu du lịch địa phương, điểm du lịch địa phương, tuyến du lịch địa phương; công bố sau khi có quyết định công nhận; (v) Cấp, sửa đổi, bổ sung, cấp lại, gia hạn, thu hồi Giấy phép thành lập văn phòng đại diện củadoanh nghiệp du lịch nước ngoài đặt tại địa phương theo quy định của pháp luật; (vi) Thẩm định hồ sơ đề nghị cấp có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế của các doanh nghiệp tại địa phương theo quy định của pháp luật; (vii) Thẩm định và quyết định xếp hạng 1 sao, hạng 2 sao cho khách sạn, làng du lịch, hạng đạt tiêu chuẩn kinh doanh biệt thự, căn hộ du lịch, tàu thủy du lịch, hạng đạt tiêu chuẩn kinh doanh lưu trú du lịch đối với bãi cắm trại, nhà nghỉ du lịch nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê, cơ sở lưu trú du lịch khác; (viii) Thẩm định và cấp biển hiệu đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch cho cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch; (ix) Tổ chức cấp, cấp lại, đổi, thu hồi thẻ hướng dẫn viên du lịch, giấy chứng nhận thuyết minh viên theo quy định của Bộ VHTTDL; (x) Xây dựng kế hoạch, chương trình xúc tiến du lịch và tổ chức thực hiện chương trình xúc tiến du lịch, sự kiện, hội chợ, hội thảo, triển lãm du lịch sau khi được phê duyệt; (xi) Quản lý hoạt động kinh doanh vận chuyển khách du lịch bằng xe ô tô theo quy định của pháp luật. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch Quảng Trị được thành lập theo Quyết định số 579/QĐ-UBND ngày 04/4/2019 của UBND tỉnh Quảng Trị là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở VHTTDL tỉnh Quảng Trị. Tổ chức bộ máy của gồm có 15 người trong đó có: Lãnh đạo Trung tâm có Giám đốc và 01 Phó Giám đốc; Phòng Hành chính – Tổng hợp có 04 biên chế; Phòng Thông tin và xúc tiến du lịch có 06 biên chế; Ban quản lý dự án xây dựng hạ tầng du lịch có 02 biên chế chuyên trách và một số cán bộ hợp đồng, kiêm nhiệm.

Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch Quảng Trị có chức năng tham mưu và tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch thông tin, quảng bá và xúc tiến đầu tư du lịch Quảng Trị được cấp có thẩm quyền phê duyệt; Hướng dẫn, hỗ trợ các doanh nghiệp du lịch trong công tác thông tin, tuyên truyền quảng bá du lịch,  hợp tác liên doanh, liên kết, tìm kiếm và mở rộng thị trường; tham mưu việc hợp tác, thỏa thuận các hoạt động du lịch ở trong nước và nước ngoài; tham mưu đề xuất cơ chế chính sách, triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển du lịch của tỉnh; hướng dẫn hỗ trợ các nhà đầu tư, chủ dự án thực hiện các bước lập thủ tục đầu tư dự án theo đúng quy hoạch. Nhiệm vụ và quyền hạn của Trung tâm là: (i) Tổ chức các hoạt động thông tin quảng bá du lịch; (ii) Xúc tiến thị trường và xúc tiến đầu tư phát triển du lịch; (iii) hợp tác xúc tiến du lịch với các tổ chức, đơn vị trong và ngoài nước; xây dựng CSHT du lịch; thực hiện một số nhiệm vụ khác được giao.

Tại cấp huyện, trong Phòng Văn hoá và Thông tin là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân (UBND) cấp huyện thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện quản lý nhà nước về lĩnh vực du lịch, hiện tại có 01 biên chế kiêm nhiệm tham mưu công tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn huyện.

Ngoài ra, Hiệp hội Du lịch tỉnh Quảng Trị là tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tự nguyện của các doanh nghiệp, các tổ chức và công dân Việt Nam hoạt động hợp pháp trong lĩnh vực du lịch và có liên quan đến du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Trị. Mục đích của Hiệp hội là liên kết, hợp tác, hỗ trợ nhau về kinh tế – kỹ thuật về kinh doanh, dịch vụ, bình ổn thị trường, nâng cao giá trị và chất lượng sản phẩm du lịch nhằm đóng góp vào sự phát triển của ngành Du lịch Quảng Trị và cả nước, tăng khả năng cạnh tranh của hội viên, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên theo quy định của pháp luật.

2.3.3.2. Công tác thực hiện thủ tục hành chính (TTHC) và cải cách TTHC

TTHC về lĩnh vực du lịch của Sở VHTTDL Quảng Trị được UBND tỉnh ban hành tại Quyết định số 1136/QĐ-UBND tỉnh ngày 26/5/2024 và Quyết định số 2482/QĐ-UBND ngày 12/9/2025. Sau khi được ban hành, Sở đã tiến hành cập nhật lên trang thông tin điện tử của Sở VHTTDL, tổ chức niêm yết công khai bộ TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa, một liên thông. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

Công tác tiếp nhận và xử lý phản ánh, kiến nghị về TTHC thuộc lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và gia đình được Lãnh đạo Sở hết sức quan tâm, thường xuyên quán triệt đến toàn thể công chức, viên chức; tập trung thực hiện giải quyết TTHC đúng hẹn và sớm hẹn. Trong năm 2025 Sở chưa nhận được phản ánh, kiến nghị nào của tổ chức, cá nhân về giải quyết TTHC như thái độ, tác phong làm việc của công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Sở VHTTDL.

Từ 01/01/2025 đến 15/11/2025, tổng số TTHC đã tiếp nhận và giải quyết 388 thủ tục, trong đó kỳ trước chuyển qua 15 thủ tục, số tiếp nhận mới 370 thủ tục, 05 TTHC trể hẹn tại một cửa điện tử (Lý do: Hồ sơ đã giải quyết và trả kết quả cho tổ chức, cá nhân đúng hẹn nhưng do các phòng quản lý chuyên môn chưa trả kết quả trên hộ thống hỗ trợ CCHC).

Thực hiện Kế hoạch số 1252/KH-UBND ngày 31/3/2025 của UBND tỉnh về Tuyên truyền cải cách hành chính năm 2025 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, Kế hoạch số 145/KH-SVHTTDL ngày 28/02/2025 của Sở VHTTDL về Tuyên truyền công tác Cải cách hành chính năm 2025, Kế hoạch số 179/KH-SVHTTDL ngày 08/3/2025 của Sở VHTTDL về Tuyên truyền cải cách hành chính giai đoạn 2024 – 2027. Mục đích của việc tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ công chức, viên chức và người dân về ý nghĩa, mục tiêu và tầm quan trọng về công tác cải cách hành chính, đặc biệt là trong việc giải quyết TTHC và cơ chế một cửa, một cửa liên thông, ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết TTHC. Tuyên truyền về đơn giản hóa TTHC thuộc phạm vị quản lý của ngành, 100% TTHC được cập nhật công khai trên trong thông tin điện tử của Sở, 100% TTHC thực hiện theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông.

Thông qua các buổi giao ban định kỳ Lãnh đạo Sở đã quán triệt nghiêm túc việc thực hiện công tác kiểm soát TTHC năm 2025 đến toàn thể công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan và trong toàn ngành.

Trong năm 2025 Sở VHTTDL đã tiến hành đơn giản hóa 22 TTHC, rút ngắn thời gian giải quyết và điều chỉnh phí, lệ phí các TTHC nhằm góp phần tạo điều kiện thuận lợi, giảm chi phí cho các tổ chức, cá nhân.

2.3.3.3. Sự phối hợp của các cơ quan trong việc quản lý nhà nước về du lịch

Thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của các Sở, ban, ngành trong tỉnh, Sở VHTTDL là cơ quan chủ trì, phối hợp với với các Sở, ban, ngành trong việc quản lý nhà nước về du lịch như sau:

Phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư đề xuất bố trí ngân sách cho các dự án du lịch và các dự án có ý nghĩa lớn đối với phát triển du lịch Quảng Trị; tham mưu các biện pháp ưu tiên ưu đãi đầu tư cho các dự án phát triển du lịch, đặc biệt là các dự án có ý nghĩa lớn về xã hội và môi trường; xây dựng kế hoạch, cân đối bố trí vốn đầu tư hàng năm để đầu tư hạ tầng du lịch cho các điểm du lịch quan trọng; đề xuất danh mục các dự án thu hút đầu tư phát triển du lịch và xúc tiến, quảng bá kêu gọi thu hút đầu tư phát triển du lịch phù hợp với quy hoạch phát triển du lịch. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

Phối hợp với Sở Tài chính tham mưu UBND tỉnh bố trí kinh phí sự nghiệp hàng năm để thực hiện chương trình phát triển nguồn nhân lực; chương trình quảng bá, xúc tiến; xây dựng đề án thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch.

