Luận văn: Thực trạng thị trường tiêu thụ sơn của Công ty Sơn

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng thị trường tiêu thụ sơn của Công ty Sơn hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng thị trường tiêu thụ sơn của Công ty cổ phần sơn Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Giới thiệu chung về Công ty cổ phần sơn Hải Phòng

2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển Công ty cổ phần sơn Hải Phòng

  • Tên Công ty: Công ty cổ phần sơn Hải Phòng
  • Tên tiếng Anh: HAIPHONG PAINT JOIN STOCK COMPANY
  • Tên viết tắt: HPP
  • Vốn điều lệ: 80.071.770.000 đồng (Tám mươi tỷ không trăm bẩy mươi mốt triệu bẩy trăm bẩy mươi nghìn đồng)
  • Điện thoại:(84-225) 3 835 710
  • Fax: (84-225) 3 571 053
  • Địa điểm sản xuất: Số 21 Đường 208, Xã An Đồng, Huyện An Dương, Thành phố Hải Phòng.
  • Giấy CNĐKKD: Số 0200575580 Sở Kế hoạch đầu tư Hải Phòng cấp ngày 02/01/2004. Thay đổi lần thứ 7 ngày 09/6/2021
  • Logo của Công ty:
  • Ngành nghề kinh doanh của Công ty: Sản xuất và kinh doanh sơn các loại
  • Kinh doanh vật tư, thiết bị, hoá chất thông thường

Tiền thân của Công ty là Xí nghiệp hoá chất sơn dầu được thành lập ngày 25/01/1960 do Uỷ ban hành chính thành phố Hải Phòng quyết định theo hình thức Công tư hợp doanh bao gồm: các nhà tư sản và Hãng sơn Phú Hà và tiểu chủ gom tài sản, thiết bị.

  • Giai đoạn từ 1960 đến 1975

Thực hiện chủ trương của Uỷ ban thành phố Hải Phòng, Xí nghiệp đã tổ chức phân tán máy móc, di chuyển địa điểm sản xuất sang xã Mỹ Cụ thuộc huyện Thuỷ Nguyên – Hải Phòng để duy trì sản xuất và sẵn sàng chiến đấu. Với khẩu hiệu “Tất cả vì tiền tuyến”, CBCNV đã phát huy tinh thần tự lực, tự cường đoàn kết tổ chức sản xuất ngay tại nơi sơ tán. Các sản phẩm của Công ty đã phục vụ cho chiến đấu: sơn cho tàu thuyền, xà lan, các cầu phao, phà ghép và phục vụ đời sống dân sinh.

  • Giai đoạn 1976 đến 1989 Luận văn: Thực trạng thị trường tiêu thụ sơn của Công ty Sơn.

Công ty được tiếp nhận một số thiết bị máy móc viện trợ từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em để tăng cường năng lực sản xuất như: Máy nghiền 3 trục của Ba Lan và một số thiết bị khác. Đồng thời lực lượng lao động cũng được bổ sung tăng cường cho Công ty. Thực hiện chủ trương và chỉ đạo của Thành phố về phát triển công nghiệp, ưu tiên các sản phẩm phục vụ cho tiềm năng thế mạnh của Thành phố công nghiệp có cảng biển và là đầu mối giao thông quan trọng của phía Bắc, Công ty được Thành phố giao cho nghiên cứu các loại sơn phục vụ cho tàu biển và công trình biển. Trong thời gian này Công ty đã nghiên cứu thành công sản phẩm sơn chống hà cho tàu thuyền gốc bitum, 12 tháng thời hạn sử dụng. Năm 1989 Xí nghiệp sơn dầu đổi tên thành Nhà máy sơn Hải Phòng

  • Giai đoạn từ 1990 đến 2003

Tiếp tục xác định sản phẩm mũi nhọn là sơn công trình biển, tàu biển, Công ty đã kết hợp với Viện giao thông nghiên cứu sản xuất sơn tàu biển có độ bền từ 18 đến 24 tháng vào năm 1990, gốc cao su clo hoá.

Năm 1992 thương hiệu sản phẩm “Cá Voi” bắt đầu được Công ty xây dựng. Năm 1993 UBND thành phố Hải Phòng quyết định số 1938/QĐ-TCCQ đổi tên định Nhà máy sơn Hải Phòng thành Công ty sơn Hải Phòng.

Năm 1996 chuyển giao công nghệ hãng Chugoku Marine Paint. Đặc biệt đã có sản phẩm sơn tàu biển có độ bền từ 3 đến 5 năm và các sản phẩm sơn phục vụ các công trình biển và công nghiệp như các nhà máy điện, xi măng, cầu thép…

Ngày 11/12/2002 tiến hành cổ phần hoá. Ngày 26/12/2003 chuyển thành Công ty cổ phần sơn Hải Phòng theo quyết định số 3419/QĐ-UB của UBND.

  • Giai đoạn 2004 đến nay

Đời sống của CBCNV ổn định với thu nhập bình quân năm 2025 của Công ty cổ phần sơn Hải Phòng là: 14.742.000 đồng/người/tháng. Duy trì tốt hệ thống quản lý chất lượng được BVQI của Vương quốc Anh cấp chứng chỉ Hệ thống quản lý chất lượng.

“Hơn 50 năm hình thành và phát triển, Công ty đã đạt được nhiều thành tích đáng khen ngợi, được đánh giá là một trong những doanh nghiệp sản xuất sơn hàng đầu trong nước cũng như khu vực. Ghi nhận những đóng góp của Công ty vào công cuộc đổi mới và phát triển đất nước, được trao tặng nhiều phần thưởng như: Giải thưởng chất lượng Việt nam, cúp vàng chất lượng Việt Nam; Hàng Việt Nam chất lượng cao… Tháng 6/2024, Công ty nhận giải thưởng Ngôi sao quản lý chất lượng Quốc tế cho các nhà lãnh đạo tại Paris – Pháp và được UBND thành phố Hải phòng tặng Cờ thi đua xuất sắc về Phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc năm 2024.

Năm 2025, Công ty tiếp tục giữ vững vị trí trong Top 500 doanh nghiệp lớn Việt Nam và nhận chứng chỉ của Vietnam Report”.

2.1.2. Cơ cấu tổ chức Công ty cổ phần sơn Hải Phòng Luận văn: Thực trạng thị trường tiêu thụ sơn của Công ty Sơn.

Mô hình bộ máy quản lý hiện nay của Công ty được tổ chức phù hợp với đặc điểm quản lý, hạch toán sản xuất kinh doanh mặt hàng sơn nhằm khai thác có hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn nhân lực hiện có.

Bộ máy quản lý của Công ty được xây dựng theo nguyên tắc quan hệ trực tuyến từ Giám đốc Công ty đến các phòng ban phân xưởng, cửa hàng.

Các phòng ban nghiệp vụ có chức năng tham mưu và giúp việc cho Giám đốc hoặc Phó giám đốc, trực tiếp phụ trách về những vấn đề thuộc chuyên môn nghiệp vụ được giao.Các phân xưởng bố trí thực hiện nhiệm vụ sản xuất từ Công ty đưa xuống đảm bảo sản lượng được giao.

Các đại lý, cửa hàng thực hiện kế hoạch bán hàng, thông tin kịp thời về những sự phản ánh của khách hàng về sản phẩm giao bán, nắm bắt nhu cầu khách hàng, thông tin lại cho lãnh đạo để có hướng điều chỉnh sản xuất.

2.1.3. Các dòng sản phẩm chính của Công ty cổ phần sơn Hải Phòng

  • Sơn tàu biển, công trình biển

Phục vụ các chủng loại sản phẩm sơn chống hà, hầm hàng, đường ống, sơn chịu sóng, sơn cho các phần kết cấu thượng tầng…

Có thể nói việc chống ăn mòn cho kim loại là việc được hết sức quan tâm. Trên thế giới đã phát triển nhiều phương thức chống ăn mòn trong môi trường nước biển nhưng phương pháp sử dụng sơn phủ chống ăn mòn là phương pháp được sử dụng nhiều nhất hiện nay. Công ty với một bề dày kinh nghiệm và được chuyển giao công nghệ sản phẩm đáp ứng được yêu cầu trong lĩnh vực công trình biển.

  • Sơn công nghiệp, dân dụng

Sản phẩm của Công ty được sản xuất theo công nghệ tiên tiến của hãng CMP – Nhật bản đã phục vụ các công trình như:

  • Sơn nhà máy: thủy điện, nhà máy xi măng, nhiệt điện, nhà máy hóa chất …
  • Sơn kho khí hóa lỏng, kho xăng dầu…
  • Sơn toa xe, cầu đường sắt, dầm cầu thép…
  • Sơn giao thông phản quang

Sơn giao thông phản quang là loại sơn chuyên dụng phục vụ cho các công trình giao thông như vạch kẻ đường, biển báo hiệu giao thông… Hiện tại, mặt hàng sơn phản quang của Công ty đang được sản xuất trên dây truyền hiện đại của hãng DPI – Malaysia. Sản phẩm này Công ty đã được cung cấp rộng rãi, phục vụ nhiều công trình trọng điểm của quốc gia.

  • Sơn cho xây dựng Luận văn: Thực trạng thị trường tiêu thụ sơn của Công ty Sơn.

Sơn cho xây dựng chủ yếu là loại sơn dùng trong trang trí, sơn nhũ nước phụ gia đặc biệt và nhựa Acrylic dùng để cho kiến trúc, nội thất cũng như ngoài trời.

