Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận Văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

LỜI NÓI ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Khi bàn về văn hóa, chúng ta luôn biết về tầm quan trọng của vấn đề này. Văn hóa luôn hiển hiện trong đời sống con người, người ta nhắc đến văn hóa như là những gì tốt đẹp, chuẩn mực được xã hội thừa nhận. Nhưng văn hóa là một khái niệm có nội hàm rộng lớn, có thể tiếp cận từ nhiều góc độ, liên ngành, đa ngành thì mới có thể nhận thức, đánh giá, nhận diện đầy đủ được, dù đó là hình thái văn hóa nào, chính trị, tôn giáo, kinh tế hay pháp luật. Mặc dù trên thế giới cho đến nay tồn tại nhiều cách tiếp cận khác nhau về văn hóa, dẫn đến những định nghĩa khác nhau song tựu trung lại, văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất, tinh thần được hình thành và sáng tạo trong hoạt động của con người được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ cộng đồng này sang cộng đồng khác. Nghiên cứu về văn hóa đòi hỏi sự tìm tòi để nhận diện được và đưa ra những giải pháp để xây dựng, vun đắp nền văn hóa càng phong phú, tiên tiến và đậm đà bản sắc.

Khái niệm văn hóa pháp luật đã được biết đến ở nước ta từ lâu, nhưng sự nghiên cứu vẫn còn ở mức độ vừa phải, chưa đáp ứng được với tầm quan trọng của văn hóa pháp luật trong đời sống pháp luật Việt Nam. “Văn hóa pháp luật là hệ thống các yếu tố, giá trị vật chất và tinh thần thuộc lĩnh vực tác động của pháp luật được thể hiện trong ý thức, tư tưởng và hành vi của con người”[14] Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Nền kinh tế Việt Nam từ khi độc lập đã trải qua 30 năm chiến tranh ác liệt và những năm thử thách trong thời kỳ hàn gắn vết thương chiến tranh. Với cái tên đầu tiên là “Sở Thuế quan và thuế gián thu” được thành lập với mục đích đảm bảo việc kiểm soát hàng hoá xuất nhập khẩu và duy trì nguồn thu ngân sách. Hải quan Việt Nam không ngừng chăm lo xây dựng, hoàn thiện và nâng cao cơ sở pháp lý – quản lý Nhà nước để ngày càng phù hợp hơn với thực tiễn của nước Việt Nam. Từ chỗ Hải quan Việt Nam còn phải tạm thời sử dụng những quy định nghiệp vụ về thuế quan của chính quyền thực dân đến nay đã xây dựng và ban hành được “Điều lệ Hải quan”, Pháp lệnh Hải quan và tiếp đó là Luật Hải quan Việt Nam có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2002. Với những mục tiêu nhằm tạo thuận lợi cho phát triển XNK, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển du lịch và giao thương quốc tế, đáp ứng được những yêu cầu hội nhập luôn là một nhiệm vụ quan trọng phải hoàn thành để ngành hải quan luôn xứng đáng là “chiến sỹ gác cửa nền kinh tế”

Là một công chức hải quan, tác giả luôn trăn trở với những vấn đề về chính sách pháp luật, về cách thức quản lý nhà nước về hải quan,về thực trạng thực hiện, chấp hành pháp luật hải quan của công chức hải quan và các đối tượng quản lý. Chính điều đó đã thúc đẩy người viết luận văn nghiên cứu sâu hơn về văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan để làm rõ thêm lý luận về văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan góp phần hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về hải quan, đưa ra các tiêu chuẩn các hành vi ứng xử của các đối tượng tham gia vào lĩnh vực này.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề văn hóa pháp luật ở nước ta hiện nay đã được nghiên cứu, bình luận, trao đổi dưới nhiều hình thức. Thông qua những Tạp chí chuyên ngành như: Nghiên cứu lập pháp, Luật học, Dân chủ và pháp luật, Nhà nước và pháp luật… các tác giả đã bày tỏ quan điểm cá nhân của mình xung quanh khái niệm, vai trò, và những biện pháp nâng cao vấn đề văn hóa pháp luật. Cụ thể như sau: Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

  • Lê Đức Tiết (2005), Văn hóa pháp lý Việt nam, Nxb Tư pháp, Hà nội.
  • Hoàng Thị Kim Quế (2004), “Văn hóa pháp lý – dòng riêng giữa nguồn chung của văn hóa dân tộc Việt nam”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật.
  • Nguyễn Văn Động (2006), “Văn hóa pháp lý trong điều kiện phát huy dân chủ ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật.
  • Lê Vương Long (2006), “Văn hóa pháp lý Việt nam trong xu thế toàn cầu hóa”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp.
  • Lê Minh Tâm (1998), “Vấn đề văn hóa pháp luật ở nước ta trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Luật học.
  • Lê Thanh Thập (1999), “Mấy suy nghĩ về văn hóa và văn hóa pháp luật ở nước ta”, Tạp chí Luật học.
  • Phạm Duy Nghĩa (2008), “Góp phần tìm hiểu văn hóa pháp luật”, Tạp chí khoa học – Đại học Quốc gia Hà nội.
  • Nguyễn Thị Hồi (2008), “Ý thức pháp luật và văn hóa pháp luật”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật.

Với đề tài Văn hóa pháp luật cũng đã từng có nhiều luận văn, luận án, khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu và phân tích. Trong đó không thiếu các đề tài cấp Bộ, cấp nhà nước, cấp tỉnh. Điều này cho thấy tầm quan trọng của vấn đề nâng cao trình độ văn hóa pháp luật cho người dân cũng như thể hiện thái độ quan tâm, chú trọng của Đảng và nhà nước ta.

Luận văn này người viết tập trung nghiên cứu những vấn đề về phương diện lý luận chung về văn hóa pháp luật, chú trọng văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan ở nước ta hiện nay và hoạt động xây dựng văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan, đáp ứng yêu cầu hội nhập của đất nước, những kết quả đạt được và những tồn tại. Đồng thời đưa ra một số quan điểm và giải pháp xây dựng văn hóa pháp luật hải quan trong bối cảnh hội nhập ở nước ta hiện nay.

3. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào cơ sở lý luận của văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan, đánh giá lại thực trạng của văn hóa pháp luật hải quan từ khi thành lập ngành hải quan Việt Nam cho tới nay, để từ đó đưa ra những quan điểm, giải pháp xây dựng văn hóa pháp luật hải quan trong bối cảnh hội nhập

4. Mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của văn hóa pháp luật trong lĩnh vực Hải quan, đánh giá lại những điểm còn tồn tại trong thực trạng văn hóa pháp luật hải quan để từ đó đưa ra những quan điểm, giải pháp xây dựng văn hóa pháp luật hải quan trong bối cảnh hội nhập ở nước ta hiện nay.

Để thực hiện tốt mục tiêu nghiên cứu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

  • Nghiên cứu cơ sở lý luận, phân tích làm sáng tỏ các khái niệm, vai trò và đặc trưng của văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan
  • Nghiên cứu thực trạng của văn hóa pháp luật hải quan ở góc độ các thành tố cấu thành, những mặt còn tồn tại để từ đó đề xuất giải pháp xây dựng.
  • Nêu quan điểm cơ bản về xây dựng văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan và đề xuất những giải pháp xây dựng văn hóa pháp luật hải quan trong bối cảnh hội nhập ở nước ta hiện nay.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn được nghiên cứu và hình thành trên cơ sở vận dụng các phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tác giả luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn….

6. Kết cấu của luận văn

Từ mục tiêu nghiên cứu luận văn này được chia làm ba phần chính:

  • Phần thứ nhất sẽ làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan
  • Phần thứ hai là nêu lên thực trạng của văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan từ lúc thành lập ngành hải quan Việt Nam (1945) đến nay dưới góc độ nghiên cứu thực trạng những thành tố cấu thành nên văn hóa pháp luật, đánh giá thực trạng và những vấn đề còn tồn tại
  • Phần thứ ba là đưa ra những quan điểm cơ bản và một số giải pháp xây dựng văn hóa pháp luật hải quan trong bối cảnh hội nhập ở nước ta hiện nay. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

  • Tổng hợp lại những vấn đề lý luận về văn hóa pháp luật trong lĩnh vực chuyên ngành, cụ thể là trong lĩnh vực pháp luật hải quan
  • Đánh giá chi tiết thực trạng của văn hóa pháp luật hải quan dưới góc độ các yếu tố cấu thành nên nó.
  • Làm rõ vấn đề văn hóa pháp luật hải quan không chỉ đơn thuần là những hành vi văn minh, lịch sự của công chức hải quan, của khách hàng mà còn là cả hệ thống pháp luật hải quan tiên tiến, thích ứng với yêu cầu của công cuộc đổi mới, hội nhập hiện nay
  • Đưa ra những giải pháp cơ bản để xây dựng và phát triển văn hóa pháp luật hải quan, có tính chất định hướng rõ để xây dựng ngành hải quan “chuyên nghiệp – minh bạch – hiệu quả”

8. Lời cảm ơn và mong đợi của người viết luận văn

Văn hóa pháp luật xét về phương diện lý luận và thực tiễn là vô cùng phức tạp, đa dạng cả về hình thức và nội tại và biểu hiện bên ngoài; quản lý nhà nước về hải quan cũng là một lĩnh vực đòi hỏi sự nhanh nhạy và chuyển biến kịp thời với sự phát triển của kinh tế. Tuy có nhiều cố gắng nhưng nội dung của luận văn này vẫn còn nhiều thiếu sót, tác giả chỉ mong đóng góp một phần cho sự phát triển của nền văn hóa pháp lý trong lĩnh vực mình công tác.

Xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo và giúp đỡ của GS.TS Hoàng Thị Kim Quế cùng tập thể các thầy cô giảng viên Khoa luật Trường Đại học Quốc gia Hà Nội

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA PHÁP LUẬT HẢI QUAN

1.1. Khái niệm và các thành tố cơ bản của văn hóa pháp luật

1.1.1. Khái niệm về văn hóa: Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Văn hoá là khái niệm có nội hàm rộng lớn, có thể tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Văn hoá là tổng thể những hoạt động tinh thần, trí tuệ của xã hội, thể hiện ở phong tục, tập quán, lối sống; ngôn ngữ, đạo đức, luật lệ, khoa học, nghệ thuật…Văn hoá là tổng thể những giá trị vật chất, tinh thần được hình thành và sáng tạo trong hoạt động của con người được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ cộng đồng này sang cộng đồng khác tạo thành truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc bên cạnh những giá trị chung của nhân loại. Tuy có sự đa dạng trong các quan điểm khác nhau về khái niệm, song điều cốt lõi được thừa nhận chung về văn hoá đó là một phạm trù bao quát tất cả các giá trị do con người sáng tạo nên trong quá trình hoạt động lý lụân và thực tiễn nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống vật chất, tinh thần. Hiện nay trên thế giới có khoảng 400 – 500 định nghĩa văn hoá. Điều đó nói lên sự phong phú và sự không xác định cụ thể của khái niệm văn hoá. Có nhiều tiêu chí để phân loại các hình thái văn hoá, thông thường cách phân loại chung từ góc độ xã hội, có các hình thái ( lĩnh vực) văn hoá như: văn hoá chính trị, văn hoá đạo đức, văn hoá thẩm mỹ ( nghệ thuật); văn hoá pháp lý. Trong mỗi một hình thái văn hoá này lại được phân chia thành nhiều dạng cụ thể đặc thù. Văn hoá xét trên bình diện xã hội được phân thành văn hoá vật chất ( văn hoá vật thể ) và văn hoá tinh thần ( văn hoá phi vật thể)

Vốn là một hiện tượng xã hội hết sức đa dạng, đa cấp độ, văn hóa từng được nhìn nhận theo nhiều cách thức khác nhau. Ở trình độ lý luận và yêu cầu của xã hội ngày nay, văn hóa được coi là tất cả những gì liên quan đến con người, ít nhiều thể hiện được sức mạnh bản chất của con người. Văn hóa ra đời cùng với sự xuất hiện của xã hội loài người, từ giai đoạn khởi thủy cho đến giai đoạn phát triển thịnh vượng sau này. Quá trình phát triển của văn hóa cũng là quá trình loài người tiến hóa, đi lên, nắm bắt các qui luật tự nhiên và làm chủ thế giới. Có thể nói, sự phát triển của văn hóa chính là quá trình con người tự hoàn thiện mình, hoàn thiện xã hội, xây dựng một xã hội tiến bộ hơn, dân chủ hơn. Văn hóa đích thực là ánh sáng dẫn dắt đời sống nhân loại đi tới những giá trị cao cả để đạt được sự toàn thiện, toàn mĩ. Bởi vậy, làm lành mạnh môi trường văn hóa, tạo điều kiện cho văn hóa phát triển cũng có ý nghĩa tích cực đối với sự phát triển tiến bộ xã hội và hoàn thiện nhân cách mỗi cá nhân.

