Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT
Tên đề tài: Các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Nội dung luận văn:
Luận văn được thực hiện với mục tiêu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến “hiệu quả hoạt động” (ROA) của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2014 – 2023. Bài nghiên cứu kiểm định 9 nhân tố bao gồm: “Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ” (NPL), “Quy mô tiền cho vay” (LOAN), “Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tiền gửi” (LDR), “Tỷ lệ vốn chủ sở hữu” (ETA), “Tỷ lệ chi phí trên doanh thu” (TCTR), “Thu nhập bình quân của nhân viên” (EAI), “Quy mô ngân hàng” (SIZE), “Lạm phát” (INF) và “Tốc độ tăng trưởng GDP” (GDP). Để đo lường sự mức độ ảnh hưởng của các yếu tố trên, tác giả đã tổng hợp và xử lý dữ liệu được lấy từ các báo cáo tài chính đã được kiểm toán của 22 ngân hàng thương mại trong 10 năm. Tiếp theo, phương pháp nghiên cứu định lượng đã được dùng trong nghiên cứu bao gồm: phân tích thống kê mô tả, ma trận tương quan, mô hình hồi quy dữ liệu gộp (Pooled OLS), mô hình tác động cố định (FEM), mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) và mô hình bình phương tối thiểu tổng quát (FGLS).
Kết quả nghiên cứu thu được đã chỉ ra rằng “tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ”, “quy mô tiền cho vay”, “tỷ lệ chi phí trên doanh thu” tác động ngược chiều với “hiệu quả hoạt động” của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2014 – 2023, trong khi đó “tỷ lệ dư nợ cho vay so với tiền gửi”, “tỷ lệ vốn chủ sở hữu”, “thu nhập bình quân của nhân viên”, “quy mô ngân hàng” và “lạm phát” có ảnh hưởng cùng chiều. Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.
Bên cạnh đó, “tốc độ tăng trưởng GDP” không ảnh hưởng tới “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Qua kết quả nghiên cứu thu được, một số hàm ý chính sách đã được tác giả để xuất với mục tiêu tối ưu hoá hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong thời gian sắp tới.
Từ khóa: Hiệu quả hoạt động, ngân hàng thương mại, Việt Nam.
ABSTRACTS
Title: Factors Affecting the Operational Efficiency of Vietnamese Commercial Banks
Dissertation content:
This thesis aims to identify the factors influencing the operational efficiency (Return On total Assets – ROA, Return on Equity – ROE) of Vietnamese commercial banks during the period from 2014 to 2023. The research examines nine factors, including: Non-Performing Loan ratio (NPL), Loan Volume (LOAN), Loan to Deposit Ratio (LDR), Equity to Total Assets Ratio (ETA), Cost to Revenue Ratio (TCTR), Employee Average Income (EAI), Bank Size (SIZE), Inflation (INF), and the GDP growth rate (GDP). To measure the impact of these factors, the author collects data from the audited annual financial reports of 22 commercial banks over ten years. Subsequently, quantitative research methods are applied, including descriptive statistical analysis, correlation matrix, Pooled OLS regression model, Fixed Effects Model (FEM), Random Effects Model (REM), and Feasible Generalized Least Square (FGLS).
The research results indicate that the Non-Performing Loan ratio, Loan Volume, and Cost to Revenue Ratio have a negative impact on the operational efficiency of Vietnamese commercial banks during the 2014-2023 period. In contrast, the Loan to Deposit Ratio, Equity to Total Assets Ratio, Employee Average Income, Bank size and Inflation have a positive impact. Additionally, GDP growth rate do not affect the operational efficiency of Vietnamese commercial banks. Based on these findings, the author proposes several policy implications for commercial banks to enhance their operational efficiency in the upcoming period.
Keywords: the operational efficiency, commercial bank, Vietnam.
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngành ngân hàng thương mại đóng vai trò cốt lõi trong tiến trình phát triển của nền kinh tế. Để kinh tế đất nước có thể tăng trưởng vững mạnh thì việc xây dựng một hệ thống ngân hàng hoạt động hiệu quả là điều cần thiết. Nắm bắt được các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng là chìa khoá để các nhà quản trị ngân hàng có thể đưa ra chiến lược kinh doanh hiệu quả, góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững và mạnh mẽ của ngành ngân hàng mà từ đó, nền kinh tế Việt Nam cũng được tiếp thêm động lực cho sự tăng trưởng vững bền và mạnh mẽ. Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.
Do đó, những yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng cũng là một vấn đề luôn cần được quan tâm.
Ngành ngân hàng là một lĩnh vực năng động, luôn đòi hỏi sự sáng tạo và đổi mới không ngừng để đáp ứng nhu cầu thị trường. Bằng việc tìm hiểu yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam có thể mang lại những kiến thức mới và giúp mở rộng hiểu biết về ngành ngân hàng trong tình hình phát triển kinh tế Việt Nam như hiện nay.
Đề tài mở ra một phạm vi nghiên cứu rộng lớn, bao gồm nhiều khía cạnh như kinh tế – xã hội, tài chính, quản lý rủi ro và quản trị nguồn nhân lực. Điều này mang lại cơ hội để nghiên cứu từ nhiều góc độ và làm sáng tỏ sự tương tác phức tạp giữa các yếu tố này đến hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam.
