Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam những năm gần đây dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Từ những cơ sở lý luận đã được đề cập ở chương 1, chương 2 sẽ đi vào phân tích thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong thời gian vừa qua, những đánh giá về việc thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, qua đó để thấy những kết quả đạt được trong quá trình thu hút khách du lịch quốc tế cũng như chỉ ra được những hạn chế, nguyên nhân còn tồn tại. Ngoài ra chương 2 cũng sử dụng mô hình kinh tế lượng để xác định các yếu tố thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, từ đó tạo tiền đề cho việc tìm những giải pháp nhằm thu hút hơn nữa khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong thời gian tới.

2.1. Thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam

2.1.1. Sự hình thành của hoạt động du lịch quốc tế tại Việt Nam

Du lịch Việt Nam có từ rất xa xưa nhưng ngành du lịch Việt Nam chính thức được ra đời cách đây hơn 50 năm. Trong quá trình hình thành và phát triển, ngành du lịch gặp không ít những khó khăn do đất nước còn bị chia cắt, điều kiện hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn, chưa đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch, tuy nhiên, trong những năm trở lại đây, điều kiện hạ tầng và điều kiện cơ sở vật chất đã được đầu tư chú trọng và xây mới, điều đó phần nào đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch đặc biệt là khách du lịch quốc tế. Sự hình thành và phát triển của hoạt động du lịch quốc tế gắn với sự hình thành và phát triển của ngành du lịch Việt Nam và được chia thành các giai đoạn sau:

Giai đoạn năm 1960 – 1975: Trong giai đoạn này, nước Việt Nam đang bị chia cắt thành hai miền Nam Bắc, ngành du lịch chủ yếu phát triển ở miền Bắc. Khách quốc tế đến Việt Nam hầu hết là các đoàn ngoại giao, các đoàn chuyên gia đến từ các nước thuộc khối XHCN (Liên Xô cũ, Bungari, Hungari, Rumani, Tiệp Khắc, Ba Lan … và các nước Cu Ba, Trung Quốc).

Giai đoạn 1976 – 1990: Đất nước đã hoàn toàn thống nhất, công ty du lịch Việt Nam tiếp quản các khách sạn tại các tỉnh, thành từ Bắc vào Nam. Tình hình hoạt động kinh doanh du lịch ngày càng được mở rộng về qui mô và ngành nghề. Tuy nhiên, do các rào cản về chính sách, sự yếu kém về hạ tầng, và sự kém phát triển về kinh tế, số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam tăng rất chậm. Trong vòng 10 năm, lượng khách quốc tế chỉ tăng 1,4 lần (từ 36.910 lượt khách năm 1975 đến 50.830 lượt khách năm 1985) (Nguồn: Bộ Nội vụ, 1979).

Giai đoạn 1986 – 1990: Năm 1986, một dấu mốc lịch sử quan trọng đã diễn ra, đó là Đại hội Đảng VI quyết định thực hiện đường lối đổi mới, đánh dấu sự khởi đầu cho một giai đoạn mới của đất nước. Với chính sách mở cửa: Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trên thế giới, du lịch Việt Nam đã thực sự có điều kiện để chuyển sang giai đoạn phát triển nhanh. Tuy nhiên, phải đến năm 1990, dưới tác động của các chính sách mới, đặc biệt là luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam bước đầu có hiệu lực và nhờ sự đơn giản về thủ tục xuất nhập cảnh, sự phát triển hệ thống hạ tầng (các sân bay, cảng biển, mạng lưới giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống điện nước…) và sự phát triển nhanh về kinh tế, sự ổn định về chính trị…. du lịch Việt Nam có bước phát triển nhảy vọt. Năm 1990, Việt Nam đã đón hơn 250.000 lượt khách quốc tế (gấp 4,92 lần so với năm 1985).

  • Bảng 2.1. Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1985 – 1990

Giai đoạn 1990 – nay: đặc biệt là trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2004. Tốc độ tăng bình quân hàng năm về khách quốc tế đạt hơn 46%. Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.

Khoảng cách về số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam so với các nước trong khu vực ASEAN được thu hẹp.

Từ năm 2005, tốc độ tăng trưởng của du lịch Việt Nam không cao như các năm trước, nằm ở mức phát triển bình thường. Năm 2006, tốc độ tăng trưởng khách quốc tế đạt 6,7%. Năm 2007, số khách quốc tế đến Việt Nam giảm 11,4% do khủng hoảng tài chính trong khu vực. Sau đó, du lịch Việt Nam phục hồi nhanh và tiếp tục phát triển. Đến năm 2012, số khách quốc tế đến Việt Nam lại giảm 7,6% do tác động của bệnh dịch SARS và chiến tranh tại I-rắc. Đến năm 2013 và 2014, du lịch Việt Nam lại tiếp tục tăng trưởng với tốc độ tăng khách quốc tế năm 2013 đạt 20,6%. Lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 8/2025 ước đạt 899.738 lượt, tăng 6,3% so với tháng 7/2025 và tăng 34,4% so với cùng kỳ năm 2024. Tính chung 8 tháng năm 2025 ước đạt 6.452.373 lượt khách, tăng 25,4% so với cùng kỳ năm 2024. (Số liệu thống kê – Vietnamtourism.cm.vn – tra ngày 28/8/2025).

2.1.2. Tiềm năng thu hút khách du lịch quốc tế của Việt Nam

Lãnh thổ của Việt Nam có hình thế kéo dài gần 15 vĩ độ từ 802’ đến 23023’ vĩ độ Bắc , từ 102017’ đến 109028’ kinh độ Đông, bao gồm hai phần:

Phần đất liền có diện tích 327.279km2. Phần đất liền, phía bắc giáp Trung Quốc có đường biên giới dài 1.400km; phần phía Tây giáp Lào có đường biên giới dài 2.067 km và giáp Campuchia với đường biên giới dài 1.080km. Phía Đông giáp biển Đông với đường biên giới dài 3.260km. Phía nam giáp vịnh Thái lan.

Bộ phận lãnh hải có diện tích trên 1 triệu km2, bao gồm phần nội thủy, lãnh hải; vùng giáp lãnh hải; vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý. Dưới phần đất liền là thềm lục địa.

Với vị trí địa lý như vậy, Việt Nam nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới nóng, ẩm, mưa nhiều, tạo cho thực – động vật phát triển, thiên nhiên đa dạng. Vị trí ở nước ta nằm gần như ở trung tâm của khu vực Đông Nam Á, nên nước ta chịu ảnh hưởng bởi các vận động địa chất ở khu vực Đông Nam Á, vận động địa chất Vân Nam Trung Quốc, vận động địa chất địa máng Việt – Lào, vận động địa chất Hymalaya vào cuối đại Tân Sinh tạo cho đặc điểm địa hình và địa chất của Việt Nam đa dạng.

Do vị trí nằm gần trung tâm khu vực Đông Nam Á, trên đường giao thông quốc tế từ lục địa Á – Âu đến lục địa Úc, từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương nên nước ta nằm gần và chịu nhiều ảnh hưởng của hai nền văn hóa cổ đại lớn là Trung Quốc và Ấn Độ; nằm trong khu vực có sự giao thoa văn hóa giữa hai khu vực và với các nước phương Tây. Thêm vào nữa, lại là một quốc gia có gần 4.000 năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Tất cả các yếu tố trên đã tạo cho nước ta có nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như tài nguyên nhân văn phong phú, đa dạng, đặc sắc, tạo điều kiện thuận lợi để ngành du lịch Việt Nam phát triển, đặc biệt là đón khách du lịch quốc tế đến Việt Nam. (Bùi Thị Hải Yến, Phạm Hồng Long, 2016).

2.1.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên

  • Tài nguyên địa hình

Ở nước ta, các địa hình được khai thác như một tài nguyên du lịch tự nhiên quan trọng thường là các dạng và các kiểu địa hình đặc biệt sau:

  • Các vùng núi có phong cảnh đẹp Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.

Các vùng núi có phong cảnh đẹp đã được phát triển và khai thác phục vụ mục đích du lịch là cao nguyên Lâm Viên (Lang Biang) với thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng), Sa Pa, Bắc Hà (Lào Cai), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Ba Vì (Hà Nội), các vùng hồ tự nhiên và nhân tạo như hồ Ba Bể (Bắc Kạn), hồ Hòa Bình (Hòa Bình), hồ Thác Bà (Yên Bái), hồ Đồng Mô (Hà Nội)…. Đặc biệt, Đà Lạt và Sa Pa ở độ cao trên 1.500m được mệnh danh là “thành phố trong sương mù”, mang nhiều sắc thái của thiên nhiên vùng ôn đới đã được xây dựng thành điểm du lịch tham quan nghỉ mát từ cách đây trên dưới 100 năm.