Có nhiều định nghĩa về văn hóa đã được các học giả đề cập và phân tích trong các công trình nghiên cứu của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ năm 1942, đã đưa ra một định nghĩa về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự tinh tồn”. [7, tr.431, T3]. Cách định nghĩa văn hóa này là khá toàn diện, thể hiện được sự nguồn gốc, chức năng của văn hóa, đồng thời cũng phản ánh tính kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác, thời kỳ lịch sử này sang thời kỳ lịch sử khác của văn hóa. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Theo định nghĩa của UNESCO thì văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên nó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình . Theo cách hiểu này thì văn hóa trong một lĩnh vực hoạt động xã hội cụ thể của mỗi dân tộc được thể hiện qua ba yếu tố cốt lõi sau:

Các giá trị tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ (yếu tố về ý thức).

  • Những giá trị vật chất, kỹ thuật do con người sáng tạo ra trong lĩnh vực đó.
  • Năng lực, cách thức sử dụng các dạng vật chất đã sáng tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu của đời sống con người cả về vật chất và tinh thần.

Từ “văn hóa” trong tiếng Latin là “culture”, nghĩa là sự trồng trọt. Theo nghĩa gốc, ta có thể hiểu văn hóa là quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục từ những cá thể sinh học trở thành những con người. Cũng có thể nói rằng văn hóa là môi trường thứ hai để con người trở thành chính bản thân mình. Như vậy, văn hóa có mặt trong tất cả các sản phẩm do con người tạo ra, từ công cụ sản xuất đến các vật dụng sinh hoạt, từ tri thức khoa học đến các tác phẩm nghệ thuật. Văn hóa còn hiện diện trên các quan hệ giữa con người với con người dù đó là quan hệ kinh tế hay quan hệ tôn giáo, quan hệ pháp luật hay quan hệ giao tiếp thông thường. Văn hóa còn là bản thân các năng lực cấu thành nhân cách con người là tri thức, tình cảm, ý chí và mọi năng lực lao động sáng tạo…

Dưới góc độ xã hội học thì văn hóa là sản phẩm của con người, là cách quan niệm cuộc sống, tổ chức cuộc sống và sống cuộc sống ấy. Văn hóa có thể được xem xét như hệ thống “các giá trị, chân lý, các chuẩn mực và mục tiêu mà con người cùng thống nhất với nhau trong quá trình tương tác và trải qua thời gian”. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Vì là một khái niệm có nội hàm rộng lớn như vậy mà “Văn hóa cần được tiếp cận từ góc độ liên ngành, đa ngành thì mới có thể nhận thức, đánh giá, nhận diện đầy đủ được, dù đó là hình thái văn hóa nào, chính trị, tôn giáo, kinh tế hay pháp luật. Những lĩnh vực có quan hệ gần gũi với văn hóa phải kể đến là: xã hội học, khoa học hành vi, triết học, luật học; văn hóa học, sử học, nhân chủng học vv. Nói một cách chính xác hơn, văn hóa hiện diện trong tất cả các lĩnh vực khoa học, lý luận và thực tiễn của con người” (Văn hóa pháp luật những vấn đề lý luận cơ bản và ứng dụng chuyên ngành). Như vậy có nghĩa là chúng ta cần nhìn nhận văn hóa theo nhiều phương diện, góc độ, lĩnh vực để có những kiến thức tổng hợp và đưa ra những ý kiến xây dựng văn hóa phù hợp trong từng lĩnh vực ấy. Văn hóa là gì đấy rất chung nhưng luôn có những điểm riêng, đặc trưng trong từng lĩnh vực, từng dân tộc, từng quốc gia. Trong nội dung của luận văn này, người viết đi sâu vào văn hóa pháp luật, cụ thể là trong lĩnh vực hải quan và nhận thức “văn hóa là một phạm trù bao quát tất cả các giá trị do con người sáng tạo nên trong quá trình hoạt động lý luận và thực tiễn nhằm thỏa nhu cầu đời sống vật chất, tinh thần”. Để từ góc độ chung đó phân tích đâu là những giá trị mà chúng ta đã tạo ra trong quá trình hình thành và thực hiện pháp luật về ngành hải quan, những yếu tố tác động đến việc xây dựng và phát triển văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan và đưa ra những ý kiến đề xuất xây dựng hoàn thiện văn hóa pháp luật trong ngành hải quan.

1.1.2. Khái niệm về văn hóa pháp luật:

Văn hóa pháp lý, một trong những hình thái cơ bản của văn hóa nói chung, cũng đa dạng như chính bản thân văn hóa và pháp luật, nảy sinh từ đời sống xã hội và quay trở lại phục vụ xã hội”[14]. Văn hoá pháp lý thuộc lĩnh vực văn hoá tinh thần. Văn hoá pháp lý là hệ thống các yếu tố vật chất và tinh thần thuộc lĩnh vực tác động của pháp luật được thể hiện trong ý thức và hành vi của con người. Trong cơ cấu của văn hoá pháp lý có các yếu tố văn hoá cơ bản sau: pháp luật với tư cách là một hệ thống các quy phạm thể hiện ý chí nhà nước, mệnh lệnh nhà nước; các quan hệ pháp luật; các thiết chế pháp luật ( như hệ thống các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội đảm bảo sự kiểm soát pháp luật, sự điều chỉnh và sự thực hiện pháp luật; ý thức pháp luật; hành vi pháp luật. Một cách ngắn gọn hơn, các yếu tố cấu thành của văn hoá pháp lý bao gồm: ý thức pháp luật, nền pháp luật, trình độ, kỹ năng, nghệ thuật sử dụng công cụ pháp luật. Ba yếu tố này có mối quan hệ biện chứng, tác động lẫn nhau, làm tiền đề, điều kiện cho nhau phát triển. Sự lạc hậu, trì trệ của yếu tố này sẽ là lực cản của yếu tố kia.

Pháp luật là một lĩnh vực hoạt động xã hội, do đó nó luôn đòi hỏi phải tính đến vai trò và vị trí của nhân tố văn hóa. Trong lĩnh vực pháp luật, trước hết văn hóa được thể hiện như là phương thức quản lí xã hội vì con người, đảm bảo cuộc sống hạnh phúc cho con người. Đồng thời, nó cũng thể hiện như là kết quả hoạt động sáng tạo của con người trong việc xây dựng và thực thi pháp luật hướng tới chân, thiện, mĩ. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Pháp luật là một trong những yếu tố của văn hóa và văn hóa pháp luật là văn hóa chuyên ngành . Vì vậy để xây dựng được nền văn hóa Việt nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thì tất yếu phải chú trọng phát triển văn hóa pháp luật. Điều này không chỉ là xu hướng của riêng nước ta mà còn là phương hướng phát triển chung của các nước trên thế giới. Bên cạnh việc phát triển văn hóa giao tiếp, văn hóa du lịch, văn hóa chính trị…thì các quốc gia đều rất chú trọng đến việc phát triển văn hóa pháp luật. Đây được coi là thước đo quan trọng của tiến trình xây dựng xã hội dân chủ, nhà nước pháp quyền trong sạch, vững mạnh.

Văn hóa pháp luật không phải là một thuật ngữ được dùng phổ biến trong luật học như: chế tài, khế ước, nghĩa vụ, lỗi, hành vi mà là một thuật ngữ gắn liền với xã hội học pháp luật, lý luận nhà nước và pháp luật hay nó còn liên quan đến các vấn đề tranh cãi hiện nay như triết học pháp quyền, sự du nhập pháp luật trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Hiện nay, trong giới khoa học pháp lý vẫn chưa có định nghĩa rõ ràng về văn hóa pháp luật. Ở mỗi một cách nhìn, mỗi người lại có một quan niệm riêng về định nghĩa văn hóa pháp luật. GS. TS Lê Minh Tâm cho rằng “văn hóa pháp luật là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần mà con người sáng tạo ra trong lĩnh vực pháp luật bao gồm hệ thống qui phạm pháp luật được ban hành trong các thời kỳ lịch sử, những tư tưởng, quan điểm, luận điểm, nguyên lí, nguyên tắc, những tác phẩm văn hóa pháp luật, những kinh nghiệm và thói quen tích lũy được trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật” [23]. Theo quan điểm của TS Phạm Duy Nghĩa thì “văn hóa pháp luật là một cách nhìn về luật pháp, đặt pháp luật trong những tương quan đa chiều với khoa học hành vi, cách nghĩ, cách ứng xử, tôn giáo, niềm tin, các đặc tính nhân học của các cộng đồng và tộc người” [8]. Một quan điểm khác của GS.TS Hoàng Thị Kim Quế thì: “Văn hóa pháp lý là hệ thống các yếu tố vật chất và tinh thần thuộc hệ thống tác động của pháp luật được thể hiện trong ý chí và hành của con người…Văn hóa pháp lý thể hiện ở trình độ cao của sự tôn trọng pháp luật, trình độ tri thức pháp luật của nhân dân; thực trạng có chất lượng của quá trình lập pháp và thực hiện pháp luật, các phương thức hoạt động pháp luật đặc thù như của các cơ quan pháp luật, kiểm tra hiến pháp…; kết quả của họat động pháp luật dưới dạng sản phẩm tinh thần và vật chất do con người xây dựng như luật, hệ thống lập pháp, thực tiễn tư pháp và hành pháp” [14]. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Mục đích của văn hóa pháp luật nói riêng và văn hóa nói chung là dẫn dắt con người tới những giá trị cao đẹp, hướng tới chân – thiện – mỹ – ích. Văn hóa giúp tăng cường hiệu quả của pháp luật trong xã hội, đồng thời hiệu quả pháp luật lại phản ánh trình độ văn hóa pháp luật của xã hội đó. Phát triển văn hóa pháp luật không những góp phần nâng cao hiệu quả pháp luật mà còn giúp hoàn thiện, phát triển nhân cách con người.

Ở luận văn này người viết đề cập đến văn hóa pháp luật là những giá trị do con người sáng tạo ra trong lĩnh vực pháp luật, bao gồm: ý thức pháp luật (tri thức pháp luật và tình cảm pháp luật), hệ thống pháp luật và hành vi thực hiện, áp dụng pháp luật. Văn hóa pháp luật thể hiện ở ý thức pháp luật cao, hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, tiến bộ, hành vi thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật hợp pháp.

