Luận văn: Thực trạng Quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng Quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin tại các trường Tiểu học quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Thực trạng hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại các trường Tiểu học quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội

2.1.1. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin vào chuẩn bị bài giảng

  • Bảng 2.1.Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin vào chuẩn bị bài giảng

Mức độ ứng dụng CNTT vào chuẩn bị bài dạy của giáo viên Tiểu học quận Thanh Xuân, Hà Nội đạt mức độ tốt, thể hiện ở ĐTB= 4,0. Điều này cho thấy, ứng dụng công nghệ thông tin độ vào chuẩn bị bài dạy của giáo viên Tiểu học quận Thanh Xuân đã được thực hiện có hiệu quả và thành thạo. Công nghệ thông tin đã phục vụ tốt cho chuẩn bị bài giảng của giáo viên.

Xếp ở vị trí thứ 1, được đánh giá ở mức rất tốt là nội dung ứng dụng CNTT vào việc soạn thảo văn bản, giáo án (ĐTB= 4,43). Hầu hết các giáo viên đều sử dụng tốt phần mềm word để soạn giáo án và các văn bản trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình.

Đứng ở vị trí thứ 2 (ĐTB=4,32), ở mức rất tốt, là khâu ứng dụng CNTT trong việc sử dụng thư điện tử để cập nhật thông tin, văn bản, chia sẻ tư liệu dạy học. Khảo sát cho thấy giáo viên đã tích cực sử dụng hộp thư điện tử để cập nhật thông tin, chia sẻ văn bản, tư liệu. Ngoài email công vụ, một số trường đã lập thêm email dùng chung cho nội bộ cán bộ, giáo viên, nhân viên để tiện trong việc chia sẻ thông tin và thực hiện báo cáo nội bộ như trường Tiểu học Khương Mai, Đặng Trần Côn.

Với ĐTB=3,33, nội dung ứng dụng CNTT trong việc khai thác nguồn tài nguyên giáo dục, học liệu điện tử, thư viện điện tử qua website của Bộ GD&ĐT, ngành GD&ĐT Hà Nội được đánh giá mức trung bình. Để hiểu rõ hơn thực trạng này, tôi đã phỏng vấn cô giáo N.T.T, trường Tiểu học Hạ Đình, cô cho biết: “Khi khai thác tư liệu, nhiều giáo viên chỉ quan tâm nội dung có liên quan đến bài học mà chưa chú ý nhiều vào việc lựa chọn nguồn tư liệu có đáng tin cậy hay không.”

Đứng cuối cùng là nội dung ứng dụng CNTT vào việc sử dụng trang “Trường học kết nối” của Bộ GD&ĐT, phục vụ trao đổi chuyên môn, đổi mới nội dung, phương pháp dạy học” với số điểm trung bình ĐTB= 3,3 được đánh giá ở mức thấp nhất, mức trung bình. Lí giải cho vấn đề này, cô N.T.H, Hiệu trưởng trường Tiểu học Đặng Trần Côn, cho biết: “Nhà trường đã tuyên truyền tới giáo viên về trang website này, song một số giáo viên phản hồi rằng nội dung chuyên môn dành cho cấp Tiểu học còn khiêm tốn, chủ yếu phục vụ cho cấp Trung học cơ sở nên giáo viên không thực sự thiết tha với việc này.” Bên cạnh đó việc đăng nhập để tự học, hay tham gia sinh hoạt chuyên môn còn khiến giáo viên mất một khoảng thời gian không nhỏ, đòi hỏi người giáo viên cần có tinh thần tự học, tâm huyết với nghề. Luận văn: Thực trạng Quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học.

2.1.2. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin vào tổ chức giảng dạy trên lớp

Kết quả nghiên cứu thực trạng ứng dụng CNTT vào việc tổ chức giảng dạy trên lớp của giáo viên Tiểu học quận Thanh Xuân, Hà Nội được chúng tôi tổng kết qua bảng số liệu sau:

  • Bảng 2.2. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin vào tổ chức giảng dạy trên lớp

Nhìn chung việc ứng dụng CNTT của giáo viên Tiểu học quận Thanh Xuân vào tổ chức giảng dạy trên lớp được nhận xét ở mức độ tốt với số điểm trung bình chung ĐTB=3,89. Như vậy, giáo viên Tiểu học quận Thanh Xuân đã ứng dụng CNTT vào tổ chức giảng dạy trên lớp ở mức thành thạo, có hiệu quả. Cụ thể là:

Được đánh giá ở vị trí thứ bậc 1 với ĐTB= 4,33, đánh giá ở mức độ rất tốt là khâu sử dụng giáo án đã được thiết kế bằng các phần mềm trình chiếu.Giáo viên đã tích cực sử dụng các giáo án này để tiết kiệm thời gian, hấp dẫn học sinh Tiểu học.