Hiện tại Công ty đang có những sản phẩm sơn sau:

Biểu đồ 2.1: Tỷ trọng sản lượng sơn theo công dụng

Qua biểu đồ 2.1 ta thấy Công ty đang tập trung chủ yếu vào mặt hàng sơn tàu biển – công trình biển (50%). Tiếp đến là sơn công nghiệp (30%), sơn trang trí (16%) và sơn khác (4%).

Biểu đồ 2.2: Tỷ trọng sản lượng theo gốc sơn

Nếu xét theo gốc sơn (biểu đồ 2.2) ta thấy có 2 loại sơn được Công ty chú trọng là sơn Epoxy và sơn Alkyd, cùng có tỷ trọng sản lượng tiêu thụ là 30%. Ngoài ra, chiếm lớn thứ hai trong sản lượng sản xuất và tiêu thụ của Công ty là sơn Acrylic, cao su clo hóa (20%). Tỷ trọng nhỏ nhất là sơn bột tĩnh điện (7%).

Việc phân tích kết cấu sản phẩm sơn bán ra của Công ty cho thấy ảnh hưởng của từng loại sơn đối với doanh thu. Như vậy, xác định sơn tàu biển – công trình biển là mặt hàng kinh doanh trọng điểm cần tập trung đầu tư vào nâng cao chất lượng, kiểm soát chặt chẽ sản xuất của sản phẩm này. Hiện thị phần sơn tàu biển, công trình biển chiếm 70%. Sơn giao thông nhiệt dẻo phản quang (sử dụng trong lĩnh vực giao thông) chiếm trên 70 %, thay thế nhập khẩu, đồng thời xuất sang Myanmar, Lào…

Dựa trên kết quả này, Công ty đưa ra những quyết định chiến lược trong hoạt động kinh doanh và phát triển thị trường.

2.1.4. Công nghệ sản xuất sản phẩm của Công ty cổ phần sơn Hải Phòng Luận văn: Thực trạng thị trường tiêu thụ sơn của Công ty Sơn.

Sơn là một loại vật liệu dùng để trang trí và bảo vệ bề mặt, khi khô sơn sẽ liên kết bám dính tạo một lớp màng rắn trên bề mặt được sơn. Nguyên liệu dùng để chế tạo sơn bao gồm nhiều thành phần hóa chất khác nhau nhưng các thành phần chính dùng sản xuất sơn là:

“Bột màu: các hợp chất hóa học (như oxit, muối…) là thành phần chính và nguồn gốc của chúng có thể từ các chất hữu cơ hoặc chất vô cơ. Theo những yêu cầu bột màu có tác dụng tạo màu cho sơn mà khách hàng cần. Bột màu ngoài tác dụng tạo màu thì còn có thể có một số tính năng khác như thụ động hóa, khả năng chống gỉ…

Bột phụ trợ: có tác dụng tạo cho màng sơn có những tính chất đặc biệt như khả năng chống thấm, độ cứng, độ đàn hồi… Đặc điểm của bột phụ trợ là khả năng tạo độ phủ rất kém hoặc không tạo độ phủ. Ngoài ra bột phụ trợ còn được dùng để giảm giá thành sản phẩm.

Chất tạo màng: là thành phần chính trong sơn, nó có tác dụng liên kết các thành phần chính trong sơn qua đó tạo độ bám dính của màng sơn lên bề mặt vật liệu. Ngoài ra chất tạo màng giúp tạo nên những đặc tính của màng sơn như hóa học, cơ lý, khả năng chống gỉ, chịu thời tiết, chịu nhiệt… Chất tạo màng chủ yếu được chế tạo từ nhựa thiên nhiên (dầu đỗ tương, dầu lanh…) hoặc từ nhựa tổng hợp (nhựa epoxy, PU, Alkyd…). Chất tạo màng có nhiều loại khác nhau như loại nhiệt dẻo (khô vật lý) và loại nhiệt rắn (khô hóa học).

Dung môi: trong sản xuất sơn có rất nhiều ứng dụng quan trọng, nó có một số đặc điểm như là nhiệt độ sôi từ 60 đến 200 độ C, chất lỏng hữu cơ dễ bay hơi, có khả năng hòa tan, rất dễ cháy nổ, điều chỉnh độ nhớt của sơn. Dung môi có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau và nếu phân loại theo đặc điểm thì ta có cách loại dung môi như loại Hydrocabon, loại ete (PGMO), loại rượu (chứa nhóm –OH), loại este (chứa gốc axetat), loại tạp chức.

Một số chất phụ gia: trong thành phần của sơn tuy là những vi chất nhưng nó lại giúp sơn có thể cải thiện những tính năng hóa lý của sơn như nâng cao tính năng của màng sơn, tạo ra những tính chất đặc biệt của sơn (tạo vân, chống UV, làm mờ…)” [12].

Năm 1998, Công ty đã đầu tư dây chuyền sản xuất sơn tàu biển và nhận chuyển giao công nghệ của hãng Chugoku Marine Paints, Nhật bản (CMP) – đây là một trong 06 hãng sơn hàng đầu thế giới về sản xuất sơn tàu biển.

Quy trình sản xuất sơn ở Công ty được chia làm 4 phân đoạn chính: Muối, nghiền, pha, đóng. Tại phân đoạn muối, chất tạo màng, bột màu và bột phụ trợ, một phần phụ gia và dung môi được cho vào bể khuấy theo định mức kỹ thuật có sẵn. Tại phân đoạn này hỗn hợp được khuấy trộn đến khi đồng nhất thì chuyển sang giai đoạn nghiền, nghiền tới độ mịn yêu cầu thì được chuyển sang bể pha. Bổ sung chất tạo màng, phụ gia, dung môi theo định mức.

Hình 2.2: Quy trình sản xuất sơn của Công ty cổ phần sơn Hải Phòng

Ở giai đoạn cuối màu sắc của sản phẩm được chỉnh bằng các loại Past màu phù hợp và kiểm tra các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm. Sau đó sản phẩm được chuyển sang giai đoạn đóng vào các thùng hoặc hộp theo yêu cầu bán hàng. Trước đó người ta phải lọc sản phẩm qua một lưới sàng mịn phù hợp để loại bỏ những dị vật có trong sản phẩm.

Sau hơn 50 năm thành lập và phát triển, Công ty đã khẳng định được là một doanh nghiệp có thế mạnh, tiềm lực về khoa học và công nghệ hiện đại tại Việt Nam về lĩnh vực sản xuất sơn và có những bước đi tương đối vững chắc, quy mô và thị trường được mở rộng. Công tác sản xuất của Công ty đã có nhiều chuyển biến, như chú trọng nhiều hơn để việc đầu tư áp dụng công nghệ mới trong nước cũng như ngoài nước phù hợp với điều kiện thực tế nâng cao chất lượng, cải thiện điều kiện làm việc và hạn chế ô nhiễm.

2.2. Thực trạng phát triển thị trường tiêu thụ sơn của Công ty cổ phần sơn Hải Phòng Luận văn: Thực trạng thị trường tiêu thụ sơn của Công ty Sơn.

2.2.1. Đặc trưng thị trường kinh doanh sơn

Hiện nay giao thông đường thủy chiếm vị trí rất quan trọng trong ngành giao thông vận chuyển hàng hóa của Việt Nam. Các loại sản phẩm sơn có tác dụng bảo vệ các phương tiện khỏi sự ăn mòn xâm thực của muối biển, tác động khắc nghiệt của khí hậu vùng biển và ven biển. Nhằm khuyến khích các ngư dân bám biển ra ngoài khơi xa, các chủ xưởng đóng tàu đã tìm ra những thương hiệu sơn nổi tiếng và tàu biển phổ biến nhất đang có bán trên thị trường trong nước để từ đó tìm ra dòng sản phẩm sơn tàu biển chuyên biệt cho từng bộ phận trên tàu như: sơn chống rỉ gốc cao su clo hóa, sơn phủ cao su clo hóa, sơn biến tính, chuyên dụng cho sơn trên tàu thủy, sơn tàu biển, sơn xà lan với công nghệ tốt nhất bảo vệ các con tàu đồng thời làm sạch hơn cho môi trường nước biển. Có thể nói rằng, các sản phẩm sơn đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là đối với lĩnh vực công nghiệp và vận tải hàng hải. Nhu cầu sử dụng sơn ngày càng tăng cao tạo tiền đề cho sự gia nhập của các sản phẩm sơn ngoại nhập khẩu, tạo lên sự cạnh tranh gay gắt. Thị trường sơn như một bức tranh đa sắc với cơ hội thách thức cho cả doanh nghiệp trong nước lẫn nước ngoài.

Ngày càng có nhiều loại sơn trên thị trường sơn, sơn không chỉ do doanh nghiệp của Việt Nam mà còn có bằng nhiều con đường khác nhau được nhập khẩu vào Việt Nam một lượng lớn tham gia trên thị trường một sự cạnh tranh quyết liệt gay gắt tạo nên. Diễn biến phức tạp của thời tiết nước ta luôn kéo dài mưa bão ở nhiều vùng, việc tiêu thụ bị ảnh hưởng không nhỏ, ảnh hưởng tới cả hoạt động bảo quản, phân phối sản phẩm.