Phối hợp với Sở Xây dựng trong việc Quy hoạch hệ thống đô thị, khu dân cư gắn với phát triển du lịch, dịch vụ; xây dựng đề án chỉnh trang khu vực trung tâm thành phố Đông Hà và các vùng phụ cận; phối hợp với Sở VHTTDL quản lý xây dựng và phát triển thành phố Đông Hà theo hướng đô thị thương mại – du lịch; tổ chức thực hiện các quy hoạch về du lịch được phê duyệt.

Phối hợp với Sở Sở Giao thông Vận tải đề xuất triển khai các dự án hạ tầng đầu mối giao thông quan trọng tại địa bàn tỉnh Quảng Trị (giao thông, cảng biển…); đầu tư nâng cấp hoàn thiện hệ thống giao thông đô thị và nông thôn tỉnh Quảng Trị, đặc biệt là nông thôn vùng sâu vùng xa, giao thông tiếp cận các điểm du lịch; tăng cường hệ thống biển báo, chỉ dẫn giao thông tạo thuận lợi cho khách du lịch; xây dựng quy chế hoạt động cho các phương tiện vận chuyển khách du lịch..

Phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông xây dựng chương trình quảng bá, giới thiệu du lịch Quảng Trị trên các phương tiện thông tin, truyền thông để tạo hình ảnh ấn tượng thu hút khách du lịch và các nhà đầu tư.

Phối hợp với Sở Tài nguyên Môi trường để tạo thuận lợi trong việc thực hiện các thủ tục giao đất cho nhà đầu tư để triển khai dự án phát triển du lịch trên địa bàn; điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch quỹ đất để đầu tư xây dựng các công trình vui chơi giải trí, trung tâm thương mại, dịch vụ phục vụ du lịch; đề xuất cơ chế chính sách trong lĩnh vực đất đai nhằm thu hút vốn đầu tư; tăng cường công tác quản lý môi trường và bảo vệ tài nguyên phục vụ phát triển du lịch.

Phối hợp với Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh tham gia thẩm định các dự án đầu tư phát triển du lịch tại các khu vực đã được quy hoạch cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh (hang động Apolyhông thuộc xã A Ngo, huyện Đăkrông, Căn cứ 241 và Hang Dơi (Cam Thành, Cam Lộ), đồi Động Tri (Hướng Hóa) và đảo Cồn Cỏ) nhằm đảm bảo phát triển du lịch phù hợp với nhiệm vụ bảo vệ an ninh, quốc phòng.

Phối hợp với các Sở, ban ngành khác liên quan khác trong việc thực hiện các chương trình dự án của ngành gắn với hoạt động du lịch. Tích cực lồng ghép các chương trình dự án của các ngành với du lịch để tháo gỡ những khó khăn trong việc huy động vốn đầu tư.

2.3.4. Đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong lĩnh vực du lịch Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

2.3.4.1. Đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực  

Công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực bước đầu được chú trọng. Trong những năm qua, ngành du lịch Quảng Trị đã sử dụng nhiều nguồn lực phối hợp với Đại học Huế và các tổ chức nước ngoài, liên kết các tỉnh Đông bắc Thái Lan để đào tạo bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực du lịch. Đã tổ chức nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ hướng dẫn viên, thuyết minh viên, quản lý khách sạn… cho cán bộ, nhân viên các doanh nghiệp du lịch; thuyết minh viên tại các điểm tham quan du lịch, di tích, bảo tàng; cán bộ cơ sở các xã, phường, huyện, thị xã, thành phố.

Tuy vậy, nhân lực du lịch Quảng Trị vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của ngành du lịch. Số lao động có đào tạo chuyên ngành về du lịch còn thấp, phần lớn lao động có trình độ trung cấp, sơ cấp và đào tạo ngắn hạn, số lao động phổ thông chiếm tỷ lệ cao. Đội ngũ hướng dẫn viên phần lớn từ các trường đại học mới ra chưa có kinh nghiệm, ngoại ngữ còn hạn chế nên hiện nay đội ngũ này được bổ sung nhiều nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu, còn thiếu nhiều hướng dẫn viên Tiếng Nhật, Hàn Quốc, Đức… Tại các cơ sở lưu trú, nhà hàng còn rất nhiều hạn chế trong quy trình phục vụ khách, chuyên môn nghiệp vụ chủ yếu dựa vào các kinh nghiệm thực tiễn, do đó chưa thể đảm bảo phục vụ khách theo đúng tiêu chuẩn, đặc biệt là phục vụ khách quốc tế.

Trên địa bàn tỉnh hiện có gần 20.000 lao động đang trực tiếp và gián tiếp tham gia hoạt động du lịch. Lao động ngành du lịch làm việc tại các đơn vị kinh doanh du lịch, phần lớn là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh cá thể kinh doanh lưu trú du lịch, tại các khu vực vui chơi giải trí, các dịch vụ bổ sung khác.

Bảng 2.13. Cơ cấu nguồn nhân lực du lịch của tỉnh Quảng Trị

Do đặc thù tính chất ngành nghề nên trong cơ cấu lao động du lịch phân theo giới tính thì tỷ lệ lao động nữ luôn cao hơn so với lao động nam (chiếm trên 65% tổng số lao động), mức chênh lệch không có nhiều biến động theo các năm.

Lao động phân theo ngành nghề: Theo thống kê của Sở VHTTDL tỉnh Quảng Trị, lao động làm việc trong các cơ sở lưu trú du lịch chiếm tỷ trọng cao nhất 89,4%, lao động làm việc trong lĩnh vực lữ hành chiếm 6,7%, thấp nhất là lao động làm việc trong lĩnh vực vận chuyển khách, chiếm 3,9%.

Tỷ lệ lao động trong các cơ sở lưu trú du lịch là cao nhất, tương xứng với sự gia tăng của các đơn vị lưu trú qua các năm. Tỷ lệ lao động lữ hành và vận chuyển khách chiếm tỷ trọng thấp trong tổng số lao động hoạt động trong ngành du lịch phản ánh một cách chính xác về thực trạng phát triển ngành kinh doanh lữ hành của tỉnh còn hạn chế.

Đến nay, tỉnh Quảng Trị đã cấp 139 thẻ hướng dẫn viên du lịch, trong đó có 107 thẻ hướng dẫn viên quốc tế (ngoại ngữ chủ yếu là tiếng Thái Lan và tiếng Anh), 32 thẻ hướng dẫn viên nội địa. Số hướng dẫn viên này chủ yếu công tác tại các doanh nghiệp lữ hành Quảng Trị và các tỉnh miền Trung, khai thác thị trường khách nội địa, Thái Lan, Lào, Campuchia.

Như vậy, qua số liệu thống kê của Sở VHTTDL Quảng Trị cũng như số liệu điều tra thực tế, có thể thấy rằng số lượng lao động trong ngành du lịch có xu hướng tăng lên và nhu cầu về nguồn nhân lực du lịch ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch của tỉnh Quảng Trị. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

Lao động phân theo trình độ độ học vấn, chuyên môn được đào tạo: Qua bảng số liệu trên, lao động tốt nghiệp đại học và trên đại học chiếm tỷ lệ thấp nhất với 6,3%; tốt nghiệp cao đẳng, trung cấp, sơ cấp chiếm 7,9%; trong khi đó tỷ lệ lao động người chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ quá cao đến 70% trong tổng số lao động. Lao động phổ thông tập trung ở các doanh nghiệp nhỏ, các dịch vụ bổ trợ du lịch.

Đây là một hạn chế lớn của nguồn nhân lực của tỉnh Quảng Trị. Do đó ngành du lịch tỉnh Quảng Trị cần phải gấp rút đào tạo đội ngũ cán bộ công chức, viên chức du lịch và nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh du lịch. Có chính sách thu hút những cán bộ làm công tác quản lý và nhân viên trong ngành được đào tạo nghiệp vụ du lịch. Tổ chức giáo dục cho đội ngũ làm công tác du lịch giao tiếp có văn hóa, lịch sự và am hiểu nghề du lịch để thu hút du khách.