Với ĐTB = 4,26, việc khai thác, sử dụng các thiết bị CNTT như: Máy tính, máy chiếu projector, ti vi, máy chiếu đa vật thể, bảng tương tác, máy ảnh, máy quay, điện thoại thông minh…để phục vụ dạy học các môn cũng được đánh giá ở mức độ rất tốt, xếp vị trí thứ 2. Trong những năm gần đây, các trường Tiểu học ở quận Thanh Xuân đã được đầu tư thêm nhiều thiết bị dạy học hiện đại, đa số giáo viên đã biết khai thác các đồ dùng này phục vụ cho công tác dạy học.

Nội dung ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy học được xếp ở thứ bậc 3 (ĐTB= 4,18), được đánh giá ở mức độ tốt. Cô T.T.V, Phó Hiệu trưởng trường Tiểu học Kim Giang cho rằng: “Hầu hết giáo viên đã có ý thức thực hiện ứng dụng CNTT vào việc đổi mới phương pháp dạy học. Tuy nhiên hiệu quả của việc làm này còn tập trung nhiều ở các tiết chuyên đề, hội giảng và ở đối tượng giáo viên có trình độ chuyên môn tốt.” Như vậy việc ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy học vẫn cần được các trường quan tâm thường xuyên.

Xếp ở vị trí thứ 4 với ĐTB=3,36 là nội dung sử dụng các phần mềm dạy học theo môn học, được đánh giá ở mức độ trung bình, phù hợp với kết quả phỏng vấn sâu. Cô giáo N.T.H trường Tiểu học Thanh Xuân Nam cho rằng: “Nhà trường đã trang bị cho giáo viên một số phần mềm dạy học theo môn song chủ yếu tập trung vào môn Toán, Tiếng Việt, một số phần mềm chưa sát với thực tế dạy học.”

Đứng ở vị trí cuối cùng là nội dung ứng dụng CNTT để thiết kế bài giảng E- learning với ĐTB= 3,30, đánh giá ở mức độ trung bình. Cô giáo N.T.C.L trường Tiểu học Khương Mai cho rằng: “Mặc dù được tập huấn, song việc thiết kế bài giảng E-learning vẫn là một khó khăn với không ít giáo viên. Phần mềm chủ yếu là bản dùng thử hoặc crack nên thường bị lỗi, việc cài đặt phần mềm vào máy cũng đòi hỏi sự đồng bộ về cấu hình, win, không phải giáo viên nào cũng làm được.

2.1.3. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin vào kiểm tra, đánh giá học sinh Luận văn: Thực trạng Quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học.

Ứng dụng CNTT vào kiểm tra, đánh giá học sinh với điểm trung bình 3,98 được đánh giá ở mức tốt. Điều này cho thấy các giáo viên các trường tiểu học được khảo sát đã ứng dụng có hiệu quả và thành thạo công nghệ thông tin vào kiểm tra, đánh giá học sinh.

  • Bảng 2.3. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin vào việc kiểm tra, đánh giá học sinh

Đứng ở vị trí bậc 1, ĐTB= 4,38 được đánh giá ở mức rất tốt là nội dung: Sử dụng phần mềm Esams để cập nhật kết quả nhận xét, đánh giá quá trình học tập và rèn luyện của học sinh. Sau thời gian làm quen, được sự tập huấn của Sở GD&ĐT Hà Nội, Phòng GD&ĐT quận Thanh Xuân, Ban Giám hiệu các nhà trường, giáo viên thành thạo hơn trong việc sử dụng phần mềm Esams, thấy được những tiện ích mà phần mềm mang lại trong việc quản lý điểm, nhận xét, thông tin học sinh.

Với ĐTB=4,18, xếp bậc 2, được đánh giá thực hiện ở mức tốt là nội dung Cập nhật dữ liệu đánh giá kết quả học tập của học sinh theo giai đoạn cuối kì, cuối năm lên phần mềm EQMS. Giải thích thực tế này cô L.B.H, Phó Hiệu trưởng trường Tiểu học Nguyễn Trãi chia sẻ: “Năm học 2025-2026 là năm học đầu tiên triển khai sử dụng phần mềm cơ sở dữ liệu EQMS để tổng hợp báo cáo toàn ngành giáo dục, các nhà trường đã tập huấn cho giáo viên sử dụng phần mềm này để cập nhật kết quả học sinh cuối kì, tuy nhiên vì công việc mới nên một số giáo viên có trình độ CNTT hạn chế còn gặp khó khăn, do danh sách học sinh ở Esams và ở phần mềm EQMS có lớp chưa trùng khớp, nếu không chú ý khi chuyển số liệu thì việc cập nhật kết quả của từng học sinh sẽ tốn nhiều thời gian và dễ nhầm lẫn.”

