Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào HP hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Phân tích thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hải Phòng giai đoạn 1990 – 2024 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn 1988-2024
2.1.1. Khía cạnh pháp lý liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Luật đầu tư nước ngoài được ban hành đầu tiên tại Việt Nam vào năm 1987. Mặc dù có nhiều chính sách ưu đãi, hấp dẫn tuy nhiên nhiều quy định còn chưa phù hợp với thông lệ quốc tế. Luật đầu tư nước ngoài đã được sửa đổi, bổ sung và ban hành mới 4 lần:
- Lần thứ nhất, Luật sửa đổi, bổ sung và được Quốc hội thông qua vào năm 1990.
- Lần thứ hai, Luật sửa đổi, bổ sung và được Quốc hội thông qua vào năm 1992.
- Lần thứ ba, Luật đầu tư nước ngoài ban hành mới được Quốc hội thông qua vào năm 1996.
- Lần thứ tư, Luật sửa đổi, bổ sung và được Quốc hội thông qua vào năm 2009.
Nhằm cải thiện môi trường pháp lý, thống nhất về pháp luật đầu tư, tạo sự bình đẳng giữa các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, Quốc hội đã ban hành Luật đầu tư năm 2014 thay thế Luật đầu tư nước ngoài và Luật khuyến khích đầu tư trong nước.
Năm 2023, Quốc hội đã thông qua sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật đầu tư năm 2014 với nhiều thay đổi quan trọng, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính trong hoạt động đầu tư như là rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài với thời hạn tối đa 15 ngày thay cho thời hạn 45 ngày trước đây, nhà đầu tư nước ngoài hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài góp vốn 51% vốn điều lệ mới phải xin Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án của nhà đầu tư nước ngoài…
Bên cạnh Luật đầu tư, Chính phủ cũng ban hành Nghị định 118/2024 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đầu tư, trong đó có đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Cơ chế pháp lý song phương và đa phương cũng dần được hoàn thiện. Tính đến nay, Việt Nam đã ký kết trên 90 hiệp định thương mại song phương, gần 60 hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư giúp tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài. Trong các hiệp định mà Việt Nam đã tham gia ký kết, đáng kể nhất chính là Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực từ tháng 12/2010 tạo ra cơ hội để Việt Nam thu hút đầu tư nước ngoài từ Hoa Kỳ. Những cam kết trong hiệp định là cơ sở pháp lý quan trọng để hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Thêm vào đó, Việt Nam đã ký kết hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN, tham gia tích cực vào các diễn đàn ASEM, APEC, là thành viên của tổ chức thương mại quốc tế WTO. Việc ký kết các hiệp định song phương và đa phương tạo điều kiện thúc đẩy đầu tư thông qua việc nhà đầu tư nước ngoài được tiếp cận rộng rãi hơn với thị trường hàng hoá, dịch vụ và đầu tư trong nước.
2.1.2. Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam Luận văn: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào HP.
- Chính sách về thuế
Để thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, Việt Nam đã thực hiện nhiều chính sách ưu đãi về thuế, cụ thể:
- Thuế thu nhập doanh nghiệp:
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2017 và Luật số 32/2022 sửa đổi một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy định các lĩnh vực, địa bàn khuyến khích đầu tư, khi đầu tư vào chủ đầu tư sẽ được hưởng ưu đãi về thuế với mức thuế suất 15% hoặc 10% tuỳ thuộc vào dự án.
Dự án đầu tư kinh doanh mới thuộc địa bàn, lĩnh vực, ngành nghề khuyến khích đầu tư được miễn thuế tối đa bốn năm và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa chín năm.
- Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài:
Theo thông tư 26/2013, thu nhập của nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam khi chuyển ra nước ngoài không phải chịu thuế. Quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư.
- Thuế xuất nhập khẩu:
Theo quy định của Luật đầu tư 2023, nhà đầu tư được miễn thuế nhập khẩu đối với thiết bị máy móc, phương tiện vận tải và các loại hàng hoá khác khi thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam.
- Chính sách ưu đãi về sử dụng đất Luận văn: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào HP.
Căn cứ vào Nghị định 142/2014 của Chính phủ quy định miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước và NĐ 121/2019 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 142/2014, nhà đầu tư nước ngoài được miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước kể từ ngày dự án được đưa vào hoạt động, cụ thể:
- Ba năm đối với dự án thuộc Danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư.
- Bảy năm đối với dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn.
Mười một năm đối với dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; dự án đầu tư thuộc danh mục lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư; dự án thuộc danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư được đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn.
Mười lăm năm đối với dự án thuộc danh mục lĩnh vực khuyến khích đầu tư được đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.
- Chính sách ngoại hối
Theo pháp lệnh ngoại hối số 28/2014 và pháp lệnh số 06/2022 về sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh ngoại hối, các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được hỗ trợ cân đối ngoại tệ. Theo đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh mở tài khoản vốn đầu tư trực tiếp tại tổ chức tín dụng được mua ngoại tệ để đảm bảo nhu cầu trong hoạt động của doanh nghiệp.
2.1.3. Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Trải qua gần 30 năm mở cửa với đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã đạt được những thành công đáng kể trong việc thu hút vốn FDI.
Tính đến năm 2024, Việt Nam đã thu hút được 20159 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng vốn đăng ký 281882,5 triệu USD. Nguồn vốn này tạo ra động lực mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế.
- Bảng 2.1: Thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 1988-2024
- Biểu đồ 2.1: Thực trạng số dự án, vốn đăng ký và vốn thực hiện FDI của Việt Nam giai đoạn 1988-2024
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là kênh quan trọng bổ sung nguồn vốn cho quá trình phát triển kinh tế. Việt Nam đã thu hút nhiều dự án đầu tư có quy mô lớn với số vốn lên đến hàng tỷ USD như dự án thép Cà Ná của công ty thép Vinashin Lion (Malaysia) với vốn đăng ký 9,8 tỷ USD, dự án lọc dầu Nghi Sơn (liên doanh Nhật Bản và Kuwait) với vốn đăng ký 6,2 tỷ USD, dự án Hồ Tràm của Canada với số vốn đăng ký 4,2 tỷ USD… Luận văn: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào HP.