Ngành ngân hàng thương mại đang đương đầu với nhiều thách thức từ cạnh tranh đến sự biến động trong môi trường kinh doanh. Nắm bắt được sự tác động của các yếu tố đến hiệu quả hoạt động giúp các ngân hàng có thể tối ưu hóa chiến lược kinh doanh và quản lý rủi ro một cách hiệu quả, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững và mang lại lợi ích cho cả ngân hàng và khách hàng. Việc tìm hiểu này không chỉ hỗ trợ ngành ngân hàng mà còn mang lại giá trị lớn trong việc phát triển chính sách kinh tế và tài chính của đất nước.
Dựa trên những lý do đã nêu, tác giả lựa chọn đề tài “Các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam” để tiến hành nghiên cứu.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu tổng thể
Nghiên cứu này hướng đến mục tiêu đánh giá đa chiều ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Bằng việc nghiên cứu này, các nhà quản trị ngân hàng có thể nhận diện những yếu tố tích cực để phát triển và có biện pháp hạn chế những yếu tố tiêu cực, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Dựa trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu tổng thể, các mục tiêu cụ thể được đề ra như sau:
- Thứ nhất, xác định các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
- Thứ hai, phân tích chiều hướng và mức độ tác động của các yếu tố đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.
- Thứ ba, đề xuất hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn cần trả lời được các câu hỏi như sau:
- Câu hỏi thứ nhất: Những yếu tố nào tác động đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam?
- Câu hỏi thứ hai: Mức độ tác động và chiều hướng tác động của các yếu tố này đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam như thế nào?
- Câu hỏi thứ ba: Thông qua kết quả nghiên cứu, đề xuất những hàm ý chính sách liên quan đến nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiện cứu của luận văn là “hiệu quả hoạt động” và “các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động” của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Phạm vi nghiên cứu là 22 ngân hàng thương mại Việt Nam hiện đang hoạt động trên thị trường, biến phụ thuộc và các biến độc lập được tính toán dựa trên số liệu được lấy từ báo cáo tài chính của các ngân hàng này. Nghiên cứu tập trung vào 22 ngân hàng để tính thống nhất cũng như tính nhất quán của bộ dữ liệu trong thời gian nghiên cứu được đảm bảo, do đó cần đáp ứng điều kiện về tính đầy đủ của nguồn dữ liệu báo cáo tài chính trong giai đoạn 2014 – 2023. Nghiên cứu còn dùng chỉ số về quản trị nguồn nhân lực và chỉ số này bị thiếu hụt ở nhiều ngân hàng trong những năm trước. Vì vậy, việc dùng số liệu từ 22 ngân hàng giúp nghiên cứu đảm bảo được tính nhất quán của dữ liệu và quy mô dữ liệu ở mức tương đối.
Về thời gian: dữ liệu được thu thập trong giai đoạn năm 2014 -2023. Phần lớn các nghiên cứu ở Việt Nam đều được thực hiện trước năm 2020 nên số liệu trong giai đoạn 2021 – 2023 chưa được cập nhật. Ngoài ra, với những diễn biến kinh tế như hiện tại, vấn đề hiệu quả hoạt động cần được quan tâm hơn nữa để duy trì sự ổn định trong hoạt động của các ngân hàng.
1.5. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.
1.5.1. Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là dữ liệu bảng thứ cấp (Panel data), cụ thể như sau:
- Các số liệu được thu thập và tổng hợp từ các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của các ngân hàng từ năm 2014 – 2023, được công bố trên hệ thống website của 22 ngân hàng thương mại Việt Nam và website vietstock.vn.
- Các chỉ số vĩ mô được lấy từ các báo cáo tình hình kinh tế của Tổng cục thống kê và Worldbank.
1.5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, dùng mô hình kinh tế lượng để tìm ra mối liên hệ giữa các biến trong mô hình. Bằng cách định lượng các biến trong mô hình, kiểm định tính phù hợp của mô hình nghiên cứu với điều kiện thực tế thông qua các công việc:
- Nêu vấn đề cần nghiên cứu và các giả thuyết về mối quan hệ giữa các biến nghiên cứu
- Giới thiệu mô hình hồi quy để mô tả mối quan hệ giữa các biến nghiên cứu
- Thu thập số liệu thực tế
- Ước lượng các tham số của mô hình
- Phân tích, kiểm định mô hình dựa trên các lý thuyết và các nghiên cứu trước. Sử dụng phân tích hồi quy tuyến tính để kiểm định mô hình với nguồn dữ liệu được thu thập từ các ngân hàng thương mại Việt Nam trong nghiên cứu này.
Cụ thể, nghiên cứu sử dụng các mô hình hồi quy dữ liệu bảng bao gồm mô hình hồi quy dữ liệu gộp (Pooled Ordinary Least Square – Pooled OLS), mô hình hồi quy tác động cố định (Fixed Effects Model – FEM) và mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên (Random Effects Model – REM). Thông qua kiểm định Ftest, Hausman để lựa chọn mô hình phù hợp. Bên cạnh đó, dùng các kiểm định phương sai thay đổi, tự tương quan, đa cộng tuyến để tìm ra các khuyết tật của mô hình và khắc phục các khuyết tật của mô hình bằng mô hình FGLS (Feasible Generalized Least Square) với sự hỗ trợ từ phần mềm Stata17.
1.6 Đóng góp của đề tài
Đề tài góp phần vào việc hoàn thiện mô hình nhằm xác định các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam dưới nhiều góc độ khác nhau. Với kết quả nghiên cứu cùng những đề xuất của đề tài, các ngân hàng có thể đưa ra các chính sách cũng như xây dựng chiến lược để tăng cường hiệu quả hoạt động, tối đa hóa lợi nhuận cho ngân hàng. Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.