Đứng ở vị trí bậc 3 với ĐTB=3,37 là nội dung: Sử dụng các phần mềm để thiết kế câu hỏi, bài tập, trò chơi nhằm đánh giá kết quả học tập của HS. Cô L.H.G, giáo viên lớp 5 trường Tiểu học Khương Mai chia sẻ thêm: “Giáo viên biết sử dụng các phần mềm trình chiếu để xây dựng các bài tập, trò chơi nhằm đánh giá học sinh tuy nhiên tập trung nhiều ở các tiết hội giảng, thi giáo viên giỏi, chuyên đề. Phần kiểm tra định kì chủ yếu là đánh máy câu hỏi, bài tập chứ chưa ứng dụng phần mềm tạo ngân hàng câu hỏi để xây dựng đề kiểm tra cuối kì.” Như vậy việc ứng dụng CNTT vào kiểm tra, đánh giá học sinh mới chỉ dừng lại ở đánh giá thường xuyên trong tiết học và còn có một số hạn chế, tập trung vào việc sử dụng các phần mềm để thiết kế câu hỏi, bài tập, trò chơi nhằm đánh giá kết quả học tập của học sinh.

2.2. Thực trạng quản lý hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại các trường Tiểu học quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội Luận văn: Thực trạng Quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học.

2.2.1.Thực trạng quản lý ứng dụng công nghệ thông tin vào chuẩn bị bài giảng

  • Bảng 2.4.Thực trạng quản lý việc ứng dụng công nghệ thông tin vào chuẩn bị bài giảng

Công tác quản lý việc ứng dụng CNTT vào chuẩn bị bài giảng ở trường Tiểu học được đánh giá ở mức rất tốt (ĐTB= 4,24). Điều này cho thấy Hiệu trưởng các trường tiểu học được khảo sát đã quản lý có hiệu quả hoạt động này. (Bảng 2.4)

Với số điểm trung bình ĐTB= 4,80 việc chỉ đạo cho giáo viên ứng dụng CNTT vào soạn thảo văn bản, giáo án được đánh giá ở mức rất tốt, xếp thứ bậc 1. Các nội dung quản lý như; Chỉ đạo cho giáo viên sử dụng các phần mềm trình chiếu để thiết kế giáo án: Powerpoint; violet…ĐTB= 4,41; chỉ đạo cho giáo viên khai thác tư liệu dạy học từ nguồn Internet, ĐTB= 4,38; chỉ đạo cho giáo viên sử dụng thư điện tử để cập nhật thông tin, văn bản, chia sẻ tư liệu dạy học, ĐTB= 4,36, lần lượt đứng ở vị trí thứ 2; 3; 4, và đều được đánh giá thực hiện ở mức rất tốt.

Nội dung quản lý, chỉ đạo giáo viên khai thác nguồn tài nguyên giáo dục, học liệu điện tử, thư viện điện tử qua website của Bộ GD&ĐT, của ngành GD&ĐT Hà Nội, được đánh giá ở mức tốt với ĐTB= 4,10. Để tìm hiểu kĩ hơn về thực trạng này chúng tôi tiến hành phỏng cô N.T.L, trường Tiểu học Kim Giang, cô cho biết:“Giáo viên cũng được nhà trường giới thiệu về 2 địa chỉ website nêu trên tuy nhiên chỉ có một số giáo viên trẻ, có khả năng về CNTT quan tâm, đa số giáo viên khác không quan tâm đến việc lựa chọn nguồn thông tin nên vẫn khai thác tư liệu ở nhiều trang web khác”. Như vậy cần hướng dẫn giáo viên tỉ mỉ hơn nữa về tác dụng của việc lựa chọn nguồn thông tin đã được kiểm duyệt từ hai trang website trên.