Một trong những yếu tố quan trọng góp phần hoàn thiện chất lượng nguồn nhân lực du lịch đó chính là trình độ ngoại ngữ. Thực trạng về trình độ ngoại ngữ của nguồn nhân lực du lịch tỉnh Quảng Trị hiện nay chưa tương xứng với hoạt động du lịch cũng như tiềm năng du lịch của tỉnh. Số lao động chưa qua đào tạo ngoại ngữ tương đối cao, chiếm 73,6%. Trong khi đó, cơ cấu về ngôn ngữ lại chưa hợp lý, khách du lịch quốc tế đến Quảng Trị ngày càng đa dạng, từ nhiều quốc gia khác nhau, nhưng ngoại ngữ của nhân lực du lịch Quảng Trị chủ yếu là tiếng Anh. Đây là một hạn chế của lao động trực tiếp trong ngành du lịch của tỉnh.

2.3.4.2. Nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ

Cũng như những ngành kinh tế khác, để du lịch trở thành một ngành kinh tế chuyên nghiệp, hiện đại và bền vững, hoạt động nghiên cứu khoa học đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đào tạo và thực hiện hoạt động phát triển du lịch. Bên cạnh đó, thực tiễn của các nước phát triển du lịch cũng đã chỉ ra muốn giàu có phải làm du lịch, muốn làm du lịch phải có trí tuệ và sức sáng tạo và trí tuệ, sức sáng tạo này phải lấy từ các thành tựu, kết quả của công tác nghiên cứu khoa học.

Thời gian qua, so với sự phát triển mạnh mẽ và những thành tựu lớn lao của toàn ngành du lịch, đến nay, hoạt động nghiên cứu KHCN tại Quảng Trị vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu. Khoa học và Công nghệ trong lĩnh vực du lịch chưa đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành, việc gắn kết giữa hoạt động nghiên cứu KHCN với phát triển du lịch còn hạn chế.

Mặc dù đã có định hướng nghiên cứu khoa học từng năm, từng giai đoạn, tuy nhiên, danh mục các đề tài triển khai vẫn không cân đối, nhiều lĩnh vực có quá ít đề tài được thực hiên. Vì vậy, các kết quả nghiên cứu thường thiếu tính kế thừa và không đồng bộ. Kết quả nghiên cứu của nhiều đề tài khoa học chưa được áp dụng rộng vào thực tiễn. Hàm lượng khoa học của nhiều đề tài chưa đủ căn cứ cho hoạch định chính sách, chiến lược phát triển du lịch. Việc phổ biến kết quả nghiên cứu khoa học còn chưa được chú trọng. Vì vậy, các doanh nghiệp du lịch, kể cả các cán bộ khoa học làm việc trong lĩnh vực du lịch, khó tiếp cận với các kết quả nghiên cứu này. Khối doanh nghiệp chưa quan tâm nhiều đầu tư cho hoạt động nghiên cứu cũng như cho việc đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm. Cán bộ đầu ngành và cán bộ làm KHCN trong lĩnh vực du lịch vẫn còn thiếu, đặc biệt là những cán bộ có trình độ cao; hoạt động quản lý KHCN mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể, tuy nhiên, vẫn còn những bất cập: Chưa có cơ chế sàng lọc nhiệm vụ hữu hiệu để chọn những đề tài khoa học đúng tầm; chất lượng đánh giá của các Hội đồng tư vấn còn có những bất cập do thiếu các chuyên gia giỏi trong từng lĩnh vực và hiện tượng hành chính hóa các hội đồng đánh giá vẫn tồn tại; chưa phát huy được đồng bộ các nguồn lực phục vụ cho hoạt động nghiên cứu KHCN như công tác thông tin, xuất bản, các chính sách về quản lý KHCN. Đầu tư cho hoạt động nghiên cứu nhìn chung còn thấp so với nhiều lĩnh vực khác, kinh phí thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học còn hạn chế. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

Trang thông tin điện tử Du lịch Quảng Trị đã được nâng cấp và duy trì trên 02 địa chỉ truy cập: dulichquangtri.c và dulich.quangtri.gv để giới thiệu các tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú, quảng bá các sản phẩm, các dịch vụ – du lịch của tỉnh về mảnh đất và con người Quảng Trị đến đọc giả, khách du lịch trong và ngoài nước.

Bảng 2.14. Thực trạng công tác bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực du lịch Quảng Trị từ 2018- 2024

2.3.4.3. Kết quả khảo sát về công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực du lịch 

Bảng 2.15: Kết quả khảo sát cán bộ du lịch và lãnh đạo, nhà quản lý doanh nghiệp du lịch tại Quảng Trị

2.3.5. Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về du lịch

Việc tổ chức thực hiện hoạt động thanh tra, kiểm tra thường xuyên trên địa bàn tỉnh Quảng Trị trong những năm qua được thực hiện trên cơ sở pháp lý của Luật Du lịch. Thanh tra chuyên ngành thường xuyên phối hợp với các cấp, các ngành tổ chức thanh tra, kiểm tra các tổ chức, cá nhân hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh về các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh lưu trú, kinh doanh Lữ hành, kinh doanh vận chuyển khách du lịch, quản lý khu du lịch, điểm du lịch và kinh doanh các dịch vụ du lịch khác.

Công tác thanh tra đã phát huy hiệu quả các chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch để răn đe, phòng ngừa, xử phạt các hành vi vi phạm góp phần đưa các hoạt động du lịch vào trật tự, kỷ cương, cạnh tranh bình đẳng, nâng cao ý thức của các chủ thể có hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh.

Bảng 2.16: Công tác kiểm tra, thanh tra các hoạt động di lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Trị từ năm 2018 – 2024

2.3.5.1. Đối với dịch vụ vận tải hành khách du lịch

Sở VHTTDL đã phối hợp thường xuyên với Ban An toàn giao thông tỉnh, Sở Giao thông Vận tải, Công an tỉnh Quảng Trị và Trung tâm kiểm định ô tô để thường xuyên đánh giá, kiểm định chất lượng kỹ thuật các phương tiễn tham gia vận chuyển du khách. Thường xuyên kiểm tra tiêu chuẩn của lái xe vận chuyển du khách. Đã tổ chức một số đợt tập huấn cho lái xe và cán bộ quản lý của các doanh nghiệp và tổ chức tham gia kinh doanh vận tải du khách

Tuy nhiên, công tác quản lý chất lượng dịch vụ vận chuyển du khách, còn những hạn chế như việc kiểm tra chỉ theo định kỳ và các đợt kiểm tra không thường xuyên nên hiệu quản của biện pháp còn hạn chế. Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan rất phức tạp và khó khăn do nhiều thủ tục và còn thiếu cơ chế phối hợp cụ thể.

Ngoài ra đối tượng quản lý cũng rất đặc thù nên khá khó khăn.

2.3.5.2. Đối với dịch vụ lưu trú Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

Trên cơ sở các quy định hiện hành, ngành du lịch phối hợp với các cơ quan chức năng khác thường xuyên tổ chức các hoạt động quản lý chất lượng lưu trú. Trước khi các cơ sở đi vào hoạt động đều phải xin giấy phép hoạt động và trước khi cấp giấy phép đều phải trải qua thẩm định các tiêu chuẩn lưu trú, vệ sinh môi trường và phòng cháy. Ngoài ra chất lượng dịch vụ phòng và dịch vụ bổ sung cũng sẽ được thẩm định. Tùy theo mức độ và cơ sở nhận được tiêu chuẩn sao khác nhau. Quá trình kiểm tra định kỳ và đột xuất cũng được thực hiện thường xuyên. Một hoạt động thường xuyên được tổ chức bởi hiệp hội doanh nghiệp kinh doanh du lịch với sự giúp đỡ của ngành du lịch địa phương là cam kết bảo đảm chất lượng dịch vụ và giám sát lẫn nhau. Đây là những điểm mạnh của công tác quản lý chất lượng du lịch. Trong công tác kiểm tra các cơ sở kinh doanh lưu trú, Thanh tra Sở VHTTDL đã phát hiện một số cơ sở kinh doanh lưu trú tự ý mở các chương trình du lịch quốc tế, đoàn thanh tra đã yêu cầu các cơ sở trên gỡ bỏ các thông tin sai trên trang thông tin điện tử và bảng quảng cáo của công ty.