Với nguồn dữ liệu được thu thập trong giai đoạn gần nhất từ năm 2014 – 2023, đề tài có tính ứng dụng cao hỗ trợ các nhà quản trị trong công tác xây dựng chiến lược cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Ngoài ra, nền kinh tế Việt Nam trải qua những biến động mạnh mẽ trong giai đoạn 2014 – 2023. Do ảnh hưởng tiêu cực từ lạm phát cao và suy thoái kinh tế, nền kinh tế Việt Nam năm 2014 diễn ra trong bối cảnh sau suy thoái toàn cầu của nền kinh tế thế giới, đây được xem là một năm đầy thách thức của nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, nhờ vào đường lối chính sách của Chính Phủ, trong giai đoạn năm 2014 – 2019 nền kinh tế Việt Nam đã dần hồi phục và phát triển mạnh mẽ, các chỉ số tăng trưởng đều vượt kế hoạch ban đầu đề ra. Giai đoạn 2020 – 2021, nền kinh tế Việt Nam cũng đã bị ảnh hưởng ít nhiều bởi đại dịch Covid-19, mặc dù vậy, với những giải pháp quyết liệt và hiệu quả hướng tới mục tiêu kép “vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế – xã hội”, kinh tế Việt Nam vẫn đạt được những thành tựu nhất định trong việc tiếp tục duy trì sự tăng trưởng của nền kinh tế. Kinh tế Việt Nam giai đoạn 2022 – 2023 phục hồi mạnh mẽ sau đại dịch. Giai đoạn 2014 – 2023 thể hiện được các biến động có thể xảy ra của nền kinh tế Việt Nam. Với những thách thức, khó khăn ban đầu và dần phát triển mạnh mẽ, kinh tế Việt Nam vượt qua được những trở ngại để có thể hoàn thành tốt kế hoạch đã đề ra. Dữ liệu trong giai đoạn này mang tính cập nhật và mang lại độ tin cậy cao cho nghiên cứu.
1.7 Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm 5 chương:
- Chương 1: Giới thiệu đề tài
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết và lược khảo các nghiên cứu liên quan
- Chương 3: Xây dựng mô hình và phương pháp nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu
- Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1 đã đưa ra một số lý do quan trọng cần thực hiện đề tài. Bên cạnh đó, các mục tiêu chính và câu hỏi cần hoàn thành cũng được đưa ra ở chương này. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu cũng đã được trình bày tại chương 1. Những nội dung quan trọng cần chú ý khác của nghiên cứu như phương pháp thực hiện nghiên cứu và đóng góp của đề tài, cuối cùng là trình tự các chương cũng được nêu khái quát ở chương 1.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ LƯỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.
2.1. Cơ sở lý thuyết về “ngân hàng thương mại” và “hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại”.
Ngân hàng thương mại” được xem là cầu nối trung gian giữa nơi thiếu vốn và nơi thừa vốn. Ngân hàng sẽ huy động nguồn vốn nhàn rỗi từ thị trường thông qua các sản phẩm gửi tiết kiệm và các sản phẩm tín dụng sẽ cung cấp nguồn vốn cho nơi có nhu cầu vay. Đây được xem là hoạt động mang lại thu nhập chủ yếu của ngân hàng. Bên cạnh việc cung cấp các dịch vụ truyền thống như tiền gửi và cho vay, “ngân hàng thương mại” còn cung cấp các tiện ích khác như các phương thức thanh toán hiện đại và dịch vụ bảo lãnh thanh toán,… đáp ứng được nhu cầu đa dạng hoá của cả khách hàng cá nhân và doanh nghiệp.
Theo khoản 3 điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010 thì “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.”
Theo Peter S.Rose, Nguyễn Huy Hoàng… dịch (2004) thì “Về bản chất ngân hàng thương mại cũng có thể được coi như một tập đoàn kinh doanh và hoạt động với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận với mức độ rủi ro cho phép. Tuy nhiên, khả năng sinh lợi là mục tiêu được các ngân hàng quan tâm hơn cả vì thu nhập cao sẽ giúp ngân hàng có thể bảo toàn vốn, tăng khả năng mở rộng thị phần, thu hút vốn đầu tư.
Với quan điểm của mình, Berger, A. N., & Humphrey, D. B. (1997) cho rằng “hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại” được thể hiện qua mối quan hệ giữa doanh thu đầu ra và chi phí đầu vào, hiểu cách khác đó chính là khả năng tối ưu hoá nguồn lực, biến đổi chi phí đầu vào thành doanh thu đầu ra một cách hiệu quả nhất. Mục tiêu hàng đầu của ngân hàng là đạt lợi nhuận tối ưu thông ra việc tạo ra doanh thu đầu ra lớn nhất với giá trị các nguồn lực đầu vào nhỏ nhất.
Như vậy, “hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại” có thể hiểu như là thước đo đánh giá năng lực sử dụng nguồn lực một cách phù hợp, hiệu quả để tạo ra các dịch vụ và sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường và mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Tối đa hoá lợi nhuận là chìa khoá quan trọng để các ngân hàng đạt được hiệu quả cao trong hoạt động cùng với mức độ rủi ro cho phép để an toàn tài chính được đảm bảo và thúc đẩy phát triển bền vững trong môi trường kinh tế đầy biến động. Việc đánh giá “hiệu quả hoạt động của ngân hàng” cần xem xét nhiều yếu tố khác nhau.