Đứng ở vị trí thứ 6 là nội dung quản lý việc giáo viên sử dụng trang “Trường học kết nối” của Bộ GD&ĐT, phục vụ việc trao đổi chuyên môn, đổi mới phương pháp dạy học. Với ĐTB=3,39, nội dung này chỉ được đánh giá thực hiện ở mức độ trung bình. Trao đổi thêm với một số giáo viên, chúng tôi được cô Tr.T.T, trường Tiểu học Thanh Xuân Nam chia sẻ: “Mỗi tuần giáo viên đều sinh hoạt chuyên môn cùng tổ, vì vậy nếu thêm việc sinh hoạt chuyên môn qua mạng một số giáo viên sẽ gặp khó khăn về thời gian. Nội dung chuyên môn của cấp Tiểu học trên trang này còn chưa nhiều nên chưa nhận được sự quan tâm của giáo viên”. Như vậy, để hoạt động này có hiệu quả còn phụ thuộc nhiều yếu tố như nhận thức của giáo viên, công tác tuyên truyền của cán bộ quản lý, nội dung thông tin trên trang website…

2.2.2. Thực trạng quản lý hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin vào tổ chức giảng dạy trên lớp Luận văn: Thực trạng Quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học.

  • Bảng 2.5. Thực trạng quản lý việc ứng dụng công nghệ thông tin vào tổ chức giảng dạy trên lớp của giáo viên

Thực trạng quản lý việc giáo viên ứng dụng CNTT vào tổ chức giảng dạy trên lớp được đánh giá ở mức tốt với ĐTB= 4,13. Như vậy, Hiệu trưởng các trường tiểu học được khảo sát đã quản lý hiệu quả việc giáo viên ứng dụng CNTT vào tổ chức giảng dạy trên lớp.

Được đánh giá cao nhất, mức rất tốt, xếp ở bậc đầu tiên với ĐTB= 4,44 là nội dung quản lý: Tổ chức, hướng dẫn cho giáo viên sử dụng giáo án điện tử được thiết kế bởi các phần mềm trình chiếu Powerpoint, violet…Nội dung tiếp theo, đứng ở bậc 2 là: Hướng dẫn, tổ chức cho giáo viên khai thác, sử dụng các thiết bị CNTT như: Máy tính, máy chiếu projecter, tivi, máy chiếu đa vật thể, bảng tương tác, máy ảnh kĩ thuật số, máy quay, điện thoại thông minh… để phục vụ dạy học các môn.Với số điểm trung bình ĐTB= 4,38, nội dung này cũng được đánh giá ở mức rất tốt. Thực trạng này chứng tỏ các nhà trường đã quan tâm đến quản lý việc khai thác các trang thiết bị dạy học phục phụ cho hoạt động ứng dụng CNTT

Nội dung: Hướng dẫn, tổ chức cho giáo viên ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy học cũng được đánh giá ở mức rất tốt với ĐTB= 4,34. Đánh giá này cho thấy nhìn chung các trường Tiểu học thuộc quận Thanh Xuân đều quan tâm tới xu thế đổi mới phương pháp dạy học mà ngành giáo dục đang hướng tới, đặc biệt là nội dung ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp. Tuy nhiên mức độ hiệu quả của hoạt động này còn khác nhau ở một số trường, phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có nhận thức của giáo viên, cán bộ quản lý và trình độ CNTT của đội ngũ.

Với điểm trung bình ĐTB= 3,36, công tác hướng dẫn, tổ chức cho giáo viên thiết kế bài giảng E-learning (Sử dụng các phần mềm như: Adope Presenter; Ispring;..) được đánh giá ở mức độ trung bình. Đây là nội dung được đánh giá ở mức thấp nhất. Tìm hiểu về vấn đề này chúng tôi được cô N.T.L.H, Hiệu trưởng trường Tiểu học Hạ Đình cho biết: “Nhà trường có tổ chức hướng dẫn cho giáo viên nội dung này, phần mềm thường là bản dùng thử nên có lỗi và không dễ cài đặt và thường phải kết hợp sử dụng với nhiều phần mềm khác vì vậy chỉ một số giáo viên có khả năng thiết kế bài giảng E-learning, tập trung vào nhóm giáo viên trẻ, kĩ năng CNTT tốt.” Như vậy, để công tác này có hiệu quả hơn còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: trình độ CNTT của cán bộ, giáo viên mỗi nhà trường, sự tâm huyết, nhiệt tình của giáo viên, sự quan tâm của cán bộ quản lý.

2.2.3. Thực trạng quản lý hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin vào kiểm tra, đánh giá học sinh

  • Bảng 2.6. Thực trạng quản lý việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động kiểm tra, đánh giá học sinh

Thực trạng quản lý việc ứng dụng CNTT vào hoạt động kiểm tra, đánh giá học sinh được đánh giá ở mức tốt với ĐTB= 4,06. Điều này cho thấy Hiệu trưởng các trường tiểu học được khảo sát đã quản lý có hiệu quả việc ứng dụng CNTT vào hoạt động kiểm tra, đánh giá học sinh (Bảng 2.6). Luận văn: Thực trạng Quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học.