Quy mô vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có sự biến động trong giai đoạn từ 1988-2024. Trong 3 năm đầu thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ 1988-1990, kết quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài còn hạn chế chỉ ở mức thấp. Năm 1988, chỉ có 37 dự án đầu tư vào Việt Nam với vốn đăng ký là 341,7 triệu USD. Cho đến năm 1990, số dự án thu hút được chỉ là 107 dự án, số vốn đăng ký khoảng trên 700 triệu USD. Vì vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài trong giai đoạn này gần như chưa tác động đến tình hình kinh tế – xã hội của Việt Nam. Nguyên nhân chủ yếu là do Luật đầu tư nước ngoài ở thời điểm này còn có nhiều rào cản với nhà đầu tư nước ngoài như chưa cho phép nhà đầu tư nước ngoài góp vốn với kinh tế tư nhân mà chỉ cho phép góp vốn với thành phần kinh tế tập thể, kinh tế Nhà nước.
Trong vòng 5 năm từ 1991-1995, số dự án cấp phép và số vốn đăng ký đầu tư có xu hướng tăng nhanh. Năm 1995, số dự án tăng gấp 4 lần so với thời điểm năm 1990 đạt 415, số vốn tăng gấp 10 lần lên mức 7925,2 triệu USD. Ở giai đoạn này, môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam đã có sự hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài khi chi phí kinh doanh ở mức thấp hơn so với một số quốc gia trong khu vực, nhân công giá rẻ và thị trường nhiều tiềm năng. Vì thế, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã có sự tăng trưởng nhanh, đóng góp tích cực vào việc phát triển kinh tế xã hội.
Tuy nhiên, trong giai đoạn sau đó từ 1996-2008, thu hút FDI giảm. Vốn đăng ký của năm sau thấp hơn so với năm trước, chủ yếu là đầu tư vào các dự án quy mô vừa và nhỏ. Thêm vào đó, nhiều dự án đã được cấp phép vào những năm trước phải tạm ngừng triển khai do nhà đầu tư gặp khó khăn về tài chính do cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ châu Á diễn ra vào năm 1997.
Từ 2010-2012, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam phục hồi chậm. Đến năm 2013, nguồn vốn FDI tăng rõ rệt gấp 142,9 % so với năm 2012. Đặc biệt, trong 2 năm 2015 và 2016, xuất hiện nhiều dự án đầu tư với quy mô lớn trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ. Năm 2017 là năm thu hút đỉnh cao của đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký FDI vào Việt Nam lên đến 71726,8 triệu USD.
Tuy nhiên, 3 năm sau đó số vốn đầu tư lại giảm xuống. Tỷ lệ vốn đăng ký năm 2018 chỉ bằng 32,22% so với năm 2017, năm 2019 tỷ lệ là 86,06% so với 2018 và năm 2020 tỷ lệ chỉ đạt 78,54% so với năm 2019. Vốn đăng ký giảm trong giai đoạn này có thể là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2017 dẫn đến dòng vốn đầu tư toàn cầu suy giảm, cạnh tranh để thu hút đầu tư trở nên gay gắt. Luận văn: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào HP.
Từ năm 2021 – 2024, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam đã có sự khởi sắc trở lại. Năm 2021, Việt Nam thu hút được 1287 dự án và con số này tăng lên 2120 dự án vào năm 2024 và số vốn thực hiện năm 2024 đạt ở mức cao nhất với 14500 triệu USD.
- Tác động tích cực của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với kinh tế Việt Nam:
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy tăng trưởng. Những năm đầu từ 1988-1990, đầu tư nước ngoài chiếm tỷ lệ không đáng kể trong tổng vốn đầu tư phát triển. Giai đoạn từ 1991- 1995, đầu tư nước ngoài đóng góp 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Giai đoạn từ 1996-2009, vốn đầu tư nước ngoài chiếm 24% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Đến giai đoạn 2010-2015, đầu tư nước ngoài chỉ chiếm khoảng 16% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội. Sau đó, trong giai đoạn 2016-2024, khu vực đầu tư nước ngoài tăng mức đóng góp vào vốn đầu tư phát triển toàn xã hội. Cụ thể, năm 2016 là 24,8%, năm 2017 là 30,9%, năm 2018 là 25,7%, năm 2019 là 25,8%, năm 2020 là 24,5%, năm 2021 là 21,6% và năm2022 là 22%, năm 2023 là 21,7%, năm 2024 là 23,3% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội. (Nguồn: Tiểu mục đầu tư nước ngoài Website của Bộ Kế hoạch và Đầu tư http://www.mpi.gov.vn).
Với mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa khoảng cách phát triển công nghệ giữa các nước, nhất là giữa Việt Nam và các nước phát triển khá lớn. Việc các nước đang phát triển tự nghiên cứu để phát triển khoa học kỹ thuật cho kịp với trình độ của các nước phát triển là việc rất khó khăn và tốn kém. Đây là cơ hội cho Việt Nam có thể tiếp thu được kỹ thuật công nghệ thuận lợi nhất để rút ngắn con đường phát triển của mình (viettrade.gov.vn).
FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhiều lĩnh vực và ngành kinh tế mới của Việt Nam đã xuất hiện như dầu khí, công nghệ thông tin, ô tô, hoá chất, điện tử…FDI góp phần tăng năng suất lao động và tăng tỷ trọng của các ngành, lĩnh vực này trong nền kinh tế.
2.1.3.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo địa phương
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã có mặt ở khắp 63 tỉnh, thành phố trên cả nước. Số liệu đầu tư trực tiếp nước ngoài của mười địa phương dẫn đầu trong thu hút FDI, cụ thể như sau:
Bảng 2.2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo địa phương luỹ kế đến hết năm 2024
Số liệu FDI theo địa phương luỹ kế đến năm 2024 cho thấy thành phố Hồ Chí Minh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đứng đầu trong cả nước với số dự án là 5886 và số vốn đăng ký lên đến 42366,8triệu USD chiếm tỷ trọng 15% số vốn đăng ký FDI trong cả nước. Bà Rịa – Vũng Tàu đứng thứ 2 với 27766,4 triệu USD vốn đăng ký đầu tư tỷ trọng 9,85%. Vị trí thứ 3 là Hà Nội với 3467 dự án, vốn đăng ký là 25490,9 triệu USD, tỷ trọng 9,04%.