Các chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại
- Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE – Return On Equity)
ROE là “tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu”. Đây là một chỉ số quan trọng phản ánh hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời của ngân hàng. Theo Nguyễn Thị Tuyết Nga (2018) ROE đánh giá khả năng sinh lời từ nguồn vốn mà cổ đông đã đầu tư vào ngân hàng. Việc sử dụng nguồn vốn của cổ đông có hiệu quả được thể hiện qua tỷ số ROE cao. Hệ số ROE không chỉ phản ánh hiệu quả hoạt động mà còn cho thấy khả năng cân đối hợp lý trong cấu trúc nguồn vốn của ngân hàng. Cấu trúc nguồn vốn hợp lý giúp ngân hàng tối ưu hoá lợi ích từ đòn bẩy tài chính, góp phần tăng cường sự phát triển vững chắc của ngân hàng trong thời gian dài. Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.
- ROE = Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu
Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA – Return On Assets)
ROA là “tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản”. Theo Nguyễn Thị Tuyết Nga (2018) ROA là yếu tố đo lường hiệu quả hoạt động không quan tâm đến cấu trúc tài chính. Chỉ số này không chỉ đơn thuần là tỷ lệ lợi nhuận và còn là thước đo phản ánh chất lượng tài sản và hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng. Quá trình chuyển hoá tài sản thành lợi nhuận là hoạt động cốt lõi của ngân hàng và hiệu quả được đánh giá qua chỉ số ROA. ROA còn phản ánh năng lực quản lý vốn vay và vốn chủ sở hữu của ban lãnh đạo ngân hàng, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận và giá trị cổ phiếu của ngân hàng. Chỉ số ROA cao là kết quả của chiến lược kinh doanh sáng suốt, tầm nhìn xa của ban lãnh đạo cùng với năng lực quản trị tài chính hiệu quả, tạo dựng nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của ngân hàng. Vì vậy, chỉ số ROA cũng sẽ ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh, uy tín và sự phát triển bền vững của ngân hàng.
- ROA= Lợi nhuận sau thuế/ Tổng tài sản
2.2. Các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng
2.2.1. Các yếu tố bên ngoài tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Trong nghiên cứu của Kiganda (2014) cho rằng, một số yếu tố vĩ mô có thể tác động đến hiệu quả hoạt động các ngân hàng ở Kenya.
- Môi trường kinh tế, chính trị xã hội trong và ngoài nước
Sự phát triển ổn định của “môi trường kinh tế – xã hội” là nền tảng quan trọng để các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, sử dụng nguồn vốn vay ngân hàng một cách hợp lý và đảm bảo khả năng thanh toán đầy đủ. Khi ấy, hiệu suất hoạt động của ngân hàng cũng sẽ được nâng cao, đảm bảo an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững.
Sự tăng trưởng của nền kinh tế tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp xây dựng chiến lược phát triển dài hạn, đầu tư mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh. Từ đó, nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp mở ra cơ hội to lớn cho ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động tín dụng. Doanh nghiệp hoạt động trong môi trường kinh tế thuận lợi sẽ góp phần làm giảm tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng nhờ vào năng lực tài chính và khả năng trả nợ của doanh nghiệp được nâng cao. Ngược lại, sự phát triển không ổn định của nền kinh tế sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro cho hoạt động kinh doanh và đầu tư của doanh nghiệp, dẫn đến suy giảm nhu cầu vay vốn và gia tăng nguy cơ nợ xấu, gây ảnh hưởng không tốt cho hoạt động của ngân hàng.
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, đời sống của người dân được nâng cao và mở ra cơ hội hợp tác, phát triển cho các quốc gia. Đây là môi trường mang lại nhiều tiềm năng cho ngân hàng mở rộng quy mô kinh doanh cũng như tiếp cận và phục vụ khách hàng trên phạm vi quốc tế. Nó còn là cơ hội quan trọng để các ngân hàng Việt Nam tiếp cận và áp dụng những công nghệ, phương pháp quản trị hiện đại, trao đổi kinh nghiệm, đồng thời tạo điều kiện liên kết và hợp tác với các tổ chức tín dụng, ngân hàng quốc tế. Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.
Để tận dụng tốt cơ hội hội nhập kinh tế, các ngân hàng Việt Nam cần tăng cường kiểm soát và nâng cao chất lượng dịch vụ, đẩy mạnh quản trị rủi ro và phát triển nguồn nhân lực nhằm tăng cường sức mạnh cạnh tranh trên thị trường. Bên cạnh đó, cần phải tuân thủ theo quy định cuả pháp luật và các tiêu chuẩn, quy định về hoạt động của ngân hàng để đảm bảo tính minh bạch, an toàn và hiệu quả trong hoạt động, từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển ổn định của hệ thống ngân hàng.