Được đánh giá ở mức rất tốt, xếp thứ bậc 1 là nội dung Hiệu trưởng (Phó Hiệu trưởng, Tổ trưởng chuyên môn) đã hướng dẫn, tổ chức cho giáo viên sử dụng phần mềm Esams để cập nhật kết quả nhận xét, đánh giá quá trình học tập và rèn luyện của học sinh với ĐTB= 4,44.

Cũng được đánh giá ở mức rất tốt với ĐTB= 4,38 là nội dung Hiệu trưởng (Phó Hiệu trưởng, Tổ trưởng chuyên môn) đã hướng dẫn, tổ chức cho giáo viên cập nhật dữ liệu đánh giá kết quả học tập của học sinh theo giai đoạn cuối kì, cuối năm lên phần mềm EQMS. Cô giáo T.T.T.H trường Tiểu học Khương Mai cho biết: “Nhà trường đã có những buổi tập huấn cho giáo viên về cách sử dụng phần mềm Esams, sau vài năm thực hiện, giáo viên đã quen dần và cảm thấy thuận tiện hơn so với sổ giấy ghi chép trước đây. Việc nhập dữ liệu lên EQMS cũng được trường hướng dẫn theo các bước cụ thể, tận dụng thông tin từ Esams để giảm thiểu việc nhập từng trường hợp học sinh.”

Xếp thứ 3 với ĐTB = 3,38, được đánh giá ở mức trung bình là nội dung Hiệu trưởng (Phó Hiệu trưởng, Tổ trưởng chuyên môn) đã hướng dẫn, tổ chức cho giáo viên sử dụng các phần mềm để thiết kế câu hỏi, bài tập, trò chơi nhằm đánh giá kết quả học tập của học sinh. Cô giáo V.T.H, Phó Hiệu trưởng trường Tiểu học Khương Mai chia sẻ: “Nhà trường đã tổ chức tập huấn, hướng dẫn giáo viên sử dụng các phần mềm trình chiếu cơ bản để thiết kết câu hỏi, bài tập, trò chơi phục vụ kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học, tuy nhiên trên thực tế, một số giáo viên chưa ứng dung thường xuyên nội dung này, chủ yếu tập trung nhiều ở các tiết hội giảng, chuyên đề, dự giờ nên hiệu quả chưa cao.”

2.3.  Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại các trường Tiểu học quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội

2.3.1. Ảnh hưởng của các yếu tố khách quan đến quản lý hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

  • Bảng 2.7. Ảnh hưởng của các yếu tố khách quan

Các điều kiện về cơ sở vật chất của nhà trường ảnh có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc quản lý hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học (ĐTB=4,57). Khi nhà trường có đầy đủ các điều kiện về cơ sở vật chất như: Máy tính, máy chiếu projector, máy chiếu đa vật thể, ti-vi, đường truyền Internet, bảng tương tác, máy ảnh, máy quay phim… thì việc ứng dụng CNTT của giáo viên sẽ thuận lợi, hiệu quả từ đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động ứng dụng CNTT trong nhà trường đặc biệt ở khâu tổ chức thực hiện các kế hoạch quản lý. Ngược lại, khi nhà trường không đảm bảo đầy đủ các điều kiện về cơ sở vật chất nêu trên thì việc ứng dụng CNTT của giáo viên sẽ gặp khó khăn, chất lượng, hiệu quả thấp. Do vậy, dù cán bộ quản lý có nhận thức đúng về tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong nhà trường, đề ra được kế hoạch ứng dụng CNTT song việc tổ chức thực hiện sẽ gặp khó khăn do ảnh hưởng từ các điều kiện khách quan.

Bên cạnh đó, các văn bản quy định về việc ứng dụng CNTT trong nhà trường cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới việc quản lý hoạt động ứng dụng CNTT (ĐTB=4,39), ở mức cao.

Yếu tố được đánh giá ảnh hưởng nhiều nhất là Các văn bản pháp quy quy định nội dung ứng dụng CNTT vào kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh (ĐTB= 4,44). Kết quả này phù hợp với thực tế vì trong những năm học gần đây, bậc Tiểu học đang có những đổi mới mạnh mẽ về kiểm tra đánh giá học sinh với sự ra đời của các Thông tư: TT30/2021-BGD&ĐT [03] và TT22/2023-BGD&ĐT. [04] Luận văn: Thực trạng Quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học.