Đối với Công ty, chia đối thủ cạnh tranh thành hai loại: các nhà sản xuất sơn trong nước và Sơn nhập ngoại (chủ yếu là Thái Lan, Anh Quốc, Mỹ). Cụ thể các hãng nước ngoài có các đại lý sơn như jotun của Nauy, Inter paint của Anh và Watson của Úc giá rất cao tuy chất lượng cao. Cần nghiên cứu tìm hiểu khía cạnh này để tăng sức cạnh tranh thông qua biện pháp làm giá hợp lý. Ngoài ra còn có hai cơ sở liên doanh với nước ngoài là sơn Á Đông với Kansai và Sơn Đông Nai với Inter paint. Các hãng sơn trong nước gồm có: xí nghiệp hoá chất sơn Hà Nội, Sơn tổng hợp Hà Nội, sơn Á Đông, sơn Bạch Tuyết, sơn Đồng Nai. Chỉ cung cấp cho thị trường của hai doanh nghiệp sơn Hà Nội là sơn công nghiệp và dân dụng, chưa có mặt hàng sơn tàu biển. Bên cạnh đó tham gia vào thị trường còn có một số hãng khác như Expo, Nippon, Liskycon, Hải Quân… Nhìn chung, các doanh nghiệp trong nước có sản phẩm sơn chủ yếu là sơn công nghiệp và dân dụng, chỉ có một số hãng như Jotun, Inter paint là sản xuất chất lượng cao sơn tàu biển nhưng giá lại cao hơn từ 10% đến 20% so với sơn tàu biển Chugoku của Công ty. Mặt hàng này là thế mạnh của Công ty. Luận văn: Thực trạng thị trường tiêu thụ sơn của Công ty Sơn.

Xét về quy mô, Công ty có công suất lớn là một trong những doanh nghiệp sản xuất công nghệ tiên tiến lĩnh vực sản xuất đi đầu trong sơn dân dụng nói chung và sơn công trình biển, tàu biển nói riêng. Công ty có nhân viên trình độ khoa học kỹ thuật vững vàng tương đối đồng đều, có khả năng sáng tạo trong tiếp thị, dịch vụ marketing, kỹ thuật. Học hỏi các hãng sơn lớn ngoài nước và trong nước thông qua các kinh nghiệm, Công ty tuyển chọn đội ngũ có trình độ kỹ sư trẻ, đưa đi nghiên cứu đào tạo học tập ở về dịch vụ, nghiệp vụ. Giúp cho Công ty nguồn lực sức mạnh phát triển hoạt động và có đủ khả năng duy trì. Ngoài ra nhờ có đội ngũ công nhân hiện tại của Công ty với công nghệ tay nghề giỏi, được rèn luyện, học tập thường xuyên tới nay đã đạt được sự ổn định về kinh nghiệm và kỹ năng nên chất lượng sản phẩm tăng lên.

Nằm ngay trên địa bàn thành phố Cảng biển trung tâm công nghiệp lớn, Công ty hàng năm lượt tàu trong nước có nhiều và có cả nước ngoài ra vào cảng và lưu lại để bảo dưỡng và sửa chữa. Mặt khác, ở thềm lục địa ngành công nghiệp dầu khí của nước ta đòi hỏi hàng năm phải một lượng sơn lớn về kỹ thuật với các yêu cầu rất khắt khe. Trong khi đó, theo công nghệ của hãng sơn Chugoku Nhật Bản, Công ty đã sản xuất thành công sơn công trình biển, tàu biển đáp ứng tốt yêu cầu của khách hàng với chất lượng cao.

Hơn thế nữa, Hải Phòng có thuận lợi là thành phố cảng biển địa phương và trung ương, có một nhà máy sửa chữa tàu biển nằm trên địa bàn thành phố là Phà Rừng chuyên sửa chữa tàu nước ngoài. Mặt khác nằm giữa miền duyên hải gồm Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng, Quảng Ninh… là những nơi có nhu cầu lớn về sơn. Các khách hàng lớn như Cảnh sát biển, Vosco, Cục kỹ thuật hải quân đã sử dụng đến 80% sơn Hải Phòng cho các sản phẩm của Cục. Đã có những đơn hàng đóng mới tàu hàng chục nghìn tấn. Không những vậy, vị trí địa lý thuận lợi còn góp phần giúp cho Công ty có thể vận chuyển, phân phối sản phẩm tới các vùng khác nhau vô cùng thuận lợi, một lợi thế cạnh tranh lớn của Công ty.

Giữ vững thị trường tại các tỉnh phía Bắc với các đại lý tại Hà Nội, Nam Định, Thái Bình, Hải Dương… Công ty đã thực hiện mở rộng thị trường, chiến lược tiếp cận với các tỉnh miền Nam, miền Trung. Công ty thiết lập một loạt các đại lý, cửa hàng suốt từ Bắc vào Nam. Tại miền Trung, Công ty có một loạt các đại lý tại Thanh Hóa, Nghệ An, Đà Nẵng… Tại thị trường miền Nam, Công ty đã xây dựng nhà phân phối là Công ty cổ phần sơn dầu khí Việt Nam.

Bên cạnh đó, trong quá trình sản xuất, Công ty luôn chú trọng quan tâm bảo vệ sức khỏe cộng đồng, tiêu chí hài hòa với môi trường. Khi nghiên cứu thành công các sản phẩm thân thiện với môi trường đã đưa vào áp dụng sản xuất hàng loạt như: sơn hàm rắn cao, sơn không chì, sơn chống hà không độc, không crom… Bộ sản phẩm sơn còn được tiến hành triệt để theo IMO tạo niềm tin cho khách hàng.

2.2.2. Đặc điểm khách hàng của Công ty cổ phần sơn Hải Phòng Luận văn: Thực trạng thị trường tiêu thụ sơn của Công ty Sơn.

Công ty được biết đến với những dòng sản phẩm sơn công trình biển, công nghiệp, cầu thép, đường ống dẫn xăng dầu… và chiếm được thị phần nội địa đáng nể. Khách hàng có thể kể đến như Bộ Tư lệnh Hải quân, Công ty VOSCO, Công ty Vinaship, Cục Kiểm ngư, Cảnh sát biển, Cục kỹ thuật hải quân… Khách hàng của Công ty bao gồm các tổ chức và cá nhân. Để thuận lợi nghiên cứu khách hàng nhằm mục đích phát triển thị trường tiêu thụ, có thể chia khách hàng của Công ty thành 3 nhóm:

Biểu đồ 2.3: Tỷ trọng nhóm khách hàng của Công ty cổ phần sơn Hải Phòng năm 2025

Nhóm 1 có người mua lẻ trực tiếp là khách hàng, trong tổng doanh thu chiếm khoảng 8%, thông qua các cửa hàng bán lẻ là chủ yếu. Một là, để đảm bảo độ tin cậy; hai là mong muốn mức giá thấp hơn.

Nhóm 2 gồm những người mua công nghiệp là khách hàng, nguyên liệu hoàn thiện cần sử dụng sơn cho sản phẩm với lượng mua ổn định nhưng yêu cầu cao về chất lượng, trong tổng doanh thu chiếm khoảng 67%. Nhóm khách hàng này được Công ty bán hàng cho theo 2 cách: một là, đến chân công trình chào hàng và tham gia đấu thầu; hai là do uy tín lâu năm của Công ty khách hàng tự tìm đến mua. Với đặc điểm của sản phẩm, nhóm khách hàng, họ lựa chọn, các hoạt động bán hàng trực tiếp được Công ty nhanh chóng đẩy mạnh, có vậy độ thoả mãn của khách hàng mới nâng cao và trên thị trường sức cạnh tranh cũng tăng lên.

Nhóm 3 gồm các trung gian thương mại, trong tổng doanh thu chiếm khoảng 25%. Mạng lưới đại lý và trung gian tại các tỉnh thành của Công ty cho việc đưa sản phẩm sẽ đảm bảo đến với người tiêu dùng.

Biểu đồ 2.4: Cơ cấu thị trường tiêu thụ của Công ty cổ phần sơn Hải Phòng năm 2025

Hiện nay khách hàng tập trung tại một số tỉnh thành như: Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định… chiếm khoảng trên 70% doanh thu; riêng Hải Phòng đã chiếm 30%. Tỷ lệ trên cho thấy phạm vi khách hàng còn hẹp, chỉ bán khu vực lân cận. Nguyên nhân do: một là, Hải Phòng thị trường truyền thống tại một số tỉnh lân cận vốn là của Công ty; hai là, chính sách triển khai chưa đạt hiệu quả cao; ba là, cơ chế giá chưa hợp lý; bốn là hệ thống quảng cáo hầu như chỉ tập trung ở phía Bắc.

Bên cạnh đó, khách hàng ở thị trường mới như Hồ Chí Minh, Huế, Lai Châu, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hoà Bình… Con đường đưa sản phẩm đến tay khách hàng tại các khu vực này. Một là, qua những người trung gian; hai là, qua nhà phân phối khu vực; ba là theo chân các công trình/người mua công nghiệp. Có thể thấy, Công ty cũng đã bắt đầu chủ động tìm kiếm, mở rộng thị trường tiêu thụ thông qua nỗ lực phát triển thêm các đại lý. Đặc biệt, các hoạt động chăm sóc khách hàng nhận được sự quan tâm hơn. Cụ thể, dịch vụ giao nhận hàng luôn thực hiện đúng kế hoạch. Tổ chức thực hiện giao nhận sản phẩm được Công ty duy trì tốt và hiệu quả biểu hiện ở nỗ lực phân bổ nhân sự hợp lý chăm sóc khách hàng, bám sát kế hoạch giao nhận hàng, chủ động trao đổi với khách hàng và đơn vị vận tải. Luận văn: Thực trạng thị trường tiêu thụ sơn của Công ty Sơn.