- Tốc độ tăng trưởng GDP
Tốc độ tăng trưởng GDP” là thước đo phản ánh mức độ biến động của nền kinh tế. Ngành ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cũng như là gia tăng “tốc độ tăng trưởng GDP”. Từ đó, sự tăng trưởng này cũng tạo điều kiện cho hoạt động hiệu quả của ngành ngân hàng. Khi “tốc độ tăng trưởng GDP” tăng, các doanh nghiệp cần nguồn vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, từ đó thúc đẩy nhu cầu vay vốn của khách hàng. Bên cạnh đó, khi nền kinh tế tăng trưởng tốt, người dân được tăng thu nhập, khả năng thanh toán các khoản vay cũng sẽ trở nên tốt hơn, từ đó gia tăng doanh thu, lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng. Ngân hàng không chỉ cung cấp vốn mà còn cung cấp các dịch vụ tài chính khác, hỗ trợ doanh nghiệp và cá nhân trong việc quản lý tài chính, đầu tư và phát triển kinh doanh. Ngân hàng hoạt động như một “dòng chảy”, vận chuyển vốn từ những người tiết kiệm đến những người cần vốn đầu tư, từ đó kích thích sản xuất kinh doanh và phát triển kinh tế. Khi ngân hàng hoạt động tốt cũng sẽ cung cấp nguồn vốn đầy đủ và kịp thời cho các hoạt động kinh tế. Khi đó, doanh nghiệp có đủ vốn để đầu tư và sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng của GDP cũng như sự phát triển của nền kinh tế và tạo điều kiện cho hệ thống ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn.
- Lạm phát
Lạm phát” cũng có những tác động nhất định đối với hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại. Sự tăng cao của “lạm phát” làm cho các ngân hàng gặp nhiều trở ngại trong việc huy động vốn. Dưới áp lực huy động vốn, các ngân hàng sẽ thu hút khách hàng bằng cách điều chỉnh áp dụng lãi suất huy động cao hơn và khi đó, lãi suất của hoạt động tín dụng cũng sẽ tăng theo. Do đó, khi “lạm phát” tăng cao, ngân hàng có thể thu được lợi nhuận từ khoảng cách lãi suất giữa hoạt động huy động và cho vay. Tuy nhiên, “lạm phát” lại tiềm ẩn những hệ lụy tiêu cực cho hoạt động của ngân hàng. “Lạm phát” tăng lên gây khó khăn cho hoạt động huy động vốn của ngân hàng, đồng thời làm giảm hiệu quả hoạt động cho vay và gia tăng rủi ro tín dụng. “Lạm phát” đặt ra nhiều thách thức, nhưng với các chiến lược kinh doanh phù hợp, ngân hàng có thể giảm thiểu tác động tiêu cực của “lạm phát” và góp phần làm gia tăng tỷ suất sinh lời của ngân hàng.
2.2.2. Các yếu tố nội tại tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.
- Năng lực tài chính
Năng lực tài chính” thể hiện khả năng đảm bảo các nghĩa vụ tài chính để các hoạt động của ngân hàng được diễn ra an toàn và hiệu quả cũng như đảm bảo cho tiềm lực phát triển trong tương lai của ngân hàng. Vốn tự có là một chỉ tiêu đánh giá năng lực tài chính của ngân hàng. Yếu tố này góp phần xây tạo niềm tin và sự tín nhiệm mà khách hàng dành cho ngân hàng. Vốn tự có càng lớn, ngân hàng càng có khả năng chịu đựng rủi ro và đáp ứng các nghĩa vụ tài chính. Bên cạnh nguồn vốn tự có, quy mô tổng tài sản cũng phản ánh “năng lực tài chính của ngân hàng”. Ngân hàng sẽ dùng một phần trong tổng tài sản để để đầu tư cho tài sản cố định cũng như công cụ dụng cụ và các trang thiết bị phục vụ cho công tác kinh doanh của ngân hàng. Một phần tài sản khác sẽ được dùng cho hoạt động đầu tư và kinh doanh tiền tệ như cho vay, đầu tư chứng khoán,… “Năng lực tài chính” là nền tảng cho việc thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngân hàng.
- Chính sách kinh doanh và chiến lược phát triển
Để đạt được mục tiêu kinh doanh cần hoạch định những định hướng, kế hoạch và hành động cụ thể thông qua “chính sách kinh doanh và chiến lược phát triển”.
Chiến lược phát triển” là những định hướng, kế hoạch và hành động cụ thể để hướng đến mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững của ngân hàng trong dài hạn. “Chiến lược phát triển” xây dựng tầm nhìn, sứ mệnh và mục tiêu chiến lược rõ ràng. “Chiến lược phát triển” là nền tảng quan trọng để ngân hàng quyết định hướng đi lâu dài. Việc lập và áp dụng thành công chiến lược phát triển hiệu quả là sứ mệnh quan trọng của ban lãnh đạo ngân hàng.
Nếu như “chiến lược phát triển” là kế hoạch dài hạn thì “chính sách kinh doanh” là những định hướng, nguyên tắc và quy định cụ thể nhằm quản trị các hoạt động kinh doanh của ngân hàng. “Chính sách kinh doanh” xác định các sản phẩm, dịch vụ chủ lực và định hướng phát triển của ngân hàng. Bên cạnh đó, “chính sách kinh doanh” thiết lập các chính sách lãi suất, phí dịch vụ và chính sách tín dụng đáp ứng nhu cầu của thị trường. “Chính sách kinh doanh” là tiền đề quan trọng cho sự thành công trong việc tối ưu hoá hiệu suất kinh doanh, đảm bảo an toàn và hướng đến mục tiêu phát triển chung. Việc xây dựng và điều chỉnh “chính sách kinh doanh” phải dựa trên phân tích thị trường, đánh giá năng lực nội tại và tuân thủ các quy định của pháp luật. Việc xây dựng và hoàn thiện “chính sách kinh doanh” góp phần hỗ trợ và thúc đẩy việc hoàn thành cách tiêu chí mà “chiến lược kinh doanh” đã đề ra. Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.