Có một số tác giả trong quan niệm của mình sử dụng các thuật ngữ như văn hóa pháp lý hay văn hóa tư pháp. Theo cá nhân người viết luận văn, văn hóa tư pháp là những giá trị được biểu hiện thông qua các qui định pháp luật và hoạt động của riêng hệ thống tư pháp, tức là trong hoạt động (bao gồm thẩm quyền, giới hạn xét xử, nghĩa vụ) của các cơ quan tư pháp. Đồng thời cũng là những quan niệm, suy nghĩ, thái độ, hành vi ứng xử của các tầng lớp xã hội đối với các văn bản pháp luật về tư pháp, hệ thống các cơ quan tư pháp và các cá nhân trong hệ thống đó. Văn hóa tư pháp cũng chỉ là một lĩnh vực của văn hóa pháp luật, bên cạnh các lĩnh vực khác như: văn hóa lập pháp, văn hóa hành chính, văn hóa tư vấn pháp luật, văn hóa phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật…Còn văn hóa pháp lý hay văn hóa pháp luật đều thể hiện những giá trị của cả hệ thống luật pháp trên tất cả các ngành, lĩnh vực trong đời sống xã hội. Như vậy lựa chọn thuật ngữ văn hóa pháp lý hay văn hóa pháp luật đều có thể bao quát và phù hợp với định nghĩa và các yếu tố cấu thành. Để tìm hiểu sâu hơn về văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan, phần lý luận người viết làm rõ thêm về văn hóa pháp luật với những nội dung như: đặc điểm, chức năng, cấp độ, phân loại văn hóa pháp luật

1.1.2.1. Đặc điểm của văn hóa pháp luật. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Văn hóa pháp luật có các đặc điểm của văn hóa nói chung, các đặc điểm riêng của mình và luôn có mối quan hệ mật thiết với các dạng văn hóa khác. Các đặc điểm của văn hóa pháp luật có thể kể đến là:

Văn hóa pháp luật có tính hệ thống, tính lịch sử: văn hóa pháp luật bao gồm nhiều yếu tố, nhiều bộ phận và những yếu tố đó luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Đó là một hệ thống, một bức tranh tổng thể chứ không phải là một sự liệt kê, một phép cộng giản đơn. Văn hóa pháp luật cũng là sự kết tinh sáng tạo của con người qua nhiều thế hệ, nhiều giai đoạn. Do đó, nghiên cứu văn hóa pháp luật luôn phải đặt nó trong sự tác động, ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa truyền thống và hiện đại.

Văn hóa pháp luật có tính giá trị: các giá trị đó có thể bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần. Văn hóa pháp luật có những giá trị riêng về công bằng, công lý, tự do, bình đẳng, dân chủ. Văn hóa pháp luật xác lập một hệ thống giá trị pháp luật cho xã hội với các khuôn mẫu ứng xử, chuẩn mực hành vi của con người.

Văn hóa pháp luật luôn có tính giao lưu, tính mở: văn hóa pháp luật của một quốc gia luôn có mối quan hệ tương tác với nền văn hóa pháp luật khu vực và thế giới. Văn hóa pháp luật thể hiện bản sắc riêng của dân tộc đồng thời tiếp thu có chọn lọc những giá trị văn hóa pháp luật của các nước khác trong quá trình mở rộng giao lưu quốc tế.

1.1.2.2. Chức năng của văn hóa pháp luật

Văn hóa pháp luật thực hiện những chức năng của văn hóa trong một lĩnh vực đặc biệt – lĩnh vực pháp luật. Vì thế, văn hóa pháp luật cũng mang những chức năng chung của văn hóa. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Chức năng nhận thức: đây là chức năng đầu tiên và quan trọng của văn hóa pháp luật. Văn hóa pháp luật nếu thiếu chức năng nhận thức thì không thể đề cập đến chức năng nào khác. Chức năng nhận thức một mặt giúp cho các nhà lập pháp nhận thức đúng các qui luật của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, sự cần thiết phải ban hành văn bản pháp luật để điều chỉnh một quan hệ xã hội…từ đó để xây dựng các qui phạm pháp luật tiến bộ, phù hợp với thực tiễn. Mặt khác, chức năng nhận thức của văn hóa pháp luật cũng cung cấp những thông tin, kiến thức pháp luật cho các chủ thể, đồng thời bồi dưỡng niềm tin, tình cảm pháp luật cho các chủ thể pháp luật. Có thể nói văn hóa pháp luật như một cuốn sách về đời sống pháp luật, nó gắn liền với hoạt động sáng tạo pháp luật, thực hiện và áp dụng pháp luật của các chủ thể.

Chức năng định hướng: Văn hóa pháp luật bao gồm những giá trị về mặt vật chất và tinh thần. Những giá trị đó luôn gắn liền với đời sống xã hội và là những mục tiêu hướng đến của con người, đó là những giá trị của chân – thiện – mỹ. Chính điều này đã làm cho văn hóa pháp luật có chức năng định hướng những tư duy, suy nghĩ và hành vi ứng xử của các chủ thể. Văn hóa pháp luật chính là những chuẩn mực hướng con người ta đến những suy nghĩ tích cực và hành vi hợp pháp. Bên cạnh các phương tiện điều chỉnh khác như đạo đức, phong tục tập quán, văn hóa pháp luật trở thành một công cụ hữu hiệu giúp giữ gìn trật tự xã hội, xây dựng một cuộc sống tốt đẹp, công bằng, dân chủ, văn minh. Sự khác biệt trong cơ chế định hướng của văn hóa pháp luật với các phương tiện điều chỉnh khác là ở chỗ văn hóa pháp luật được bảo đảm thực hiện bằng pháp luật, pháp luật do nhà nước ban hành nên có quyền lực cưỡng chế đối tượng phải thi hành. Còn đạo đức hay phong tục tập quán lại được thực hiện thông qua sự tự nguyện của mỗi cá nhân, thông qua sự khích lệ hay chỉ trích của dư luận xã hội. Chuẩn mực văn hóa pháp lý không những hướng con người ta tới những giá trị cao đẹp của pháp luật mà còn giúp hình thành và hoàn thiện nhân cách con người.

Chức năng giáo dục: giáo dục và môi trường giáo dục luôn là những yếu tố quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người. Đối với văn hóa pháp luật, giáo dục lại càng có vai trò quan trọng, bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi ứng xử có văn hóa pháp luật hay không của các chủ thể. Chức năng giáo dục của văn hóa pháp luật chính là nằm ở chỗ: nó quyết định việc lựa chọn hay không lựa chọn thực hiện một hành vi tích cực hoặc tiêu cực của con người. Bên cạnh ý thức pháp luật, sự tự giác của mỗi người, chức năng giáo dục pháp luật giúp hỗ trợ cho các chủ thể hành động hợp pháp. Giáo dục pháp luật hiện nay được thực hiện dưới nhiều hình thức: hình thành các trung tâm tư vấn pháp luật, câu lạc bộ pháp luật, hoạt động phổ biến tuyên truyền giáo dục pháp luật, giáo dục pháp luật thông qua việc đào tạo tại các trường Trung học, Đại học…Thông qua đó, văn hóa pháp luật đã nâng cao trình độ hiểu biết, ý thức tôn trọng pháp luật của các tầng lớp nhân dân đồng thời giáo dục lối sống, nhân cách, đạo đức phù hợp với các qui định của pháp luật. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Chức năng phản ánh thực tiễn: Pháp luật luôn luôn phải gắn liền với thực tiễn, với các qui luật của sự vận động và phát triển trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội. Nhưng thực tiễn cũng chính là bức tranh phản ánh hiệu quả pháp luật, tính đúng đắn và khả thi của các qui phạm pháp luật ban hành. Văn hóa pháp luật với sự phản ánh ý thức pháp luật, tình cảm pháp luật, hành vi ứng xử của các chủ thể đã trở thành công cụ hỗ trợ giúp cho pháp luật đi sâu vào đời sống hơn, hoàn thiện hơn. Dưới sự tác động của văn hóa pháp luật, việc hoạch định và xây dựng các chính sách pháp luật trở nên đúng đắn hơn, phù hợp với mong muốn và nguyện vọng của đại đa số bộ phận dân chúng, phản ánh những suy nghĩ, tâm tư, tình cảm của họ vào pháp luật. Trong chức năng phản ánh thực tiễn còn có vấn đề dự báo tình hình và xu hướng phát triển của pháp luật. Dựa trên cơ sở nhận thức sâu sắc các qui luật phát triển của đời sống kinh tế xã hội, văn hóa pháp luật đưa ra khả năng dự liệu các qui phạm để điều chỉnh các quan hệ xã hội sẽ phát sinh.

1.1.2.3. Các cấp độ của văn hóa pháp luật

Văn hóa pháp luật thể hiện ở những cấp độ khác nhau tùy thuộc vào những điều kiện khách quan và năng lực nhận thức chủ quan của chủ thể nhận thức. Các cấp độ đó bao gồm: văn hóa pháp luật thông thường, văn hóa pháp luật lý luận và văn hóa pháp luật nghề nghiệp.

Văn hóa pháp luật thông thường: được hiểu là mức độ nhận thức pháp luật còn hạn chế, thông qua sự phản ánh trực tiếp, giản đơn về các hiện tượng pháp luật. Văn hóa pháp luật thông thường được hình thành dưới sự tác động trực tiếp của những điều kiện khách quan và kinh nghiệm của cuộc sống cá nhân, trong đó yếu tố tâm lý xã hội chiếm vị trí quan trọng. Ở cấp độ này, văn hóa pháp luật nhìn chung mới chỉ biểu hiện ở sự thừa nhận, tiếp thu và xử sự theo sự thừa nhận và tiếp thu đó. Ví dụ, dưới sự tác động của các hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật hoặc sự tự học tập, mỗi cá nhân có thể có được sự hiểu biết và nắm được những kiến thức pháp luật nhất định; thông qua việc tham gia vào các hoạt động như bầu cử, góp ý kiến vào các dự án luật và trực tiếp tham gia vào các quan hệ pháp luật cụ thể, mỗi người cũng sẽ có được sự hiểu biết và kinh nghiệm nhất định. Nhưng đó mới chỉ là sự hiểu biết thông thường, chưa toàn diện và sâu sắc.

Văn hóa pháp luật lý luận: được hiểu là trình độ nhận thức cao, có hệ thống và sâu sắc về các vấn đề có tính bản chất của pháp luật và các hiện tượng pháp luật. Nói cách khác, đó là sự nhận thức có căn cứ khoa học, được hình thành trong quá trình đào tạo, học tập, nghiên cứu một cách có hệ thống và được kiểm nghiệm trong thực tiễn đời sống. Văn hóa pháp luật lý luận có ưu thế đặc biệt, nó là cơ sở cho hoạt động sáng tạo pháp luật, truyền bá tư tưởng, quan điểm pháp lý, cũng như những hoạt động pháp luật thực tiễn. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Văn hóa pháp luật nghề nghiệp: là văn hóa pháp luật của các luật gia và các nhà chức trách mà nghề nghiệp có liên quan đến việc hoạch định chính sách pháp luật, nghiên cứu, xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật. Văn hóa pháp luật nghề nghiệp là sự kết hợp hài hòa của những yếu tố tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật. Nó không những chỉ biểu hiện ở trình độ hiểu biết cao của pháp luật mà còn phản ánh trình độ nghiệp vụ, kỹ năng sử dụng và áp dụng pháp luật vào việc giải quyết các công việc của thực tế đời sống.

Như vậy, văn hóa pháp luật thông thường có tính phổ quát, phong phú được đặc trưng bằng yếu tố tâm lý xã hội; văn hóa pháp luật lý luận thể hiện tính tư tưởng và khoa học sâu sắc, toàn diện còn văn hóa pháp luật nghề nghiệp là sự kết hợp hài hòa của hai cấp độ văn hóa đó. Có thể coi văn hóa pháp luật nghề nghiệp là cầu nối giữa văn hóa pháp luật lý luận và văn hóa pháp luật thông thường. Văn hóa pháp luật thông thường góp phần tạo nên sự phong phú và đa dạng của văn hóa pháp luật; văn hóa pháp luật lý luận qui tụ, soi sáng và định hướng cho sự phát triển của văn hóa pháp luật, còn văn hóa pháp luật nghề nghiệp góp phần tạo ra sự hài hòa phát triển của văn hóa pháp luật. Vì vậy trong phát triển văn hóa pháp luật cần chú trọng toàn diện cả ba mặt: nâng cao văn hóa pháp luật thông thường, tăng cường văn hóa pháp luật lý luận và đề cao văn hóa pháp luật nghề nghiệp.

1.1.2.4. Phân loại văn hóa pháp luật

Phân loại theo chủ thể: gồm văn hóa pháp luật của cá nhân, văn hóa pháp luật nhóm và văn hóa pháp luật xã hội.