  • Các hang động

Các hang động ở nước ta chủ yếu là các hang động nằm trong các vùng núi đá vôi có kiểu địa hình rất phát triển. Vùng núi đá vôi ở nước ta có diện tích khá lớn, tới 50.000 – 60.000km2 chiếm gần 15% diện tích cả nước tập trung chủ yếu ở miền Bắc từ Lai Châu, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn ở biên giới Việt – Trung, các cao nguyên đá vôi ở Tây Bắc, vùng núi đá vôi Hòa Bình – Thanh Hóa cho đến vùng núi đá vôi Quảng Bình.

Các công trình điều tra, nghiên cứu hang động ở Việt Nam đã phát hiện được khoảng 200 hang động, trong đó phần lớn tới gần 90% là các hang ngắn và trung bình(có độ dài dưới 100m) và chỉ có trên 10% số hang có độ dài trên 100m. Các hang dài nhất ở nước ta được phát hiện cho đến nay phần lớn tập trung ở Quảng Bình như hang Vòm tới 27km (chưa kết thúc), động Phong Nha 8,5km, hang Sơn Đòong dài khoảng 9km, hang Tối 5,5km, ở Lạng Sơn có hang Cả – hang Bè cũng dài hơn 3,3km.

Nhiều hang động ở nước ta có vẻ đẹp lộng lẫy, tráng lệ và rất kỳ ảo, có sức hấp dẫn đặc biệt với khách du lịch. Bên cạnh những vẻ đẹp tự nhiên do tạo hóa sinh ra, các hang động còn chứa đựng những di tích khảo cổ học, những di tích lịch sử – văn hóa rất đặc sắc của dân tộc nên càng có giá trị để phát triển du lịch.

Các hang động ở nước ta tuy nhiều nhưng số lượng khai thác sử dụng cho mục đích du lịch còn rất ít. Tiêu biểu nhất là: Động Hương Tích (Hà Nội), Tam Cốc – Bích Động (Ninh Bình), động Nhị Thanh, Tam Thanh (Lạng Sơn), động Sơn Mộc Hương (Sơn La), các hang động ở vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), Động Phong Nha, hang Sơn Đòong (Quảng Bình),… đặc biệt hang Sơn Đòong được Tạp chí Global Grasshopper bình chọn trong nhóm 10 địa danh đẹp ấn tượng nhất hành tinh.

  • Các bãi biển Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.

Nước ta có đường bờ biển dài 3.260km với khoảng hơn 125 bãi biển có bãi cát bằng phẳng, độ dốc trung bình 1 – 3o, đủ điều kiện để khai thác phục vụ du lịch. Điều lý thú là cả hai điểm đầu và cuối của đường bờ biển nước ta đều là hai bãi biển đẹp: Bãi biển Trà Cổ ở Quảng Ninh có chiều dài gần 17km với bãi cát rộng, bằng phẳng tới mức lý tưởng và bãi biển Hà Tiên với thắng cảnh hòn Phụ Tử nổi tiếng.

Các bãi biển ở nước ta phân bố trải đều từ Bắc và Nam. Nổi tiếng nhất là các bãi biển Trà Cổ, Cát Bà, Sầm Sơn, Cửa Lò, Thuận An, Lăng Cô, Non Nước, Sa Huỳnh, Văn Phong, Nha Trang, Ninh Chữ, Cà Ná, Vũng Tàu, bãi Sao (Phú Quốc) …

Bên cạnh đó, vùng biển nước ta còn có khoảng 3000 hòn đảo lớn nhỏ và các quần đảo gần và xa bờ với nhiều bãi biển và phong cảnh đẹp còn nguyên vẹn vẻ hoang sơ, môi trường trong lành và những điều kiện tự nhiên rất thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch biển. Tiêu biểu nhất là các đảo Cái Bầu, Cát Bà, Cù Lao Chàm, Côn Đảo, Phú Quốc… nếu được đầu tư sẽ phát triển thành những điểm du lịch hấp dẫn và có sức cạnh tranh.

  • Tài nguyên khí hậu

Nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa, với lượng nhiệt ẩm và lượng mưa phong phú. Các công trình nghiên cứu cho thấy các yếu tố của khí hậu nước ta khá thích hợp với sức khỏe của con người, khá thuận lợi cho hoạt động du lịch.

Từ đèo Hải Vân trở ra Bắc có khí hậu mang tính á nhiệt, có mùa đông lạnh, mưa ít và mùa hạ nóng, mưa nhiều. Giữa mùa đông và mùa hạ là hai mùa chuyển tiếp xuân và thu. Với đặc điểm này, khí hậu ở miền bắc thuận lợi cho việc trồng các loại cây ăn quả và rau ôn đới, cung cấp các sản vật ngon, hấp dẫn du khách.

Từ đèo Hải Vân đến mũi Cà Mau nóng quanh năm, nhiệt độ trung bình 27-280C, có một mùa mưa, một mùa khô, thuận lợi cho trồng các loại cây công nghiệp và cây ăn quả nhiệt đới, có thể khai thác cảnh quan, phát triển loại hình du lịch sinh thái nhân văn, cung cấp các loại cây ăn quả nhiệt đới cho du khách. Khí hậu nhiều ảnh nắng, nóng quanh năm, đặc biệt ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ như Đà Nẵng, Nha Trang… thuận lợi cho hoạt động du lịch tới tháng 10 trong năm, đặc biệt là du lịch biển.

Khí hậu còn có sự phân hóa theo độ cao. Ở nước ta, nhiều vùng núi có khí hậu mát mẻ quanh năm, nhiệt độ trung bình từ 15 – 200C, sự dao động nhiệt độ giữa ngày và đêm thấp, cộng với cảnh quan hùng vĩ, tươi đẹp, rất thích hợp với sức khỏe của con người và thuận lợi cho phát triển các loại hình du lịch tham quan, nghỉ dưỡng, chữa bệnh như Đà lạt, SaPa, Tam Đảo, Bà Nà…

  • Tài nguyên nước Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.

Việt Nam nổi tiếng với nhiều bãi biển đẹp, cát trắng, mịn được khách du lịch quốc tế rất ưa chuộng như các bãi biển ở đảo Phú Quốc, Nha Trang, Vũng tàu, Mỹ Khê, Lăng Cô, Cửa Lò, Trà Cổ, Cát Bà…

Ngoài ra, về tài nguyên nước của Việt Nam không thể không kể đến nguồn nước khoáng. Nguồn nước khoáng Việt Nam được đặc trưng bởi thành phần hóa học rất đa dạng, có độ khoáng hóa cao và hàm lượng các nguyên tố lượng khá cao như brôm; iôt, flo, asen…. Chính nhờ những nguyên tố vi lượng này mà giá trị chữa bệnh và các giá trị kinh tế khác của nước khoáng ở nước ta tăng lên rõ rệt. Nguồn nước khoáng ở nước ta nằm ở dải rác các nơi trên khắp đất nước như nguồn nước khoáng Vĩnh Hảo (Ninh Thuận), Tháp Bà (Nha Trang), Bình Châu (Bà Rịa – Vũng Tàu), Mỹ Lâm (Tuyên Quang), Kim Bôi (Hòa Bình)… đã được khai thác phục vụ đông đảo khách du lịch từ nhiều năm nay.

  • Tài nguyên sinh vật

Tài nguyên sinh vật ở nước ta rất đa dạng và phong phú. Nguồn tài nguyên quý giá này cũng đã được khai thác để phục vụ cho mục đích du lịch.

Tài nguyên sinh vật ở nước ta phục vụ mục đích du lịch được tập trung khai thác ở:

  • Các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, dự trữ sinh quyển và các khu rừng di tích lịch sử, văn hóa, môi trường

Để bảo vệ sự đa dạng và phong phú của các hệ sinh thái, chính phủ Việt Nam đã chú trọng xây dựng hệ thống các khu rừng đặc dụng. Tính đến năm 2024 Việt Nam có 31 vườn quốc gia, 9 khu dự trữ sinh quyển thế giới.

Hệ thống vườn quốc gia bao gồm: Vườn quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình) có diện tích 22.200ha được thành lập từ năm 1962, các vườn quốc gia Ba Bể (Bắc Kạn) có diện tích 23.340ha, Ba Vì (Hà Nội) có diện tích 7.377ha và Tam Đảo (Vĩnh Phúc) có diện tích 36.883ha được thành lập năm 1978, vườn quốc gia Côn Đảo (Bà Rịa – Vũng Tàu) có diện tích 15.043ha được thành lập năm 1984, các vườn quốc gia Cát Bà (Hải Phòng) có diện tích 15.200ha, Bến En (Thanh Hóa) có diện tích 16.634ha được thành lập từ năm 1986 và vườn quốc gia Yok Đon (Đắc Lắc) có diện tích lớn nhất, tới 58.200ha, được thành lập năm 2000…

  • Các cảnh quan du lịch tự nhiên Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.