Năm 2024, Công ty đã tổ chức hội nghị tại miền Trung nhằm mục đích nắm bắt được nhu cầu sử dụng sơn. Trong lời chào mừng các đại lý, khách hàng, Ông Nguyễn Văn Dũng – Tổng giám đốc Công ty đã phát biểu tri ân đến các khách hàng, đại lý đã đồng hành, hợp tác có hiệu quả với Công ty trong nhiều năm qua và bày tỏ sự cảm kích đến các khách hàng, đại lý đã dành thời gian tham dự. Công ty tiếp tục phát triển với mục tiêu khẳng định vị thế là nhà cung cấp sơn hàng đầu Việt Nam. Trong thời gian hội nghị, Công ty đã giới thiệu tới khách hàng đại lý sản phẩm mới đang phát triển cũng như tính năng của các loại sơn. Qua hội nghị, Công ty muốn tạo thêm sự thân thiết, gắn bó tạo sự tin tưởng mạnh mẽ và sức phát triển bền vững trong tương lai. Giai đoạn 2022-2025, hoạt động kinh doanh đạt kết quả tương đối tốt, sản lượng tiêu thụ liên tục tăng lên, góp phần tăng doanh thu bán hàng.

Biểu đồ 2.5: Sản lượng sơn tiêu thụ của Công ty cổ phần sơn Hải Phòng trong giai đoạn 2022-2025

  • Trong 5 năm qua, sản lượng sơn tiêu thụ của Công ty tăng lên khá mạnh.

Năm 2022, tổng sản lượng sơn tiêu thụ là 3.951 tấn. Sau 1 năm, con số này tăng lên thành 4.188 tấn, tăng 237 tấn so với năm trước, tỷ lệ tăng là 6,00%. Năm 2014, tổng sản lượng sơn Công ty tiêu thụ được tăng thêm 587 tấn, tỷ lệ tăng đạt 14,02%. Năm 2024, sản lượng sơn tiêu thụ tiếp tục tăng từ 4.775 tấn lên con số 5.760 tấn, bằng 120,63% so với năm trước. Năm 2025 với sản lượng sơn tiêu thụ là 6.447 tấn, tăng 687 tấn so với năm 2024, tỷ lệ tăng tương ứng là 11,93%. Kết quả này là một tín hiệu khả quan đối với sản phẩm sơn của Công ty. Mặc dù phải quyết liệt cạnh tranh với sơn ngoại như Nippon, Spec, Boss, Expo, Dulux, Jotun… và sản phẩm sơn nội như Hải Âu,

Đông, Bạch Tuyết, Kova, Đồng Tâm… nhưng sản phẩm của Công ty vẫn liên tục tăng sản lượng tiêu thụ. Phòng Kinh doanh luôn tích cực chào hàng, bán hàng, thực hiện tốt dịch vụ để khách hàng nắm được về chất lượng sơn cũng như sự phục vụ tận tình của Công ty.

Biểu đồ 2.6: Doanh thu bán sơn của Công ty cổ phần sơn Hải Phòng trong giai đoạn 2022-2025

Nhìn vào biểu 2.6 cho ta thấy doanh thu bán sơn của Công ty có xu hướng tăng lên. Năm 2022, doanh thu bán sơn đạt 367.127 triệu đồng. Con số này tăng lên thành 377.044 triệu đồng vào năm 2023. Tức là tăng thêm so với năm 2022 9.917 triệu đồng, tỷ lệ tăng đạt 2,70%. Năm 2014, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ sản phẩm sơn tiếp tục tăng mạnh, tỷ lệ tăng bằng 104,60% so với năm 2023, số tăng tuyệt đối là 17.344 triệu đồng, đưa doanh thu lên con số 394.388 triệu đồng. Năm 2024 là năm có tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu doanh thu mạnh nhất trong giai đoạn 2022-2025. Tổng doanh thu bán sơn đạt 489.719 triệu đồng, tăng 95.331 triệu đồng, tương ứng tỷ lệ tăng là 24,175. Có được kết quả này là do năm 2024 Công ty chuyển hướng sang sơn công nghiệp, sơn tàu biển, tích cực chỉ đạo hệ thống đại lý bán hàng. Đồng thời, Công ty đã giành có được những hợp đồng lớn với các đối tác tàu biển lớn như: Bộ Tư lệnh Hải quân, Công ty VOSCO, Công ty Vinaship, Cục Kiểm ngư… nhiều tàu thuộc chương trình đóng mới Công ty cung cấp sơn cho tàu kiểm ngư…

Doanh thu trong năm 2025 đạt 512.621 triệu đồng, tương đương 104,68% so với năm 2024. Công ty mở rộng thêm các đại lý, đẩy mạnh công tác bán hàng. Ngoài việc giành lại được các hợp đồng lớn nêu trên, Sơn Hải Phòng còn làm việc với một số dự án, Tổng công ty, Tập đoàn lớn về việc cung cấp sơn công nghiệp như: Lilama, Coma, Tập đoàn Sông Đà, Tập đoàn điện lực, Xuân Thành… và các dự án: xi măng, các nhà máy hóa chất, thủy điện, nhiệt điện, bồn bể xăng dầu… Đặc biệt, tại Công ty VnSteel và Nhà máy Tôn Hoa Sen Công ty đã tiến hành sơn tấm lợp. Công tác tiết kiệm chi phí được Công ty thực hiện tốt trong tất cả các khâu như: thay thế vật tư giá thấp, tiết kiệm vật tư, chủ động nguyên liệu đầu vào phù hợp với tình hình sản xuất. Công ty đã chủ động tích cự tìm kiếm và đàm phán có kế hoạch vay vốn phù hợp để được huy động vốn với lãi suất thấp, bán hàng thu tiền ngay, thu hồi công nợ, giảm hàng tồn kho… Từ đó lợi nhuận trước thuế liên tục tăng lên.

2.2.3. Kênh phân phối của Công ty cổ phần sơn Hải Phòng Luận văn: Thực trạng thị trường tiêu thụ sơn của Công ty Sơn.

Trong tiêu thụ sản phẩm việc lựa chọn tổ chức phân phối, kênh phân phối đóng vai trò vô cùng quan trọng. Chính vì vậy, hàng năm Phòng Kinh doanh tổng hợp lập kế hoạch và tiến hành rà soát về thiết lập cũng như việc quản lý kênh phân phối. Có đề xuất lựa chọn dạng kênh trong việc tổ chức phân phối, các phần tử cụ thể và dạng phần tử trong kênh. Phòng Kinh doanh tổng hợp để tạo thuận lợi cho quá trình thực hiện đã tiến hành phối hợp chặt chẽ với Phòng Kế hoạch vật tư và Phòng Tài vụ quy định cụ thể nội dung, tiến độ thực hiện, ngân sách, lực lượng.

Hiện nay, Công ty áp dụng kênh phân phối song. Hệ thống kênh phân phối rộng khắp trên cả nước thể hiện mức độ bao phủ thị trường của Công ty.

Nhờ đó, tốc độ chu chuyển và cung ứng sơn trên thị trường được đảm bảo thời gian nhanh hơn, đáp ứng về thời gian và không gian.

Các nhà phân phối chính của Công ty

Nhà máy sản xuất

  • Địa chỉ : số 21, đường 208 xã An Đồng, Huyện An Dương – Hải Phòng
  • Điện thoại: 84.225.3835710 – Fax:  84.225.3571053

Văn phòng đại diện Hà Nội

  • Địa chỉ: 109 Nguyễn Khuyến
  • Điện Thoại: 84.24.37222796 – Fax: 84.24.37222797

Tại thành phố Hồ Chí Minh: Công ty cổ phần Sơn Dầu Khí Việt nam

  • Địa chỉ: Tòa nhà Green Power, 35 Tôn Đức Thắng, quận 1, TP. Hồ Chí Minh
  • Điện thoại: 84.28.22205319 – Fax: 84.28.22205324

Bảng 2.1: Danh sách đại lý của Công ty cổ phần sơn Hải Phòng

Do đặc điểm của sản phẩm yêu cầu độ tin cậy cao nên Công ty ưu tiên cho kênh trực tiếp hơn vì khi đó Công ty được tiếp nhận trực tiếp ý kiến khách hàng nên việc điền chỉnh kế hoạch SXKD sẽ kịp thời hơn, các dự báo thị trường có độ chính xác cao hơn. Đồng thời khách hàng khi mua qua kênh này sẽ cảm thấy yên tâm vì được mua tận gốc, không qua trung gian, việc kêu ca phàn nàn hoặc xin tư vấn, bảo hành cũng được trả lời trực tiếp, độ tin cậy cao hơn. Bên cạnh đó Công ty vẫn phải kết hợp với kênh trung gian để đạt hiểu quả kinh tế cao nhất vì: kênh trung gian sẽ giúp Công ty cung cấp sản phẩm đúng thời gian, địa điểm, chất lượng và số lượng theo mức giá và phương thức phù hợp với người tiêu dùng. Các kênh phân phối cũng tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, tạo thị trường rộng khắp cho doanh nghiệp đồng thời là nơi tiếp nhận thông tin ý kiến phản hồi của người tiêu dùng về sản phẩm cũng như cách thức phân phối từ đó đề ra các chiến lược phù hợp.

Kênh tiêu thụ quan trọng nhất của Công ty là kênh phân phối trực tiếp, trong tổng doanh thu kênh này tạo ra doanh thu chiếm 65 – 70 %. Khoảng 30 – 35 % còn lại là từ kênh tiêu thụ gián tiếp.

  • Kênh phân phối trực tiếp Luận văn: Thực trạng thị trường tiêu thụ sơn của Công ty Sơn.

Bán hàng thông qua phòng tiêu thụ. Mua công nghiệp là khách hàng chủ yếu. Giảm các chi phí bán hàng khi bán hàng tại văn phòng như chi phí vận chuyển, chi phí thuê địa điểm. Tuy nhiên về khoảng cách đến khách hàng lại bị hạn chế.