  • Văn hóa pháp luật của cá nhân: thể hiện những quan điểm, tư tưởng, tâm lý, tình cảm, thái độ của mỗi người về pháp luật và các cơ quan pháp luật. Văn hóa pháp luật ở mỗi cá nhân là khác nhau, thể hiện ở ý thức pháp luật cao hay thấp, suy nghĩ, quan niệm về pháp luật tích cực hay tiêu cực từ đó dẫn đến hành vi hợp pháp hay bất hợp pháp. Văn hóa pháp luật của mỗi cá nhân chịu sự tác động của các yếu tố khách quan (điều kiện kinh tế – xã hội) và các yếu tố chủ quan (tư chất bẩm sinh). Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.
  • Văn hóa pháp luật nhóm: nhóm ở đây được hiểu là một nhóm người hay một tầng lớp có những điểm chung tương đồng về điều kiện làm việc và sinh hoạt, mục đích, nhu cầu và lợi ích…Do vậy về mặt ý chí và nhận thức pháp luật của nhóm cũng có những điểm chung. Văn hóa pháp luật nhóm do vậy là những quan điểm, tư tưởng điển hình của nhóm về hệ thống pháp luật. Giáo dục và nâng cao văn hóa pháp luật nhóm có ý nghĩa rất quan trọng bởi nó đóng vai trò là cầu nối giữa văn hóa pháp luật cá nhân và văn hóa pháp luật xã hội.
  • Văn hóa pháp luật xã hội: được hiểu là những giá trị văn hóa pháp luật đã được thừa nhận rộng rãi và thực thi trên toàn xã hội. Văn hóa pháp luật xã hội thể hiện tích đặc trưng và khái quát cao.
  • Phân loại theo lĩnh vực hoạt động: bao gồm văn hóa lập pháp, văn hóa hành pháp và văn hóa tư pháp.
  • Văn hóa lập pháp: là những giá trị của văn hóa pháp luật trong hoạt động hoạch định, xây dựng các chính sách pháp luật, văn bản qui phạm pháp luật.

Văn hóa pháp luật trải dài trong suốt quá trình lập pháp, từ việc thu thập tài liệu, điều tra thực tiễn các quan hệ xã hội cần điều chỉnh, xây dựng dự thảo, lấy ý kiến của các tầng lớp nhân dân cho đến giai đoạn thông qua và ban hành văn bản pháp luật.

  • Văn hóa hành pháp: là những giá trị văn hóa pháp luật trong lĩnh vực thực thi pháp luật. Nó bao gồm hoạt động của các cơ quan hành pháp và cả hoạt động của các cá nhân được nhà nước giao quyền làm việc trong các cơ quan đó.
  • Văn hóa tư pháp: giá trị của văn hóa pháp luật được biểu hiện trong lĩnh vực tư pháp: điều tra, xét xử…

Có một số tác giả cho rằng cần bổ sung hai loại hình văn hóa xét xử và văn hóa phổ biến tuyên truyền giáo dục pháp luật. Nhưng theo tác giả, việc đề cập đến các loại hình văn hóa pháp luật theo cách liệt kê như trên thì không những dừng lại ở 2 loại hình văn hóa đó mà sẽ còn phát sinh nhiều loại hình khác như: văn hóa tư vấn pháp luật, văn hóa pháp luật điều tra…Vì vậy cần phân chia rõ các lĩnh vực tác động của văn hóa pháp luật là: lập pháp, hành pháp và tư pháp để từ đó xếp các loại hình văn hóa theo các lĩnh vực khác nhau.

Phân loại theo phạm vi tác động: có thể kể đến văn hóa pháp luật ở trường học, văn hóa pháp luật ở tòa án, văn hóa pháp luật ở các cơ quan hành chính sự nghiệp…

1.1.2.5 Các yếu tố hợp thành văn hóa pháp luật Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Văn hóa pháp luật là một bộ phận của nền văn hóa nói chung, là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần được con người sáng tạo ra trong lĩnh vực pháp luật. Phạm trù văn hóa pháp luật cũng như những yếu tố cấu thành ra nó hiện nay vẫn tồn tại hai quan niệm khác nhau.

Quan niệm thứ nhất cho rằng các yếu tố cấu thành văn hóa pháp luật được hiểu theo nghĩa hẹp. Đây là được coi là quan niệm truyền thống và được ghi nhận trong hầu hết các tác phẩm, công trình nghiên cứu về văn hóa pháp luật. Theo đó, văn hóa pháp luật bao gồm các yếu tố cấu thành là: trình độ pháp luật của các chủ thể; thái độ, tình cảm tôn trọng pháp luật và hành vi ứng xử theo pháp luật.

Quan niệm thứ hai cho rằng các yếu tố cấu thành văn hóa pháp luật được hiểu theo nghĩa rộng. Theo đó, văn hóa pháp luật bao gồm hai yếu tố là: hệ thống pháp luật (được phân biệt ở hai hệ thống pháp luật chủ yếu là hệ thống pháp luật Anh – Mỹ hay còn gọi là Common law và Civil law ); truyền thống pháp luật (bao gồm các yếu tố như nguồn pháp luật, trình độ hiểu biết về pháp luật, thức pháp luật và hành vi xử xự đúng pháp luật). Quan niệm này tồn tại ở nhiều nước trên thế giới hiện nay, đặc biệt là ở các nước theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ.

Theo quan điểm cá nhân của tác giả luận văn, những yếu tố cấu thành văn hóa pháp luật nên được hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa là ngoài các yếu tố theo nghĩa hẹp thì nên bổ sung yếu tố bản thân hệ thống pháp luật trở thành bộ phận của nền văn hóa pháp luật quốc gia. Bởi lẽ, hệ thống pháp luật quốc gia với những văn bản pháp luật được ban hành sẽ thể hiện sự tiến bộ hay không, tính đúng đắn hay không và tính phù hợp với thực tiễn của đời sống xã hội hay không. Hệ thống pháp luật chính là hành lang pháp lý, là chuẩn mực pháp luật để các chủ thể thực hiện những hành vi và ứng xử theo đúng qui định của pháp luật. Không có hệ thống pháp luật thì không thể biết trình độ hiểu biết pháp luật của các chủ thể đến đâu, họ có tôn trọng các qui định của pháp luật hay không và họ có hành động theo các chuẩn mực pháp lý hay không. Nói đúng hơn, hệ thống pháp luật đóng vai trò như một tấm gương phản chiếu chính ý thức, trình độ và hành vi của các chủ thể, để từ đó cho thấy văn hóa pháp luật của họ có cao hay không. Vì lẽ đó, nói đến văn hóa pháp luật không thể không nói đến hệ thống pháp luật, tuy hệ thống pháp luật là một bộ phận đứng biệt lập với các yếu tố còn lại; có nghĩa là các yếu tố trình độ, ý thức và hành vi là thuộc về bản thân của các chủ thể còn hệ thống pháp luật lại thuộc về nhà nước, do các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước ban hành.

Văn hóa pháp luật cho thấy một bức tranh tổng thể về các yếu tố cấu thành. Mỗi yếu tố thể hiện một mặt, một khía cạnh nhất định của văn hóa pháp luật, nhưng chúng ta chỉ có thể có được cái nhìn toàn diện về văn hóa pháp luật khi xem xét và phân tích tất cả các yếu tố cũng như mối quan hệ tác động qua lại giữa các yếu tố đó mà thôi.

  • Ý thức pháp luật (bao gồm tri thức pháp luật và tình cảm pháp luật)

Ý thức pháp luật là một bộ phận của ý thức, thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần của con người. Có thể nói “ý thức pháp luật là tổng thể những tư tưởng, học thuyết, quan điểm, thái độ, tình cảm, sự đánh giá của con người về pháp luật trên các phương diện, tiêu chí cơ bản như: Về sự cần thiết (hay không cần thiết), về vai trò, chức năng của pháp luật, về tính công bằng hay không công bằng, đúng đắn hay không đúng đắn của các qui định pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua trong quá khứ, pháp luật cần phải có, về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi của các cá nhân, nhà nước, các tổ chức xã hội” [14].

Theo cách hiểu này thì ý thức pháp luật bao gồm cả tri thức pháp luật, tình cảm pháp luật. Tri thức pháp luật biểu hiện ở trình độ, sự hiểu biết về pháp luật của các chủ thể. Tri thức pháp luật có thể cao hoặc thấp, có thể đồng đều hoặc không giữa các chủ thể, nhưng nói đến văn hóa pháp luật tức là phải nói đến một trình độ hiểu biết pháp luật cao.

Tình cảm pháp luật chính là những suy nghĩ, thái độ, niềm tin và sự tôn trọng pháp luật của các chủ thể. Văn hóa pháp luật đòi hỏi những suy nghĩ tích cực, lạc quan về pháp luật, thái độ tuân thủ nghiêm chỉnh và tôn trọng các chuẩn mực pháp lý.

Tri thức pháp luật và tình cảm pháp luật là những biểu hiện của ý thức pháp luật. Tuy nhiên, ý thức pháp luật là sản phẩm của bộ não con người, sinh ra trong quá trình con người tư duy và hành động. Do vậy, ý thức pháp luật là những tư duy của con người đối với hệ thống pháp luật. Tư duy đó có thể đúng hoặc sai, có thể phù hợp hoặc không phù hợp, hợp pháp hoặc bất hợp pháp. Nhưng tri thức pháp luật và tình cảm pháp luật với vai trò là một yếu tố của văn hóa pháp luật thì chỉ có thể là những tri thức cao và tình cảm tốt đẹp, ý thức đúng đắn về pháp luật. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Ý thức pháp luật được hình thành và phát triển từ những điều kiện kinh tế, điều kiện vật chất của xã hội. Toàn bộ những điều kiện khách quan về địa lý tự nhiên, phong tục tập quán, truyền thống đạo đức dân tộc…những điều kiện kinh tế – xã hội bên ngoài mỗi quốc gia, xu thế vận động quốc tế ở mỗi thời kỳ đều có tác động chi phối đến ý thức pháp luật. Ý thức pháp luật khác với các dạng ý thức khác ở chỗ: đối tượng, lĩnh vực tư duy của nó là pháp luật.

  • Đặc điểm của ý thức pháp luật

Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, ý thức pháp luật chịu sự quy định của tồn tại xã hội, nhưng nó cũng có tính độc lập tương đối

Thứ nhất, ý thức pháp luật thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội:

Trong mỗi xã hội theo từng thời kỳ lịch sử phát triển khác nhau thì tồn tại xã hội bao giờ cũng tương ứng với ý thức xã hội nhất định. Tuy nhiên, xã hội luôn phát triển không ngừng và sự tương xứng này không phải lúc nào cũng hài hòa và cân xứng về mọi phương diện lý luận cũng như thực tiễn. Bởi vì, xuất phát từ những yếu tố tâm lý pháp luật mà những thói quen, truyền thống, phong tục, tập quán luôn đóng vai trò quan trọng trong tiềm thức của mỗi con người.

Do vậy, trên thực tế theo sự biến đổi của xã hội cho dù tồn tại xã hội cũ mất đi nhưng ý thức xã hội trong đó có ý thức pháp luật do nó sinh ra vẫn tồn tại dai dẳng trong xã hội. Ví dụ, biểu hiện của tâm lý pháp luật của thời kỳ phong kiến như sự tồn tại của lối làm việc mang tính chất quan liêu, hách dịch trong công tác quản lý hành chính nhà nước đã ăn sâu vào tiềm thức và trở thành một thói quen dai dẳng. Mặc dù chúng ta đã thực hiện cơ chế quản lý hành chính “một cửa” nhưng dường như tâm lý pháp luật của một số bộ phận cán bộ vẫn bị ảnh hưởng của nếp nghĩ và cách làm cũ, vì nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan nó vẫn đang tồn tại trong xã hội gây ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động quản lý xã hội của Nhà nước.

Thứ hai, ý thức pháp luật mặc dù lệ thuộc rất nhiều vào tồn tại xã hội và chịu sự quy định của nó nhưng vẫn có tính độc lập tương đối: Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Trong một số điều kiện nhất định ý thức pháp luật vẫn có tính vượt trội hơn so với sự phát triển của tồn tại xã hội, đặc biệt là tư tưởng pháp luật khoa học. Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của các quốc gia. Bởi lẽ, nếu như đó là những tư tưởng của các nhà cầm quyền sẽ có nhiều cơ hội thuận lợi để thể hiện thành pháp luật và tạo ra những biến đổi vượt trội trong đời sống. Ví dụ, những tư tưởng, quan điểm của C. Mác về pháp luật vượt lên trước thời đại mà ông đang sống. Đó là dự báo về pháp luật kiểu mới – pháp luật xã hội chủ nghĩa của xã hội ngày nay. Hay tư tưởng, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về con đường phát triển của Việt Nam là Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân do dân và vì dân.