Theo bảng số liệu, thành phố Hải Phòng đứng vị trí thứ tám trong cả nước tính đến hết năm 2024 với tổng vốn đăng ký tính luỹ kế là 10998,1 triệu USD chiếm tỷ trọng 3,9%. Luận văn: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào HP.
2.1.3.2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài phân theo ngành kinh tế
- Bảng 2.3: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo lĩnh vực luỹ kế đến hết năm 2024
- Biểu đồ 2.2: Tỷ trọng vốn đăng ký FDI của Việt Nam theo lĩnh vực từ 1988-2024
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thu hút vào Việt Nam tập trung vào lĩnh vực công nghiệp. Số dự án đầu tư vào lĩnh vực này luỹ kế đến hết năm 2024 là 11013 dự án chiếm tỷ lệ 54,88% trong tổng số dự án. Vốn đầu tư vào lĩnh vực này cũng chiếm tỷ lệ cao ở mức 64,26% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.Tuy nhiên, vốn đầu tư chủ yếu là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo do đó chưa phát huy được tiềm năng, lợi thế của Việt Nam ở các lĩnh vực khai khoáng, năng lượng… Cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực lần lượt là công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp. Do đó, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài không đóng góp nhiều cho sự phát triển nông nghiệp và nông thôn.
Vốn FDI vào nông nghiệp ở mức thấp nhất là do cả yếu tố khách quan và chủ quan. Sản xuất nông nghiệp chịu tác động trực tiếp của môi trường tự nhiên nên mức độ rủi ro cao, chu kỳ sản xuất dài, mang tính thời vụ…do đó hiệu quả đầu tư thấp, không hấp dẫn được các nhà đầu tư. Thêm vào đó, đặc điểm nền sản xuất nông nghiệp của Việt Nam là sản xuất manh mún, khó thực hiện cơ giới hoá, năng suất lao động thấp, cơ sở hạ tầng ở nông thôn còn yếu kém.
2.1.3.3. Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo đối tác đầu tư
Thực hiện chính sách “Đa phương hoá, đa dạng hoá” , hiện nay Việt Nam đã thu hút được 101 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư.
Bảng 2.4: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo đối tác đầu tư chủ yếu luỹ kế đến hết năm 2024
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam chủ yếu đến từ các đối tác ở khu vực Đông Á. Trong đó, Nhật Bản và Hàn Quốc chiếm khoảng 39% số dự án, 30% tổng vốn, Trung Quốc, Hồng Công, Đài Loan chiếm 24% số dự án, 20% về vốn, các nước trong khối ASEAN chiếm 13% số dự án, 20% về vốn đầu tư. Các quốc gia với nền công nghệ hiện đại như Mỹ, Anh, Pháp, Đức chiếm tỷ lệ không lớn chỉ khoảng 9% số dự án và khoảng 8% số vốn đầu tư nhưng cũng ảnh hưởng đến đóng góp của khu vực FDI cho tiến trình hiện đại hoá của Việt Nam.
Hàn Quốc là đối tác đầu tư lớn nhất tại Việt Nam với số dự án là 4970 dự án, số vốn đăng ký lên đến 45191 triệu USD. Như vậy mức vốn đầu tư trung bình một dự án là 9,1 triệu USD. Đối tác đầu tư đứng thứ 2 sau Hàn Quốc là Nhật Bản với 2914 dự án, vốn đăng ký là 38973,6 triệu USD. Xin-ga-po là đối tác đầu tư đứng thứ 3 với số vốn 35148,5 triệu USD.
2.1.3.4. Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức đầu tư
Bảng 2.5: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức đầu tư luỹ kế đến hết năm 2024
Căn cứ vào số liệu luỹ kế đến hết năm 2024, cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam chủ yếu là hình thức 100% vốn nước ngoài. Loại hình 100% vốn nước ngoài chiếm tỷ trọng 82,25% về số dự án và 70,48% về số vốn đăng ký. Điều này là do nhà đầu tư nước ngoài đã am hiểu về pháp luật, chính sách và tổ chức kinh doanh tại Việt Nam. Hơn nữa, việc lựa chọn hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài giúp nhà đầu tư nước ngoài chủ động lựa chọn địa điểm của dự án, điều hành và quyết định phương án sản xuất kinh doanh.
2.2. Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hải Phòng giai đoạn 1990-2024 Luận văn: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào HP.
2.2.1. Giới thiệu về Hải Phòng
Hải Phòng nằm ở phía đông bắc Việt Nam, là cửa ngõ, nơi có cảng biển lớn nhất miền Bắc. Hải Phòng là một trong năm thành phố trực thuộc trung ương, đô thị loại 1 cấp quốc gia và là thành phố lớn thứ ba Việt Nam. Diện tích tự nhiên của Hải Phòng là 1507,57 km2. Tính đến tháng 12/2024, dân số Hải Phòng là 2.103.500 người, trong đó dân cư thành thị chiếm 46,1% và dân cư nông thôn chiếm 53,9%, là thành phố đông dân thứ 3 ở Việt Nam.
Hải Phòng là đầu mối giao thông quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ trên hai hành lang – một vành đai hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc với hệ thống giao thông đường thuỷ, đường bộ, đường sắt và đường hàng không.
Trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, Hải Phòng được xác định là một trong các cực tăng trưởng của vùng kinh tế động lực phía Bắc (Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh), được xem là trung tâm kinh tế – khoa học – kỹ thuật tổng hợp của vùng duyên hải Bắc Bộ (Quyết định 1448/QĐ-TTg ngày 16/09/2018 của Thủ tướng chính phủ).
Hải Phòng có nhiều tiềm năng to lớn để phát triển trở thành một trong những thành phố cảng lớn và hiện đại trong khu vực, đóng góp vào sự phát triển kinh tế của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế, đồng thời tạo cơ hội đầu tư cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.
2.2.2. Chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hải Phòng
Để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài về thủ tục hành chính, Uỷ ban nhân dân Thành phố Hải Phòng đã ban hành “ Quy chế một đầu mối trong phê duyệt và quản lý đầu tư”. Theo quy chế này, Sở Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan đảm nhận chức năng một đầu mối thực hiện tiếp nhận, thẩm định, cấp giấy phép đầu tư và giải quyết các vướng mắc trong quá trình triển khai dự án. Việc đơn giản hoá thủ tục hành chính đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào Hải Phòng.