Đứng thứ 2 là yếu tố Các văn bản pháp quy quy định nội dung ứng dụng CNTT vào tổ chức giảng dạy trên lớp. (ĐTB=4,4). Cùng đứng ở vị trí thứ 3 (ĐTB=4,37) là hai yếu tố Các văn bản pháp quy quy định mục tiêu ứng dụng CNTT trong dạy học Các văn bản pháp quy quy định nội dung ứng dụng CNTT vào chuẩn bị bài giảng. Hàng năm, Sở GD&ĐT Hà Nội, phòng GD&ĐT quận Thanh Xuân đều có kế hoạch quy định rõ mục tiêu, nội dung ứng dụng CNTT trong trường Tiểu học. Căn cứ vào đó, mỗi trường tự xây dựng kế hoạch phù hợp thực tế.

2.3.2. Ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan đến quản lý hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

  • Bảng 2.8. Ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan

Các yếu tố chủ quan gồm năng lực quản lý và kinh nghiệm quản lý của Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, Tổ trưởng chuyên môn có ảnh hưởng nhiều đến việc quản lý hoạt động ứng dụng CNTT trong nhà trường (Bảng 2.8).

Với ĐTB= 4,51, yếu tố về năng lực quản lý của Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, Tổ trưởng chuyên môn có ảnh hưởng rất lớn đến việc quản lý hoạt động ứng dụng CNTT. 59,2% ý kiến cho rằng Khi Hiệu trưởng (Phó Hiệu trưởng; Tổ trưởng chuyên môn) có năng lực quản lý tốt thì việc triển khai ứng dụng CNTT trong dạy học cho giáo viên sẽ thuận lợi, đạt hiệu quả cao.

Bên cạnh đó, yếu tố về kinh nghiệm quản lý cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới việc quản lý hoạt động ứng dụng CNTT trong nhà trường (ĐTB=4,4). Có 58,3% ý kiến đồng tình rằng: Khi Hiệu trưởng (Phó Hiệu trưởng; Tổ trưởng chuyên môn) có nhiều kinh nghiệm trong việc quản lý hoạt động ứng dụng CNTT thì việc triển khai ứng dụng CNTT trong dạy học của giáo viên sẽ thuận lợi, đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên yếu tố về kinh nghiệm quản lý vẫn được xếp sau so với yếu tố về năng lực quản lý. Thực tế cho thấy nhiều trường Tiểu học ở quận Thanh Xuân có đội ngũ cán bộ quản lý trẻ tuy kinh nghiệm quản lý chưa nhiều song vẫn tạo được phong trào ứng dụng CNTT mạnh mẽ nhờ có năng lực quản lý tốt và nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của CNTT.

Như vậy, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường Tiểu học quận Thanh Xuân, Hà Nội, từ các yếu tố chủ quan như năng lực, kinh nghiệm của chủ thể quản lý, đến các yếu tố khách quan là cơ sở vật chất hay các văn bản pháp quy quy định các nội dung ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường Tiểu học. Muốn nâng cao chất lượng quản lý hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường Tiểu học quận Thanh Xuân, Hà Nội cần có những biện pháp khắc phục mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này.

2.4. Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học của các trường Tiểu học quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội Luận văn: Thực trạng Quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học.

2.4.1. Điểm mạnh và nguyên nhân

Quản lý hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học được các trường Tiểu học quận Thanh Xuân thực hiện khá đồng bộ, tác động vào các khâu của quá trình dạy học và đã đạt được những hiệu quả nhất định. Cán bộ quản lý các nhà trường có nhiều nỗ lực, cố gắng quản lý hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học, phần lớn đội ngũ giáo viên có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của ứng dụng CNTT, xem đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần nâng cao chất lượng dạy học trước những yêu cầu của đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Kết quả khảo sát cho thấy: việc quản lý ứng dụng CNTT vào chuẩn bị bài giảng trong dạy học được đánh giá chung ở mức cao, đặc biệt là công tác chỉ đạo giáo viên ứng dụng CNTT vào soạn thảo văn bản, giáo án; sử dụng các phần mềm trình chiếu để thiết kế giáo án; khai thác các tư liệu từ nguồn Internet và sử dụng thư điện tử để cập nhật thông tin, văn bản, chia sẻ tư liệu dạy học. Việc quản lý ứng dụng CNTT trong tổ chức giảng dạy trên lớp cũng thể hiện rõ ưu điểm ở các nội dung cụ thể như: Tổ chức, hướng dẫn giáo viên sử dụng giáo án điện tử được thiết kế từ các phần mềm trình chiếu; khai thác, sử dụng các thiết bị CNTT để phục vụ dạy học các môn; ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy học. Trong khâu kiểm tra, đánh giá học sinh, việc sử dụng phần mềm Esams để cập nhật kết quả nhận xét, đánh giá quá trình học tập và rèn luyện của học sinh cũng được đánh giá cao.