Nhiều thể tổng hợp tự nhiên có tài nguyên phong phú, hấp dẫn, có mức độ tập trung cao, tạo nên các khu, điểm du lịch có cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn du khách như: Khu du lịch SaPa, Khu du lịch Hạ Long, Cát Bà, Khu du lịch Bà Nà, Khu du lịch Bạch Mã – Lăng Cô, khu du lịch Phú Quốc…; các điểm du lịch tự nhiên, các vườn quốc gia.

  • Các di sản thiên nhiên thế giới

Các di sản thiên nhiên thế giới có sức hấp dẫn đặc biệt khách du lịch quốc tế và là niềm tự hào, tài sản vô giá của quốc gia và nhân loại.

Việt Nam hiện nay có hai Di sản thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận.

Vịnh Hạ Long là di sản thế giới được công nhận đầu tiên của Việt Nam. Vịnh Hạ Long nằm ở vùng Đông Bắc, bao gồm vùng biển của thành phố Hạ Long, thành phố Cẩm Phả và một phần của huyện đảo Vân Đồn, vịnh Hạ Long có tổng diện tích 1553 km2 với 1969 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 989 đảo có tên và 980 đảo chưa có tên. Vùng di sản được thế giới công nhận có diện tích 434 km2 bao gồm 775 đảo, như một hình tam giác với ba đỉnh là đảo Đầu Gỗ (phía tây), hồ Ba Hầm (phía nam) và đảo Cống Tây (phía đông).

Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng thuộc địa phận các huyện Quảng Ninh, Bố Trạch, Tuyên Hóa và Minh Hóa (tỉnh Quảng Bình) với diện tích khoảng 200.000 ha.

Phong Nha – Kẻ Bàng được ví như một bảo tàng địa chất khổng lồ có giá trị và mang ý nghĩa toàn cầu. Các giai đoạn kiến tạo quan trọng và các pha chuyển động đứt gãy, phối tảng, uốn nếp của vỏ trái đất từ 400 triệu năm trước đã tạo ra các dãy núi trùng điệp và các bồn trầm tích bị sụt lún.

Bên cạnh đó, Phong Nha – Kẻ Bàng còn được thiên nhiên ban tặng một hệ thống hang động hùng vĩ trong lòng núi đá vôi. Tại đây, vào tháng 4 năm 2018, đoàn thám hiểm thuộc Hiệp hội Hang động Hoàng gia Anh đã phát hiện và công bố hang Sơn Đoòng là hang động lớn nhất thế giới (cao 200m, rộng 150m, dài ít nhất 8,5km). Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng còn có hệ thống động thực vật đa dạng, trong số đó có nhiều loài quý hiếm nằm trong Sách đỏ Việt Nam và Sách đỏ thế giới.

Nhìn chung, Việt Nam có điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch tự nhiên phong phú, đa dạng, đặc sắc. Các loại tài nguyên tự nhiên có mức độ tập trung cao; có sự kết hợp với nhau giữa các hợp phần của tài nguyên du lịch tự nhiên với nhau, với tài nguyên nhận văn; là yếu tố hình thành, nuôi dưỡng văn hóa, kinh tế – xã hội.

Như vậy, tài nguyên du lịch tự nhiên là cơ sở tạo phong cảnh đẹp, cũng như các nguồn lực hấp dẫn khách du lịch nói chung và khách du lịch quốc tế nói riêng, có thể xây dựng, phát triển nhiều khu, điểm du lịch thuận tiện cho việc phát triển các loại hình du lịch sinh thái như: du lịch tham quan, nghỉ dưỡng, chữa bệnh; du lịch thể thao (leo núi, đua thuyền, lướt ván, bơi lội, chèo thuyền, nhảy dù, đua mô tô); du lịch mạo hiểm (lặn biển, thám hiểm hang động); du lịch bản làng; du lịch đi bộ; du lịch câu cá…

Song việc tổ chức quản lý; việc sử dụng, bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch tự nhiên ở nước ta còn thiếu sự phối hợp đồng bộ, khoa học, chặt chẽ giữa các cơ quan, ban ngành và cộng đồng địa phương. Nước ta cũng chưa xây dựng, thực hiện được các chiến lược quản lý, sử dụng, bảo vệ tài nguyên phù hợp, khoa học và hiệu quả. Vì vậy, tài nguyên du lịch tự nhiên của nước ta ở nhiều địa phương bị suy giảm, cạn kiệt. Do vậy các cá nhân, các tổ chức và các cơ sở kinh doanh du lịch, ngành du lịch của các địa phương cũng như trên bình diện quốc gia phải có trách nhiệm khai thác, sử dụng, bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch tự nhiên tiết kiệm, bền vững để đáp ứng nhu cầu du lịch cho thế hệ hiện tại và đảm bảo đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch cho thế hệ tương lai. Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.

2.1.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn

  • Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể

Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể ở nước ta gồm có các di tích lịch sử văn hóa, các thắng cảnh quốc gia và địa phương, các công trình đương đại và các di sản văn hóa thế giới. Trong đó có nhiều di tích lịch sử văn hóa, các thắng cảnh và các công trình đương đại cấp quốc gia, các di sản văn hóa thế giới có sức hấp dẫn lớn đối với du khách, là cơ sở để xây dựng, phát triển các khu du lịch, các tuyến, điểm du lịch, thuận tiện cho việc phát triển các loại hình du lịch văn hóa.

  • Các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia và địa phương

Các di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia và địa phương ở nước ta hiện nay chia thành: các loại di tích khảo cổ, các di tích lịch sử, các di tích kiến trúc – nghệ thuật, di tích thắng cảnh. Với các di tích này được phân bố ở khắp nơi trên đất nước ta như ở Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơn, Ninh Bình, Phú Thọ, Thanh Hóa, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh…

  • Các di sản văn hóa thế giới:

Hiện nay, Việt Nam có 5 di sản văn hóa thế giới, bao gồm: Cố đô Huế (Thừa thiên Huế – được công nhận năm 2002), Thánh địa Mỹ Sơn, phố cổ Hội An (Quảng Nam – đều được công nhận năm 2008), khu di tích trung tâm Hoàng Thành Thăng Long (Hà Nội – được công nhận năm 2019), thành nhà Hồ (Thanh Hóa – được công nhận năm 2020). Đây chính là tài sản quý giá, niềm tự hào của dân tộc và là tài sản vô giá của nhân loại.

  • Tài nguyên nhân văn phi vật thể

Việt Nam là một quốc gia có nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể đa dạng, phong phú và đặc sắc gồm: các lễ hội, nghề và làng nghề truyền thống, văn hóa nghệ thuật, văn hóa ẩm thực, văn hóa gắn với các tộc người, tôn giáo… Có thể kể đến là các lễ hội truyền thống nổi tiếng như lễ hội Giổ tổ Hùng Vương, lễ hội Đền Gióng, chùa Hương, Yên Tử… Bên cạnh việc tổ chức các lễ hội truyền thống, khoảng một thập kỷ trở lại đây, để tuyên truyền hình ảnh du lịch của các địa phương và của đất nước, nhiều Fesival và các sự kiện văn hóa thể thao đã được tổ chức. Đây là những điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch và thu hút hàng triệu lượt khách du lịch đặc biệt là khách du lịch quốc tế như: Fesival Huế được tổ chức 2 năm một lần, Fesival hoa Đà Lạt, Fesival biển Khánh Hòa tổ chức 2 năm một lần, Fesival pháo hoa quốc tế tại Đà Nẵng hàng năm, Fesival thuyền buồm quốc tế Mũi Né…

Ngoài ra chúng ta có thể nói đến những giá trị văn hóa phi vật thể như Nhã nhạc cung đình Huế, Đờn ca tài tử ở các tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long hay kiệt tác Di sản văn hóa truyền miệng và phi vật thể của nhân loại Cồng chiêng và không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, quan họ Bắc Ninh… cũng đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của thế giới.

2.1.3. Tình hình thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.

2.1.3.1. Đường lối chính sách phát triển du lịch

Để tạo đà cho du lịch phát triển, đến nay Đảng và nhà nước ta đã và đang bổ sung, hoàn thiện dần cơ chế chính sách.