- Năng lực quản trị và điều hành
Năng lực quản trị và điều hành” là một yếu tố quan trọng trong việc xây dựng nền tảng cho hoạt động hiệu quả. Nó có quan hệ mật thiết với cơ cấu tổ chức và quản trị, chất lượng đội ngũ lãnh đạo và quản lý, hệ thống quản trị rủi ro và kiểm soát nội bộ. “Năng lực quản trị và điều hành” của nhà lãnh đạo được đánh giá qua việc vạch ra và và triển khai chiến lược phát triển thích ứng được nhu cầu thị trường và định hướng của ngân hàng, linh hoạt điều chỉnh chiến lược, mục tiêu và kế hoạch hoạt động để đáp ứng với những đổi mới trong môi trường kinh doanh, đảm bảo cho công tác quản lý rủi ro hiệu quả. Năng lực này còn được thể hiện qua năng quản lý tài chính hiệu quả, đảm bảo an toàn và tăng trưởng bền vững. Bên cạnh đó, nó còn được thể hiện qua việc đảm bảo sự gắn kết và phối hợp hiệu quả giữa các bộ phận trong ngân hàng cũng như quản lý tốt nguồn nhân lực, đào tạo và phát triển đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp. Việc nâng cao “năng lực quản trị và điều hành” là nền tảng quyết định sự thành công và phát triển bền vững của ngân hàng, góp phần gia tăng giá trị, uy tín và vị thế của ngân hàng trên thị trường.
- Nguồn nhân lực và quản trị nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực” là yếu tố sản xuất quan trọng nhất, quyết định hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Đây là nền tảng để xây dựng sức mạnh cạnh tranh của ngân hàng. Nâng cao chất lượng và quản trị hiệu quả “nguồn nhân lực” là nhiệm vụ then chốt để nâng cao năng lực hoạt động và sức mạnh cạnh tranh của ngân hàng.
Nguồn nhân lực” trong tiếng Anh là Human Resource. Nhân lực là một trong các nguồn lực cần thiết cho mọi quá trình sản xuất – kinh doanh. Nhân lực là sức lao động của con người. “Nguồn nhân lực” bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp.
Với quan điểm của Torrington và Hall (2008): “Quản trị nhân sự là một loạt các hoạt động, trước hết cho phép những người làm việc và tổ chức thuê họ đạt được thỏa thuận về mục tiêu và bản chất của các mối quan hệ trong công việc, sau đó là đảm bảo rằng tất cả các thỏa thuận đều được thực hiện”.
Quản trị nhân lực” là quá trình sáng tạo và sử dụng tổng thể các công cụ, phương tiện, phương pháp và giải pháp khai thác hợp lí và có hiệu quả nhất năng lực, sở trường của người lao động, đảm bảo thực hiện các mục tiêu lâu dài của doanh nghiệp và của từng người lao động trong doanh nghiệp. Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.
Nội dung cơ bản của “quản trị nguồn nhân lực” bao gồm các hoạt động chủ yếu sau:
- Hoạch định nguồn nhân lực
- Lập kế hoạch tuyển dụng
- Bố trí sử dụng nhân viên
- Đánh giá thực hiện công việc
- Đãi ngộ: trả công lao động, khen thưởng, kỷ luật
- Đào tạo chuyên môn, nâng cao chuyên môn
Năng lực công nghệ
Công nghệ cho phép ngân hàng cung cấp cho khách hàng các dịch vụ hiện đại, nhanh chóng và tiện lợi thông qua các kênh số như internet banking, mobile banking,… Bên cạnh đó, công nghệ cũng giúp năng suất và hiệu quả làm việc của các ngân hàng được nâng cao thông qua việc tự động hóa các quy trình nghiệp vụ, giảm thời gian xử lý các giao dịch, giảm sai sót, phân tích dữ liệu lớn giúp hoạt động kinh doanh chính xác hơn và quản lý rủi ro tốt hơn. Công nghệ còn giúp mở rộng phạm vi hoạt động, tiếp cận được nhiều khách hàng hơn, từ đó nâng cao tỷ suất sinh lời cũng như tăng sức mạnh thương hiệu của ngân hàng trên thị trường.
2.3. Các nghiên cứu trước có liên quan
Nhiều nghiên cứu đã sử dụng mô hình hồi quy với ROA và ROE là biến phụ thuộc để thể hiện cho yếu tố hiệu quả hoạt động. Việc sử dụng hai chỉ tiêu ROA và ROE giúp các nghiên cứu có thể đánh giá toàn diện hơn về “hiệu quả hoạt động của các ngân hàng”. ROA phản ánh hiệu quả trong quản lý tài sản của ngân hàng. Năng lực chuyển đổi tài sản thành thu nhập ròng của hội đồng quản trị được phản ánh qua chỉ số ROA. Chỉ số ROE đánh giá hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của ngân hàng. ROE là thước đo quan trọng đo lường tỷ lệ lợi nhuận mà các cổ đông của ngân hàng nhận được từ khoản đầu tư của họ để phản ánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.