2.3.5.3. Đối với dịch vụ ăn uống

Xác định đây là yếu tố rất quan trọng và quyết định tới sự phát triển của ngành du lịch tỉnh. Đồng thời đây cũng là sản phẩm du lịch cần khai thác trong bối cảnh rất thiếu sản phẩm du lịch. Ngành du lịch một mặt phối hợp với ngành y tế và các cơ quan thường xuyên phổ biến những quy định và kiểm tra thường xuyên việc chấp hành các quy định về an toàn thực phẩm. Khuyến khích các cơ sở du lịch liên kết với nhau để tìm nguồn cung cấp thực phẩm đủ tiêu chuẩn và có chất lượng. Đồng thời, thanh tra Sở VHTTDL Quảng Trị luôn thanh kiểm tra các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, để có quyết định và cấp biển hiệu cho những cơ sở đạt tiêu chuẩn phục vụ du lịch với 9 tiêu chí hết sức cụ thể gồm: Vị trí dễ tiếp cận, có quầy bar; đủ điều kiện phục vụ tối thiểu 50 khách, có trang thiết bị phù hợp đối với từng loại món ăn, đồ uống, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm; có thực đơn, đơn giá và bán đúng giá ghi trong thực đơn; bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm; bếp thông thoáng, có trang thiết bị chất lượng tốt để bảo quản và chế biến thực phẩm; nhân viên phục vụ mặc đồng phục phù hợp với từng vị trí công việc, đeo phù hiệu trên áo; có phòng vệ sinh riêng cho khách ở vị trí thuận tiện; thực hiện niêm yết giá và bán đúng giá niêm yết và chấp nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng. Đây được xem là cơ chế quản lý kịp thời, nhằm bảo đảm chất lượng phục vụ cho khách du lịch yên tâm khi ghé thăm Quảng Trị.

2.3.5.4. Đối với dịch vụ giải trí Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

Dựa trên các tiêu chẩn quy định, phòng quản lý du lịch thuộc Sở VHTTDL thường xuyên xem xét, thẩm định tiêu chuẩn của các khách sạn và cơ sở lưu trú mới và theo định kỳ để cấp giấy chứng nhận nên đã đáp ứng nhu cầu phát triển của hệ thống cung cấp dịch vụ du lịch. Các tổ chức kinh doanh các ngành nghề có điều kiện, khi đăng ký kinh doanh, các phòng ban giúp việc của Sở sẽ đến kiểm tra cụ thể từng trường hợp, hướng dẫn cụ thể các điều kiện cần thiết, các hình thức xử phạt khi vi phạm.

Công tác hậu kiểm cũng được quan tâm thực hiện, để việc tuân thủ pháp luật được nghiêm túc, tỉnh Quảng Trị thành lập tổ kiểm tra liên ngành quản lý các ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Đội kiểm tra liên ngành thường xuyên ra quân kiểm tra hoạt động từ các dịch vụ như: khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng, dịch vụ bấm huyệt, đấm bóp và các tụ điểm vui chơi giải trí, dịch vụ karaoke,… nhằm bảo đảm an ninh trật tự, trách phát sinh tệ nạn từ các loại hình kinh doanh dịch vụ này. Đồng thời, thông qua công tác kiểm tra, nhằm chấn chỉnh các địa điểm kinh doanh hoạt động giải trí các thiếu sót về hệ thống báo cháy, hệ thống cửa thoát hiểm. Qua công tác kiểm tra, đã lập biên bản và xử phạt các vi phạm hành chính, yêu cầu các đơn vị kinh doanh chấn chỉnh nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, để lập lại mỹ quan, văn minh tại các khu di tích, danh thắng, các điểm hoạt động tâm linh, làng nghề,… tổ kiểm tra liên ngành thực hiện chấn chỉnh an ninh trật tự tại khu vực này, không để các đối tượng ăn xin, mua bán chèo kéo du khách gây phiền hà, khó chịu, cho khách khi đến tham quan.

2.3.5.5. Kết quả điều tra, khảo sát công tác kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về du lịch

Bảng 2.17: Kết quả điều tra, khảo sát công tác kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về du lịch tại Quảng Trị

2.3.6. Tổ chức thực hiện hợp tác liên kết vùng, miền, hợp tác quốc tế về du lịch; hoạt động xúc tiến du lịch ở trong nước và nước ngoài

2.3.6.1. Tổ chức thực hiện hợp tác liên kết vùng, miền, hợp tác quốc tế

Chủ động liên kết, hợp tác với các tỉnh bạn, các vùng để phát triển sẽ nâng cao hiệu quả đầu tư, nâng cao sức cạnh tranh của du lịch Quảng Trị cũng như của cả vùng BTB và Hành lang kinh tế Đông – Tây, nâng cao hiệu quả công tác quảng bá, xúc tiến, góp phần hạn chế những yếu kém, bất cập trong xây dựng sản phẩm du lịch. Thực hiện liên kết giữa các huyện, thị, thành trong toàn tỉnh để phát triển sản phẩm du lịch. Liên kết giữa các ngành về xây dựng và thực hiện các dự án, chương trình đầu tư. Liên kết giữa các doanh nghiệp du lịch nhằm xây dựng văn hóa cạnh tranh lành mạnh, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm. Liên kết với các địa phương trong vùng để xây dựng sản phẩm du lịch, quảng bá xúc tiến và đào tạo phát triển nguồn nhân lực. Liên kết với các thị trường gửi khách quan trọng trong cả nước để quảng bá, xúc tiến. Liên kết với các điểm đến trong Hành lang kinh tế Đông – Tây nhằm xây dựng các chương trình du lịch quốc tế hấp dẫn, có sức cạnh tranh cao. Liên kết giữa các ngành, các cấp trong công tác bảo vệ môi trường, bảo tồn, tôn tạo tài nguyên du lịch. Liên kết với CHDCND Lào, cụ thể là với các địa phương tiếp giáp với Quảng Trị qua các cửa khẩu quốc tế Lao Bảo và La Lay trong phát triển du lịch. Việc liên kết quốc tế trong phát triển du lịch cũng có thể được mở rộng tới các tỉnh sâu hơn trong nội địa của Lào và xa hơn nữa là Thái Lan và Myanmar.

Với 2 tỉnh lân cận Quảng Bình và Thừa Thiên Huế, Quảng Bình – Quảng Trị và Thừa Thiên Huế (Bình – Trị – Thiên) đã có sự liên kết chặt chẽ liên kết, hợp tác để cùng nhau phát triển du lịch. Bình – Trị – Thiên có bờ biển dài, nhiều bãi tắm đẹp như Nhật Lệ, Quang Phú, Cửa Tùng, Cửa Việt, Thuận An, Lăng Cô, có vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng – Di sản thiên nhiên thế giới, quần thể di tích cố đô Huế – Di sản văn hóa thế giới, Nhã nhạc cung đình Huế – Di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại… Bình Trị Thiên thực sự là điểm đến hấp dẫn của khách du lịch trong nước và quốc tế.

Tại 3 tỉnh hiện có một sân bay quốc tế (Phú Bài) và một sân bay nội địa (Đồng Hới), Quốc lộ 1, đường Hồ Chí Minh và đặc biệt là các tuyến quốc lộ nối với nước bạn Lào qua các Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo, Cha Lo. Đây là các đường tiếp cận chính nối các điểm du lịch của 3 tỉnh với các thị trường gửi khách trong nước và quốc tế. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

Trong những năm qua, ngành du lịch 3 tỉnh đã có bước phát triển khá nhanh và có những đóng góp nhất định vào sự phát triển của khu vực và cả nước. Bên cạnh đó, 3 tỉnh đã cố gắng triển khai một số hình thức hợp tác như phối hợp khai thác các tuyến du lịch “Con đường Di sản miền Trung” “Đường Hồ Chí Minh huyền thoại” và các tuyến du lịch của Hành lang kinh tế Đông – Tây, cùng tham gia các hoạt động trong các dịp lễ hội lớn của mỗi tỉnh. Tại Huế, thời gian qua đã áp dụng lộ trình giảm giá cho đối tượng học sinh, sinh viên; ở Quảng Bình sau sự cố môi trường biển, tỉnh đã thực hiện chính sách giảm giá với sự hưởng ứng tích cực của các doanh nghiệp du lịch, được du khách đánh giá cao, trong đó có trên 350.000 lượt du khách được hưởng lợi từ chính sách giảm giá này. Một điều tưởng như nhỏ nhưng muốn phục vụ du khách thì phải chú ý là, từ thành phố Huế ra Quảng Bình một lộ trình cần có điểm dừng nghỉ để tạo sự thoải mái cho khách du lịch. Điểm dừng nghỉ ở gần khách sạn Đông Hà – Quảng Trị có lẽ phù hợp hơn cả. Đồng thời trong quá trình hoạt động kinh doanh du lịch, các công ty lữ hành du lịch phải có biện pháp mang tính thực tiễn cao trong lĩnh vực lưu khách du lịch tại các điểm đến.