Thời gian qua ngành du lịch đã nhận được sự quan tâm đặc biệt từ xã hội, Chính phủ, các bộ ngành, địa phương cho đến người dân cả nước. Qua đó hệ thống cơ sở pháp lý của ngành đã từng bước được xây dựng và hoàn thiện. Luật Du lịch đã được Quốc hội thông qua tháng 6/2014 trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh Du lịch, có hiệu lực từ ngày 01/01/2015. Qua 10 năm triển khai thực hiện, để đáp ứng nhu cầu phát triển trong giai đoạn mới, tạo hành lang pháp lý thuận lợi nhất cho sự phát triển của Ngành, Tổng cục Du lịch đang tập trung hoàn thiện Luật Du lịch (sửa đổi) trình Quốc hội xem xét. Tổng cục Du lịch cũng đang xây dựng và trình Chính phủ, Bộ Chính trị Đề án phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Ngoài ra, Chính phủ còn sát sao chỉ đạo thực hiện các chính sách, các chiến lược quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch:

Ngày 22 tháng 7 năm 2011, Thủ tướng chính phủ đã Phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2010 – 2019 với mục đích “Phát triển du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn trên cơ sở khai thác có hiệu quả lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hoá lịch sử, huy động tối đa nguồn lực trong nước và tranh thủ sự hợp tác, hỗ trợ quốc tế, góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Từng bước đưa nước ta trở thành một trung tâm du lịch có tầm cỡ của khu vực, phấn đấu sau năm 2019 du lịch Việt Nam được xếp vào nhóm quốc gia có ngành du lịch phát triển trong khu vực”.

Ngày 30 tháng 12 năm 2020, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2040.

Nghị quyết 92/NQ-CP ngày 08/12/2023 của Chính phủ về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới. Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.

Ngày 3/8/2025, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 2714/QĐ-BVHTTDL phê duyệt Đề án “Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch Việt Nam đến năm 2035, định hướng đến năm 2040”.

Bên cạnh đó, Chính phủ đã từng bước tháo gỡ những hạn chế về chính sách visa, tạo thuận lợi để thu hút khách bằng việc ban hành Nghị quyết 39/NQ-CP ngày 01/06/2024 về việc miễn thị thực có thời hạn đối với công dân nước Cộng hòa Belarus; Nghị quyết 46/NQ-CP ngày 18/06/2024 về việc miễn thị thực có thời hạn đối với công dân các nước: Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Italia và tiếp tục được gia hạn 01 năm (đến 30/6/2026) bằng Nghị quyết 56/NQ-CP của Chính phủ ban hành ngày 30/6/2025. Đồng thời triển khai áp dụng miễn thị thực cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài là vợ, chồng, con của người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc của công dân Việt Nam bằng việc ban hành Nghị định số 82/2024/NĐ-CP ngày 24/9/2024…

2.1.3.2. Công tác quản lý nhà nước về du lịch

Mặc dù thành lập từ năm 1960, tiền thân là Công ty Du lịch Việt Nam, nhưng ngành Du lịch bắt đầu phát triển từ khi đổi mới và hội nhập vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX. Với dấu ấn thành lập lại Tổng cục Du lịch thuộc Chính phủ năm 2001, công tác quản lý nhà nước về du lịch được tăng cường toàn diện từ trung ương tới địa phương.

Những nỗ lực trong công tác quản lý nhà nước về du lịch được thể hiện đường lối chủ trương của Đảng qua các kỳ đại hội VII, VIII, IX, X; Nghị quyết số 45/CP ngày 22/6/2002 của Chính phủ về đổi mới phát triển du lịch; Chỉ thị số 46/CT-BBT và Thông báo số 179/TB-TW ngày 11/11/2007 của Bộ Chính trị về thực hiện Chỉ thị 46 về phát triển du lịch trong tình hình mới. Tiếp đến là lần đầu tiên trong lịch sử có hệ thống khung pháp lý về du lịch, cao nhất đó là pháp lệnh Du lịch 2008 và sau đó được thay thế bằng Luật Du lịch 2014 và hệ thống các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thực hiện. Ban Chỉ đạo Nhà nước về Du lịch được thành lập nhằm tăng cường hiệu lực phối hợp liên ngành. Du lịch Việt Nam đã chặn được đà giảm sút, khôi phục và duy trì tốc độ tăng trưởng ở mức cao, từng bước hội nhập du lịch khu vực và thế giới, góp phần tích cực vào công cuộc đổi mới đất nước.

Công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, tiêu chuẩn, quy chuẩn chuyên ngành và triển khai các chương trình, dự án phát triển du lịch được thực hiện rộng khắp cả nước. Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2004-2019 lần đầu tiên được xây dựng với sự hỗ trợ của UNDP và WTO và đến tháng 1/2022, Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch cả nước được Thủ tướng phê duyệt cho thời kỳ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040 và các quy hoạch vùng du lịch căn cứ theo Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040. Việc thực hiện Chương trình hành động quốc gia về Du lịch và các sự kiện du lịch Việt Nam năm 2009 với tiêu đề “Việt Nam – Điểm đến của Thiên niên kỷ mới”, tiếp đó là Chương trình hành động quốc gia về Du lịch giai đoạn 2011 – 2014; 2015 – 2019 với tiêu đề “Việt Nam – Vẻ đẹp tiềm ẩn” và đồng thời với Chương trình xúc tiến du lịch quốc gia 2021 – 2025 với tiêu đề “Việt Nam -Vẻ đẹp bất tận”, Chương trình hỗ trợ phát triển hạ tầng du lịch từ năm 2010 đến nay đã tạo ra sức bật cho hoạt động du lịch, từ nhận thức được nâng cao, chất lượng dịch vụ và điều kiện tiếp cận được nâng cấp, sản phẩm du lịch được đa dạng hóa ở các vùng miền, sự liên kết giữa các ngành và các địa phương được tăng cường, chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao. Ngoài ra, 8 đề án phát triển thị trường trọng điểm; các đề án chuyên đề phát triển du lịch biển đảo, du lịch biên giới, du lịch cộng đồng, chương trình ứng dụng tài khoản vệ tinh du lịch được thực hiện. Nhờ vậy công quản lý nhà nước về du lịch từ trung ương tới địa phương từng bước đi vào nề nếp, mở đường và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động du lịch và kinh doanh du lịch phát triển. Có thể nói việc thực hiện kết luận số 179 đã tạo ra diện mạo mới cho ngành Du lịch. Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.

Chương trình hành động quốc gia về Du lịch và Chương trình xúc tiến Du lịch quốc gia giai đoạn 2022 – 2030 cũng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Chính phủ đang xem xét thông qua Nghị quyết của Chính phủ về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch giai đoạn 2022 – 2030. Đây là những nỗ lực từ phía Chính phủ nhằm tạo đột phá mới, sinh khí mới huy động nguồn lực tổng hợp liên kết các ngành, các địa phương cho du lịch phát triển theo quan điểm, mục tiêu và định hướng Chiến lược đã đề ra.

2.1.3.3. Hợp tác đầu tư

Là ngành kinh tế đối ngoại, mang tính quốc tế cao, để thúc đẩy du lịch phát triển, bên cạnh phát huy nội lực, để tranh thủ nguồn ngoại lực, thời gian qua, ngành Du lịch đã tăng cường mở rộng hoạt động hội nhập, hợp tác quốc tế trên cả lĩnh vực song phương và đa phương với nhiều quốc gia trên thế giới trong đó nhiều nước là thị trường trọng điểm của Du lịch Việt Nam như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, ASEAN, Pháp, Tây Ban Nha, Italia, Ấn Độ. Các doanh nghiệp du lịch Việt Nam đã thiết lập quan hệ bạn hàng với trên 1.000 hãng của hơn 60 nước và vùng lãnh thổ; thị trường du lịch mở rộng. Nhiều địa phương và doanh nghiệp phối hợp chặt chẽ với Tổng cục Du lịch tham gia tích cực và hiệu quả trong các tổ chức du lịch khu vực và thế giới như GMS, ASEAN, APEC, PATA, UNWTO. Bên cạnh đó, sự hiện diện của du lịch Việt Nam tại các diễn đàn, sự kiện quốc tế ngày càng được khẳng định ở vị thế cao hơn. Đặc biệt, với việc đăng cai tổ chức thành công Hội nghị Bộ trưởng du lịch APEC tại Việt Nam năm 2015, Diễn đàn Du lịch ASEAN năm 2018 và Hội nghị Liên Ủy ban Đông Á – Nam Á Thái Bình Dương Tổ chức Du lịch thế giới năm 2019, ngành Du lịch Việt Nam đã tạo uy tín và tiếng vang lớn trong quốc tế và khu vực, góp phần hiệu quả vào công tác quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam tới bạn bè thế giới. Thông qua các hoạt động chủ động hội nhập hợp tác kinh tế quốc tế, du lịch Việt Nam đã tranh thủ được nhiều dự án hỗ trợ kỹ thuật, viện trợ không hoàn lại và đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực du lịch. Đã có 22 triệu Euro được tài trợ để triển khai các dự án phát triển nguồn nhân lực du lịch, hơn 20 triệu USD vốn vay ưu đãi cho phát triển du lịch bền vững và hạ tầng du lịch, 302 dự án đầu tư trực tiếp với số vốn xấp xỉ 15,56 tỷ USD.