Vào năm 2009, Quyết định 1375/ QĐ-UB ngày 27/7/2009 về việc “Phê duyệt dự án đầu tư tại Hải Phòng” đã được ban hành góp phần hoàn chỉnh quy trình tiếp nhận, thẩm định và cấp giấy phép đầu tư tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư nước ngoài.
Trong bối cảnh cạnh tranh để thu hút đầu tư nước ngoài giữa các quốc gia nói chung, giữa Hải Phòng và các địa phương khác nói riêng, năm 2011, Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng đã thông qua quyết định 369/QĐ-UB ban hành ngày 08/02/2011 về chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hải Phòng. Nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào Hải Phòng sẽ có nhiều ưu đãi về thuê đất, được hỗ trợ về cơ sở hạ tầng, thời gian cấp giấy phép đầu tư được rút ngắn…
Hải Phòng có cơ chế ưu đãi về miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân để thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Cụ thể là thuế thu nhập doanh nghiệp được miễn 4 năm, giảm 50% trong 9 năm tiếp theo, thuế thu nhập cá nhân được giảm 50%. Luận văn: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào HP.
Để đáp ứng yêu cầu của các dự án lớn, Hải Phòng tập trung đẩy nhanh tốc độ triển khai các dự án về cơ sở hạ tầng tại Khu công nghiệp Đình Vũ, khu công nghiệp Tràng Duệ đồng thời có chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Năm 2024, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Hải Phòng là 58.65 xếp thứ 28 trong cả nước. Hải Phòng cần cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, thực hiện tốt chính sách đầu tư của thành phố.
2.2.3. Thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hải Phòng
Trải qua gần 30 năm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, Hải Phòng đã đạt được những kết quả đáng kể trong thu hút vốn đầu tư. Tính đến ngày 31/12/2014, Hải Phòng đã thu hút được 460 dự án với tổng vốn đăng ký là 10998,1 triệu USD.
- Bảng 2.6: Thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hải Phòng giai đoạn 1990-2024
- Biểu đồ 2.3: Thực trạng số dự án, vốn đăng ký, vốn thực hiện FDI của Hải Phòng giai đoạn 1990-2024
Giai đoạn 1990-2011: Hải Phòng là một trong những địa phương thu hút FDI sớm nhất cả nước. Giai đoạn này là những năm đầu thu hút vốn đầu tư nước ngoài nên nguồn vốn FDI ở mức thấp và không ổn định. Hơn nữa, trong giai đoạn này nền kinh tế gặp khó khăn do khủng hoảng tài chính – tiền tệ châu Á xảy ra vào năm 1997. Năm 2009, số vốn đầu tư thu được của thành phố chỉ là 6,9 triệu USD bằng 15,13% so với năm 2008. Sau đó, năm 2010 và 2011, vốn FDI có xu hướng tăng lên tuy nhiên mức tăng không cao.
Năm 2012, khi Hải Phòng áp dụng cơ chế ưu đãi, khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài thì các tập đoàn, cá nhân nước ngoài tìm kiếm cơ hội đầu tư tại Hải Phòng đã tăng lên đáng kể. Số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hải Phòng trong năm 2012 lên đến 42 dự án, vốn đăng ký đạt 150,1 triệu USD.
Tuy nhiên đến năm 2013, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào thành phố lại giảm rõ rệt. Số dự án đăng ký chỉ là 18 dự án, số vốn là 111 triệu USD. Quy mô FDI giảm trong năm 2013 là do Nghị định 164/NĐ-CP của Chính phủ về thuế thu nhập doanh nghiệp tác động đến khu công nghiệp – khu chế xuất dẫn đến số dự án đầu tư vào khu vực này giảm sút.
Việc ban hành Nghị định 52/NĐ-CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung Nghị định 164/NĐ-CP đã là giải pháp để tháo gỡ những vướng mắc về thuế thu nhập doanh nghiệp cho khu công nghiệp – khu chế xuất giúp tình hình thu hút vốn đầu tư trên cả nước cũng như tại Hải Phòng tăng trở lại. Năm 2014, số dự án là 34, vốn đăng ký là 251,1 triệu USD.
Giai đoạn từ 2015 -2017: số dự án đầu tư và vốn đăng ký, vốn thực hiện tăng năm sau cao hơn năm trước. Đặc biệt, năm 2017, số dự án và số vốn đầu tư tăng trưởng đáng kể ở mức 46 dự án, vốn đăng ký lên đến 915,1 triệu USD và vốn thực hiện là 285,3 triệu USD. Luận văn: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào HP.
Quy mô vốn đầu tư nước ngoài năm 2018 lại giảm mạnh. Số dự án đầu tư chỉ là 18 chiếm tỷ lệ 39% so với năm 2017 và số vốn đăng ký là 117,9 triệu USD chiếm tỷ lệ 13% so với năm 2017. Điều này có thể là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế trên thế giới.
Giai đoạn từ 2019-2024: đầu tư trực tiếp nước ngoài dần được phục hồi. Ở thời kỳ này, năm 2022 là năm thành công nhất trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký lên đến 1884,1 triệu USD.
Với tổng số dự án là 460, số vốn đăng ký là 10998,1 triệu USD Hải Phòng đang đứng ở vị trí thứ tám trong cả nước về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
2.2.3.1.Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hải Phòng theo ngành kinh tế
Bảng 2.7: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hải Phòng theo ngành kinh tế luỹ kế đến 31/12/2024
Cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hải Phòng theo ngành kinh tế phản ánh sự tác động của dòng vốn với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố.
Trong các ngành nghề thì cảng biển,công nghiệp chế biến, chế tạo các thiết bị điện tử, chi tiết và linh kiện công nghiệp điện, điện tử, cơ khí, vật liệu xây dựng…của thành phố thu hút nhiều vốn đầu tư nhất với số dự án là 332 dự án chiếm tỷ lệ 72%, vốn đăng ký 7749,01 triệu USD chiếm 70% và vốn thực hiện là 3295,3 triệu USD chiếm 70%.