Việc tăng cường kết nối du lịch 3 tỉnh đã có sự đồng thuận cao từ các nhà quản lý hoạt động du lịch cho đến các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, điều này mở ra tương lai mới cho hoạt động du lịch của 3 tỉnh Bình – Trị – Thiên.

Với các vùng, miền khác trong nước, tỉnh đã chủ động liên kết với các địa phương như TP Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam nhằm cụ thể hoá chiến lược phát triển du lịch hàng lang kinh tế Đông – Tây, nhằm gắn kết và nâng cao chất lượng du lịch bền vững ở các địa phương có “Con đường di sản miền Trung”. Liên kết với 4 tỉnh khu vực Bắc miền Trung, bao gồm Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình để quảng bá điểm đến tại một số sự kiện lớn nhằm giới thiệu những sản phẩm độc đáo của các địa phương đến với du khách. Tổ chức khảo sát điểm đến, hợp tác phát triển du lịch với các địa phương tỉnh bạn, quảng bá trên các phương tiện truyền thông và tạp chí chuyên ngành, phối hợp với thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Lào Cai, Nghệ An, Hà Tĩnh, Đà Nẵng… để quảng bá hình ảnh điểm đến du lịch và trao đổi, chia sẻ và cung cấp thông tin về hoạt động du lịch giữa các địa phương.

Về hợp tác quốc tế về du lịch “Hợp tác phát triển kinh tế – du lịch Hành lang kinh tế Đông-Tây (EWEC)” là chủ đề Hội thảo quốc tế do Bộ VHTTDL và UBND tỉnh Quảng Trị phối hợp tổ chức tại thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, ngày 28/7.

Hội thảo có sự tham dự của đại diện lãnh đạo các bộ, ngành chức năng và chính quyền các tỉnh trên EWEC của Việt Nam, Lào, Thái Lan, Myanmar; các nhà khoa học, nhà quản lý kinh tế-du lịch, các công ty du lịch, lữ hành trong và ngoài nước…

Hơn 20 chủ đề tham luận của các đại biểu trong và ngoài nước đã khẳng định tiềm năng, lợi thế và cơ hội to lớn của EWEC trong phát triển kinh tế du lịch, dịch vụ ở các địa phương của 4 quốc gia hưởng lợi từ EWEC; đánh giá tiềm năng, lợi thế của tỉnh Quảng Trị trên EWEC trong phát triển kinh tế, thu hút đầu tư, phát triển thương mại, du lịch, dịch vụ và giao lưu văn hóa; xác định các luận cứ khoa học làm căn cứ để các địa phương trên EWEC đề ra chủ trương, chính sách và giải pháp phù hợp phát triển kinh tế, thương mại và du lịch; thu hút đầu tư, đào tạo nguồn nhân lực phát triển.  EWEC là một trong 3 sáng kiến về Hành lang kinh tế trong khuôn khổ hợp tác Tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS) do ADB và Nhật Bản khởi xướng, đã được thảo luận thông qua tại Hội nghị Bộ trưởng các quốc gia GMS gồm Việt Nam, Lào, Thái Lan và Myanmar, lần thứ 8 tổ chức tại Philippines tháng 10/1998 và được Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 6 chính thức đưa vào Chương trình hành động Hà Nội tháng 12/1998. Hành lang kinh tế là ý tưởng về việc sử dụng sự kết nối về giao thông, năng lượng, du lịch và chính sách thuận lợi cho khu vực tư nhân… nhằm tận dụng lợi thế về quy mô để phát huy tiềm năng phát triển giữa các vùng, miền của các nước GMS nằm dọc hành lang. EWEC dài 1450km, đi qua 4 nước, bắt đầu từ thành phố cảng Mawlomyine (Myanmar) đi qua Thái Lan, Lào vào Việt Nam qua cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo (Quảng Trị) và kết thúc tại cảng Tiên Sa, thành phố Đà Nẵng. Từ khi cầu Hữu Nghị II nối tỉnh Savannakhet (Lào) với Mucdahan (Thái Lan) được khánh thành năm 2014, EWEC chính thức đánh dấu sự khai thông. Đây là điều kiện để đẩy mạnh hơn nữa hợp tác phát triển kinh tế của các nước trên trục EWEC, nhất là phát triển du lịch-dịch vụ.  Với vị trí là cửa ngõ quan trọng của EWEC về phía Việt Nam, Quảng Trị có vị trí đầu mối để thu hút đầu tư, giao thương, giao lưu văn hóa, thu hút khách du lịch các nước GMS, đặc biệt là các nước trên EWEC và các nước thứ 3 vào miền Trung Việt Nam. Bên cạnh đó, Quảng Trị cũng là đầu mối, điểm kết nối giữa 3 sản phẩm du lịch là: EWEC- Con đường di sản miền Trung-Con đường huyền thoại, cộng với những điều kiện tự nhiên và hệ thống di tích lịch sử đồ sộ, Quảng Trị có nhiều tiềm năng trở thành một điểm đến nổi trội của du lịch Việt Nam. Tuy nhiên du lịch Quảng Trị chỉ có thể phát triển mạnh trong thế liên kết với các tỉnh miền Trung Việt Nam và các địa phương trên EWEC, các nước trong khu vực.

Bảng 2.18: Kết quả điều tra, khảo sát công tác tác tổ chức thực hiện hợp tác liên kết vùng, miền, hợp tác quốc tế về du lịch; hoạt động xúc tiến du lịch ở trong nước và nước ngoài Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

2.3.6.2. Hoạt động xúc tiến du lịch ở trong nước và nước ngoài

Trong những năm qua, công tác xúc tiến đầu tư du lịch Quảng Trị đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, góp phần quan trọng đưa Du lịch dần trở thành ngành kinh tế quan trọng trong sự nghiệp phát triển KTXH của tỉnh và khẳng định vị trí của Du lịch Quảng Trị trong vùng BTB.

Bảng: 2.19. Tình hình hoạt động xúc tiến, hợp tác liên kết vùng, miền, hợp tác quốc tế về du lịch của tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2018 – 2024

Quảng Trị Thực hiện nhiều chương trình xúc tiến đầu tư, quảng bá du lịch trong nước, khu vực và quốc tế. Nội dung, cách thức của công tác này luôn đổi mới, bổ sung phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, các thông tin về du lịch Quảng Trị được thể hiện dưới nhiều hình thức sinh động, hấp dẫn, nhờ vậy lượng khách đến Quảng Trị trong những năm gần đây liên tục tăng. Tổng số khách du lịch đến Quảng Trị năm 2021 là: 1.325.000 lượt; năm 2022 là: 1.600.000 lượt; năm 2023 là: 1.615.000 lượt; năm 2024 là: 1.140.000 lượt; 7 tháng đầu năm 2025 ước tính đạt 1.155.367 lượt. Mục tiêu là tập trung đầu tư phát triển đưa ngành du lịch Quảng Trị cùng với Thương mại – Dịch vụ thành ngành kinh tế quan trọng và là động lực phát triển KTXH của tỉnh. Trang thông tin điện tử Du lịch Quảng Trị đã được nâng cấp và duy trì trên 02 địa chỉ truy cập: dulichquangtri.co và dulich.quangtri.gv để giới thiệu các tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú, quảng bá các sản phẩm, các dịch vụ – du lịch của tỉnh về mảnh đất và con người Quảng Trị đến đọc giả, khách du lịch.

Về xúc tiến kêu gọi đầu tư, tính đến thời điểm 31/10/2025, tổng số dự án đã và đang được đầu tư tại các khu dịch vụ – du lịch là 20 dự án trên tổng diện tích đất 168,49 ha với tổng số vốn đăng ký đầu tư hơn 3.300 tỷ đồng. Trong đó có 4 dự án đã hoàn thành đưa vào sử dụng, 8 dự án đang triển khai, 3 dự án đã hoàn thành thủ tục thuê đất, các dự án còn lại đang tiến hành các thủ tục liên quan.