Bán hàng cá nhân: rất được chú trọng và bán hàng hiệu quả ở Công ty. Cung cấp các dịch vụ thi công sơn công trình và được thực hiện bởi các nhân viên Phòng Kinh doanh tổng hợp và Phòng Kỹ thuật.

Tăng cường mối quan hệ thông qua kênh phân phối trực tiếp chặt chẽ nắm bắt và tình hình chất lượng, giá cả… để Công ty tạo uy tín và thanh thế. Tuy vậy, chỉ những khách hàng có nhu cầu lớn được kênh phân phối trực tiếp đáp ứng, phạm vi hẹp chủ yếu tại các tỉnh lân cận và tập trung ở Hải Phòng. Chính vì vậy, mạng lưới tiêu thụ này đang được Công ty đang khẩn trương mở rộng.

  • Kênh phân phối gián tiếp

Nhiệm vụ bán hàng cho mọi đối tượng khách hàng thuộc Phòng Kinh doanh tổng hợp, trong đó có những người mua trung gian. Trên kênh phân phối các phần tử chủ yếu là đại lý độc lập. Hoàn toàn độc lập với Công ty là người bán buôn, không có nghĩa vụ, quyền lợi đặc biệt. Họ mua theo mức giá công bố chính thức của Công ty, khoản chênh lệch giá là thu nhập của người bán buôn.

Tuy nhiên, bị cạnh tranh về giá tại các đại lý của Công ty do những người bán buôn bằng cách hạ giá so với quy định sẵn sàng hưởng lợi nhuận thấp hơn. Điều này làm ảnh hưởng đến uy tín do tình trạng giá bán không đồng nhất. Hơn nữa chính sách khuyến mại đối với các đại lý hầu như chưa có gì. Bên cạnh đó, với mục tiêu mở rộng mạng lưới đại lý nên hiện nay Công ty chưa quy định chặt chẽ về mật độ các đại lý, tuy vậy Công ty cũng cần quan tâm hơn đến khoảng cách hợp lý giữa các đại lý để tránh tình trạng cạnh tranh. Mặc dù, với các ưu thế khối lượng lớn, giảm hao hụt… của người tiêu dùng và khách hàng nhỏ lẻ ở xa khả năng được hướng đến Công ty cần đưa vào tầm kiểm soát của mình.

2.2.4. Công tác nghiên cứu phát triển thị trường của Công ty cổ phần sơn Hải Phòng

Thời gian này, đang chứng kiến xu hướng các chất bọc phủ và ngành sản xuất sơn trên toàn cầu dịch chuyển. Trên toàn thế giới từ các nước phát triển có nhu cầu ổn định. Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển có thể được coi sản xuất sơn phát triển chín muồi, phụ thuộc vào tình trạng của ngành xây dựng, hàng hải, công nghiệp, mức độ hoạt động của nền kinh tế…

Sự tăng trưởng của thị trường này gồm những yếu tố chính thức, tại các nước đang phát triển nhu cầu các lĩnh vực tiêu thụ sơn ngày càng tăng. Ngoài ra, những yếu tố như sự chặt chẽ cạnh tranh ngày càng tăng của các quy định, các tiến bộ về công nghệ và sản phẩm giữ vai trò chi phối về mặt cơ cấu sản phẩm kiến trúc trên thị trường sơn toàn cầu, tính theo giá trị chiếm thị phần lớn nhất. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng nhanh nhất lại thuộc về lĩnh vực sản phẩm sơn chuyên dụng với tăng trưởng 5,3%. Trong thập niên qua những hoạt động sáp nhập, mua bán được thực hiện khiến cho ngày càng lớn hơn các công ty lớn, các công ty nhỏ đặc biệt đã vất vả để tồn tại càng phải vật lộn nhiều hơn.

Hiện tại, gần 200 chủng loại sơn được Công ty sản xuất cung ứng ra thị trường giảm gần 10% giá thành so với nhập ngoại và trên 70% thị phần sơn tàu biển Công ty đang nắm giữ trong cả nước. Bên cạnh đó, tổng diện tích là 24.500m2 được Công ty quy hoạch lại khu vực sản xuất, mở rộng công suất dây chuyền sơn đầu tư hơn 48 tỷ đồng để sản xuất sơn tàu biển từ 6.000 tấn/năm lên 15.000 tấn/năm. Luận văn: Thực trạng thị trường tiêu thụ sơn của Công ty Sơn.

Biểu đồ 2.7: Tốc độ phát triển của Công ty cổ phần sơn Hải Phòng

Nhìn vào biểu đồ trên ta có thể thấy tình hình hoạt động của Công ty khá tốt. Tốc độ tăng trưởng về khách hàng, thị phần, mở rộng thị trường mới liên tục tăng lên. Năm 2022, tốc độ tăng trưởng về khách hàng của Công ty mới chỉ có 4,2%. Sau 1 năm con số này tăng lên thành 4,6%. Năm 2014, chỉ tiêu tăng so với năm trước là 0,8%. Đây được xem là mức tăng mạnh nhất của giai đoạn 2022-2025. Sang năm 2024, tốc độ tăng trưởng về khách hàng của Công ty tăng thêm so với năm 2014 là 0,4%, đưa chỉ tiêu lên con số 5,8%. Năm 2025 vừa qua, tốc độ tăng trưởng về khách hàng lên tới 6,3%, tăng thêm 0,5% so với năm 2024. Có thể thấy, Công ty luôn cố gắng tìm mọi biện pháp nhằm thu hút, thỏa mãn nhu cầu của khách. Chính nhờ điều này khiến cho thị phần của Công ty thời gian qua cũng tăng lên đáng kể. Năm 2023, tốc độ tăng trưởng về thị phần của Công ty là 4,4%, trong khi đó năm 2022 mới chỉ có 3,7%. Năm 2014 chỉ tiêu tăng thêm so với năm trước 0,5%. Năm 2024, tốc độ tăng trưởng về thị phần tăng từ 4,9% lên con số 5,5%. Năm 2025, chỉ tiêu đạt 6,0%. Có được kết quả này một phần là do Công ty tích cực mở rộng thêm thị trường tiêu thụ, không ngừng tìm kiếm thị trường và khách hàng tiềm năng để có thể cạnh tranh so với các đối thủ. Năm 2023, tốc độ mở rộng thị trường mới là 3,3%, tăng so với trước chỉ có 0,2%. Mức tăng này thấp nhất trong 5 năm qua. Tới năm 2014, mức tăng thêm là 0,4%. Năm 2024 và năm 2025, cả 2 năm có mức tăng thêm so với năm trước là 0,7%. Năm 2024, tốc độ mở rộng thêm thị trường mới tăng từ 3,7% lên thành 4,4%. Năm 2025 chỉ tiêu này là 5,1%. Việc mở rộng thêm thị trường giúp Công ty tăng doanh thu và lợi nhuận.

Có thể nói, hướng tới tăng thị phần luôn được Công ty thực hiện theo chiến lược. Mục tiêu chiếm lĩnh toàn bộ thị trường và tăng trưởng thị phần không chỉ trên địa bàn Hải Phòng mà còn tại các tỉnh thành khác luôn được đặt lên hàng đầu. Tuy nhiên, chỉ có thị trường tại Hải Phòng và các tỉnh miền bắc là Công ty có thị phần lớn. Còn các tỉnh thành khác, đặc biệt là miền nam, thị phần của Công ty khá khiêm tốn. Nguyên nhân là do Công ty hiện nay chưa thật sự chú trọng vào công tác nghiên cứu thị trường tại các tỉnh miền nam. Chính vì vậy, bộ phận phân tích thị trường chưa được hình thành. Ở địa bàn đó, số lượng nhân viên phục vụ công tác nghiên cứu tìm hiểu nhu cầu và tâm lý của khách hàng và thực hiện khâu chăm sóc khác hàng còn rất ít. Theo kết quả điều tra thăm dò của Công ty về chất lượng sản phẩm sơn cũng như thái độ hài lòng của khách hàng gần như không có. Do vậy, chỉ có khoảng 5-7% đội ngũ nhân viên am hiểu và có kiến thức về thị trường miền nam. Đối với thị trường miền bắc và miền trung, công tác phát triển của Công ty cũng chưa thực sự tốt. Với suy nghĩ đã bán tại các thị trường này lâu năm nên hiểu khách hàng, không phải điều tra nhiều tránh tốn kém thời gian, chi phí tiền của… Chính quan điểm lãnh đạo này ảnh hưởng tới vấn đề phát triển tại Công ty. Những đổi mới của thị trường, thị hiếu của khách hàng nhiều khi Công ty không nắm bắt kịp thời.

Mặc dù có một bộ phận nghiên cứu thị trường nhưng do Công ty hiện vẫn đang sử dụng một số biện pháp thăm dò, nghiên cứu thị trường truyền thống như phỏng vấn trực tiếp, tham dự hội chợ, triển lãm… Điều này dẫn tới, hiệu quả của việc thăm dò và phát triển thị trường dựa chưa cao.

2.2.5. Thực trạng xây dựng phát triển thương hiệu của Công ty cổ phần sơn Hải Phòng Luận văn: Thực trạng thị trường tiêu thụ sơn của Công ty Sơn.

Hình ảnh và thương hiệu của Công ty đã được xây dựng và tồn tại trong một thời gian dài. Tài sản thương hiệu đóng vai trò quan trọng. Đây là cách giúp cho sản phẩm có được niềm tin với khách hàng lớn hơn so với đối thủ cạnh tranh. Bên cạnh đó, thương hiệu còn giúp Công ty dễ dàng mở rộng và tận dụng kênh phân phối, mang lại lợi thế. Để có thể xây dựng phát triển thương hiệu của mình, Công ty chú trọng tới chiến lược sản phẩm. Công ty nỗ lực cải tiến kỹ thuật tạo ra sản phẩm phù hợp hơn với khách hàng, chất lượng được đặt lên hàng đầu.