- Các nghiên cứu ở Việt Nam
Bùi Văn Trịnh cùng cộng sự (2023) đã dùng dữ liệu thu thập từ 26 ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2014 – 2021. Nghiên cứu gồm hai mô hình với các biến phụ thuộc lần lượt là ROA và ROE. Các biến độc lập gồm X1 “giá trị tổng tài sản của ngân hàng”, X2 “tỷ lệ giữa tổng tài sản của ngân hàng i và tổng tài sản của các ngân hàng ở năm t”, X3 “tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu và tổng tài sản”, X4 “tỷ lệ giữa dư nợ và huy động vốn”, X5 “tỷ lệ giữa nợ xấu và dư nợ”, X6 “số thành viên trong hội đồng quản trị của ngân hàng”, X7 “thu nhập ngoài lãi của ngân hàng”, X8 “tỷ lệ giữa chi phí và doanh thu của ngân hàng”, X9 “tỷ lệ giữa huy động vốn và tổng tài sản của ngân hàng”. Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ tiêu “tổng tài sản” tác động cùng chiều lên ROA và ROE, “tỷ lệ chi phí trên doanh thu” tác động ngược chiều lên cả ROA và ROE, “tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản” có tác động cùng chiều lên ROA nhưng lại tác động ngược chiều đến ROE. Các yếu tố “tỷ lệ cho vay trên huy động”, “thu nhập ngoài lãi số thành viên trong hội đồng quản trị” đều có tác động cùng chiều đến ROA nhưng lại không tác động đến ROE. Các yếu tố còn lại không có ý nghĩa thống kê đối với cả hai mô hình.
Đặng Thị Minh Nguyệt và cộng sự (2021) đã thu thập dữ liệu từ 4 ngân hàng VietinBank, Vietcombank, BIDV và Agribank từ năm 2005 đến 2020. Nghiên cứu gồm hai mô hình hồi quy với các biến phụ thuộc là ROA và ROE với các biến độc lập được tác giả sử dụng trong mô hình là CAEQ – “Tỷ lệ huy động vốn trên vốn chủ sở hữu”, NPL – “Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ”, BASZ – “Tổng tài sản”, PROD – “Năng suất lao động”, INF – “Tỷ lệ lạm phát”. Kết quả nghiên cứu cho thấy “quy mô ngân hàng” – BASZ tác động ngược chiều lên ROA và ROE; “năng suất lao động” – PROD có mối quan hệ cùng chiều với ROA và ROE. Kết quả cũng chỉ ra chỉ tiêu “huy động vốn trên tổng vốn chủ sở hữu của ngân hàng” tác động ngược chiều lên ROE, “tỷ lệ nợ xấu” – NPL tác động ngược chiều lên ROA và ROE. Tuy nhiên, mối quan hệ của yếu tố “kinh tế vĩ mô” và “hiệu quả hoạt động của ngân hàng” chưa được thể hiện qua kết quả nghiên cứu trên.
Tác động ngược chiều của “tỷ lệ nợ xấu” đến “hiệu quả hoạt động của ngân hàng” cũng là kết quả nghiên cứu của tác giả Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013). Để nghiên cứu về đề tài này, Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013) đã sử dụng dữ liệu từ 39 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2005 – 2012. ROA và ROE là biến phụ thuộc của mô hình nghiên cứu. Dựa trên kết quả nghiên cứu có thể thấy được mối tương quan ngược chiều của “tỷ lệ chi phí trên doanh thu” – TCTR và “tỷ lệ nợ xấu” – NPL đến cả ROA và ROE. Bên cạnh đó, nghiên cứu cho thấy “tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản” – LOANTA cùng có tác động cùng chiều lên ROA và ROE. Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy “tỷ lệ vốn chủ sở hữu” – ETA tác động cùng chiều lên ROA nhưng tác động ngược chiều lên ROE. “Loại hình ngân hàng” – OWNERNN có tác động ngược chiều đến ROE. “Thị phần ngân hàng” – MARKSHARE có tác động cùng chiều lên ROE nhưng không tác động đến ROA.
Trái ngược với kết quả nghiên cứu của Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013), tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình cùng cộng sự (2021) cho rằng “tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản” có tác động ngược chiều với “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình và cộng sự (2021) đã sử dụng dữ liệu được thu thập từ 24 ngân hành thương mại trong giai đoạn 2017 – 2020. Phương pháp hồi quy OLS đã được sử dụng với biến phụ thuộc là “chỉ số lợi nhuận trên tài sản” – ROA và các biến độc lập là “quy mô” – SIZE, “hệ số chi phí hoạt động” – CIR, “tỷ lệ nợ xấu” – NPL, “tỷ lệ cho vay trên tiền gửi khách hàng” – LDR, “tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản” – CVTS, “chỉ số giá tiêu dùng” – CPI, “tính chất sở hữu” – SOB. Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ ngược chiều của “hệ số chi phí hoạt động”, “tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản” và “hình thức sở hữu” với “hiệu quả hoạt động ngân hàng”. Ngược lại, kết quả cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa các yếu tố “quy mô” và “tỷ lệ cho vay trên tiền gửi khách hàng” với “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Các yếu tố “tỷ lệ nợ xấu” và “chỉ số giá tiêu dùng” không có ý nghĩa hồi quy. Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.
Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tiền gửi khách hàng” có tác động cùng chiều đến “hiệu quả hoạt động của ngân hàng” cũng là kết quả nghiên cứu của các tác giả Đào Mỹ Hằng cùng cộng sự (2023) và Nguyễn Phúc Quý Thạnh (2019).