- Bảng 2.8: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo lĩnh vực luỹ kế đến hết năm 2024
- Biểu đồ 2.4: Tỷ trọng số dự án trong cơ cấu FDI theo lĩnh vực
- Biểu đồ 2.5: Tỷ trọng vốn đầu tư trong cơ cấu FDI theo lĩnh vực
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào thành phố Hải Phòng chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp. Số dự án trong công nghiệp chiếm 73% tổng số dự án, số vốn đăng ký vào lĩnh vực này là 7759,63 triệu USD chiếm tỷ trọng 70%. Ngành dịch vụ chiếm tỷ lệ không nhiều còn nông nghiệp của thành phố không thu hút được vốn đầu tư nước ngoài. Thực trạng trên cho thấy, với các chính sách ưu đãi thu hút FDI vào nông nghiệp, thủy sản trên địa bàn thành phố chưa hấp dẫn các nhà đầu tư. Bởi lẽ, đây là các lĩnh vực có nhiều rủi ro, phụ thuộc vào thời tiết, lợi nhuận đem lại không cao. Để thúc đẩy nông nghiệp, thủy sản phát triển, thành phố cần có những ưu đãi riêng, cơ chế đặc thù để thu hút các nhà đầu tư nói chung và đầu tư FDI nói riêng để tạo lập nguồn vốn phát triển ngành nông nghiệp. Mặc dù vậy, cơ cấu ngành nghề trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đã khai thác được lợi thế của thành phố, góp phần đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá.
2.2.3.2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hải Phòng theo đối tác đầu tư
Đến hết năm 2024 đã có 35 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào thành phố với 460 dự án và số vốn đăng ký là 10998,1 triệu USD. Luận văn: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào HP.
Bảng 2.9: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hải Phòng theo đối tác đầu tư luỹ kế đến 31/12/2024
Hiện nay, các đối tác đầu tư chủ yếu của Hải Phòng phần lớn là các nước Đông Á, các nước Bắc Mỹ và Tây Âu chiếm tỷ lệ nhỏ, không đáng kể. Đối tác đầu tư lớn nhất vào Hải Phòng là Nhật Bản với số dự án là 124 dự án và số vốn đạt 3853, 8 triệu USD. Tiếp sau đó là Hàn Quốc với 65 dự án và 3125,2 triệu USD vốn đầu tư.
2.2.3.3. Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hải Phòng theo hình thức đầu tư
Bảng 2.10: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hải Phòng theo hình thức đầu tư luỹ kế đến 31/12/2024
Trong những năm đầu thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, dòng vốn FDI vào Hải Phòng chủ yếu là hình thức doanh nghiệp liên doanh. Nguyên nhân là do Luật đầu tư nước ngoài mới được ban hành nên nhà đầu tư chưa hiểu rõ, quy định của pháp luật còn nhiều phức tạp và nhà đầu tư nước ngoài chưa có hiểu biết cụ thể về môi trường đầu tư cũng như tình hình kinh tế – xã hội tại Hải Phòng.
Trong giai đoạn hiện nay, khi các chính sách khuyến khích thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hải Phòng được thực hiện, thủ tục đơn giản hoá việc cấp giấy phép đầu tư với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đã tạo điều kiện cho hình thức này được mở rộng.
2.2.4. Phân tích SWOT Luận văn: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào HP.
Việc phân tích môi trường bên ngoài và phân tích môi trường nội tại trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hải Phòng để thấy được điểm mạnh, điểm yếu cũng như cơ hội, thách thức. Đó là cơ sở đề xuất giải pháp tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Bảng 2.11: Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ, thách thức trong thu hút FDI của Hải Phòng bằng phân tích SWOT
Điểm mạnh (Strength)
- Vị trí địa lý thuận lợi:
Hải Phòng là đô thị loại một cấp quốc gia, một trong năm thành phố trực thuộc trung ương, nằm trong tam giác phát triển kinh tế trọng điểm khu vực phía Bắc là Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh.
Hải Phòng là thành phố ven biển, nằm phía Đông miền duyên hải Bắc Bộ, sở hữu Cảng biển lớn nhất khu vực phía Bắc. Với vị trí thuận lợi, Hải Phòng là thành phố Cảng, trung tâm kinh tế, công nghiệp, du lịch vùng duyên hải Bắc Bộ. Hải Phòng là đầu mối giao thông quan trọng ở miền Bắc và ở Việt Nam. Hải Phòng nằm trên vùng đồng bằng Bắc Bộ với phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây giáp tỉnh Hải Dương, phía Nam giáp tỉnh Thái Bình. Cảng biển Hải Phòng còn đóng vai trò quan trọng trong giao thông hàng hải quốc tế với Lào và Trung Quốc, trung tâm vận chuyển hàng hoá ở khu vực châu Á.
Vì vậy, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào thành phố Hải Phòng phải tập trung vào các ngành, lĩnh vực mũi nhọn như đóng tầu, dịch vụ hàng hải, logistic, vật liệu xây dựng, du lịch, da giày, may mặc…
- Kết cấu hạ tầng tương đối tốt
Hải Phòng có kết cấu hạ tầng giao thông tương đối tốt hơn so với các tỉnh lân cận.
Về hệ thống đường bộ: Hiện nay, Hải Phòng có tuyến đường quốc lộ 5, quốc lộ 10, quốc lộ 37 và các tuyến đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, đường cao tốc ven biển Quảng Ninh – Hải Phòng – Nam Định. Công trình tiêu biểu của thành phố: cầu Bính bắc qua sông Cấm nối giữa quận Hồng Bàng và Thuỷ Nguyên được xem là một trong những cây cầu đẹp nhất Đông Nam Á, cầu Lạc Long bắc qua sông Tam Bạc là cây cầu có đường dẫn đẹp nhất thành phố. [haiphong.gov.vn]
Về hệ thống đường sắt: Hải Phòng có tuyến đường sắt nối liền Hà Nội – Hải Phòng hiện đang sử dụng vận chuyển hành khách và hàng hoá.
Về hệ thống Cảng biển: Cảng Hải Phòng là cụm cảng cấp quốc gia, là một trong những cảng biển cấp quốc gia.
Về hệ thống đường hàng không: Hiện nay, sân bay Cát Bi đã được nâng cấp thành sân bay quốc tế.
- Có nhiều chính sách ưu đãi, hấp dẫn với nhà đầu tư
Hải Phòng đang áp dụng nhiều cơ chế ưu đãi hấp dẫn nhà đầu tư ưu đãi về miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân cụ thể là miễn thuế 4 năm, giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 9 năm tiếp theo, kể từ khi có thu nhập chịu thuế, giảm 50% thuế thu nhập cá nhân. Luận văn: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào HP.