Với các đối tác quốc tế Công ty chủ động áp dụng hệ thống quản lý chất lượng và xây dựng các tiêu chí theo tiêu chuẩn quốc tế. Từ sơn gốc dầu cấu trúc sản phẩm đã được thay đổi cơ bản sang gốc nhựa các loại như Epoxy, Polyurethane, Alkyd, cao su, Acrilic. Đã nâng độ bền của sản phẩm từ 6 tháng đến 1 năm thành từ 5 năm đến 30 năm. Phương án đi tắt đón đầu được Công ty lựa chọn, ngoài ra còn hợp tác với các viện nghiên cứu trong nước, các nhà khoa học để xúc tiến hợp tác, đổi mới về sản phẩm, liên kết liên doanh, với hãng sơn là 1 trong 5 hãng sơn lớn nhất trên thế giới – đó là hãng Chugoku Nhật Bản. Khách hàng trong nước và quốc tế đã bị chinh phục bởi các bộ sản phẩm về sơn công trình biển, sơn tàu biển và công nghiệp nặng. Đồng thời tiến hành nghiên cứu chọn lọc, khảo sát thị trường, để đa dạng các sản phẩm thực hiện đầu tư chuyển giao các sản phẩm sơn khác. Tổ chức chuyển giao công nghệ sản phẩm sơn tĩnh điện của hãng Asonsisi – Italia, sơn nhiệt dẻo phản quang Malaysia, ra đời các sản phẩm đạt tiêu chuẩn của Châu Âu và Quốc tế.

Giải thưởng “Ngôi sao quản lý chất lượng quốc tế cho các nhà lãnh đạo lần thứ 19” do hiệp hội BID Awards xây dựng, dựa trên các tiêu chí của mô hình chất lượng QC 100 thực hiện trên hơn 100 quốc gia và trao cho các công ty, các tổ chức và doanh nhân nổi bật, có uy tín trong kinh doanh trên toàn thế giới. Năm 2024, giải thưởng quy tụ các nhà lãnh đạo, các lĩnh vực kinh doanh khác nhan đơn vị từ các quốc gia, châu lục trên thế giới tới nhận giải thưởng. Công ty vinh dự là một trong số rất nhiều các công ty đến từ các quốc gia đạt giải “Bạch kim cho thành tích kinh doanh xuất sắc, nhà lãnh đạo xuất sắc trong quản lý chất lượng” của “Ngôi sao quản lý chất lượng quốc tế cho các nhà lãnh đạo”. Công ty là đại diện thành công của Việt Nam trong lĩnh vực quản lý chất lượng trên thế giới và được công nhận cho các cam kết về chất lượng, năng lực lãnh đạo, đổi mới công nghệ trong nhiều năm qua. Qua giải thưởng này, giúp Công ty giới thiệu với các công ty, đối tác trên toàn thế giới về các lĩnh vực Công ty đang hoạt động. Và ngày một khẳng đinh sự mạnh mẽ của thương hiệu sơn Hải Phòng trong nước cũng như quốc tế.

Có bình quân thu nhập từ 12-15 triệu đồng/người/tháng với tổng số lao động trên 2.000 người, mức chia cổ tức từ 20-50%/năm được giữ vững cho các cổ đông. Trong nước các khách hàng đang tin dùng chiếm tỷ trọng trên 70% thị phần trong nước là nhóm các sản phẩm sơn của Công ty, trong đó sơn công trình biển, sơn tàu biển, sơn công nghiệp nặng; chiếm 75% thị phần là sơn giao thông nhiệt dẻo phản quang và xuất khẩu. Tiêu thụ trong các tỉnh và các thành phố trong cả nước có sơn nước, sơn tĩnh điện đang có mặt. Luận văn: Thực trạng thị trường tiêu thụ sơn của Công ty Sơn.

Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, thành tựu đạt được chính là bước chuyển mình thực sự sang nền kinh tế thị trường từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, tạo ra sức mạnh cạnh tranh góp phần giúp cho Công ty xây dựng phát triển thương hiệu

2.2.6. Nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh của Công ty cổ phần sơn Hải Phòng

Trên thị trường Việt nam, từ nhãn hiệu các hãng sơn nổi tiếng thế giới như ICI, Azko Nobel, Jotun, Inter, Nippon hoặc của các hãng sơn Thái Lan, Singapore đã nhiều năm có mặt tại Việt Nam như Toa, Denzo, Dutch Boy, Case Way đến các nhãn hiệu sơn lâu năm nội địa như: Bạch Tuyết, Á Đông, Hải Âu, Liksho – phía Nam, sơn Tổng hợp Hà Nội, sơn Việt Nhật – phía Bắc và hàng chục nhãn hiệu sơn mới như: Kova, Tison, Moto Kiều… Các công ty quốc tế chất lượng cao mục tiêu không chỉ là gia tăng cách biệt thị phần với các doanh nghiệp nội địa mà còn đề cao các giá trị khác biệt, tiên tiến.

Kinh nghiệm, công nghệ, nghiên cứu sản phẩm mới là điểm yếu nhất của các doanh nghiệp nội địa, hầu hết không có khả năng đầu tư xây dựng chiến lược xúc tiến bán hàng hướng tới tâm trí người tiêu dùng. Các doanh nghiệp ngoại có ưu thế hơn khi mua nguyên liệu giá rẻ hơn do đơn hàng lớn mua cùng công ty mẹ, điều kiện mua hàng, giao hàng, thanh toán thuận lợi hơn do những quan hệ và kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất.

Hiện nay có một số doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ sơn tại Việt Nam

Bảng 2.2: Một số đối thủ cạnh tranh của Công ty cổ phần sơn Hải Phòng

Qua bảng số liệu 2.2 ở trên ta thấy sản xuất sơn có khá nhiều công ty nhưng là đối thủ với Công ty trong mặt hàng chính là sơn tàu biển thì không nhiều. Công ty với sản phẩm phong phú đa dạng đã đáp ứng được nhu cầu thị trường hứa hẹn đầy tiềm năng. Công ty đã tạo ra được ưu thế về công nghệ tiên tiến hiện đại, công nghệ với dây truyền sản xuất khép kín, đặc biệt là có ban giám đốc kinh nghiệm giỏi cùng đội ngũ công nhân tay nghề giỏi đã chiếm lĩnh thị trường, đem lại triển vọng phát triển trong nước và hướng ra xuất khẩu.

2.3. Một số nhân tố ảnh hưởng tới việc phát triển thị trường tiêu thụ sơn của Công ty cổ phần sơn Hải Phòng Luận văn: Thực trạng thị trường tiêu thụ sơn của Công ty Sơn.

2.3.1. Một số nhân tố bên trong Công ty cổ phần sơn Hải Phòng

  • Yếu tố con người

Công ty đã có kế hoạch đào tạo kỹ sư lành nghề, cán bộ kỹ thuật trẻ có trình độ tương xứng với sự phát triển của mình, đáp ứng nhu cầu hội nhập của quốc tế. Hàng trăm kỹ sư và công nhân kỹ thuật được đào tạo về mọi lĩnh vực trong nước và nước ngoài như: Nhật Bản, Malaysia, Singapore, Đức, Italia… Nhờ vậy đội ngũ kỹ sư trẻ và dịch vụ kỹ thuật đã đổi mới rất nhanh và tiến kịp với các nước trong khu vực. Đặc biệt đội ngũ giám sát thi công đạt trình độ quốc tế theo tiêu chuẩn IMO hoặc chứng chỉ giám sát quốc tế NACE, PROSIO. Công ty là đơn vị đứng đầu trong cả nước về dịch vụ kỹ thuật, luôn sẵn sàng cạnh tranh với các đối tác quốc tế.

Bảng 2.3: Lực lượng lao động của Công ty cổ phần sơn Hải Phòng

Để đáp ứng công tác phát triển thị trường tiêu thụ sơn của Công ty phải kể tới đội ngũ nhân viên marketing của Công ty. Đây là những con người làm việc khá tốt, nhiệt tình, năng động… Tuy nhiên họ chưa thật sự năng động và sáng tạo trong công việc, nhất là trong giao dịch và tìm kiếm khách hàng mới. Phần lớn chỉ là giao dịch thường xuyên với khách hàng quen của Công ty, nghiệp vụ marketing còn chưa cao. Khả năng giao dịch qua điện thoại với khách hàng là người nước ngoài chỉ có ở một số ít người trong Phòng Kinh doanh tổng hợp.

Vì đặc trưng của ngành nghề kinh doanh nên Công ty đã xây dựng một chính sách lương phù hợp khuyến khích người lao động tích cực tham gia hoạt động SXKD của mình đó là hình thức lương khoán sản phẩm đối với bộ phận sản xuất và khoán doanh thu cho bộ phận bán hàng. Công ty cũng xây dựng một cơ chế lương riêng ưu đãi cho các CBCNV tham gia vào hoạt động phân tích nghiên cứu cải tiến kỹ thuật và sản phẩm mới. Sự quan tâm và hỗ trợ người lao động luôn được Công ty cân nhắc. Công ty đã cho xây dựng bếp ăn tập thể. Bên cạnh đó, Công ty còn không ngừng nâng cao đời sống sinh hoạt lành mạnh và sức khỏe cho CBCNV bằng cách cho họ tham gia các hoạt động thể dục thể thao, khám sức khỏe định kỳ, tham quan, nghỉ mát… nhằm góp phần tạo động lực làm việc tốt hơn cho người lao động.