2.1.3.4. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch và nguồn nhân lực du lịch

Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch, đặc biệt là khách du lich quốc tế, các cơ sở lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng.

Bảng 2.2. Cơ sở lưu trú du lịch giai đoạn 2019 đến 2024

Bảng 2.3: Số lượng cơ sở lưu trú du lịch từ 3-5 sao (2022-2024)

  • Nguồn nhân lực du lịch Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.

Trong những năm gần đây, Việt Nam nổi lên như một điểm đến hấp dẫn hàng đầu khu vực Đông Nam Á về du lịch và lòng hiếu khách, đón tiếp hơn 6 triệu lượt khách quốc tế mỗi năm, đóng góp hơn 13,1% cho GDP quốc gia… Những con số ấn tượng này khẳng định nhu cầu lớn về nguồn nhân lực phục vụ trong ngành du lịch khách sạn ở nước ta hiện nay.

Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Du lịch, lực lượng lao động trong ngành du lịch tăng lên 30 – 40 vạn người mỗi năm. Hiện nay, có khoảng 50 vạn lao động trực tiếp và trên 1 triệu lao động gián tiếp trong ngành này.

Dự báo của Viện Nghiên cứu phát triển du lịch, đến năm 2030, ngành du lịch cần 870.000 lao động trực tiếp. Theo đánh giá chung, chất lượng nguồn nhân lực trong ngành kinh doanh khách sạn và cơ sở lưu trú ở Việt Nam hiện nay đều chưa đáp ứng được nhu cầu và chuẩn mực quốc tế.

  • Nhân lực chất lượng cao: thiếu về lượng, hạn chế về chất

Có nhiều ý kiến cho rằng nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quan trọng hàng đầu của sự phát triển, là tài sản vô giá của mọi quốc gia, vùng lãnh thổ, doanh nghiệp.

Đối với ngành du lịch, việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là yêu cầu và nhiệm vụ cấp thiết nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách trong bối cảnh cạnh tranh với những đòi hỏi về chất lượng, năng lực hoạt động… Song do ngành du lịch bao gồm nhiều nghề, lĩnh vực hoạt động kinh doanh khác nhau, nên khi xác định tiêu chuẩn nhân lực chất lượng cao cần phải định hướng đối với từng nhóm. Chúng ta có thể phân thành 2 nhóm như sau:

Nhóm gián tiếp (lãnh đạo, quản lý, nhà nghiên cứu, đào tạo…): nguồn nhân lực chất lượng cao của nhóm gián tiếp phải đạt được yêu cầu phải có tài trong lãnh đạo, quản lý, sử dụng và biết cách giữ chân người tài hay nói cách khác là biết cách định vị nguồn nhân lực; phải có tâm trong thu phục lòng người, phát huy lòng yêu nghề, khả năng cống hiến và sáng tạo; phải có tầm nhìn xu hướng vận động của ngành du lịch trong mối quan hệ với thế giới với hiện trạng đất nước, dự báo và có kế hoạch sánh ngang, vượt qua đối thủ.

Nhóm trực tiếp (lễ tân, phục vụ buồng, bàn, hướng dẫn viên, đầu bếp…): phải đảm bảo các yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng nghề, khả năng sáng tạo, kỹ năng sống, phối hợp công việc, biết vận dụng công nghệ tiên tiến phù hợp… và một yêu cầu tối quan trọng trong phục vụ du lịch, đó là trình độ ngoại ngữ, đặc biệt là ngoại ngữ chuyên ngành.

Theo quan sát và kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu và Phát triển Du lịch Việt Nam, lao động trong ngành du lịch hiện nay ở nước ta về cơ bản đáp ứng được nhu cầu của ngành dịch vụ nói chung. Tuy nhiên, so với yêu cầu của hội nhập, phát triển, cạnh tranh trên thế giới, đặc biệt trong khu vực dịch vụ cao cấp – tiêu chuẩn từ 3 đến 5 sao hoặc hơn nữa, nhân lực Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu trong môi trường có tính cạnh tranh cao, còn thiếu nhiều ở kỹ năng quản trị toàn cầu và quản trị chuỗi giá trị đặc thù của ngành. Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.

Căn cứ vào báo cáo tổng hợp về thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam qua các năm 2009, 2014, 2018 cho thấy, hiện lao động trực tiếp của ngành du lịch đạt trình độ đại học và trên đại học chiếm 9,7%, đạt trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng chiếm 51% và có đến 39,3% trình độ dưới sơ cấp. Trong số đó chỉ có 43% được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ về các ngành nghề du lịch.

Riêng đối với ngành Quản trị du lịch tại Việt Nam, điều cần quan tâm là kỹ năng của nguồn nhân lực tại chỗ chưa đáp ứng kịp yêu cầu ở những vị trí cao trong chuỗi giá trị đặc thù ngành nên hiện những vị trí hàng đầu trong chuỗi giá trị đó hầu hết đang phải sử dụng nhân lực từ nước ngoài. Nhìn chung, với lượng khách du lịch ngày càng tăng đến từ quốc tế và lượng khách nội địa, hoạt động du lịch nước ta hiện đang rất sôi nổi, với lực lượng lao động đông đảo phục vụ trong ngành. Tuy nhiên, về mảng du lịch chất lượng cao và mang tính cạnh tranh cao thì còn yếu kém. Có một thực tế là hiện hầu hết các khách sạn cao cấp như Sofitel, Sheraton, Daewoo, Melia, Furama… đều vấp phải khó khăn trong việc tìm kiếm nhân viên đã qua đào tạo một cách bài bản, có phong cách làm việc chuyên nghiệp và giỏi ngoại ngữ… Chính vì thế hầu hết các sinh viên chuyên ngành du lịch khi được nhận vào làm việc tại các khách sạn này đều phải qua lớp đào tạo lại ngắn hạn.

Theo các chuyên gia về lĩnh vực du lịch, hiện tại ngành quản trị khách sạn của Việt Nam đang thiếu những nhân lực vừa chuyên nghiệp trong kỹ năng, tác phong; vừa có vốn kiến thức hiểu biết và tự tin làm việc trong môi trường quốc tế. Ông Philip Jones – Giám đốc khách sạn Movenpick Hà Nội – nhận định: Ở vị trí nhà tuyển dụng, chúng tôi quan tâm đến 3 phẩm chất của người lao động: tố chất thiên bẩm; kinh nghiệm và tiềm năng phát triển. Tố chất thiên bẩm được hiểu là thái độ đối với công việc, phẩm chất đạo đức có trong con người – thứ mà không thể đào tạo được; Kinh nghiệm có từ quá trình làm việc trước đó và chương trình mà người lao động đã từng theo học. Yếu tố này sẽ được bồi dưỡng thêm trong quá trình làm viêc; Nhà tuyển dụng cũng rất chú ý đến khả năng phát triển và đáp ứng yêu cầu ở những vị trí công việc khác nhau của mỗi ứng viên.

“Ưu điểm của lao động ngành du lịch tại thị trường Việt Nam là tinh thần học hỏi và trau dồi kiến thức luôn ở mức cao. Tuy nhiên khả năng sử dụng ngoại ngữ hiện đang là rào cản và là một trong những hạn chế của lao động ngành này. Mỗi đợt tuyển dụng của chúng tôi thường thu hút rất nhiều hồ sơ tham gia nhưng chất lượng thường không đạt được yêu cầu. Hiện nay, tại Việt Nam cũng có rất nhiều cơ sở chuyên đào tạo nhân lực cho ngành du lịch nhưng những học viên sau khi tốt nghiệp vẫn thiếu những điều rất cơ bản đó là sự chuyên nghiệp, bài bản và khả năng ngoại ngữ”, ông Philip Jones phân tích.

Như vậy, muốn hội nhập quốc tế và góp phần đẩy mạnh sự phát triển của ngành công nghiệp không khói, Việt Nam cần có kế hoạch bài bản để đào tạo nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu thực tế.