Bảng 2.12: Ưu đãi đầu tư về thuế
Điểm yếu (Weakness)
- Thị trường không được mở rộng so với một số thành phố như thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Hà Nội.
- Thủ tục hành chính vẫn còn rườm rà, vẫn còn tồn tại cơ chế “xin cho”, sách nhiễu, thiếu tính minh bạch.
- Thiếu đội ngũ doanh nhân,chuyên gia, lao động trình độ cao:
Hiện nay, Hải Phòng vẫn chưa có chính sách thu hút, sử dụng nhân tài, đội ngũ doanh nhân còn thiếu và còn yếu.
Thời cơ (Oppotunities)
- Nền kinh tế, chính trị xã hội ổn định
Việt Nam là quốc gia ổn định về chính trị – xã hội, là một trong những nền kinh tế tăng trưởng năng động. Điều này giúp cho Việt Nam nói chung và các địa phương nói riêng có lợi thế trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Hoạt động xúc tiến đầu tư đang được đẩy mạnh
Các hoạt động xúc tiến đầu tư được quan tâm và tăng cường trên phạm vi cả nước.
Thách thức (Threat)
- Cạnh tranh thu hút FDI với các nước ASEAN
Cạnh tranh trong thu hút FDI ngày càng gay gắt, năng lực cạnh tranh của Việt Nam thấp hơn nhiều so với các nước Thái Lan, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a, Phi-lip-pin…là thách thức không nhỏ.
- Các địa phương đang ra sức cải thiện môi trường đầu tư
Các địa phương trong cả nước nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh để tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài. Luận văn: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào HP.
2.2.3.4. Những đóng góp của đầu tư trực tiếp nước ngoài cho Hải Phòng
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng vai trò quan trọng, là nguồn vốn để phát triển kinh tế của thành phố Hải Phòng. Đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn đầu tư cho phát triển kinh tế của Hải Phòng.
- Bảng 2.13: Tỷ trọng vốn FDI trong tổng vốn đầu tư tại Hải Phòng
- Biểu đồ 2.6: Tỷ trọng vốn FDI trong tổng vốn đầu tư phát triển kinh tế
Trong những năm gần đây vốn đầu tư nước ngoài ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong tổng vốn đầu tư của toàn thành phố. Năm 2020, vốn FDI chiếm 13,4%, năm 2021 vốn FDI chiếm 20%, năm 2022 ở mức 29,7%, năm 2023 tăng lên 32,7% và năm 2024 là 31,8%.
Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần làm tăng năng lực sản xuất, tạo ra sản lượng hàng hoá và dịch vụ ngày càng nhiều cho kinh tế thành phố.
- Bảng 2.14: Giá trị sản xuất công nghiệp khu vực có vốn FDI tại Hải Phòng
- Biểu đồ 2.7: Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ở mức cao trong giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố Hải Phòng.Từ 2020 đến 2024 khu vực doanh nghiệp FDI có tỷ trọng giá trị sản xuất chiếm trong toàn ngành công nghiệp của Hải Phòng tương ứng là 48,66%; 49,2%; 49,8%; 49,9%; và 51,44% qua đó góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực của kinh tế Hải Phòng như sản xuất các sản phẩm điện tử; công nghệ thông tin; sản xuất thép, xi măng …
Điều này cho thấy đầu tư trực tiếp nước ngoài chính là nhân tố góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp phù hợp với mục tiêu công nghiệp hoá – hiện đại hoá của thành phố.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là nhân tố góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế Hải Phòng theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Hiện nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tăng tỷ trọng trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, góp phần gia tăng giá trị sản xuất. Vốn đăng ký vào lĩnh vực công nghiệp của thành phố chiếm hơn 70% tổng vốn đăng ký.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài hình thành nên các khu vực sản xuất công nghiệp tập trung như khu công nghiệp Đình Vũ, khu công nghiệp Nomura, khu công nghiệp Vsip, khu công nghiệp Tràng Duệ…
Đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp thành phố Hải Phòng tiếp thu khoa học, công nghệ tiên tiến trên thế giới. Thông qua các dự án FDI cho phép Hải Phòng rút ngắn được khoảng cách về công nghệ, nắm bắt được các công nghệ tiên tiến trên thế giới. Hơn nữa, đầu tư trực tiếp nước ngoài còn đem lại mô hình quản lý và phương thức kinh doanh hiện đại.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của thành phố.
Đầu tư trực tiếp nước góp phần giúp Hải Phòng mở rộng thị trường xuất khẩu ra thế giới và tăng kim ngạch xuất khẩu của thành phố. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tạo ra khối lượng hàng hoá lớn phục vụ cho thị trường nội địa và xuất khẩu. Thêm vào đó, khu vực FDI còn góp phần làm thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướng giảm tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm khai khoáng, tăng dần tỷ trọng hàng xuất khẩu của công nghiệp chế biến, chế tạo.
2.2.5. Hạn chế trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hải Phòng Luận văn: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào HP.
2.2.5.1.Cơ chế, chính sách thu hút đầu tư,thủ tục hành chính
Luật đầu tư đã được thông qua vào năm 2023 là khung pháp lý cho hoạt động đầu tư trong và ngoài nước. Tuy nhiên, luật vẫn chưa phân định rõ ràng tư cách của nhà đầu tư nước ngoài. Luật phân chia nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài ra thành ba nhóm: nhà đầu tư có quốc tịch nước ngoài, doanh nghiệp Việt Nam có 51% vốn nước ngoài, doanh nghiệp Việt Nam có dưới 51% vốn nước ngoài, các nhóm này áp dụng thủ tục đầu tư khác nhau. Điều này thể hiện sự không rõ ràng giữa chính sách thu hút đầu tư nước ngoài với bảo hộ sản xuất trong nước, cho thấy nhiều bất cập trong chính sách thu hút đầu tư.
- Thủ tục hành chính vẫn còn chồng chéo, phức tạp, thời gian giải quyết thủ tục còn kéo dài gây ảnh hưởng đến nhà đầu tư.