Bên cạnh những thành quả đã đạt được, công tác xúc tiến đầu tư, quảng bá du lịch Quảng Trị đến nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Trước hết là thiếu tính chuyên nghiệp trong tuyên truyền, quảng bá, chưa phát huy được nguồn lực xã hội hoá. Kinh phí đầu tư cho hoạt động xúc tiến đầu tư, quảng bá còn hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động. Công tác này chưa được tiến hành thường xuyên, liên tục, quy mô còn nhỏ. Các hoạt động marketing và xúc tiến đầu tư chưa thật bài bản, thiếu tính chủ động, cần phải có chiến lược căn cơ về phát triển từng loại thị trường du lịch. Tính ổn định tổ chức bộ máy, mức độ chuyên sâu chuyên môn, nguồn lực cho công tác xúc tiến đầu tư, quảng bá du lịch còn hạn chế. Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, đơn vị kinh doanh du lịch chưa hiệu quả. Phần lớn các doanh nghiệp du lịch trong tỉnh chưa chú trọng đến vấn đề tuyên truyền quảng bá thương hiệu, sự đầu tư cho công tác này chưa đúng mức.

Bảng 2.20: Kết quả điều tra, khảo sát công tác tác tổ chức thực hiện hợp tác liên kết vùng, miền, hợp tác quốc tế về du lịch; hoạt động xúc tiến du lịch ở

2.4. Đánh giá chung thực công tác quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị  Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

2.4.1. Những kết quả đạt được

Thời gian qua, công tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh đã đạt những kết quả chủ yếu trên các phương diện sau:

Thứ nhất, công tác thực hiện các chính sách pháp luật và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về du lịch tại địa phương ngày càng hoàn thiện; công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và tổ chức hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực du lịch được chú trọng. Bên cạnh đó, việc chỉ đạo xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách, đề án, dự phát triển du lịch của tỉnh có nhiều tiến bộ. Điều đó đã góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của tổ chức, cá nhân tham gia trong hoạt động du lịch, đồng thời, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh.

Tỉnh đã sớm xác định tiềm năng, lợi thế phát triển, vai trò, vị trí của ngành du lịch và tạo điều kiện để du lịch dần trở thành một ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh tế. Đồng thời, ban hành nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích ưu đãi thu hút đầu tư, tích cực tranh thủ nguồn vốn của TW hỗ trợ cùng với huy động từ nhiều nguồn khác đầu tư CSHT và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.

Nhận thức về phát triển kinh tế du lịch trong các tầng lớp nhân dân được nâng lên, từ đó tạo điều kiện thuận lợi nhiều mặt trong việc hỗ trợ cho hoạt động du lịch, thu hút nguồn lực đầu tư kinh doanh du lịch, nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên, vệ sinh môi trường và chú trọng hơn việc nâng cao chất lượng của dịch vụ kinh doanh du lịch. Bên cạnh đó, đã chấn chỉnh và nâng lên một bước chất lượng hoạt động kinh doanh du lịch của các doanh nghiệp trên địa bàn.

Thứ hai, công tác xây dựng và tổ chức thực hiện các quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch tại địa phương đã có nhiều chuyển biến tích cực về nội dung, phương pháp và cách thức thực hiện, bước đầu định hướng cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh hoạt động du lịch hướng phát triển vừa đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp, vừa đảm bảo cho các tài nguyên du lịch bảo tồn tính nguyên vẹn vốn có. Mặt khác, công tác phát triển cơ sở vật chất, hạ tầng ngày càng được coi trọng hơn, tập trung xây dựng các công trình trọng điểm, phục vụ hoạt động du lịch diễn ra hiệu quả, tránh sự lãng phi và dàn trãi. Tỉnh đang tiếp tục định hình và nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch gắn với nhóm tài nguyên đặc trưng của tỉnh như: du lịch lịch sử – cách mạng, du lịch hoài niệm chiến trường xưa, du lịch văn hóa tâm linh, du lịch sinh thái, biển, đảo, mua sắm; từng bước hình thành một số tuyến, địa bàn, khu du lịch trọng điểm như: thành phố Đông Hà, khu cửa khẩu quốc tế Lao Bảo, khu dịch vụ – du lịch Cửa Việt – Cửa Tùng, đảo Cồn Cỏ, thành cổ Quảng Trị… Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

Hệ thống CSHT được quan tâm đâu tư phát triển có ảnh hưởng tích cực đến hoạt động du lịch trên địa bàn. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch như các khu du lịch, các khách sạn nhà hàng, khu vui chơi giải trí… đang từng bước được xây dựng đồng bộ hơn, tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng du lịch, góp phần tạo nên diện mạo mới. Công tác đầu tư đã được chú trọng và đúng hướng, thu hút nhiều nguồn đầu tư đem lại hiệu quả nhất định về kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường.

Thứ ba,tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch ngày càng được hoàn thiện. Đã có được sự phối hợp ngày càng chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả giữa các cấp, các ngành trong quản lý hoạt động du lịch kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc; cùng với sự nỗ lực, tính chủ động, năng động của các đơn vị kinh doanh du lịch trong toàn tỉnh.

Thứ tư, Công tác, bồi dưỡng, đào tạo, nguồn nhân lực chất lượng phục vụ cho du lịch ngày càng tăng cường. Tỉnh đã đưa ra được các chính sách hỗ trợ kịp thời, nhằm hỗ trợ cho doanh nghiệp, tổ chức, đào tạo nâng cao kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ lao động phục vụ trong ngành du lịch. Từ đó, góp phần, nâng cao chất lượng phục vụ. Việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong lĩnh vực du lịch được quan tâm, đã có nhiều đề tài khoa học có chất lượng được ứng dụng; các trang thông tin điện tử góp phần tích cực trong việc giới thiệu, quảng bá du lịch Quảng Trị ra các vùng, miền và bạn bè quốc tế.

Thứ năm, công tác kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về du lịch được duy trì, góp phần ổn định thị trường, đẩy mạnh các hoạt động kinh doanh du lịch, giữ gìn kỷ cương pháp luật trong hoạt động du lịch. công tác kiểm tra, thanh tra đã phát huy hiệu quả các chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch để răn đe, phòng ngừa, xử phạt các hành vi vi phạm góp phần đưa các hoạt động du lịch vào trật tự, kỷ cương, cạnh tranh bình đẳng, nâng cao ý thức của các chủ thể có hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh.

Thứ sáu, công tác liên kết ngành, liên kết vùng, quốc gia trong hoạt động du lịch, giữa các địa phương, ban ngành có liên quan từ Trung ương đến địa phương có chuyển biến tích cực. Đã ký kết nhiều chương trình hợp tác phát triển du lịch với các thành phố, tỉnh, ngành trong và ngoài nước. Sự phối kết hợp giữa Quảng Trị với các tỉnh duyên hải BTB và các tỉnh biên giới giáp với nước Lào, các địa phương trên tuyến Hành lang kinh tế Đông – Tây đã chú trọng hơn, bổ sung cho nhau các thế mạnh cùng liên kết hợp tác phát triển, góp phần nâng cao vị thế du lịch Quảng Trị trong khu vực, trong nước và quốc tế.

Công tác quảng bá, xúc tiến du lịch ngày càng được đẩy mạnh bằng nhiều hình thức khác nhau, góp phần hiệu quả chính sách thu hút đầu tư du lịch, thu hút khách du lịch và quảng bá rộng rãi về văn hoá và con người “vùng đất thép” Quảng Trị. Trong đó đáng chú ý là việc duy trì phát hành đều đặn hàng tháng ấn phẩm Du lịch Quảng Trị, trang thông tin điện tử về VHTTDL của tỉnh, tăng cường công tác xúc tiến quảng bá trên các phương tiện thông tin thông qua hội chợ, hội thảo, tổ chức các lễ hội, các sự kiện…

2.4.2. Những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân tồn tại Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

2.4.2.1. Những hạn chế, tồn tại

Hoạt động du lịch tại Quảng Trị trong những năm qua  tuy đạt được sự tăng trưởng khá cao với sự tham gia ngày càng nhiều các doanh nghiệp từ nhiều thành phần kinh tế nhưng hầu hết qui mô còn nhỏ, phương thức kinh doanh chậm được cải tiến đổi mới, chất lượng các dịch vụ chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch, hiệu quả kinh doanh còn hạn chế. Bên cạnh những mặt tích cực đạt được, công tác quản lý nhà nước về du lịch ở tỉnh Quảng Trị còn bộc lộ những hạn chế:

Một là, công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về du lịch cho người dân và việc nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư địa phương về vai trò của du lịch trong phát triển KTXH, mặc dù được chính quyền tỉnh thực hiện khá tích cực, song do mặt bằng dân trí của người dân còn thấp, do đó hiệu quả công tác tuyên truyền còn hạn chế, người dân chưa nhận thức hết hiệu quả của du lịch tới đời sống của họ và các chính sách, pháp luật còn chưa được thực hiện một cách nghiêm túc và mang tính liên tục.