  • Qua thực tế kết quả đạt được, có thể rút ra những nguyên nhân sau đây:

Uỷ ban nhân dân quận Thanh Xuân đã chú trọng đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động ứng dụng CNTT cho các trường Tiểu học trên địa bàn. Luận văn: Thực trạng Quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học.

Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Thanh Xuân đã quan tâm chỉ đạo, tăng cường công tác quản lý, kiểm tra hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học tại các trường Tiểu học trên địa bàn quận.

Bản thân các nhà trường đã có nhiều biện pháp tích cực nhằm nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, giáo viên về ứng dụng CNTT trong dạy học, không ngừng bồi dưỡng kĩ năng CNTT cho cán bộ, giáo viên, đề xuất được các biện pháp cụ thể cho việc quản lý hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế của từng trường, tác động đến các khâu của quá trình dạy học.

Các trường Tiểu học quận Thanh Xuân, Hà Nội có đội ngũ cán bộ quản lý nhiệt tình, trách nhiệm, có uy tín đối với giáo viên, luôn có tinh thần học tập, bồi dưỡng về năng lực quản lý, tích lũy và chia sẻ kinh nghiệm nhằm quản lý việc ứng dụng CNTT trong dạy học một cách hiệu quả.

2.4.2. Điểm yếu và nguyên nhân

Bên cạnh những điểm mạnh nêu trên, căn cứ vào thực tế khảo sát cho thấy các trường Tiểu học trên địa bàn quận Thanh Xuân đã có những biện pháp quản lý hoạt động ứng dụng CNTT tác động tới quá trình dạy học nhưng ở từng khâu của quá trình dạy học vẫn bộc lộ một số hạn chế ở từng nội dung cụ thể như:

Ở khâu ứng dụng CNTT vào chuẩn bị bài giảng, việc tổ chức, hướng dẫn giáo viên khai thác nguồn tài nguyên giáo dục, học liệu điện tử, thư viện điện tử qua website của Bộ GD&ĐT tại địa chỉ http://edu; của ngành giáo dục Hà Nội tại địa chỉ http://e-learning.hanoi còn chưa hiệu quả. Luận văn: Thực trạng Quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học.

Bên cạnh việc sinh hoạt chuyên môn định kì theo quy định, công tác chỉ đạo, hướng dẫn giáo viên sử dụng trang “Trường học kết nối” của Bộ GD&ĐT để trao đổi chuyên môn, đổi mới phương pháp dạy học còn chưa thường xuyên, triệt để.

Trong quá trình giảng dạy trên lớp, việc tổ chức cho giáo viên sử dụng các phần mềm dạy học theo môn học mới chỉ đạt ở mức độ trung bình, chủ yếu dừng lại ở các tiết hội giảng, chuyên đề, dự giờ và tập trung nhiều ở hai môn Toán và Tiếng Việt. Một số giáo viên còn ngại sử dụng phần mềm dạy học theo môn do thói quen, kĩ năng CNTT chưa thật thành thạo hoặc sử dụng một cách máy móc, chưa linh hoạt cho phù hợp với đối tượng học sinh và thời lượng của tiết dạy. Số lượng phần mềm được các nhà trường đầu tư, trang bị chưa thật phong phú.

Thiết kế bài giảng E-learning được coi là một trong những yêu cầu, nhiệm vụ của giáo viên Tiểu học, thể hiện việc ứng dụng CNTT trong dạy học Tuy nhiên đây vẫn là một nhiệm vụ khó đối với đa số giáo viên Tiểu học trên địa bàn quận. Các nhà trường đã tổ chức, hướng dẫn giáo viên thiết kế bài giảng E-learning bằng các phần mềm như: Adope Presenter, Ispring…nhưng kết quả chưa được như mong muốn, nhiều giáo viên còn gặp khó khăn khi sử dụng các phần mềm này.

Ở hoạt động kiểm tra, đánh giá học sinh, công tác chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức cho giáo viên sử dụng các phần mềm để thiết kế câu hỏi, bài tập, trò chơi nhằm đánh giá kết quả của học sinh mới chỉ đạt ở mức độ trung bình, triển khai thực hiện chưa thường xuyên và hiệu quả chưa cao.