Thứ ba, ý thức pháp luật phản ánh tồn tại xã hội của một thời đại nào đó, song nó cũng kế thừa những yếu tố nhất định thuộc về ý thức pháp luật của thời đại trước đó. Tuy nhiên sự kế thừa đó có thể là tiêu cực hoặc tích cực.

Tích cực, đó là sự nhận thức đúng đắn đối với tri thức pháp luật và xử sự tuân theo sự định hướng của các quy phạm pháp luật đáp ứng được các yêu cầu mà pháp luật đặt ra.

Tiêu cực, đó là sự kế thừa ý thức pháp luật của người dân về thái độ, tâm lý, hiểu biết pháp luật, chấp hành pháp luật đi ngược lại với xu thế hiện đại. Ví dụ như những tàn dư của chế độ phong kiến lạc hậu để lại trong ý thức pháp luật của một bộ phận không nhỏ người dân trong xã hội như phân tích ở trên là yếu tố kìm hãm sự phát triển của đất nước trong tình hình mới.

Thứ tư, ý thức pháp luật tác động trở lại đối với tồn tại xã hội, với ý thức chính trị, đạo đức và các yếu tố thuộc thượng tầng kiến trúc pháp lý như nhà nước và pháp luật.

Sự tác động trở lại này có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì nó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của các hiện tượng nêu trên phụ thuộc vào ý thức pháp luật tiến bộ hay lạc hậu. Ý thức pháp luật cao thể hiện trình độ hiểu biết đúng đắn về tri thức pháp luật, xử sự phù hợp với các yêu cầu của pháp luật tức là hoạt động thực thi, áp dụng pháp luật trên thực tế phát huy hiệu quả mong muốn theo đúng sự định hướng của nhà nước. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Đồng thời, ý thức pháp luật cao đặc biệt ý thức pháp luật chuyên ngành của những người xây dựng luật cao thì sẽ đảm bảo cho quá trình xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với thực tế khách quan và tính khả thi trong quá trình thực thi, áp dụng. Ngược lại, ý thức pháp luật kém, không hiểu biết đúng về tri thức pháp luật, thái độ coi thường, thờ ơ với pháp luật và xử sự không đáp ứng được các yêu cầu pháp luật đặt ra thì đương nhiên điều này sẽ kìm hãm sự phát triển của pháp luật cũng như các hiện tượng chính trị, đạo đức và các yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng pháp lý.

  • Ý thức pháp luật mang tính giai cấp

Vị thế xã hội của mỗi giai cấp nhất định trong xã hội sẽ quyết định đến thế giới quan pháp lý của họ. Chính vị trí xã hội đó sẽ tạo ra thế giới quan pháp lý tương ứng. Tuy nhiên, mỗi quốc gia chỉ tồn tại một hệ thống pháp luật chung thống nhất nhưng về ý thức pháp luật lại tồn tại nhiều hệ thống của giai cấp thống trị, giai cấp bị trị hay giai cấp trung gian.

Về nguyên tắc, chỉ có ý thức pháp luật của giai cấp thống trị là được thể hiện thành pháp luật. Thông thường trong lịch sử từ trước đến nay thì ý thức pháp luật của giai cấp thống trị và giai cấp bị trị là mâu thuẫn với nhau về quyền, lợi ích của họ trong xã hội.

Đối với nước ta thì ý thức pháp luật của giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp khác trong xã hội có lợi ích thống nhất nhau về cơ bản nên tạo ra sự thống nhất cao về ý thức pháp luật. Điều đó thể hiện sự thống nhất về tư tưởng, chính trị của các giai cấp, tầng lớp nhân dân trong xã hội ta.

  • Hệ thống pháp luật.

Hệ thống pháp luật là tổng thể các qui phạm pháp luật có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau, được phân định thành các chế định pháp luật, các ngành luật và được thể hiện trong các văn bản do nhà nước ban hành theo trình tự, thủ tục và hình thức nhất định. Hệ thống pháp luật giữ vai trò quyết định đối với quá trình hình thành và phát triển của văn hóa pháp luật. Có thể nói, hệ thống pháp luật là sự biểu hiện cụ thể của văn hóa pháp luật. Thông qua hệ thống pháp luật người ta có thể có được những thông tin cơ bản nhất về tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước trong từng thời kỳ lịch sử.

Hệ thống pháp luật nước ta bao gồm: pháp luật thành văn (các bộ luật, luật, nghị định, quyết định, thông tư, chỉ thị, nghị quyết, công văn) được ban hành bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và pháp luật chưa thành văn (hương ước, tục lệ, tập quán). Cũng cần phải kể đến một loại văn bản pháp luật nữa là các bản báo cáo tổng kết công tác xét xử hàng năm của Tòa án Tối cao được xem như một loại nguồn mới của pháp luật. Tuy nước ta chưa công nhận án lệ là một loại nguồn pháp luật nhưng đối với các tổng kết xét xử của Tòa án thì được áp dụng và hướng dẫn thông qua các vụ án cụ thể đã xét xử trước đó. Có quan điểm cho rằng, các học thuyết pháp lý, các tác phẩm pháp luật, công trình nghiên cứu pháp luật, sách tham khảo luật, báo chí, tạp chí chuyên khảo…cũng được coi là bộ phận của hệ thống pháp luật, bởi nó cũng ít nhiều chứa đựng các phân tích pháp luật, định hướng cho hành vi của con người. Nhưng theo quan điểm của tác giả thì chưa thể coi đây là bộ phận của hệ thống pháp luật mà chỉ nên coi là những tài liệu tham khảo. Bởi xét ở các khía cạnh: chủ thể ban hành, nội dung qui phạm pháp luật, tính cưỡng chế thi hành thì các học thuyết, tác phẩm pháp luật trên chưa thể đáp ứng.

Trong mối quan hệ với văn hóa pháp luật, hệ thống pháp luật vừa là đối tượng để nhận thức cho quá trình hình thành và phát triển văn hóa pháp luật vừa là sự hiện thực hóa của văn hóa pháp luật.Vì vậy, nếu văn hóa pháp luật là cơ sở, tiền đề, phản ánh thực tiễn qui luật của đời sống và suy nghĩ, quan điểm của các tầng lớp nhân dân để từ đó các cơ quan nhà nước ban hành các văn bản pháp luật đúng đắn và phù hợp thì hệ thống pháp luật lại tác động mạnh mẽ tới quá trình hình thành và phát triển văn hóa pháp luật. Không có sự hiểu biết, nhận thức sâu sắc về pháp luật thì không thể có văn hóa pháp luật đúng đắn và đầy đủ. Tất nhiên, hệ thống pháp luật khi đó phải đạt tới trình độ phát triển cao, hoàn thiện về mọi mặt với những tiêu chí như: tính đồng bộ, tính toàn diện, tính phù hợp và trình độ kỹ thuật pháp lý cao. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Tính đồng bộ của hệ thống pháp luật thể hiện ở sự thống nhất giữa các ngành luật, giữa các chế định trong ngành luật và giữa các qui phạm trong chế định, trong một ngành luật và của cả hệ thống; loại ra ngoài những mâu thuẫn trùng lặp hay chồng chéo trong bản thân hệ thống pháp luật. Sự thống nhất đó thể hiện ở chỗ văn bản dưới luật phải phù hợp với văn bản luật, tránh sự chồng chéo trong qui định về cùng một vấn đề giữa các văn bản luật, gây khó khăn cho các chủ thể khi thực thi.

Tính toàn diện của hệ thống pháp luật thể hiện khả năng đáp ứng sự điều chỉnh của pháp luật trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Hệ thống pháp luật phải có đầy đủ các ngành luật, các chế định pháp luật và các qui phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Một hệ thống pháp luật hoàn thiện là một hệ thống không tạo ra những khe hở trong các qui định pháp luật, không có những lĩnh vực mà pháp luật chưa điều chỉnh.

Tính phù hợp của hệ thống pháp luật thể hiện ở chỗ, pháp luật phải phản ánh đúng trình độ phát triển kinh tế xã hội, nó không thể cao hơn hoặc thấp hơn trình độ phát triển đó. Những qui phạm, văn bản pháp luật lạc hậu hay không còn phù hợp (quá thấp so với trình độ phát triển kinh tế xã hội) hay những qui phạm, văn bản pháp luật mang những nội dung quá xa vời, không phù hợp với thực tiễn tại thời điểm được ban hành cần được loại bỏ để thay thế bằng những văn bản qui phạm khác phù hợp hơn. Các văn bản pháp luật cũng cần phải phù hợp với hệ thống chính trị, định hướng phát triển của đất nước. Pháp luật là sự thể hiện ý chí của nhà nước, nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân; do đó, pháp luật phải phù hợp với ý chí và lợi ích của nhân dân. Pháp luật cũng phải phù hợp với các yếu tố văn hóa, đạo đức, truyền thống dân tộc, phong tục tập quán, điều ước và thông lệ quốc tế. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Hệ thống pháp luật hoàn thiện thì phải được xây dựng ở trình độ kỹ thuật pháp lý cao. Kỹ thuật pháp lý là tổng thể những phương pháp, phương tiện được sử dụng trong quá trình soạn thảo và hệ thống hóa pháp luật, chứa đựng những nguyên tắc, qui tắc khoa học nhằm tạo cho pháp luật có đủ khả năng để điều chỉnh những quan hệ xã hội hiệu quả. Kỹ thuật pháp lý trong việc xây dựng các văn bản pháp luật thể hiện ở việc vạch ra các nguyên tắc khoa học rõ ràng, ngôn ngữ biểu đạt dễ hiểu nhưng chặt chẽ và chính xác, qui phạm rõ nghĩa và đầy đủ về cơ cấu. Kỹ thuật pháp lý được sử dụng như thế nào luôn để lại dấu ấn trong hệ thống pháp luật. Vì vậy, nó là một trong những tiêu chí để đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật.

  • Hành vi thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật của các chủ thể

Hành vi của con người là hành vi có ý thức, thể hiện năng lực cá nhân đặt ra trước những mục đích, lựa chọn phương thức thực hiện và dự liệu được kết quả và hậu quả của hành vi đó. Pháp luật có chức năng điều chỉnh hành vi, nghĩa là tác động vào các yếu tố chủ quan của con người và đến lượt mình hành vi của chủ thể làm cho pháp luật trở thành hiện thực và sống động. Thực hiện pháp luật là hành vi của con người phù hợp với các qui định của pháp luật. Đó chính là nội dung thứ ba của văn hóa pháp luật. Nó thể hiện cách thức, khả năng, trình độ sử dụng pháp luật và các công cụ pháp luật của cá nhân, của cộng đồng, của nhà nước trong quá trình đấu tranh vì công lý, vì sự bình đẳng và công bằng xã hội theo hướng chân – thiện – mỹ. Theo Lý luận chung về nhà nước và pháp luật thì thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những qui định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật. Thực hiện pháp luật bao gồm các hình thức sau:

  • Tuân thủ pháp luật (xử sự thụ động): các chủ thể kiềm chế không thực hiện các hành vi mà pháp luật ngăn cấm.
  • Thi hành pháp luật: các chủ thể pháp luật thực hiện các nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực.
  • Sử dụng pháp luật: các chủ thể thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép.
  • Áp dụng pháp luật: hoạt động của các cơ quan nhà nước trong việc ban hành các văn bản pháp luật.