Còn khá nhiều doanh nghiệp chưa nắm vững các qui định của pháp luật liên quan đến hoạt động du lịch nên trong quá trình kinh doanh chấp hành không được đầy đủ. Đặc biệt là việc thực hiện chế độ báo cáo thống kê, báo cáo trước khi đi vào hoạt động kinh doanh và những thay đổi loại hình kinh doanh, thay đổi người đại diện doanh nghiệp, người đứng đầu, cải tạo nâng cấp cơ sở kinh doanh, mở chi nhánh, văn phòng đại diện… không nghiêm túc; một số cơ sở lưu trú không thực hiện các thủ tục xếp hạng và công khai giá cả các dịch vụ.

Hai là, Công tác xây dựng và quản lý quy hoạch du lịch triển khai theo qui định của Luật Du lịch còn bất cập. Phần lớn các quy hoạch chỉ căn cứ qui định của Luật Xây dựng và các Nghị định 08/2013/NĐ-CP và Quyết định 06/2013/QĐ-BXD của Bộ Xây dựng. Tình hình đó đã phần nào ảnh hưởng đến chất lượng của việc lập quy hoạch du lịch và công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động du lịch.

Các dự báo, chiến lược còn chưa sát với thực tế, mới chỉ được xây dựng trên cơ sở khai thác tài nguyên du lịch phong phú của tỉnh, nhưng lại thiếu cơ sở phân tích thị trường, đối thủ cạnh tranh, …cũng như các chiến lược phát triển. Do đó, tất cả các hướng sản phẩm đều mang tính “ dàn hàng ngang”, thiếu tính tập trung trọng điểm. Đồng thời, nhận thức của người dân về công tác quy hoạch phát triển du lịch chưa cao dẫn đến việc tổ chức thực hiện và quản lý quy hoạch trong những năm đầu thực hiện quy hoạch tổng thể không tránh được vướng mắc. Đồng thời, do quy hoạch phát triển du lịch chưa thực sự sát với thực tế, dẫn đến việc đầu tư mất cân đối giữa cơ sở lưu trú và hạ tầng du lịch, các cá nhân, tổ chức tập trung đầu tư xây dựng nhà hàng, khách sạn, nhà nghĩ theo hình thức tự phát để tranh thủ sự tăng trưởng của khách du lịch đã ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ dẫn đến hiệu quả kém, ảnh hưởng cảnh quan môi trường du lịch.

Loại hình và sản phẩm du lịch chất lượng không đồng đều, khả năng cạnh tranh thấp. Thiếu những sản phẩm du lịch đặc sắc, có tầm cỡ, có sức cạnh tranh trong vùng, trong nước và quốc tế; các dịch vụ bổ sung còn yếu nên chưa kéo dài ngày lưu trú và tăng chi tiêu của khách. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

Ba là, hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về du lịch, sau khi kiện toàn được tổ chức lại tinh gọn, tuy nhiên lực lượng biên chế mỏng, đặc biệt là ở cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển.

Bốn là, công tác, bồi dưỡng, đào tạo, nguồn nhân lực chất lượng phục vụ cho du lịch còn nhiều hạn chế. Công tác đào tạo đã có sự chuyển biến, tuy nhiên lại chưa đáp ứng được nhu cầu lao động phổ thông phục vụ trong ngành du lịch, nghiệp vụ cũng như khả năng ngoại ngữ còn hạn chế, khiến cho chất lương phục vụ khách còn kém. Đồng thời, chất lượng cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về du lịch chưa thực sự hiểu hết toàn bộ, thực trạng của du lịch để tham mưu các chính sách, chiến lược phát triển cho các cấp lãnh đạo một cách có hiệu quả.

Chất lượng nguồn nhân lực du lịch chưa tương xứng với sự phát triển, số lao động phổ thông còn chiếm tỷ lệ lớn trong khi lao động được đào tạo chuyên ngành, lao động có trình độ đại học và trên đại học còn chiếm tỷ lệ khiêm tốn cũng là lý do quan trọng hạn chế đến tốc độ và chất lượng phát triển của ngành du lịch.

Các thành tựu khoa học công nghệ về bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch, các tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ du lịch, hệ thống các số liệu tài khoản vệ tinh du lịch, công tác thống kê và theo dõi phản hồi của khách chưa được áp dụng một cách đầy đủ và khoa học gây khó khăn cho công tác quản lý cũng như hoạch định các sách lược cho du lịch Quảng Trị.

Năm là, công tác kiểm  tra, thanh tra dù đã có sự liên kết giữa các ban ngành có liên quan, tuy nhiên công tác này lại chưa được kiểm tra một cách thường xuyên, mà chỉ được tiến hành theo từng đợt, đồng thời, quá trình, xử lý sau khi tiến hành kiểm tra, thanh tra phát hiện được chưa được xử lý một cách nghiêm túc, khiến cho những hành vi ảnh hưởng xấu đến chất lượng du lịch của các cơ sở kinh doanh còn tái phạm, kéo dài, việc tố cáo, khiếu nại còn diễn ra phức tạp.

Sáu là, công tác liên kết ngành, liên kết vùng, quốc gia trong hoạt động du lịch, giữa các địa phương vẫn còn bộ lộ nhiều yếu tố bất cập, hạn chế. Hoạt động kinh doanh lữ hành chưa thật chuyên nghiệp, các doanh nghiệp còn hạn chế về quy mô, vốn, năng lực cạnh tranh, phần lớn tập trung khai thác thị trường Thái Lan, Lào, Campuchia, chưa quan tâm đúng mức mảng lữ hành nội địa… Còn có tình trạng lợi dụng lượng khách Thái Lan vào Việt Nam qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo tăng đột biến, nhiều doanh nghiệp sử dụng hướng dẫn viên là người chưa được cấp thẻ hướng dẫn viên quốc tế. Nhiều đoàn khách từ Lào, Thái Lan vào tự do không có hợp đồng đón khách với các doanh nghiệp có chức năng kinh doanh lữ hành quốc tế Việt Nam, không có hướng dẫn viên lữ hành quốc tế Việt Nam. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

Công tác quảng bá, xúc tiến du lịch và công tác tiếp thị thị trường chưa được sự quan tâm của doanh nghiệp, vốn đầu tư cho công tác này thấp, một số doanh nghiệp còn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của ngân sách nhà nước, tính cộng đồng hợp tác liên kết đối với công tác này trong các doanh nghiệp còn yếu; thiếu tính chuyên nghiệp trong tuyên truyền, quảng bá, chưa phát huy được nguồn lực xã hội. Kinh phí đầu tư cho hoạt động xúc tiến đầu tư, quảng bá còn hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động. Công tác này chưa được tiến hành thường xuyên, liên tục, quy mô còn nhỏ. Các hoạt động marketing và xúc tiến đầu tư chưa thật bài bản, thiếu tính chủ động, cần phải có chiến lược căn cơ về phát triển từng loại thị trường du lịch. Tính ổn định tổ chức bộ máy, mức độ chuyên sâu chuyên môn, nguồn lực cho công tác xúc tiến đầu tư, quảng bá du lịch còn hạn chế. Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, đơn vị kinh doanh du lịch chưa hiệu quả. Phần lớn các doanh nghiệp du lịch trong tỉnh chưa chú trọng đến vấn đề tuyên truyền quảng bá thương hiệu, sự đầu tư cho công tác này chưa đúng mức.