2.1.3.5. Tình hình cơ sở hạ tầng của Việt Nam Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.

Tại Hội nghị tổng kết ngành Giao thông sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XI và 4 năm thực hiện Nghị quyết 13-NQ/TW của Đảng, Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Hồng Trường cho hay, bộ mặt kết cấu hạ tầng giao thông (KCHTGT) của đất nước đã có những chuyển biến hết sức rõ nét.

Cụ thể, đã đưa vào khai thác toàn tuyến đường Hồ Chí Minh qua Tây Nguyên và tỉnh Bình Phước sớm hơn 1,5 năm so với kế hoạch; hoàn thành nâng cấp, mở rộng QL1 từ Thanh Hóa đến Cần Thơ sớm hơn 1 năm so với kế hoạch; đây là 02 trục giao thông quan trọng nhất chạy dọc theo chiều dài đất nước, có ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế đất nước, kết nối các khu vực tăng trưởng trên phạm vi quốc gia, phục vụ hợp tác phát triển quốc tế. Một điểm nhấn nữa đó là 704km đường bộ cao tốc được đưa vào khai thác (vượt 104km so với mục tiêu Nghị quyết số 13-NQ/TW đề ra); đây là các tuyến cao tốc trọng điểm nằm trên trục Bắc – Nam, cao tốc kết nối hai vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và phía Nam với các cảng biển cửa ngõ và các cửa khẩu quốc tế.

Cũng trong giai đoạn 2020 – 2024 đã đầu tư xây dựng mới, nâng cấp, cải tạo khoảng 4.400km đường bộ và hơn 94.000m dài cầu đường bộ. Về hàng không, Bộ GTVT cũng đã hoàn thành, đưa vào khai thác các dự án, công trình tại các cảng hàng không quan trọng: Nội Bài (nhà ga T2, nhà khách VIP), Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Cần Thơ, Vinh, Phú Quốc (xây mới), Liên Khương, Pleiku, Thọ Xuân…; các công trình quản lý hoạt động bay: Trung tâm kiểm soát đường dài (ACC) Hà Nội, các trạm giám sát hoạt động bay phụ thuộc (ADS-B) phía Bắc, các trạm radar Sơn Trà, Quy Nhơn… đưa tổng năng lực của các cảng hàng không từ 42 triệu hành khách năm 2019, lên khoảng 70 triệu hành khách năm 2024; mở mới 38 đường bay (23 quốc tế và 15 nội địa), đưa tổng số đường bay từ 105 năm 2019 (72 quốc tế, 33 nội địa) lên 143 năm 2024 (95 quốc tế và 48 nội địa); thu hút thêm 8 hãng hàng không nước ngoài tham gia khai thác các chuyến quốc tế đi/đến Việt Nam (đến nay đã có 52 hãng quốc tế thuộc 24 quốc gia, vùng lãnh thổ tham gia khai thác đi/đến Việt Nam); Chủ trương đầu tư Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành đã được thông qua tại Kỳ họp 9, Quốc hội khóa XIII, hiện đang gấp rút triển khai công tác lập Báo cáo nghiên cứu khả thi giai đoạn 1 của Dự án.

2.1.3.6. Tình hình du khách quốc tế đến Việt Nam

  • Theo thống kê từ Tổng cục thống kê Việt Nam, lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đã tăng lên đáng kể.

Bảng 2.4. Số khách quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 2019 – 2024

  • Cơ cấu khách du lịch quốc tế theo quốc tịch

Bảng 2.5. Số khách quốc tế đến Việt Nam phân chia theo một số quốc gia

  • Cơ cấu khách du lịch quốc tế phân theo mục đích đi du lịch

Bảng 2.6. Số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam phân theo mục đích đi du lịch và năm

Từ các bảng số liệu trên có thể thấy hàng năm, lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam tăng lên đáng kể, từ năm 2019 lượng khách quốc tế đến Việt Nam là hơn 5 triệu lượt thì đến năm 2024 tăng lên gần 8 triệu lượt khách. Trong đó khách quốc tế đến Việt Nam chủ yếu là khách du lịch Trung Quốc với con số hơn 900 ngàn lượt khách năm 2019, gần 2 triệu lượt khách năm 2023, tiếp đến là khách Hàn Quốc, Nhật Bản. Khách du lịch đến từ Mỹ cũng chiếm tỉ lệ cao trong số lượng khách đến Việt Nam.

  • Chi tiêu bình quân của khách quốc tế đến Việt Nam Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.

Thông qua số liệu về lượng khách quốc tế đến Việt Nam phân chia theo quốc tịch, theo Thống kê của Tổng cục thống kê Việt Nam đã cho ta thấy mức chi tiêu bình quân 1 ngày của khách quốc tế và chi tiêu bình bình quân 1 ngày phân theo quốc tịch như sau:

Bảng 2.7. Chi tiêu bình quân một ngày của khách quốc tế đến Việt Nam phân theo một số quốc tịch và năm

Qua bảng thống kê trên cho ta thấy, tuy lượng khách du lịch Trung Quốc đến Việt Nam đông nhưng mức chi tiêu bình quân lại rất thấp. Năm 2022 khách du lịch Trung Quốc đến Việt Nam là hơn 1,9 triệu người nhưng mức chi tiêu bình quân 1 ngày chỉ có 84,6 USD, còn khách du lịch Hàn Quốc, Nhật Bản số lượng khách tương đối đông nhưng chi tiêu chỉ ở mức trung bình. Năm 2022 khách Nhật vào Việt Nam là 648 ngàn lượt khách, khách Hàn Quốc là 848 ngàn lượt khách, mức chi tiêu bình quân là 105,1 USDvà 99,5 USD. Trong khi đó lượng khách Singaphore là 202,4 ngàn lượt khách và Malaysia là 333 ngàn lượt khách nhưng mức chi tiêu bình quân của họ trong 1 ngày khi đi du lịch tới Việt Nam là rất cao. Người Singaphore chi 138 USD, người Malaysia chi 147 USD bình quân trong ngày. Hay những thị trường khách khác như khách du lịch đến từ Liên bang Nga, Đài Loan, Australia… cũng là những thị trường khách tiềm năng mà chúng ta cần phải tập trung đẩy mạnh đầu tư để khai thác .

2.2. Đánh giá việc thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.

2.2.1. Những kết quả đạt được và nguyên nhân

Kết thúc năm 2024, nhìn lại hoạt động du lịch Việt Nam trong thời gian qua, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, ngành du lịch đã đạt được những kết quả quan trọng, ngăn chặn sự suy giảm khách du lịch quốc tế trong 6 tháng đầu năm, phục hồi đà tăng trưởng, đón hơn 7,94 triệu lượt khách du lịch quốc tế, tăng 0,9% so với năm 2023; tổng thu từ khách du lịch đạt 338.000 tỷ đồng. Trên đây là những con số ngắn gọn, nhưng ẩn chứa đằng sau nhiều dấu ấn của một năm vượt khó, vươn lên mạnh mẽ. Đến tháng 6/2024, số lượng khách du lịch quốc tế đã giảm 11,3% so với cùng kỳ năm 2023, sau chuỗi 13 tháng giảm liên tục do tác động từ một số thị trường trọng điểm. Từ cuối năm 2023, sau 6 tháng suy giảm lượng khách du lịch quốc tế, các cấp Lãnh đạo, ngành Du lịch và cả xã hội đã tập trung vào các vấn đề chung của ngành Du lịch, cả về môi trường vĩ mô, các vấn đề liên Bộ, ngành và vấn đề nội tại của ngành.

Cơ hội phát triển thực sự cho ngành du lịch bắt đầu được mở ra từ thời điểm khó khăn này. Tháng 12/2023, Chính phủ ra Nghị quyết 92/NQ-CP về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới. Tháng 6/2024, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị quyết số 39/NQ-CP và Nghị quyết số 46/NQ-CP miễn thị thực cho công dân các nước Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Italia và Belarus; Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 14/CT-TTg, ngày 02/7/2024 về tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, khắc phục yếu kém, thúc đẩy phát triển du lịch. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành các kế hoạch hành động để nhanh chóng triển khai các chính sách và chỉ đạo quan trọng nêu trên. Ngành Du lịch đã chủ động triển khai các hoạt động một cách nhanh chóng và quyết liệt cùng sự tham gia, phối hợp của các Bộ, ban, ngành liên quan.