Trình độ xây dựng pháp luật tốt để đảm bảo có hệ thống pháp luật hoàn thiện mới chỉ là bước khởi đầu, cần phải có những con người có đủ năng lực, phẩm chất đạo đức, có văn hóa pháp luật để đưa pháp luật và cuộc sống. Pháp luật được nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phù hợp với lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội. Song điều đó phụ thuộc vào hoạt động đưa pháp luật trên giấy vào thực tiễn đời sống xã hội, hay nói cách khác là phụ thuộc vào trình độ, năng lực của chủ thể thực hiện các hành vi phù hợp với mục đích yêu cầu của pháp luật. Thực tiễn pháp luật cho thấy, người dân hiểu về pháp luật, thể hiện thái độ tình cảm của mình đối với pháp luật thông qua cái mà họ nhìn thấy, cảm thấy ở hoạt động thực tiễn và áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước, các cán bộ công chức trong tình huống cụ thể liên quan trực tiếp đến quyền lợi của bản thân. Đồng thời việc sử dụng pháp luật để thực hiện quyền và nghĩa vụ của cá nhân công dân được qui định trong pháp luật phụ thuộc rất lớn vào trình độ, năng lực của chủ thể. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Hành vi thực hiện pháp luật được hiểu là hành động của con người và tổ chức của con người diễn ra trong môi trường điều chỉnh của pháp luật. Hành vi thực hiện, áp dụng pháp luật mang ý nghĩa tích cực và được coi là hành vi hợp pháp hay hành vi xử sự tích cực đối với pháp luật và các hiện tượng pháp luật, dựa trên những tri thức pháp luật và tình cảm pháp luật đúng đắn, phù hợp với xã hội. Hành vi hợp pháp mang ý nghĩa xã hội và văn hóa to lớn: một mặt nó nói lên động cơ hành vi của chủ thể, mặt khác nó phản ánh nhu cầu tiến bộ của xã hội, sự hài hòa giữa các lợi ích trong xã hội, sự hài hòa giữa nhu cầu của nhà nước và nhu cầu của công dân. Hành vi hợp pháp được xã hội tôn trọng và thể hiện trình độ cao của văn hóa pháp luật. Xét ở góc độ văn hóa, hành vi pháp luật tích cực được hiểu theo nghĩa rộng hơn, đó là hành vi xử sự ủng hộ pháp luật tiến bộ, đấu tranh, xây dựng và bảo vệ nó; đồng thời đấu tranh xóa bỏ hệ tư tưởng và tâm lý pháp luật lạc hậu, lỗi thời, phản động góp phần xây dựng chế độ xã hội ngày càng tiến bộ, văn minh. C.Mác cho rằng, ngoài hành vi của mình ra tôi hoàn toàn không tồn tại với pháp luật, hoàn toàn không phải là đối tượng của nó. Thông qua hành vi của chủ thể pháp luật còn cho thấy khả năng đích thực của pháp luật và việc sử dụng pháp luật trên cơ sở của nhận thức và có mục đích cụ thể. Nói cách khác, trình độ, năng lực thực hiện hành vi phù hợp với mục đích và yêu cầu của pháp luật thể hiện trình độ văn hóa pháp luật của chủ thể pháp luật một cách cụ thể.

Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những qui định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào các qui định của pháp luật ra các quyết định áp dụng pháp luật vào trong những trường hợp cụ thể của đời sống xã hội [7, tr. 500-501]. Áp dụng pháp luật là một hình thức đặc thù của thực hiện pháp luật, đòi hỏi các nhà chức trách phải có ý thức pháp luật cao, có tri thức tổng hợp, có kinh nghiệm phong phú, có đạo đức cách mạng và có kỹ năng sử dụng pháp luật. Có những phẩm chất trên thì người áp dụng pháp luật mới có thể độc lập, công tâm, có trách nhiệm cao khi tiến hành các hoạt động áp dụng pháp luật. Ban hành một văn bản áp dụng pháp luật trong một trường hợp cụ thể đòi hỏi phải xem xét kỹ tình tiết vụ việc, hiểu biết sâu rộng các qui phạm pháp luật điều chỉnh vụ việc đó. Văn bản áp dụng pháp luật ban hành phải đúng người, đúng vụ việc, không trái các qui định của pháp luật, như vậy mới thể hiện được kỹ năng, trình độ pháp luật của người áp dụng và văn hóa pháp luật của người đó. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Ý nghĩa xã hội của hành vi hợp pháp biểu hiện ở chỗ, một mặt nó nói lên động cơ hành vi của chủ thể, mặt khác nó phản ánh nhu cầu tiến bộ của xã hội, nói lên sự hài hòa ở những mức độ khác nhau giữa lợi ích xã hội mà pháp luật phản ánh với lợi ích cá nhân, giữa nhu cầu của nhà nước với nhu cầu của cá nhân công dân, có tác dụng làm ổn định xã hội và tăng cường ý thức tôn trọng pháp luật. Vì vậy, hành vi hợp pháp thể hiện trình độ văn hóa pháp luật cao và được pháp luật bảo vệ. Khả năng và trình độ thực hiện hành vi phù hợp với yêu cầu của pháp luật phản ánh trình độ văn hóa pháp luật trong việc xử lý hài hòa giữa hai mặt, thỏa mãn những nhu cầu, lợi ích và thực hiện những nghĩa vụ pháp lý tương ứng. Cũng chính ở đây văn hóa pháp luật được thể hiện một cách rõ nét ở sự tác động tương hỗ ở ba yếu tố cấu thành nó.

Hành vi thực hiện, áp dụng pháp luật sẽ kéo theo lối sống theo pháp luật. Phuơng thức hành động của một cộng đồng như thế nào thì sẽ tạo ra lối sống như thế ấy. Lối sống theo pháp luật là lối sống dựa trên nền tảng ý thức pháp luật tiên tiến, là biểu hiện của lối sống có văn hóa. Lối sống theo pháp luật vừa có tác dụng đóng góp vào quá trình sáng tạo văn hóa pháp luật, vừa là quá trình tiếp nhận và phát huy các giá trị văn hóa pháp luật trong thực tiễn.

Tóm lại, nền văn hóa pháp luật của các nước khác nhau có những đặc điểm khác nhau, trình độ phát triển khác nhau, nhưng đều giống nhau ở chỗ là được cấu thành bởi ba nội dung cơ bản là: ý thức pháp luật, hệ thống pháp luật và các thiết chế pháp luật, hành vi thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật. Ba yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau. Yếu tố này tạo tiền đề cho yếu tố kia xuất hiện. Ngược lại, yếu tố kia khẳng định sự thành công và tạo đà cho yếu tố này phát triển tới đỉnh cao mới. Để đánh giá về tính chất và trình độ văn hóa pháp luật thì một mặt phải xem xét đến tính chất và trình độ của mỗi yếu tố hợp thành nó, mặt khác lại phải đặt chúng trong thể thống nhất và xem xét cụ thể những mối liên hệ và sự tương hợp giữa chúng.

1.2. Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

1.2.1. Khái niệm và đặc trưng của văn hóa pháp luật hải quan

1.2.1.1. Khái niệm

Năm 2001, Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Hải quan đánh dấu một mốc quan trọng trong việc hình thành và phát triển văn hóa pháp luật hải quan ở nước ta. Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan là một dạng văn hóa pháp luật chuyên ngành, một bộ phận của văn hóa pháp luật nói chung. Văn hóa pháp luật hải quan là toàn bộ những giá trị tinh thần và vật chất được hình thành và sáng tạo, phát triển trong hoạt động hải quan. Đó là những hoạt động “hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài trong lãnh thổ hải quan; về tổ chức và hoạt động của Hải quan” [22].

Trong giai đoạn mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, ngành hải quan đóng một vai trò quan trọng, được ví như là “chiến sỹ gác cửa nền kinh tế”, hải quan là lực lượng canh giữ, chọn lọc sự hội nhập về hàng hóa, về văn hóa…, vừa bảo vệ sự công bằng cạnh tranh giữa trong nước và ngoài nước, thực hiện các chính sách thuế quan bảo hộ sản xuất trong nước, thống kê cán cân xuất nhập khẩu v v. Có nhiều công trình nghiên cứu, tạp chí khoa học, những nghiên cứu về mô hình, tổ chức hoạt động của hải quan trong thời kỳ mới nhưng chưa có sự nghiên cứu về văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan. Vì vậy để đưa ra một khái niệm cụ thể là chưa có, dựa trên tinh thần của văn hóa pháp luật nói chung và những nghiên cứu về ngành hải quan người viết luận văn đưa ra những quan điểm về khái niệm văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan, các bộ phận cấu thành và đặc trưng của nó để từ đó làm nổi bật vai trò của văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan. Trả lời câu hỏi vì sao xây dựng văn hóa pháp luật lại là quan trọng, là gốc của vấn đề thực hiện tốt pháp luật hải quan hiện nay. Theo tác giả: “văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan là dạng văn hóa pháp luật chuyên ngành, là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần thuộc lĩnh vực tác động của pháp luật hải quan được thể hiện trong ý thức, tư tưởng và hành vi của con người, là quá trình và kết quả hoạt động sáng tạo của con người trong lĩnh vực pháp luật hải quan, thể hiện trong việc xây dựng và giữ gìn những giá trị pháp luật ấy”

1.2.1.2. Đặc trưng và các yếu tố tác động của văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan là một bộ phận của văn hóa nói chung và văn hóa pháp luật nói riêng. Vì vậy nó cũng có đầy đủ những đặc điểm của văn hóa và văn hóa pháp luật. Tuy nhiên, văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan vẫn có những đặc trưng riêng biệt nhằm giúp phân biệt với các loại hình văn hóa pháp luật trong các lĩnh vực khác như văn hóa pháp luật giao thông, văn hóa pháp luật xét xử…. Những đặc trưng chủ yếu có thể kể đến như:

  • Đặc trưng về chủ thể.

Chủ thể là những người trực tiếp tham gia vào một quan hệ xã hội hay quan hệ pháp luật nhất định, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình thông qua việc tham gia vào quan hệ đó. Bất kỳ một lĩnh vực văn hóa pháp luật nào cũng có những chủ thể riêng biệt. Xác định chủ thể của một lĩnh vực văn hóa pháp luật nói chung, của lĩnh vực văn hóa pháp luật hải quan nói riêng có nghĩa là xác định xem văn hóa pháp luật trong lĩnh vực này hướng tới những đối tượng nào, phạm vi những vấn đề mà văn hóa pháp luật trong lĩnh vực này nghiên cứu ở những đối tượng đó là gì. Đồng thời qua đó xác định ranh giới, sự khác nhau và những mối liên hệ, những điểm tương đồng giữa văn hóa pháp luật trong lĩnh vực đó với văn hóa pháp luật trong các lĩnh vực khác.

Điều này thực sự là rất có ý nghĩa, bởi lẽ, chủ thể là các tổ chức, cá nhân là đối tượng của rất nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội; cần phải xác định sự khác nhau giữa các lĩnh vực đó trong việc cùng hướng tới cùng một chủ thể. Chẳng hạn, chủ thể của lĩnh vực văn hóa pháp luật giao thông cũng là các tổ chức cá nhân nhưng lại hoàn tòan khác với văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan, bởi đó là những tổ chức, cá nhân tham gia giao thông và tuân thủ đúng các qui định của Luật giao thông đường bộ, đường sắt, đường hàng hải, đường hàng không. Chủ thể của lĩnh vực văn hóa pháp luật xét xử là những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng, điểm khác biệt với chủ thể của văn hóa pháp luật hải quan là họ tham gia vào quan hệ tố tụng và tuân thủ các qui định của pháp luật tố tụng dân sự, tố tụng hình sự…

Chủ thể của văn hoá pháp luật trong lĩnh vực hải quan không phải là mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội, mọi tầng lớp, không phân biệt tuổi tác, địa vị, nghề nghiệp; văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan chỉ hướng tới việc nghiên cứu vấn đề trình độ hiểu biết, thái độ tình cảm, hành vi xử xự các cá nhân, cơ quan tổ chức tham gia hoạt động hải quan như quy định tại Điều 3 Luật hải quan đó là “1. Tổ chức, cá nhân thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải; 2. Cơ quan hải quan, công chức hải quan; 3. Cơ quan khác của Nhà nước trong việc phối hợp quản lý nhà nước về hải quan”[22]. Đồng thời văn hóa pháp luật hải quan cũng nghiên cứu hệ thống pháp luật hải quan cũng như năng lực, trình độ, đạo đức của các cán bộ, công chức hải quan, cơ quan nhà nước trong việc ban hành các văn bản pháp luật hải quan và áp dụng các văn bản đó. Từ đó đề ra những biện pháp chủ yếu để xây dựng văn hóa pháp luật hải quan tiến bộ, phát triển.