2.2.5.2. Quy hoạch, phát triển cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng của thành phố Hải Phòng được đánh giá tương đối tốt so với các tỉnh lân cận. Mặc dù vậy, cơ sở hạ tầng vẫn chưa đồng bộ, tập trung chủ yếu ở khu vực thành thị, việc phát triển cơ sở hạ tầng cho khu vực nông thôn chưa được quan tâm đúng mức, khu vực ven biển, hải đảo còn gặp nhiều khó khăn về hạ tầng.
2.2.5.3. Chất lượng nhân lực
Lợi thế lao động dồi dào và giá rẻ đang qua đi, do đó chất lượng nhân lực ngày càng đóng vai trò quan trọng trong thu hút đầu tư. Dân số Hải Phòng tính đến năm 2024 là khoảng hơn 2 triệu người, trong đó số người trong độ tuổi lao động là trên 1,1 triệu người chiếm trên 55% dân số. Cơ cấu lao động theo chuyên môn tại Hải Phòng: trình độ Đại học và trên Đại học chiếm 10,4%, Cao đẳng 3%, trung cấp 9%, trình độ nghề sơ cấp là 6% còn lại là lao động không qua đào tạo.
Thực tế cho thấy lao động ở Hải Phòng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu lao động có tay nghề cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên địa bàn Hải Phòng đặc biệt là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
2.2.5.4. Hoạt động xúc tiến đầu tư
Công tác xúc tiến đầu tư tại thành phố Hải Phòng do trung tâm xúc tiến đầu tư và ban quản lý các khu kinh tế thực hiện. Tuy nhiên, việc xúc tiến đầu tư phân tán chưa mang lại hiệu quả như mong muốn, chưa tập trung vào các đối tác, lĩnh vực trọng điểm. Hoạt động xúc tiến thiếu tính chuyên nghiệp, chồng chéo, nội dung và hình thức chưa phong phú, đa dạng, gây lãng phí nguồn lực. Thêm vào đó, thông tin về các hoạt động đầu tư chưa được cập nhật thường xuyên, thiếu sự liên kết, phối hợp với các phòng thương mại, phòng công nghiệp của các quốc gia tại Việt Nam.
2.3. Mô hình các yếu tố thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Luận văn: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào HP.
2.3.1. Cơ sở lý thuyết
Mô hình Determinant ban đầu được mô tả bởi phương trình: FDIit= βjXjt +εit (1)
- Trong đó:
FDIit là dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các tỉnh thành i ở năm t (đơn vị tính theo đô la Mỹ). Đây chính là biến phụ thuộc trong mô hình.
Xjt là tập hợp của các biến độc lập ở các tỉnh thành năm t. βj là hệ số của biến phụ thuộc εitlà sai số ngẫu nhiên
Để đồng nhất có được mô hình Determinant về đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các địa phương, tiến hành lấy log các biến. Mô hình dưới dạng:
LnFDIit=β0 + β1LnPCIit+β2LnGDP it+β3LnTTGDP it+β4LnKLHH it+ β4LnNSLDit+ β5LnTNBQit+εit (2)
Trong đó:
- FDIit là dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các tỉnh thành i ở năm t (đơn vị tính theo đô la Mỹ).
- PCIitlà năng lực cạnh tranh của tỉnh thành i năm t (điểm)
- GDP itlà tổng sản phẩm quốc nội theo tỉnh thành i năm t (đồng Việt Nam)
- TTGDP itlà tốc độ tăng trưởng GDP theo tỉnh thành i năm t (%)
- KLHH itlà khối lượng hàng hóa theo tỉnh thành i năm t (kg)
- NSLDitlà năng suất lao động theo tỉnh thành i năm t (đồng/người)
- TNBQ itlà thu nhập bình quân theo tỉnh thành i năm t (đồng/người)
- εitlà sai số ngẫu nhiên
Mô hình Determinant về FDI của địa phương được mô tả như sau:
- FDI = f (Quy mô thị trường, tăng trưởng, nhân tố lao động, thu nhập, cơ sở vật chất, Thể chế) [28]
- Dựa trên các mô hình nghiên cứu về FDI trước đây, mô hình thực nghiệm FDI sử dụng các biến sau:
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài: Lượng vốn FDI đăng ký theo các địa phương.
- Thể chế: năng lực cạnh tranh theo từng địa phương, chỉ số năng lực cạnh tranh tác động đến nguồn vốn FDI.
- Quy mô thị trường: tổng sản phẩm địa phương. Nghiên cứu của AperGis (2015), quy mô thị trường tác động đến nguồn vốn FDI. Luận văn: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào HP.
- Tăng trưởng: tốc độ tăng tổng sản phẩm. Nghiên cứu của AperGis (2015), tăng trưởng tác động đến nguồn vốn FDI.
- Cơ sở hạ tầng: Nghiên cứu ODI năm 2016 chỉ ra rằng cơ sở hạ tầng nghèo nàn có thể là trở ngại nhưng cũng có thể là cơ hội cho đầu tư nước ngoài.
- Lao động: năng suất lao động tác động đến thu hút FDI
- Thu nhập: Thu nhập bình quân tác động đến thu hút FDI
Bảng 2.15: Chiều dự kiến FDI và biến độc lập
2.3.2. Số liệu
Số liệu được sử dụng trong mô hình đầu tư trực tiếp nước ngoài là số liệu theo chuỗi thời gian từ năm 2016-2023 được lấy từ nhiều nguồn khác nhau. Số liệu được thu thập từ trang web của Tổng cục thống kê (gso.gov.vn) và số liệu thống kê các tỉnh thành theo niên giám thống kê địa phương.
Bảng 2.16: Trình bày nguồn để tổng hợp số liệu sử dụng trong mô hình.
2.3.3. Kết quả thực nghiệm
Dựa trên số liệu thu thập được và chạy mô hình bằng phần mềm STATA cho ra kết quả của mô hình hồi quy. Sau khi chạy mô hình, tiến hành kiểm định xem kết quả ước lượng có đáng tin cậy hay không.
Để kiểm tra phương sai sai số thay đổi dùng Breusch-Pagan để kiểm tra phương sai sai số thay đổi (heteroskedasticity) ta thu được kết quả như bảng sau:
Breusch-Pagan / Cook-Weisberg test for heteroskedasticity
- Ho: Constant variance
- Variables: fitted values of lnFDI
- chi2(1) = 78.98
- Prob > chi2 = 0.0000
Với giả thuyết Ho: phương sai sai số cố định (Constant variance). Kết quả cho thấy xác suất = 0,0000. Do đó ta bác bỏ giả thuyết Ho.Điều này có nghĩa là có hiện tượng phương sai sai số thay đổi.