Những nỗ lực nêu trên đã đem lại kết quả tích cực. Từ tháng 7/2024, khách du lịch quốc tế đã tăng trưởng liên tục với tốc độ cao. Kết thúc năm 2024, số lượng khách du lịch từ một số thị trường tăng cao, tiêu biểu là từ thị trường Đông Bắc Á (Hàn Quốc tăng 31,3%, Đài Loan tăng 12,8%, Nhật Bản tăng 3,6%). Số lượng khách du lịch Trung Quốc đến cuối năm 2024 chỉ còn giảm 8,5% so với tổng mức giảm 28,3% trong 6 tháng đầu năm do tăng trưởng mạnh trong những tháng cuối năm. Đáng lưu ý, số lượng khách du lịch từ các nước Tây Âu được miễn thị thực nhập cảnh từ tháng 7/2024 tăng trưởng đáng kể: Italia (11%), Tây Ban Nha (10%), Đức (5%). Nếu tính riêng mức tăng trưởng trong 6 tháng cuối năm từ khi miễn thị thực nhập cảnh, số lượng khách từ Italia tăng 16%, Tây Ban Nha tăng 11%, Đức tăng 9%, Anh tăng 16% và Pháp tăng 4%. Số lượng khách du lịch từ Nga năm 2024 chỉ còn giảm 7,1% so với tổng mức giảm 13% trong 6 tháng đầu năm. Trong thời điểm du lịch quốc tế gặp khó khăn, sự phát triển của thị trường khách du lịch nội địa đã trở thành chỗ dựa quan trọng cho các doanh nghiệp du lịch. Với việc thúc đẩy triển khai chương trình “Người Việt Nam ưu tiên du lịch Việt Nam” và các chương trình truyền thông rộng rãi trong nước, thói quen và văn hóa đi du lịch trong nước đã được hình thành. Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.

Sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch cao cấp, tạo cơ sở cho việc đón khách du lịch nghỉ dưỡng chi tiêu cao, lưu trú dài ngày từ các thị trường trọng điểm. Đến tháng 01/2025, cả nước đã có 18.850 cơ sở lưu trú với 360.000 buồng, trong đó có 94 khách sạn 5 sao với 24.966 buồng, 220 khách sạn 4 sao với 28.355 buồng, 442 khách sạn 3 sao với 30.830 buồng. Nhiều khu nghỉ dưỡng cao cấp tại miền Trung, đảo Phú Quốc, Quảng Ninh… đã đi vào hoạt động. Các tập đoàn quản lý khách sạn hàng đầu thế giới như Accord, IHG, Mariot, Movenpick, Park Hyatt, Starwood, Hilton, Victoria… đã hiện diện tại Việt Nam. Nhiều dự án đầu tư có quy mô lớn của các nhà đầu tư chiến lược vào lĩnh vực du lịch như VinGroup, SunGroup, FLC, Tuần Châu, Mường Thanh,… được đưa vào hoạt động góp phần hình thành hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch hiện đại và cao cấp tại nhiều địa phương như: chuỗi khách sạn Vinpearl Nha Trang (3000 phòng), Vinpearl Phú Quốc (1.500 phòng), hệt thống cáp treo và biệt thự nghỉ dưỡng cao cấp tại Đà Nẵng, cảng du lịch quốc tế Tuần Châu, hệ thống 35 khách sạn Mường Thanh tại 23 tỉnh/thành trên cả nước với 6.700 phòng. Sự hình thành các khu du lịch lớn như ở Phú Quốc, Đà Nẵng, Nha Trang tạo động lực cho sự phát triển du lịch của một địa phương, của một vùng nói riêng và của cả nước nói chung, góp phần tăng trưởng số lượng lớn khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.

Một số điểm đến nổi bật đã xác lập được thương hiệu đối với thị trường quốc tế, tiêu biểu là Hạ Long, Hội An, Nha Trang, Đà Nẵng, Sa Pa, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh. Một số điểm đến du lịch ngày càng được biết đến nhiều hơn như quần thể danh thắng Tràng An, đồng bằng sông Cửa Long, Hà Giang, Phú Quốc… Ngoài ra, các nhóm sản phẩm du lịch chuyên đề đã hình thành như du lịch golf, du lịch đám cưới và tuần trăng mật, du lịch khám phá, mạo hiểm, du lịch đường sông, du lịch tàu biển, du lịch MICE. Công tác quy hoạch vùng du lịch và khu du lịch quốc gia được đẩy mạnh theo định hướng Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040.

Đầu năm 2025 khi nhiều điểm đến và thương hiệu của du lịch Việt Nam được các tạp chí và các tổ chức quốc tế uy tín bình chọn và trao tặng những danh hiệu cao quý, tiêu biểu và Việt Nam được tạp chí Telegraph bình chọn là một trong 20 điểm đến đáng đi du lịch nhất thế giới năm 2024; vịnh Hạ Long và hang Sơn Đòong được Tạp chí Global Grasshopper bình chọn trong nhóm 10 địa danh đẹp ấn tượng nhất hành tinh; khu nghỉ dưỡng InterContinental Danang Sun Peninsula Resort tiếp tục nhận giải Khu nghỉ dưỡng sang trọng nhất thế giới 2024 của World Travel Awards.

Để các sản phẩm du lịch được thị trường đón nhận, công tác xúc tiến quảng bá du lịch được tăng cường mạnh mẽ và đổi mới cả về nội dung và hình thức. Ngoài các phương thức truyền thống như tham gia hội chợ, đón các đoàn FAM/Press, tổ chức phát động thị trường tại nước ngoài, việc ứng dụng marketing điện tử được đẩy mạnh. Sự liên kết, phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong việc tổ chức các chương trình, hoạt động xúc tiến quảng bá ngày càng chặt chẽ. Thông qua Hội đồng Tư vấn Du lịch Việt Nam, các mô hình hợp tác công – tư trong xúc tiến quảng bá du lịch được đẩy mạnh và đã phát huy hiệu quả thực tiễn.

2.2.2. Những hạn chế và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.

Bên cạnh những kết quả đạt được, ngành du lịch Việt Nam cũng cần chỉ ra những hạn chế còn tồn đọng. Công tác quản lý điểm đến du lịch chưa thực sự bền vững; hoạt động quảng bá xúc tiến còn hạn chế về quy mô và tính chuyên nghiệp; nguồn nhân lực du lịch còn hạn chế về số lượng và chất lượng, công tác kiểm tra, kiểm soát chất lượng và các hoạt động chưa được thực hiện chặt chẽ, thường xuyên; công tác thống kê, dự báo, định hướng hoạt động của ngành còn chưa thực sự bài bản, chuyên nghiệp. Trên hết, vấn đề làm sao để ngành Du lịch Việt Nam đuổi kịp các quốc gia có ngành Du lịch phát triển trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Singapore còn đó, đòi hỏi sự nỗ lực liên tục và mạnh mẽ của ngành Du lịch nói riêng và cả nước nói chung.

Tồn tại những hạn chế nêu trên có nguyên nhân sâu sa từ gốc xuất phát điểm thấp của du lịch Việt Nam. Du lịch Việt Nam mới thực sự phát triển sau khi có chính sách mở cửa, hội nhập cuối thập niên 80, khi đất nước vừa thoát khỏi khủng khoảng;

Nhận thức xã hội về du lịch còn hạn chế, thiếu kiến thức và kinh nghiệm, thiếu nguồn lực đầu tư, chậm đổi mới về chính sách và cải cách hành chính, năng lực quản lý chưa theo kịp yêu cầu phát triển nhanh và bền vững. Nguyên nhân khác do phân bổ nguồn lực không hợp lý và thiếu liên kết trong đầu tư cho các lĩnh vực then chốt như hạ tầng, xúc tiến quảng bá và phát triển nguồn nhân lực; chưa phát huy đúng vai trò của khối doanh nghiệp trong phát triển sản phẩm, khu, tuyến, điểm du lịch; còn mang nặng tư duy quản lý tiểu nông, tầm nhìn ngắn hạn, do vậy chưa nhanh chóng tiếp thu kinh nghiệm tiên tiến và tham gia được vào chuỗi giá trị toàn cầu.

2.2.3. Nhận định của một số chuyên gia

Trong buổi Hội thảo xây dựng Chiến lược phát triển thương hiệu du lịch Việt Nam đến năm 2035, định hướng đến năm 2040.

Phó Tổng cục trưởng Hà Văn Siêu nhấn mạnh tầm quan trọng của thương hiệu du lịch đối với nâng cao khả năng cạnh tranh của du lịch Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh toàn cầu. Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040 xác định xây dựng và phát triển thương hiệu du lịch là một trong những giải pháp quan trọng thúc đẩy phát triển du lịch. Năm 2024, Tổng cục Du lịch đã tổ chức nghiên cứu, xây dựng Đề án Chiến lược phát triển thương hiệu du lịch Việt Nam đến năm 2035, định hướng đến năm 2040.