  • Đặc trưng về khách thể. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Khách thể của một lĩnh vực nói chung là những lợi ích vật chất, tinh thần và những lợi ích xã hội khác có thể thỏa mãn những nhu cầu của các tổ chức, cá nhân tham gia trong lĩnh vực đó. Khi tham gia một lĩnh vực nhất định, các tổ chức, cá nhân đều nhằm đạt tới những lợi ích đó. Khách thể là một yếu tố quan trọng nhằm giúp phân biệt các lĩnh vực trong đời sống xã hội. Khách thể cũng là nhân tố cho thấy tầm quan trọng của một lĩnh vực nhất định. Khách thể càng rộng, càng ảnh hưởng tới nhiều tổ chức, cá nhân thì càng được quan tâm và chú trọng phát triển lĩnh vực đó.

Khách thể của lĩnh vực hải quan đó là các hoạt động hải quan, đó là những hoạt động đặc thù, là hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa, quá cảnh của phương tiện vận tải, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh của hành khách trong lãnh thổ hải quan

Vì lẽ đó, khách thể của văn hóa pháp luật kinh doanh vừa là những lợi ích vật chất lại vừa là những lợi ích tinh thần. Có nghĩa là bên cạnh việc tạo ra lợi nhuận để phát triển nền kinh tế, các chủ thể kinh doanh vẫn phải tuân thủ đúng pháp luật, tạo ra và duy trì một trật tự pháp lý công bằng, bình đẳng, trong sạch và lành mạnh.

Các yếu tố tác động đến văn hóa pháp luật hải quan:

  • Yếu tố chủ thể trong pháp luật hải quan

Trong mọi vấn đề về xã hội yếu tố con người luôn đóng vai trò then chốt. Chủ thể trong thực thi pháp luật hải quan đây là đội ngũ công chức hải quan và doanh nghiệp, hành khách xuất nhập cảnh, người dân tham gia vào các hoạt động hải quan (sau đây gọi chung là khách hàng như trong tuyên ngôn của ngành). Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Về đội ngũ cán bộ công chức hải quan là những người đại diện cho Nhà nước quản lý trong lĩnh vực hải quan, những hành vi như mặc trang phục, lời nói, tác phong làm việc đạt chuẩn mực, thân thiện, lịch sự, văn minh sẽ là yếu tố tác động tích cực cho khách hàng làm thủ tục hải quan. Cần thiết phải được ghi nhận thành những quy tắc của ngành mà mọi cán bộ công chức đều phải thực hiện dưới sự giám sát của nhân dân. Hiện nay Tổng cục Hải qua đã đưa ra quy tắc ứng xử của ngành Hải quan quy định về chuẩn mực ứng xử, giúp công chức hải quan định hướng và tìm ra cách thức đúng đắn nhất khi thi hành nhiệm vụ, công vụ và trong quan hệ xã hội, quan hệ với khách hàng. Những quy tắc được đưa ra gồm: trách nhiệm cá nhân; tuân thủ pháp luật; chuẩn mực ứng xử trong cơ quan, đơn vị; chuẩn mực ứng xử với các cơ quan, DN và người dân; chuẩn mực ứng xử tại nơi cư trú; môi trường làm việc; sử dụng các tài sản và dịch vụ công. Quy tắc đã đưa ra 7 chuẩn mực ứng xử của công chức hải quan với các cơ quan, DN và người dân gồm:

Nắm vững quy định của pháp luật để xử lý công việc đúng với quy trình, quy định của pháp luật; có trách nhiệm giúp cơ quan, DN và người dân hoàn thành các nghĩa vụ và hưởng các quyền theo luật định.

Nhiệt tình, tận tụy, khách quan trong giải quyết công việc; không trì hoãn, chậm trễ, gây khó khăn, phiền hà trong giải quyết công việc với các cơ quan, DN và người dân.

Tích cực hướng dẫn, tuyên truyền, giải thích rõ ràng, tận tình, cụ thể về các quy định để các cơ quan, DN và người dân hiểu và chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật.

Khi tiếp xúc với DN, người dân phải mặc chế phục, đeo thẻ công chức theo đúng quy định của ngành và có thái độ văn minh, lịch sự, đúng mực trong giao tiếp và ứng xử.

Công chức hải quan có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ, phản hồi nhanh chóng, giải quyết khẩn trương các ý kiến đóng góp, khiếu nại từ phía các cơ quan, DN và người dân. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Không nhận tiền, tài sản, lợi ích bất hợp pháp từ phía các cơ quan, DN và người dân dưới mọi hình thức.

Trong trường hợp bị tấn công hoặc bị cản trở công việc bất hợp pháp, công chức hải quan cần tìm kiếm ngay sự trợ giúp của các lực lượng chức năng và kịp thời báo cáo lên cấp trên có thẩm quyền.

Việc làm này là tối cần thiết trong điều kiện hiện nay, nó đảm bảo cho việc thực thi pháp luật đúng đắn, chuẩn mực từ phía người quản lý, đó là một nét văn hóa tích cực để từ đó khuyến khích khách hàng chấp hành nghiêm túc và đúng đắn các quy định của pháp luật hải quan. Tạo nên những giá trị văn hóa pháp lý trong lĩnh vực hải quan.

Về phía khách hàng (các cơ quan, doanh nghiệp và người dân) hiện nay điều kiện tìm hiểu về pháp luật hải quan là rất dễ dàng, các phương tiện mạng xã hội, cụ thể là website customs.gov. luôn đăng tải đầy đủ các quy trình thủ tục, những quy định cần thiết để tham gia các quan hệ pháp luật hải quan. Từ năm 2002 tới nay có thêm loại chủ thể là các đại lý thủ tục hải quan, là những doanh nghiệp chuyên sâu về lĩnh vực hải quan như giao nhận hàng hóa, khai thuê hải quan…Việc các khách hàng thông qua những đi lý này cũng là một yếu tố tích cực làm nên văn hóa pháp luật hải quan.

  • Yếu tố áp dụng công nghệ thông tin trong hoạt động hải quan

Có thể nói những đột phá của công nghệ thông tin đã và đang làm thay đổi bộ mặt của thế giới chúng ta. Công nghệ thông tin được áp dụng vào trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội từ nghiên cứu khoa học, kinh tế, y tế, giáo dục… cho tới các lĩnh vực văn hóa, thể thao và tất nhiên là cả trong quản lý nhà nước và xã hội. Trong lĩnh vực hải quan cũng vậy, hải quan điện tử đang thay thế dần phương thức quản lý hải quan thủ công. Vậy nó có tác động thế nào đến việc xây dựng văn hóa pháp luật hải quan:

Thứ nhất việc áp dụng hải quan điện tử tránh được những phiền phức về thủ tục hải quan, tiết kiệm thời gian cho doanh nghiệp.Từ việc chuẩn bị bộ hồ sơ thủ công, đủ loại giấy tờ thì khách hàng chỉ cần ngồi nhà thông qua phần mềm kết nối mạng internet với hải quan để khai báo hải quan và trình các hồ sơ điện tử, chịu trách nhiệm về nội dung khai báo.

Thứ hai là tránh được những tiêu cực từ việc tiếp xúc trực tiếp của công chức hải quan với khách hàng. Chúng ta vẫn biết rằng tệ nạn hách dịch, cửa quyền, phiền nhiễu dân chúng là sự nuối tiếc của một bộ phận công chức nhà nước đối với cơ chế “xin cho”. Nó cố hữu ở mọi ngành nghề chứ không riêng gì lĩnh vực hải quan. Việc xóa bỏ điều này là một khó khăn lớn khi tình trạng kinh tế còn khó khăn, chế độ lương cho công chức còn hạn hẹp, việc chạy chức chạy quyền, tiêu cực trong thi tuyển cán bộ công chức vẫn còn thì còn khó khăn trong xóa bỏ những tiêu cực khi công chức tiếp xúc với dân. Vậy cách hữu hiệu là hạn chế sự tiếp xúc ấy đó cũng là một phương thức hiệu quả và không gì hơn là phải hiện đại hóa quản lý.

  • Yếu tố truyền thống Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Yếu tố truyền thống luôn có tính hai mặt, mặt tích cực và mặt tiêu cực. Truyền thống trọng tình, duy tình của người Việt Nam nếu không được nhận thức trên nền tảng pháp quyền thì sẽ dẫn tới những tiêu cực như thờ ơ, dị ứng, bất tuân pháp luật. Công chức hải quan lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi, giải quyết công việc theo “tình cảm”, khách hàng luôn tìm cách làm quen, đưa phong bì hối lộ, lách luật để được lợi, làm trái pháp luật. Vì vậy cần phải nhận thức truyền thống này trên nền tảng pháp quyền, tức là phải làm sao cho mọi quyết định pháp luật đạt được một cách tối ưu yêu cầu: thấu tình, đạt lý để có thể tâm phục khẩu phục. Ở đây là cần một hệ thống luật hải quan dựa trên những điều kiện về kinh tế, hàng hóa, đặc trưng của các loại hình hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa đưa ra những quy trình thủ tục công khai, minh bạch. Những quyết định, quy trình này phải được tham khảo, nghiên cứu rộng rãi từ các doanh nghiệp để tháo gỡ khúc mắc của doanh nghiệp. Từ đó sẽ làm cho khách hàng thấy được những lợi ích từ việc tuân thủ pháp luật. Những quy trình thủ tục hải quan “thấu tình, đạt lý” như vậy thì không có lý do gì khách hàng phải lách luật, hối lộ công chức hải quan để đạt được mục đích của mình. Từ năm 2005, ngành hải quan đẩy mạnh áp dụng quản lý rủi ro, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, cấp thẻ ưu tiên cho những doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật vv là những quyết định được doanh nghiệp hoan nghênh và xem đó là thấu tình đạt lý. Tuy nhiên việc khảo sát, theo dõi doanh nghiệp, thu thập, xử lý thông tin vẫn còn nhiều hạn chế nên việc cấp thẻ ưu tiên còn chưa phổ biến và công bằng, còn cần nhiều sự đầu tư về thời gian và vật chất cho vấn đề này.

  • Yếu tố đa dạng nguồn pháp luật hải quan

Các quan hệ kinh tế bao giờ cũng là khách quan và luôn phát triển cả về số lượng, chủng loại mà pháp luật phải luôn thay đổi để điều chỉnh kịp thời các quan hệ ấy. Điều này càng rõ hơn trong pháp luật hải quan. Đơn cử về chủng loại hàng hóa xuất nhập khẩu, trong giai đoạn mở cửa nền kinh tế lượng hàng hóa xuất nhập khẩu thay đổi từng ngày cả về chủng loại và số lượng. Việc áp mã HS (mã số tính thuế xuất, nhập khẩu) cho hàng hóa đòi hỏi sự kịp thời. Các văn bản pháp quy không thể ban hành nhanh được, cần thiết phải sử dụng nhiều nguồn, tham khảo từ các quốc gia khác trong tổ chức Hải quan thế giới (WCO), các công ước quốc tế về thuế quan vv chứ không thể tùy tiện đặt mức thuế, chế độ tùy tiền đối với hàng hóa được. Sự tùy tiện sẽ dẫn tới những tiêu cực, lách luật, trốn thuế, khai báo gian dối của doanh nghiệp, sự trừng phạt về thuế quan của nước đối tác khi chúng ta đánh thuế quá cao đối với mặt hàng của họ có thể dẫn tới thiệt hại cho quốc gia.

1.2.2. Các thành tố (cấu trúc) cơ bản của văn hóa pháp luật hải quan: Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Cũng như các lĩnh vực văn hóa pháp luật khác, văn hóa pháp luật hải quan bao gồm ba yếu tố cấu thành: Ý thức pháp luật, hệ thống pháp luật có liên quan đến tổ chức và hoạt động của cơ quan hải quan, hành vi sử dụng pháp luật, hành vi ứng xử của các cá nhân, tổ chức trong hoạt động hải quan.