Để kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến ta dùng Vif (Variance inflation factor) để kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến thu được kết quả như bảng sau: Luận văn: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào HP.
Ta thấy kết quả Mean vif = 3.56 <15, ta khẳng định không xuất hiện hiện tượng đa cộng tuyến.
Để kiểm tra hiện tượng tự tương quan (autocorrelation) ta dùng Wooldridge để kiểm tra. Sau khi kiểm tra thu được kết quả như sau:
- Wooldridge test for autocorrelation in panel data
- H0: no first-order autocorrelation
Với giả thuyết Ho: Không có hiện tượng tự tương quan. Kết quả cho thấy xác suất bằng 0, 9046. Do đó chấp nhận H0: Khẳng định không xuất hiện hiện tượng tự tương quan.
Như vậy, mô hình chỉ xuất hiện hiện tượng phương sai sai số thay đổi, không bị hiện tượng đa cộng tuyến và hiện tượng tự tương quan. Để khắc phục hiện tượng phương sai sai số thay đổi ta dùng mô hình Pool OLS.
- Sau khi chạy mô hình có được kết quả như sau:
Bảng 2.17: Bảng kết quả ước lượng mô hình
Từ kết quả hồi quy của mô hình,cho thấy mô hình Determinant về FDI đã giải thích được 29,14% tác động của các nhân tố liên quan đến thể chế, quy mô thị trường, tăng trưởng, cơ sở hạ tầng, lao động và thu nhập đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Về cơ bản, hệ số của các biến đều mang giá trị mong đợi.Hầu hết các hệ số của các biến quan trong đều có ý nghĩa thống kê cao.Điều này cho thấy kết quả nghiên cứu thực nghiệm đều phù hợp với dự đoán về mặt lý thuyết và kết quả của mô hình là đáng tin cậy.
Theo mô hình, chỉ số năng lực cạnh tranh địa phương là nhân tố tác động lớn nhất đến đầu tư trực tiếp nước ngoài.Biến PCIittác động cùng chiều đến đầu tư trực tiếp nước ngoài. Cụ thể, chỉ số năng lực cạnh tranh cứ tăng lên 1% (trong điều kiện các yếu tố khác không đổi) thì đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng lên 7.43%. Điều này phù hợp với lý thuyết là PCI có mối quan hệ chặt chẽ với FDI trong cùng thời gian t. PCI là biến đại diện cho thể chế điều này có nghĩa là thể chế có tác động mạnh đến việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Để tăng cường thu hút đầu tư, phải có thể chế phù hợp, chính sách ưu đãi và đơn giản hóa các thủ tục hành chính. Luận văn: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào HP.
Biến GDPit có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, hệ số của biến GDPit là số dương, thể hiện GDP tác động cùng chiều đến đầu tư trực tiếp nước ngoài. Khi GDP tăng lên 1% (trong điều kiện các yếu tố khác không đổi) thì đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng lên 1.385%. Biến GDP là biến đại diện cho quy mô thị trường. Kết quả ước lượng từ mô hình phù hợp với thực tế là quy mô thị trường càng tăng thì càng hấp dẫn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Biến tăng trưởng GDP (TTGDPit) là biến đại diện cho tăng trưởng, thể hiện tác động với FDI là tốc độ tăng trưởng GDP tăng lên hoặc giảm xuống 1% thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng tăng lên hoặc giảm xuống tương ứng với mức là 1,48%.
Theo lý thuyết đã nêu, cơ sở hạ tầng có thể là cơ hội nhưng cũng có thể là thách thức đối với thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Sau khi ước lượng các con số thống kê theo địa phương, có thể thấy cơ sở hạ tầng là nhân tố tạo cơ hội để thu hút vốn đầu tư, làm đầu tư có thể tăng thêm.
Năng suất lao động và thu nhập bình quân (NSLDit và TNBQit) là những biến không có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, hệ số ước lượng của các biến này theo mô hình thể hiện năng suất lao động tỷ lệ thuận với đầu tư trực tiếp nước ngoài còn thu nhập bình quân theo địa phương lại tác động theo chiều tỷ lệ nghịch đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Bảng 2.18: Tóm tắt các chỉ tiêu thống kê
- Bảng 2.19: Ma trận tự tương quan
Kết luận chương 2
- Chương hai của luận văn đã phân tích, làm rõ các vấn đề sau đây:
Thứ nhất: đề cập đến khung pháp lý cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam cũng như phân tích khái quát thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn từ năm 1988 cho đến năm 2024, thực trạng thu hút FDI theo địa phương, theo ngành nghề, theo đối tác và hình thức đầu tư để thấy được tình hình thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong giai đoạn này.
Thứ hai: phân tích, làm rõ thực trạng đầu tư nước ngoài tại Hải Phòng từ năm 1990 đến năm 2024 về số dự án, số vốn, cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài theo lĩnh vực, ngành nghề, theo đối tác đầu tư và hình thức đầu tư. Thông qua đó, chỉ ra được những đóng góp của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc phát triển kinh tế, xã hội của thành phố và bài học kinh nghiệm thu hút FDI.
Thứ ba: nêu được lý thuyết mô hình kinh tế lượng xác định các yếu tố thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các tỉnh của Việt Nam đồng thời thể hiện kết quả ước lượng theo các số liệu thống kê địa phương thông qua mô hình kinh tế Determinant của đầu tư trực tiếp nước ngoài. Mô hình thống kê đã chỉ ra được mối quan hệ cũng như sự tác động giữa các biến đại diện cho thể chế, quy mô thị trường, tăng trưởng, cơ sở hạ tầng, lao động và thu nhập đến đầu tư trực tiếp nước ngoài. Qua mô hình, các nhân tố về thể chế, quy mô thị trường, tăng trưởng, cơ sở hạ tầng có tác động đến thu hút FDI vào các tỉnh.
Trên cơ sở phân tích thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam và Hải Phòng, chương ba của luận văn sẽ đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Luận văn: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào HP.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào HP

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào HP […]