  • Từ thực tế hạn chế nêu trên, có thể rút ra những nguyên nhân chủ yếu sau:

Một số nhà trường chưa thật sự chú trọng tới việc nâng cao năng lực khai thác thông tin từ nguồn tài nguyên giáo dục, học liệu điện tử, thư viện điện tử qua các website của ngành giáo dục cho giáo viên, giáo viên chưa ý thức nhiều về tầm quan trọng của việc lựa chọn thông tin từ các trang website được kiểm duyệt trong quá trình xây dựng, chuẩn bị bài giảng.

Việc hướng dẫn giáo viên sử dụng trang “Trường học kết nối” của Bộ GD&ĐT ở một số trường chưa cụ thể, chưa sát sao tổ chức cho giáo viên khai thác, trao đổi thông tin về chuyên môn, đổi mới nội dung phương pháp dạy học ở địa chỉ này để giáo viên thấy rõ ưu điểm và từ đó chủ động tham gia sinh hoạt chuyên môn qua trang website này.

Kĩ năng CNTT của một bộ phận giáo viên chưa tốt, thói quen sử dụng phương pháp cũ dẫn tới việc ngại sử dụng, khai thác các phần mềm dạy học theo môn học. Số lượng các phần mềm dạy học theo môn được đầu tư ở mỗi nhà trường chưa phong phú, việc lựa chọn được các phần mềm dạy học có chất lượng để trang bị cho trường cũng không phải là công việc dễ dàng. Công tác tổ chức tập huấn giáo viên khai thác hiệu quả phần mềm dạy học theo môn chưa thường xuyên, liên tục.

Các phần mềm thiết kế bài giảng E-learning chủ yếu là các bản dùng thử nên giáo viên thường gặp lỗi khi thiết kế bài giảng. Để có được bài giảng E-learning chất lượng, hình thức cuốn hút cần sử dụng kết hợp với nhiều phần mềm khác hỗ trợ vì vậy còn phụ thuộc rất nhiều vào trình độ CNTT, cơ sở vật chất, thời gian và tâm huyết của giáo viên.

Một số cán bộ quản lý chưa quan tâm nhiều tới việc chỉ đạo, tổ chức, hướng dẫn giáo viên ứng dụng CNTT sử dụng các phần mềm để kiểm tra, đánh giá học sinh trong quá trình dạy học. Việc ứng dụng CNTT chủ yếu được đánh giá ở hoạt động dạy kiến thức mới và thực hành luyện tập. Luận văn: Thực trạng Quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học.

Ngoài ra còn có một số yếu tố khác ảnh hưởng tới những hạn chế nêu trên như: Năng lực, kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ quản lý, điều kiện về cơ sở vật chất của mỗi nhà trường, trình độ và nhận thức, tâm huyết của đội ngũ cán bộ, giáo viên về nhiệm vụ ứng dụng CNTT trong dạy học.

Tiểu kết chương 2

Kết quả khảo sát đánh giá thực trạng thực trạng ứng dụng CNTT và quản lý hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường Tiểu học quận Thanh Xuân được phân tích trên các nội dung cụ thể:

Gắn với cách tiếp cận quá trình, thực trạng ứng dụng CNTT và quản lý hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường Tiểu học được tìm hiểu ở các khâu: Chuẩn bị bài giảng; tổ chức giảng dạy trên lớp; kiểm tra, đánh giá học sinh. Ở mỗi khâu đã đánh giá và chỉ rõ mức độ mà từng nội dung cụ thể đạt được. Luận văn đã đánh giá được những mặt tích cực của việc ứng dụng CNTT và quản lý hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học, góp phần nâng cao chất lượng dạy học của các nhà trường và nguyên nhân của ưu điểm đó. Tuy nhiên, công tác quản lý hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học còn bộc lộ một số hạn chế ở các khâu: Tổ chức, hướng dẫn giáo viên khai thác nguồn tài nguyên giáo dục, học liệu điện tử, thư viện điện tử từ các trang website của Bộ GD&ĐT, ngành GD&ĐT Hà Nội; Hướng dẫn giáo viên sử dụng trang “Trường học kết nối” của Bộ GD&ĐT để phục vụ trao đổi chuyên môn, đổi mới nội dung, phương pháp dạy học; Tổ chức cho giáo viên thiết kế bài giảng E-learning; Ứng dụng CNTT trong việc sử dụng các phần mềm dạy học theo môn học và sử dụng phần mềm trong việc kiểm tra, đánh giá học sinh. Tác giả cũng xác định được những nguyên nhân của hạn chế trên. Những kết quả trên là cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học tại các trường Tiểu học quận Thanh Xuân ở chương 3. Luận văn: Thực trạng Quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp Quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993