  • Tiềm lực tài chính Luận văn: Thực trạng thị trường tiêu thụ sơn của Công ty Sơn.

Đối với các đơn vị sản xuất sơn, nguồn lực tài chính đóng vai trò quan trọng do việc phải đầu tư vào công nghệ, máy móc trang thiết bị phục vụ quá trình sản xuất cũng như bảo quản các sản phẩm. Do vậy, tiềm lực tài chính lớn sẽ hỗ trợ Công ty thực hiện các chiến lược phát triển thị trường tốt hơn. Bên cạnh đó, nhờ vào tiềm lực tài chính sẵn có, công tác đầu tư xây dựng cơ bản cũng được Công ty chú trọng với mục đích trang bị cở sở vật chất đầy đủ, đảm bảo công tác sản xuất, bảo quản, vận chuyển sơn.

Biểu đồ 2.8: Cơ cấu nguồn vốn của Công ty cổ phần sơn Hải Phòng

Trong giai đoạn 2022-2025, nguồn vốn kinh doanh của Công ty không ngừng tăng lên. Tuy nhiên, vốn chủ sở hữu của Công ty chênh lệch so với nợ phải trả không nhiều. Nợ phải trả lớn là do Công ty nợ tiền nhà cung cấp và tại thời điểm lập báo cáo thì các khoản lương của nhân viên chưa được thanh toán. Năm 2022, tổng nguồn vốn là 345.407 triệu đồng, trong đó có 170.021 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 49,22%, vốn chủ sở hữu là 175.386 triệu đồng, tỷ trọng là 50,78%. Sang năm 2023, tổng nguồn vốn tăng lên thành 350.310 triệu đồng; nợ phải trả lúc này là 172.366 triệu đồng (49,20%); vốn chủ sở hữu tăng lên con số 177.944 triệu đồng (50,80%). Năm 2014, nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm nên Công ty đã vay vốn phục vụ đầu tư đổi mới dây chuyền công nghệ. Vì vậy mà tỷ trọng nợ phải trả tăng lên thành 49,74%. Tới năm 2024 chỉ tiêu này là 51,92%, lớn hơn vốn chủ sở hữu. Kết quả này khiến cho rủi ro tài chính của Công ty tăng lên nhưng chưa tới mức báo động lớn. Tuy nhiên, nhằm giảm thiểu rủi ro tài chính, ổn định kinh doanh, Công ty đã thanh toán giảm bớt số nợ nên năm 2025, tổng nguồn vốn là 478.565 triệu đồng thì chỉ có 226.663 triệu đồng nợ phải trả (47,36%), vốn chủ sở hữu đạt 251.902 triệu đồng (52,64%). Việc tự chủ trong vốn kinh doanh giúp Công ty có điều kiện phát huy nội lực để hiện đại hóa, công nghiệp hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh. Lộ trình chọn đầu tư làm nhiều giai đoạn phù hợp với năng lực về tài chính, trước hết là chuẩn bị thị trường chắc chắn, sau đó thực hiện đầu tư đã mang lại kết quả xây dựng và phát triển bền vững để Công ty chủ động nguồn nguyên liệu chất lượng cao, sản xuất các loại sơn cao cấp và cung cấp cho thị trường trong nước thay thế nguồn nhập khẩu.

  • Cơ sở vật chất

Công ty có có 14.873m2 đất tại xã An Đồng – An Hải giáp quốc lộ 5, cửa ngõ Thành phố Hải Phòng. Tổng thể khu vực sản xuất có diện tích là 24.500m2. Nhìn chung, với diện tích kho và phân xưởng sản xuất như hiện nay của Công ty đã đáp ứng được nhu cầu sản xuất và tiêu thụ. Tuy nhiên, hiện tại Công ty vẫn chưa tận dụng được hết công suất hoạt động của máy và diện tích kho, nhà xưởng. Do vậy với cơ sở vật chất như thế này, Công ty vẫn có khả năng đáp ứng được nhu cầu về phát triển, mở rộng SXKD trong tương lai. Luận văn: Thực trạng thị trường tiêu thụ sơn của Công ty Sơn.

Với phương châm “Chất lượng làm sự sống còn”, Công ty đã không ngừng đầu tư khoa học công nghệ để tăng năng suất và chất lượng sản phẩm. Hàng năm, Công ty chi hàng tỷ đồng cho Trung tâm kỹ thuật để nâng cấp, trang bị thêm các máy móc, thiết bị để nghiên cứu phục vụ sản xuất. Ngoài ra Công ty cũng thường xuyên cử cán bộ đi học tập tại Nhật, Malaysia, Thái Lan… Nhờ sự đầu tư đúng trọng tâm trọng điểm để nâng cao chất lượng sản phẩm mà doanh thu năm 2025 của Công ty hơn 500 tỷ đồng. Công ty đầu tư dây chuyền có bộ gia nhiệt cho dầu truyền nhiệt bằng công nghệ đốt dầu DO giảm thiểu lượng phát khi thải ra môi trường, hệ thống các sinh hàn, hệ thống các van điều khiển và giám sát, hệ thống các bơm dầu và bơm nhựa máy đóng thùng phuy tự động… trong quá trình sản xuất được điều khiển và kiểm soát thông qua phần mềm tự động hóa 100% được thực hiện bởi Công ty ABB Việt Nam. Dây chuyền đưa vào sản xuất đã giúp Công ty thay đổi quy trình công nghệ, chuyển toàn bộ sơn gốc dầu sang sơn gốc nhựa Alkyd với chất lượng vượt trội đưa ra thị trường. Sau khi dây chuyền công nghệ đi vào hoạt động, Công ty trở thành một trong 3 trung tâm sản xuất chất tạo màng cho công nghệ sơn cao cấp của Việt Nam, vừa góp phần tăng doanh thu, giảm chi phí sản xuất sơn các loại, vừa tạo công ăn việc làm cho hơn 200 lao động và đáp ứng cho một nền sản xuất hiện đại, công nghệ cao, sản phẩm đạt chất lượng tiêu chuẩn khu vực quốc tế cho sơn tàu biển của Việt Nam.

“Ông Nguyễn Văn Viện – Chủ tịch HĐQT công ty cho biết, thực hiện chủ trương đổi mới, từ những năm 1998, Công ty đã không ngừng cải tiến dây chuyền kỹ thuật từ các nước tiên tiến trên thế giới như Đức, Nhật, Singapore… Đến nay, Công ty đã cho ra đời hàng chục dòng sản phẩm với trên 200 loại khác nhau. Trong đó, 60% sản phẩm sơn cao cấp phục vụ thủy điện, nhiệt điện khí hóa lỏng… yêu cầu độ bền tới 20 năm. Đã có nhiều đơn đặt hàng và nhiều gói thầu nhận ký hợp đồng lớn để cung cấp sơn cho các công trình trọng điểm quốc gia như các nhà máy hóa chất, kho nổi FSO5, các công trình cầu đường của Việt Nam… Cơ sở vật chất hiện đại, hoạt động hiệu quả là một trong những nhân tố góp phần giúp cho hoạt động phát triển thị trường tiêu thụ sơn được tốt hơn” [12].

2.3.2. Một số nhân tố bên ngoài Công ty cổ phần sơn Hải Phòng

  • Môi trường kinh doanh

Bộ Công thương ngày 08/02/2014 đã ban hành Quyết định số 1008/QĐ-BCT phê duyệt “Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp sơn – mực in Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”. Ngành công nghiệp sơn – mực in theo Quy hoạch được thát triển theo hướng thay thế các thiết bị công nghệ tiên tiến và từng bước loại bỏ các thiết bị, công nghệ lạc hậu, hạn chế sử dụng các hóa chất, nguyên liệu nguy hại tới sức khỏe con người và môi trường sinh thái, tạo ra các sản phẩm có giá trị cao, chất lượng tốt. Để thực hiện Quy hoạch, việc công nghệ, cá nhân doanh nghiệp, các tổ chức khoa học chuyển giao, làm chủ và ứng dụng công nghệ. Một số doanh nghiệp được Nhà nước hỗ trợ đủ mạnh để sản xuất phát triển công nghệ cao, xây dựng thương hiệu. Quy hoạch đặt ra đòi hỏi các doanh nghiệp cần phát triển thương hiệu sản phẩm, xây dựng kế hoạch, có chiến lược để giữ vững và phát triển thị phần một cách lâu dài, không ngừng cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa sản phẩm, hệ thống tiêu thụ sản phẩm được củng cố và phát triển. Tham gia các chương trình xúc tiến thương mại ở trong nước cũng như ngoài nước. Luận văn: Thực trạng thị trường tiêu thụ sơn của Công ty Sơn.

  • Hạ tầng giao thông

Qua quốc lộ 5 việc vận chuyển vật tư, hàng hoá từ phân xưởng sản xuất tại An Đồng đến các cửa hàng, đại lý rất thuận tiện và nhanh chóng, đáp ứng kịp thời các nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của Công ty trong thành phố. Nhờ quốc lộ 5, quốc lộ 10, hàng hóa được vận chuyển bằng ôtô tới các đại lý tiêu thụ sơn tại các tỉnh, thành phố lân cận như Thái Bình, Nam Định, Hà Nội, Thanh Hoá… cũng khá đơn giản.

Với các tỉnh ở xa như chi nhánh, việc kết hợp vận chuyển bằng ôtô hoặc bằng đường biển được tiến hành một cách linh động tuỳ thuộc vào mức độ cấp bách của nhu cầu sơn, thời gian, khối lượng hàng hoá cần phải chuyên chở…

  • Nhà cung cấp

Nguyên liệu chủ yếu trong sản xuất sơn là các sản phẩm từ hóa dầu, do đó Công ty chủ yếu là mua của nước ngoài thông qua các văn phòng đại diện tại Việt Nam hoặc các doanh nghiệp nhập khẩu. Một số nguyên liệu Công ty tiếp xúc trực tiếp đó là các công ty nội địa hoặc các công ty nước ngoài sản xuất tại Việt Nam.