Về ý thức pháp luật của cơ quan, tổ chức và những người tiến hành – tham gia hoạt động hải quan. Những người tiến hành hoạt động hải quan là các công chức hải quan, những người tham gia hoạt động hải quan là các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu, hành khách xuất nhập cảnh… Ý thức pháp luật của họ là một trong những yếu tố của văn hoá pháp lý nói chung, văn hoá pháp luật hải quan nói riêng. Văn hoá hành pháp của những người tiến hành hoạt động hải quan, đặc biệt là của công chức hải quan giữ vai trò quan trọng, định hướng, được thể hiện ở ý thức pháp luật, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp trong hoạt động hải quan. Đối với công chức thái độ, ứng xử có văn hoá văn minh, lịch sự là một trong những yếu tố khuyến khích hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, thể hiện văn hóa quốc gia đối với khách nước ngoài. Việc ứng xử văn minh, lịch sự của công chức hải quan sẽ tăng thêm sự hợp tác, chấp hành pháp luật nghiêm túc của doanh nghiệp, hành khách…Đối với doanh nghiệp, hành khách xuất nhập cảnh, ý thức chấp hành pháp luật là điều kiện để họ được hưởng sự công bằng, nhanh chóng, tiện lợi trong các hoạt động hải quan. Từ những quy định pháp luật thống nhất để ngành hải quan đề ra tuyên ngôn hoạt động của ngành:

TUYÊN NGÔN PHỤC VỤ KHÁCH HÀNG (*)

Tuyên ngôn phục vụ khách hàng” thể hiện sự cam kết của ngành Hải quan trước cộng đồng xã hội về việc đảm bảo tạo thuận lợi, đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nước về Hải quan đối với các hoạt động thương mại, đầu tư và du lịch quốc tế.

I- Phương châm hành động:

CHUYÊN NGHIỆP – MINH BẠCH – HIỆU QUẢ II- Cam kết của Hải quan Việt Nam:

1, Cam kết chung: Chuyên nghiệp:

  • Nhiệt tình, tận tụy với công việc; thông thạo nghiệp vụ, xử lý công việc tuân thủ đúng quy trình, thủ tục quy định; văn minh lịch sự trong hoạt động và ứng xử. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Minh bạch:

  • Xây dựng hệ thống thủ tục hải quan tuân thủ chuẩn mực, thông lệ quốc tế;
  • Tiếp nhận đầy đủ, phản hồi nhanh chóng, giải quyết khẩn trương các ý kiến đóng góp, khiếu nại của khách hàng;
  • Thực hiện cơ chế đảm bảo sự giám sát của khách hàng đối với hoạt động nghiệp vụ hải quan.

Hiệu quả:

  • Giảm tỷ lệ kiểm tra thực tế hàng hóa, giảm thiểu chi phí hành chính và thời gian thông quan.
  • Đảm bảo yêu cầu quản lý Nhà nước về lĩnh vực Hải quan, và quản lý sự tuân thủ pháp luật hải quan một cách hiệu quả.

2. Cam kết cụ thể:

Thời hạn tiếp nhận, đăng ký tờ khai:

  • Chậm nhất 30 phút kể từ khi tiếp nhận tờ khai, công chức Hải quan phải hoàn thành việc tiếp nhận, kiểm tra, đăng ký tờ khai (trừ những tờ khai phức tạp, có trên 10 mục mặt hàng); hoặc phải trả lời bằng Phiếu yêu cầu nghiệp vụ đối với trường hợp không chấp nhận đăng ký tờ khai hoặc có yêu cầu điều chỉnh, bổ sung hồ sơ.

 Thời hạn giải quyết hồ sơ miễn thuế:

  • Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận bộ hồ sơ miễn thuế đầy đủ, hợp lệ, cơ quan Hải quan thực hiện giải quyết miễn thuế cho tổ chức, cá nhân. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Thời hạn trả lời, giải quyết vướng mắc:

  • Tối đa không quá 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu trả lời, giải quyết vướng mắc của khách hàng, cơ quan Hải quan phải có công văn hồi đáp.
  • Trường hợp nội dung giải quyết vượt thẩm quyền: Trong vòng 5 ngày làm việc, cơ quan Hải quan phải có văn bản lấy ý kiến của cấp có thẩm quyền, đồng thời thông báo để khách hàng được biết. Trong vòng 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được ý kiến của cấp có thẩm quyền, cơ quan Hải quan phải có công văn trả lời khách hàng.

Thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo:

  • Thực hiện theo đúng quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo.

III- Mong đợi từ phía khách hàng:

  • Nắm vững và tuân thủ pháp luật về hải quan;
  • Khai hải quan trung thực, chính xác;
  • Thực hiện nghĩa vụ thuế đúng pháp luật;
  • Không thực hiện hành vi tiêu cực;
  • Hợp tác tích cực với cơ quan Hải quan trong giải quyết công việc;
  • Hưởng ứng các chủ trương cải cách, hiện đại hóa công tác hải quan;
  • Đóng góp ý kiến để cơ quan Hải quan nâng cao chất lượng phục vụ.

IV- Liên hệ, phản hồi:

  • Trong trường hợp có bất kỳ khiếu nại, hoặc có phản ánh về các vấn đề liên quan đến hải quan, khách hàng có thể thực hiện theo các cách sau:
  • +Gửi email cho cơ quan Hải quan : tongcuchaiquan@customs.gov
  • + Gửi thư hoặc đến làm việc trực tiếp tại địa chỉ: Tổng cục Hải quan-162, Nguyễn Văn Cừ, Quận Long Biên, Hà Nội.
  • Tổ chức, cá nhân có thể giúp bảo vệ cộng đồng bằng việc thông báo những hoạt động buôn lậu, trốn thuế qua số điện thoại đường dây nóng của hải quan: 04 38722828; Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.
  • Thông tin liên hệ: Các tổ chức, cá nhân có thể tìm hiểu thêm thông tin về chính sách, hoạt động của Hải quan Việt Nam tại website customs.gov.; Báo Hải quan Việt Nam.

(*) “Khách hàng”: Các cơ quan, doanh nghiệp và người dân.[24]

Việc tự đề ra những quy tắc về ý thức tiến hành pháp luật hải quan cho thấy những nỗ lực lớn của ngành hải quan Việt Nam trong những năm gần đây, nhằm mục tiêu cải cách hành chính, hiện đại hóa và nâng cao chất lượng phục vụ của ngành, xóa bỏ đi những ý thức tiêu cực, cách nhìn ‘chưa đúng’ của doanh nghiệp và người dân về cơ quan hải quan. Bên cạnh đó ngành hải quan còn có website customs.gov., các Cục hải quan Tỉnh, thành phố đều có website riêng để giải thích pháp luật cho doanh nghiệp, công khai minh bạch các quy trình thủ tục. Ngày càng có nhiều những công trình nghiên cứu, tiếp thu những thành quả hiện đại của Hải quan thế giới (WCO) được áp dụng vào cho Việt Nam để nâng cao hiện đại hóa của ngành.

Về hệ thống pháp luật hải quan là một yếu tố cấu thành của văn hoá pháp luật hải quan, là hệ thống pháp luật làm cơ sở cho tổ chức và hoạt động của các cơ quan hải quan. Các quy định pháp luật nội dung, các quy trình thủ tục phục vụ cho hoạt động hải quan. Các giá trị của văn hoá pháp lý – hải quan đã được vật chất hoá thành các quy định pháp luật chứa đựng các nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của cơ quan hải quan. Đó là các điều kiện để làm nên phương châm: “chuyên nghiệp, minh bạch, hiệu quả”. Với ý nghĩa là một trong ba bộ phận cấu thành của văn hóa pháp luật, hệ thống pháp luật hải quan cần phải được nhận thức, đánh giá và hoàn thiện không ngừng theo tiêu chí kiểm định của văn hóa pháp luật hải quan trong xã hội pháp quyền dân chủ. Theo đó, không chỉ dừng lại ở các tiêu chí hình thức, kỹ thuật đã từng được đề cập nhiều như : tính đồng bộ, tính toàn diện, hợp lý. Tiêu chí căn bản nhất, xuyên suốt, làm nên bản sắc của hệ thống pháp luật hải quan đó là tính pháp quyền, bảo đảm các quyền tự do và lợi ích chính đáng của con người. Ngày nay trong xu thế hội nhập, không thể vì chúng ta không quản lý được mà sinh ra « cấm đoán », điều đó đi ngược lại sự tiến bộ, và trong lĩnh vực hoạt động hải quan thì luôn luôn có những thay đổi về chủng loại hàng hóa xuất nhập khẩu, loại hình, phương tiện xuất nhập cảnh cũng như số lượng hành khách xuất nhập cảnh tăng lên đáng kể. Vì vậy hệ thống pháp luật hải quan phải luôn tạo được sự thông thoáng, giản tiện, tiết kiệm để hoàn toàn xóa bỏ cơ chế « xin – cho » đã tồn tại dai dẳng một thời. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Về hành vi pháp luật, thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật hải quan. Hành vi pháp luật đó là những hành vi hợp pháp, là hành vi được thực hiện trên cơ sở ý thức về các yêu cầu của pháp luật, yêu cầu của đạo đức, là sự biểu hiện văn hóa và kinh nghiệm sống của con người. Hành vi hợp pháp là hành vi phù hợp với yêu cầu pháp luật, là hành vi cần thiết, mong muốn, cho phép của các chủ thể pháp luật, phù hợp với lợi ích xã hội, được các quy phạm pháp luật quy định, được nhà nước đảm bảo thực hiện và bảo vệ. Trước hết phải là hành vi của các cơ quan hải quan, công chức hải quan. Cơ cấu tổ chức của cơ quan hải quan phải rõ ràng, trong sạch, từ việc tuyển dụng công chức hải quan đủ tiêu chuẩn về đạo đức, tri thức, thể chất…cho tới việc thực hiện nghiêm túc những gì đã đề ra. Phải tiến hành hiện đại hóa lĩnh vực hải quan để theo kịp tình hình kinh tế quốc tế. Hiện nay việc triển khai hải quan điện tử đã và đang được ngày dần hoàn thiện là điều kiện rất lớn để thực hiện văn hóa pháp luật hải quan lành mạnh. Về mặt khách hàng cần phải cập nhật nhanh chóng chủ trương chính sách mặt hàng xuất nhập khẩu, các quy trình thủ tục hải quan đã được đăng tải công khai để thực hiện đúng quy định, nộp thuế đầy đủ để hưởng những quyền lợi chính đáng của mình.

Đương nhiên những hành vi phù hợp pháp luật hải quan mới thuộc thành tố cấu thành văn hóa pháp luật hải quan, hành vi hợp pháp là hành vi được thực hiện trên cơ sở các yêu cầu của pháp luật, yêu cầu của đạo đức, là sự biểu hiện văn hóa và kinh nghiệm cuộc sống của con người, đó là hành vi phù hợp với yêu cầu của pháp luật, phù hợp với cái đúng trong pháp luật nói chung và luật hải quan nói riêng để hướng tới việc xác lập chân – thiện – mỹ – ích. Cơ sở xã hội cơ bản nhất cho hành vi tuân thủ pháp luật là sự hài hòa lợi ích cá nhân với lợi ích xã hội. Trong lĩnh vực hải quan đó chính là những lợi ích kinh tế mà các chủ thể tham gia hướng tới. Doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa muốn lợi nhuận, sự nhanh chóng về thủ tục đem lại cho họ những lợi ích lớn trong sản xuất, kinh doanh. Nhà nước thông qua các cơ quan hải quan, hành vi của công chức hải quan để đạt được lợi ích quản lý, thu thuế xuất nhập khẩu, chống buôn lậu, gian lận thương mại…

Nói tóm lại giá trị tinh thần của văn hóa pháp luật hải quan chính là những lợi ích tinh thần, vật chất như: sự hài lòng của Doanh nghiệp, khách hàng, những tiện ích, sự tiết kiệm về thời gian, tiền bạc, sự tôn trọng quyền, lợi ích khách quan, trật tự công cộng. Đó cũng là những giá trị của luận văn mà người viết muốn đem lại. Giá trị này sẽ được làm rõ trong thực trạng văn hóa pháp luật hải quan và là hướng để đề xuất quan điểm xây dựng văn hóa pháp luật hải quan trong bối cảnh hội nhập ở nước ta hiện nay ở các chương sau. Luận văn: Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Thực trạng Văn hóa pháp luật trong lĩnh vực hải quan

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993