Theo ông Lê Tuấn Anh – Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế (Tổng cục Du lịch), đại diện nhóm xây dựng đề án Chiến lược, thương hiệu điểm đến du lịch là hình ảnh của điểm đến du lịch trong nhận thức của các thị trường mục tiêu, thể hiện giá trị cốt lõi, thuộc tính và sự khác biệt của điểm đến du lịch so với các điểm đến du lịch khác. Như vậy, xây dựng thương hiệu du lịch điểm đến cần hướng đến thị trường mục tiêu và tạo ra sự khác biệt. Theo đó, du lịch Việt Nam sẽ tập trung truyền tải và làm nổi bật giá trị bản sắc thương hiệu thông qua 4 giá trị cốt lõi (thời gian, sự cam kết, cảm xúc mãnh liệt, sự huyền bí) gắn với 4 dòng sản phẩm du lịch (du lịch văn hóa; du lịch biển, đảo; du lịch sinh thái, thiên nhiên; du lịch thành phố) bằng cách đẩy mạnh truyền thông thương hiệu, thể hiện sự nhất quán và đồng bộ ở logo, slogan, website, ấn phẩm quảng bá, chiến dịch marketing, phong cách thiết kế, hình ảnh và thái độ ứng xử của các chủ thể tham gia vào hoạt động du lịch.

Trong buổi tọa đàm ngày 26/3/2025. Phó Trưởng ban Đinh Văn Cương nhấn mạnh những chủ trương của Đảng về phát triển du lịch, dịch vụ đã được xác định rất rõ trong các văn kiện, về đánh giá đặc điểm của ngành, lợi thế, cơ chế, chính sách để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế du lịch, về những yêu cầu bức thiết đặt ra hiện nay trong nghiên cứu, tham mưu về thể chế, chính sách, hoạch định chiến lược, huy động các nguồn lực xã hội, tập trung thu hút nguồn lực nhằm tạo động lực cho ngành du lịch phát triển, đặc biệt là trong bối cảnh, tình hình mới và những nhu cầu đòi hỏi cần có thay đổi để đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời gian tới.

2.3. Xây dựng mô hình xác định các yếu tố  thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.

2.3.1. Xây dựng mô hình kinh tế lượng

Từ cơ sở lý luận đã được đề cập trong chương 1, vận dụng trong trường hợp của Việt Nam, tác giả xây dựng mô hình như sau:

NoTOURJt = f(GDPPerVNt, GDPPerJt, DISTVNJ, BORDVNJ, LABRVNt, ROOMVNt, TTCIVNt) (2)

Trong đó:

  • NoTOURJt là số lượng của khách du lịch quốc tế nước j đến Việt Nam năm t
  • GDPPerVNt, thu nhập bình quân đầu người Việt Nam năm t (GDP giá hiện tại)
  • GDPPerJt thu nhập bình quân đầu của nước j năm t (GDP giá hiện tại) khoảng cách giữa Việt Nam đến nước j (lấy từ công trình của CEPII) là biến giả có giá trị bằng 1 nếu Việt Nam và nước j chung đường biên giới và ngược lại
  • LABRVNt số lượng lao động làm trong ngành lưu trú và ăn uống của Việt Nam năm t
  • ROOMVNt số lượng buồng, phòng cho thuê của Việt Nam năm t
  • TTCIVNt chỉ số cạnh tranh du lịch của Việt Nam năm t (cung cấp bởi Diễn đàn Kinh tế Thế giới – WEF).

Ngoài ra, theo nghiên cứu của Tsounta (2017), các mô hình hồi quy lô-ga-rít là loại mô hình được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu về du lịch. Nghiên cứu này cũng trích dẫn thống kê trong nghiên cứu của Witt (2004), theo đó 75% các mô hình được tác giả này tham khảo trước đó sử dụng mô hình lô-ga-rít. Nguyên nhân của việc loại mô hình này được sử dụng phổ biến là do kết quả được thể hiện dưới dạng tốc độ tăng trưởng – đây là điều mà các nhà nghiên cứu, kinh doanh và chính phủ quan tâm tới đối với các chỉ tiêu về kinh tế. Chính vì vậy mà tác giả cũng chọn xây dựng mô hình dưới dạng lô-ga-rít với biến phụ thuộc NoTOUR và các biến độc lập GDPPerVN, GDPPerJ, DISTVNJ, LABRVN, ROOMVN, TTCIVN thể hiện dưới dạng lô-ga-rit. Mô hình nghiên cứu cụ thể dưới dạng lô-ga-rit được thể hiện như sau:

LnNoTOURJt = β1 + β2LnGDPPerVNt + β3LnGDPPerJt + β4LnDISTVNJ + β5LnLABRVNt + β6LnROOMVNt + β7LnTTCIVNt + γ1BORDVNJ + εi (3)

Trong đó: Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.

  • LnNoTOURJt : logarit tự nhiên cơ số e của số lượng khách du lịch quốc tế nước j đến Việt Nam năm t
  • LnGDPPerVNt logarit tự nhiên cơ số e của thu nhập bình quân đầu người Việt Nam năm t (GDP giá hiện tại)
  • LnGDPPerJt logarit tự nhiên cơ số e của thu nhập bình quân đầu của nước j năm t (GDP giá hiện tại)
  • LnDISTVNJ logarit tự nhiên cơ số e của khoảng cách giữa Việt Nam đến nước j (lấy từ công trình của CEPII)
  • LnLABRVNt logarit tự nhiên cơ số e của số lượng lao động làm trong ngành lưu trú và ăn uống của Việt Nam năm t
  • LnROOMVNt logarit tự nhiên cơ số e của số lượng buồng, phòng cho thuê của Việt Nam năm t
  • LnTTCIVNt logarit tự nhiên cơ số e của chỉ số cạnh tranh du lịch của Việt Nam năm t (cung cấp bởi Diễn đàn Kinh tế Thế giới – WEF).
  • BORDVNJ là biến giả có giá trị bằng 1 nếu Việt Nam và nước j chung đường biên giới và ngược lại
  • εi  sai số/độ lệch tiêu chuẩn

Bảng 2.8. Tác động dự kiến của biến độc lập lên biến phụ thuộc

2.3.2. Số liệu dùng trong mô hình kinh tế lượng

  • Bảng 2.9. Biến sử dụng trong mô hình và nguồn số liệu
  • Bảng 2.10. Tóm tắt thống kê
  • Bảng. 2.11. Ma trận tương quan (The Correlation Matrix)

2.3.3. Kết quả ước lượng mô hình và thảo luận

  • Bảng 2.12. Kết quả ước lượng sử dụng phương pháp Pool OLS (xtpcse)

Bảng 2.12 trình bày tóm tắt kết quả ước lượng cho mô hình 3 sử dụng phần mềm stata và phương pháp ước lượng Pool OLS để khắc phục hiện tượng tự tương quan và phương sai sai số thay đổi. Kết quả cho thấy tác động của các biến độc lập đến biến phụ thuộc đều như mong muốn và giả định ban đầu. Cụ thể, khi GDP bình quân đầu người của Việt Nam và đối tác đều tăng sẽ làm tăng lượng du khách quốc tế đến Việt Nam. Bên cạnh đó, số lao động làm trong ngành ăn uống và lưu trú, số lượng buồng phòng, chỉ số cạnh tranh về du lịch gia tăng/cải thiện và sự có chung đường biên giới đều là những yếu tố làm tăng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam. Và, cũng như dự đoán, khoảng cách giữa Việt Nam và nước đối tác càng xa thì lượng khách quốc tế đến Việt Nam càng giảm và ngược lại bởi khoảng cách tác động lớn đến thời gian và chi phí đi lại.

Kết luận Chương 2

Chương 2 đã phân tích làm nổi bật thực trạng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam thời gian gần đây cả về số lượng, đối tác, cách thức họ đến Việt Nam, chi tiêu bình quân khi ở Việt Nam v.v…Trong đó, để xác định rõ yếu tố thúc đẩy khách du lịch quốc tế đến Việt Nam, tác giả đã xây dựng một phương trình hồi quy đa biến và phương pháp ước lượng Pool OLS, bảng số liệu Panel data của 27 đối tác trong khoảng thời gian 2019-2023, kết quả cho thấy sự tăng trưởng của thu nhập của Việt Nam và đối tác, sự gia tăng số lao động làm trong ngành ăn uống và lưu trú, số lượng buồng phòng, chỉ số cạnh tranh về du lịch và sự có chung đường biên giới đều là những yếu tố làm tăng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam. Ngược lại, khoảng cách càng xa sẽ cản trở lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với dự đoán ban đầu đưa ra. Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Giải pháp thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993