Hiện tại do cạnh tranh mạnh giữa các nhà cung cấp, sự đầu tư vào dịch vụ, xây dựng uy tín thương hiệu của các nhà sản xuất nguyên liệu trên thế giới có văn phòng đại diện tại Việt Nam, tiến tới sự hợp tác lâu dài, chuyên nghiệp. Thêm vào đó là sự lưu thông thuận lợi trong nước cũng như quốc tế, phương tiện liên lạc nhanh chóng, điều kiện thanh toán thuận lợi nên Công ty hầu như không gặp khó khăn nào đáng kể trong việc cung ứng các nguyên vật liệu phục vụ sản xuất. Việc cạnh tranh giữa các nhà cung cấp cũng mang lại nhiều thuận lợi về giá cho Công ty.

  • Yếu tố tự nhiên

Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới, bờ biển dài. Đặc điểm địa lý, thời tiết giữa các vùng lại rất khác nhau. Ngay tại mỗi miền thì thời tiết giữa các mùa cũng có những khác biệt rõ nét. Sự biến đổi thời tiết, khí hậu tác động xấu trực tiếp đến lớp sơn phủ. Thực tế đòi hỏi cần có những loại sơn phù hợp với từng vùng, miền để phát huy hiệu quả bảo vệ bề mặt lâu bền. Việc một loại sơn được quảng cáo là phù hợp cho tất cả các điều kiện thời tiết, khí hậu có thể làm gia tăng đáng kể giá của sản phẩm.

2.4. Đánh giá công tác phát triển thị trường tiêu thụ sơn của Công ty cổ phần sơn Hải Phòng Luận văn: Thực trạng thị trường tiêu thụ sơn của Công ty Sơn.

2.4.1. Kết quả tích cực đạt được

Trong bối cảnh thị trường có nhiều biến động, Công ty vẫn đảm bảo cho hoạt động ổn định. Những thành tựu đạt được giúp khẳng định được chỗ đứng trên thị trường và đảm bào thực hiện được mục tiêu của mình. Trong giai đoạn từ năm 2022 đến năm 2025, doanh thu của Công ty ngày càng tăng, thị trường ngày càng được mở rộng. Trong 5 năm qua, doanh thu về bán hàng và cung cấp dịch vụ của Công ty đã tăng lên đáng kể. Năm 2022, tổng doanh thu là 367.127 triệu đồng, năm 2023 là 377.044 triệu đồng. Chỉ tiêu này năm 2025 là 512.621 triệu đồng, tăng lên 22.902 triệu đồng so với năm 2024, tỷ lệ tăng tương ứng là 4,68%.

Công ty xác định việc duy trì thị phần, thị trường kinh doanh sơn hiện nay là điều vô cùng quan trọng, nên việc thỏa mãn yêu cầu và chăm sóc khách hàng luôn được Công ty đặc biệt quan tâm. Bên cạnh đó, Công ty đã bắt đầu chủ động hơn trong công tác tìm kiếm khách hàng, mở rộng các đại lý và phát triển thị trường tiêu thụ. Đặc biệt, các hoạt động chăm sóc khách hàng bắt đầu nhận được sự quan tâm hơn. Thể hiện ở nỗ lực phân bổ nhân sự hợp lý chăm sóc khách hàng, bám sát kế hoạch giao nhận hàng, chủ động trao đổi với khách hàng và đơn vị vận tải giao hàng. Công ty đã tổ chức hội nghị khách hàng tại miền trung trong năm 2024 nhằm mục đích nắm bắt được nhu cầu sử dụng sơn, tăng mối quan hệ mật thiết với khách hàng và quảng bá thương hiệu uy tín của Công ty.

Công ty xây dựng hệ thống kênh phân phối song song, trải rộng khắp địa bàn. Hệ thống kênh phân phối này đã phát huy được vai trò của các hộ thương mại trong công tác tiêu thụ hàng. Kênh phân phối hoạt động hiệu quả đã giúp cho Công ty đạt được mục tiêu kinh doanh trong giai đoạn vừa qua bằng việc mở rộng cung cấp sản phẩm sơn của Công ty đến với các cơ sở sản xuất nhỏ và hộ kinh doanh cá thể.

Công ty luôn giữ được uy tín với các nhà cung cấp, các đối tác cũng như khách hàng của mình. Khách hàng ngày càng quan tâm đến sản phẩm sơn của Công ty, thương hiệu ngày càng xây dựng và phát triển trên thị trường. Sản phẩm luôn đảm bảo chất lượng tốt, ngày càng được người tiêu dùng đánh giá cao và có chỗ đứng tốt trên thị trường. Các sản phẩm được quản lý bởi hệ thống Quacert và đạt tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001:2000. Trong các kỳ hội chợ, triển lãm trong nước và quốc tế, sản phẩm của Công ty đã dành được nhiều huy chương về chất lượng. Từ năm 1997 đến nay sản phẩm của Công ty liên tục được người tiêu dùng cả nước bình chọn là “hàng Việt Nam chất lượng cao”. Sản phẩm sơn của Công ty luôn phong phú, đa dạng về chủng loại, mẫu mã, khối lượng, màu sơn và luôn đảm bảo uy tín và chất lượng khi đến với khách hàng.

Công ty đã xây dựng được nhiều mối quan hệ tốt đẹp và uy tín đối với nhà cung cấp, các đối tác và khách hàng. Trong 5 năm vừa qua, Công ty luôn giữ được uy tín với nhà cung cấp trong việc thực hiện thanh toán đúng thời hạn, đúng các điều khoản của hợp đồng để đảm bảo được nguồn hàng ổn định với giá cả ưu đãi. Cũng trong những năm vừa qua, Công ty cũng đã xây dựng được những mối quan hệ tốt đẹp với đối tác là các nhà máy đóng tàu, chủ đầu tư công trình và đáp ứng phần lớn nhu cầu của khách hàng về chất lượng, chủng loại sản phẩm, từ đó tăng số lượng tập khách hàng trung thành với Công ty.

Công ty luôn quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của đội ngũ nhân viên, tạo động lực cho toàn thể CBCNV hăng say lao động. Công ty luôn cố gắng đem lại cho nhân viên một môi trường làm việc tốt nhất, năng động nhất, luôn đảm bảo sự ổn định về thu nhập cho nhân viên. Công ty có những chính sách thưởng phạt rõ ràng.

Đồng thời, Công ty cũng luôn thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các nghĩa vụ đối với Nhà nước như hoàn thành nộp thuế cho ngân sách Nhà nước hàng năm. Ngoài ra, Công ty còn có nhiều đóng góp cho xã hội.

2.4.2. Hạn chế còn tồn tại Luận văn: Thực trạng thị trường tiêu thụ sơn của Công ty Sơn.

Bên cạnh những kết quả tích cực đạt được, trong giai đoạn 2022-2025 vừa qua, công tác phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm sơn của Công ty còn một số hạn chế tồn tại như sau:

Hệ thống kênh phân phối của Công ty còn nhiều hạn chế, chưa phù hợp, ảnh hưởng đáng kể đến tiêu thụ sản phẩm. Hiện nay, Công ty có tương đối nhiều các đại lý phân phối nhưng mới chỉ tập trung vào Hải Phòng và một số tỉnh thành lân cận. Khu vực miền Trung và miền Nam còn hạn chế. Bên cạnh đó, kênh phân phối trung gian là các hộ thương mại mới chỉ phát huy vai trò là một đại lý bán hàng trung gian, hỗ trợ việc phân phối sản phẩm sơn tới các khách hàng. Hay nói cách khác, Công ty chưa khai thác triệt để các chức năng của kênh phân phối thương mại như chưa tận dụng khai thác thu thập và phổ biến thông tin về thị trường sơn, về người mua, về đối thủ cạnh tranh và những thành viên trong kênh phân phối; chia sẻ rủi ro trong quá trình phân phối sản phẩm; tìm kiếm và truyền thông tới khách hàng tương lai…

Công tác nghiên cứu thị trường vẫn chưa được Công ty chú trọng, thu thập và xử lý thông tin chưa hiệu quả nên Công ty khó nắm bắt, phản ứng kịp thời với tình hình biến động của thị trường. Đặc biệt, tại một số khu vực thị trường miền Trung và miền Nam thì công tác nghiên cứu vẫn chưa hiệu quả nên doanh thu tiêu thụ sản phẩm sơn của các đại lý tại khu vực này vẫn nhỏ.

Các hoạt động quảng cáo và xúc tiến bán của Công ty còn nhiều hạn chế, chưa mang lại hiệu quả cao. Ngoài việc quảng cáo và giới thiệu sản phẩm chủ yếu qua website của Công ty thì Công ty chưa có những chính sách xúc tiến nào đặc biệt, mới mẻ để lôi kéo khách hàng.

Đội ngũ nhân viên Công ty năng động, nhiệt tình nhưng vẫn chưa có kinh nghiệm cao, trình độ kỹ thuật cũng như các kỹ năng cần thiết vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu công việc. Nhiều hoạt động vẫn mang tính truyền thống, chưa có sự đột phá mạnh mẽ nhằm thu hút khách hàng. Luận văn: Thực trạng thị trường tiêu thụ sơn của Công ty Sơn.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Giải pháp thị trường tiêu thụ sơn của Công ty Sơn

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Thực trạng thị trường tiêu thụ sơn của Công ty Sơn […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993