2.4.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế

  • Nguyên nhân khách quan

Cơ chế, chính sách, pháp luật chung liên quan đến phát triển kinh tế nói chung và phát triển du lịch nói riêng có mặt chậm sửa đổi, chưa đồng bộ, thiếu nhất quán và thiếu thông thoáng, việc ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Du lịch còn chậm, chưa kịp thời, gây khó khăn cho hoạt động quản lý nhà nước về du lịch ở các địa phương. Mặt khác, du lịch của ngành kinh tế tổng hợp có tính liên kết ngành, liên kết vùng và xã hội hóa cao, quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực khác nhau.

  • Nguyên nhân chủ quan

Nội dung, phương pháp, phương thức tuyên truyền, phổ biến giáo dục chính sách pháp luật du lịch cho cộng đồng dân cư trên địa bàn còn nghèo nàn, đơn điệu và chưa phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh.

Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của tỉnh chưa được quan tâm thực hiện kịp thời, mối quan hệ phối hợp trong quản lý quy hoạch du lịch giữa các cơ quan, ban, ngành trong tỉnh có mặt thiếu chặt chẽ nên việc thực hiện quy hoạch cũng bộc lộ nhiều vấn đề cần phải xem xét như: Một là, có nhiều chỉ tiêu dự báo không còn phù hợp do tình hình KTXH có nhiều biến động, chưa đánh giá tác động môi trường từ hoạt động du lịch và chưa có giải pháp bảo vệ môi trường từ hoạt động du lịch và chưa có các giải pháp chiến lược, tình thế để đối phó với các tác động xấu đến ngành du lịch khi có biến động xảy ra như: thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và sự phối hợp thống nhất giữa các cấp, các ngành trong việc triển khai và giám sát thực hiện quy hoạch. Hai là, các biện pháp triển khai thực hiện chưa đồng bộ; công tác quy hoạch chi tiết chưa kịp thời, chất lượng chưa cao, công tác quản lý, thực hiện quy hoạch chưa chặt chẽ. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

Nguồn vốn nhà nước dành cho đầu tư và hỗ trợ đầu tư CSHT du lịch còn thấp, trong khi đó việc phân bổ vẫn còn thiếu tập trung, dẫn đến tình trạng đầu tư phân tán, nhỏ lẽ các dự án đầu tư bị chậm tiến độ. Điều này cùng với việc thiếu cương quyết trong công tác đền bù, giải phóng mặt bằng cho hoạt động đầu tư và những bất cập về thủ tục hành chính đối với kinh doanh nói chung, hoạt động du lịch nói riêng, đã và đang ảnh hưởng tiêu cực rất lớn đến môi trường thu hút đầu tư của tỉnh, nhất là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

Bộ máy quản lý nhà nước về du lịch thay đổi do sáp nhập, chia tách nên thiếu tính ổn định, không đảm bảo tính liên tục trong quản lý, hiệu lực quản lý chưa cao, nhất là bộ máy quản lý nhà nước về du lịch ở các cấp huyện, thị xã. Quyền hạn trách nhiệm cũng như lợi ích của các cấp, các ngành trong việc cụ thể hóa các cơ chế, chính sách của Nhà nước về phát triển du lịch vào điều kiện cụ thể ở địa phương cũng như ban hành các cơ chế, chính sách thuộc thẩm quyền và trong việc hướng dẫn, tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách đó chưa được làm rõ. Sự phối hợp trong quản lý hoạt động du lịch giữa các cơ quan chức năng của tỉnh chưa thật sự chặt chẽ trong khi đó lại chưa phân định được một cách rõ ràng trách nhiệm và lợi ích của các ngành, các cấp và cộng đồng dân cư trong quản lý các hoạt động du lịch tại các khu, điểm du lịch, khiến cho công tác triển khai các chính sách và quyết định quản lý nhà nước khi ban hành được triển khai từ tỉnh xuống địa phương và doanh nghiệp còn chậm trễ.

Trình độ các đội ngũ cán bộ, công chức trong ngành du lịch của tỉnh còn nhiều bất cập. Công tác quản lý cán bộ, quy hoạch đào tạo, sử dụng cán bộ quản lý nhà nước về du lịch của tỉnh, nhất là đội ngũ cán bộ kế cận, tuy có được quan tâm nhưng chưa thường xuyên. Mặt khác, do chủ yếu cán bộ làm công tác quản lý nhà nước được đào tạo trong lĩnh vực kinh tế, do đó khi tham mưu các quy hoạch, chiến lược phát triển chưa nắm hết được tình hình thực tế, cũng như đặc thù của từng khu du lịch, điểm du lịch để tham mưu kịp thời, hiệu quả. Bên cạnh đó, các chính sách tiền lương, chính sách đãi ngộ cán bộ, chính sách thu hút nhân tài chậm được ban hành hoặc chưa được chú trọng thực hiện.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch còn chấp vá, thiếu hệ thống. Mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo nghề du lịch và các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trong phát triển nguồn nhân lực chưa chặt chẽ

Công tác liên kết vùng, miền đã có chuyển biến, tuy nhiên, mới dừng lại ở việc ký kết các biên bản hợp tác với các thành phố, tỉnh thành trên toàn quốc như: Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng…., hợp tác liên kết vùng, nhưng chưa có chương trình, hành động cụ thể nhằm hiện thực hóa các biên bản hợp tác đó.

Phạm vi thanh tra, kiểm tra đối với doanh nghiệp kinh doanh du lịch chưa xác định rõ ràng. Phương thức, trình tự thanh tra, kiểm tra bộc lộ nhiều hạn chế, chưa tạo được sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan quản lý nhà nước liên quan, gây ra sự chồng chéo và phiền hà cho các doanh nghiệp. Công tác quản lý hoạt động kinh doanh và chất lượng du lịch vẫn có tính chất phong trào, chưa thường xuyên kiểm tra và quy định quy trình kiểm tra thiếu chặt chẽ, chưa khuyến khích cơ sở kinh doanh tự giác thực hiện các tiêu chuẩn đề ra. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

2.5. Ý kiến đánh giá của các chuyên gia và doanh nghiệp về thực trạng công tác quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị trong thời gian qua

2.5.1. Quy mô mẫu điều tra

Đối với cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh: Tại Sở VH,TT&DL 12 người; cấp huyện 10 người; Trung tâm TTXT Du lịch 15 người; Ban quản lý di tích tỉnh 15 người; Hiệp hội du lịch 5 người. Tổng cộng có 57 người tham gia vào công tác quản lý nhà nước về du lịch. Vì vậy tác giả chọn 50 người để làm mẫu đại diện cho số cán bộ quản lý nhà nước về du lịch để điều tra, khảo sát.

Đối với lãnh đạo doanh nghiệp hoạt động kinh doanh về du lịch trên địa bàn: Trên địa bàn toàn tỉnh có khoảng 20 doanh nghiệp, văn phòng đại diện hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch. Tác giả chọn ra 25 nhà lãnh đạo, cán bộ điều hành trực tiếp về hoạt động kinh doanh du lịch để làm mẫu đại diện cho 20 doanh nghiệp đó để điều tra, khảo sát.

Với số lượng cán bộ, chuyên gia làm công tác quản lý nhà nước và doanh nghiệp hiện có trên địa bàn, để mẫu điều tra đảm bảo tính đại diện cho tổng thể, số lượng phiếu khảo sát phát ra để điều tra cho đối tượng là thuộc Phụ lục 01 là 50 phiếu và cho đối tượng thuộc Phụ lục 01 là 25 phiếu.

2.5.2. Tóm tắt bộ câu hỏi điều tra

Bộ câu hỏi điều tra được thiết kế tập trung vào các nội dung liên quan đến công tác quản lý nhà nước về du lịch trong phạm vi cấp tỉnh, bao gồm 6 chủ đề sau:  (1) Công tác tổ chức thực hiện các chính sách pháp luật và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách phát triển du lịch tại địa phương;

  • Công tác xây dựng và tổ chức thực hiện các quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch tại địa phương;
  • Công tác tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch, sự phối hợp của các cơ quan nhà nước trong việc quản lý nhà nước về du lịch;
  • Công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong lĩnh vực du lịch;
  • Công tác kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về du lịch;
  • Công tác tổ chức thực hiện hợp tác liên kết vùng, miền, hợp tác quốc tế về du lịch; hoạt động xúc tiến du lịch ở trong nước và nước ngoài. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Giải pháp quản lý nhà nước về du lịch tại Quảng Trị

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993