Đào Mỹ Hằng và cộng sự (2023) đã sử dụng mô hình OLS, FEM, REM và phương pháp FGLS để phân tích “Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam”. Dữ liệu của nghiên cứu được thu thập từ 23 ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2012 – 2021. Nghiên cứu này cũng sử dụng hai mô hình với biến phụ thuộc là ROA và ROE. Các biến độc lập lần lượt là SIZE – “Quy mô ngân hàng”, BRANCH – “Số lượng chi nhánh, điểm giao dịch trong nước của ngân hàng”, AGE – “Số năm hoạt động tính từ thời điểm thành lập”, CAP – “Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản”, LDR – “Tỷ lệ dư nợ cho vay trên số vốn huy động”, GDP – “Logarit tự nhiên của tổng sản phẩm quốc nội tại Việt Nam”, INF – “Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam”. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng các biến độc lập “Quy mô ngân hàng” – SIZE, “Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản” – CAP, “Tỷ lệ dư nợ cho vay trên số vốn huy động” – LDR, “Logarit tự nhiên của tổng sản phẩm quốc nội tại Việt Nam” – GDP và “Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam” – INF đều có tác động cùng chiều lên cả ROA và ROE. Các biến “Số lượng chi nhánh, điểm giao dịch trong nước của ngân hàng” – BRANCH và “Số năm hoạt động tính từ thời điểm thành lập” – AGE cùng có tác động ngược chiều đến ROA và ROE.
Mối quan hệ giữa “tỷ lệ vốn chủ sở hữu” với “hiệu quả hoạt động của ngân hàng” được thể hiện qua nghiên cứu của Nguyễn Phúc Quý Thạnh (2019). Dữ liệu được thu thập từ Thomson Reuter và từ nguồn báo cáo tài chính có kiểm toán (báo cáo tài chính riêng lẻ) của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2007 – 2017. Biến phụ thuộc của mô hình là “hiệu quả hoạt động của ngân hàng” với kết quả thu được từ chạy hiệu quả kỹ thuật DEA (DEA_TE). Kết quả cho thấy “tỷ lệ vốn chủ sở hữu” có tác động tiêu cực đến “hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại”. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy mối quan hệ cùng chiều của các yếu tố “quy mô tiền gửi”, “trạng thái thanh khoản”, “tỷ trọng tín dụng” đến “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Tác giả cũng đã cho thấy mối tương quan cùng chiều của “quy mô ngân hàng” và “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Kết quả thu được tương tự với nghiên cứu của Bùi Văn Trịnh cùng cộng sự (2023), Đào Mỹ Hằng cùng cộng sự (2023), Nguyễn Phúc Quý Thạnh (2019), Nguyễn Thị Thanh Bình cùng cộng sự (2021), Nguyễn Chí Đức cùng cộng sự (2023).
Nguyễn Chí Đức và Lê Hồ Trí Nhân (2023) cũng cho thấy rằng “tỷ lệ chi phí trên doanh thu” có tác động ngược chiều đến “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Nguyễn Chí Đức và Lê Hồ Trí Nhân (2023) đã nghiên cứu về chủ đề này bằng việc sử dụng phương pháp hồi quy dữ với liệu bảng để ước lượng dữ liệu từ 18 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2021. Hai mô hình với các biến phụ thuộc là ROA và ROE được dùng trong nghiên cứu cùng các biến độc lập lần lượt là “tỷ lệ vốn chủ sở hữu” – EQ, “quy mô ngân hàng” – SIZE, “rủi ro tín dụng” – CRER, “thanh khoản” – LIQ, “chi phí hoạt động” – CIR, “lạm phát” – INF, “tốc độ tăng trưởng GDP” – GDP. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng “tỷ lệ vốn chủ sở hữu” – EQ, “quy mô ngân hàng” – SIZE, “lạm phát” – INF cùng có tác động cùng chiều đến ROA và ROE. Yếu tố “chi phí hoạt động” – CIR có tác động ngược chiều lên cả ROA và ROE. Riêng yếu tố “rủi ro tín dụng” – CRER chỉ tác động ngược chiều đến ROA. Các biến còn lại không có ý nghĩa thống kê. Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.
- Các nghiên cứu ở nước ngoài
Elouali Jaouad và Oubdi Lahsen (2018) đã dùng phương pháp nghiên cứu định lượng để phân tích hiệu quả hoạt động của 6 ngân hàng Morocco trong giai đoạn 2010 – 2016. Nghiên cứu đã sử dụng hai mô hình với biến phụ thuộc lần lượt là ROA và ROE. Mô hình có các biến độc lập là “quy mô ngân hàng” – SIZE, “vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản” – CA, “nợ ròng trên tổng tài sản” – LIQ, “tỷ lệ chi phí trên thu nhập” – COST, “cơ cấu thị trường” – CONC, “số lượng thành viên trong ban quản trị” – BS, “số cuộc hợp hội đồng quản trị” – MEET, “giám đốc đồng thời là chủ tịch hội đồng quản trị” – DUA, “tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập” – IND, “tốc độ tăng trưởng GDP” – GDP và “lạm phát” – INF. Kết quả đã chỉ ra rằng chỉ có “tỷ lệ chi phí trên thu nhập” – COST và “hiệu quả hoạt động” có mối tương quan ngược chiều với ý nghĩa rất lớn. Bên cạnh đó, kết quả cũng cho thấy mối tương quan cùng chiều giữa biến SIZE và ROA. Tuy nhiên, tác động của các biến khác là không có ý nghĩa thống kê.
Nicholas Mbugua Njoki & Dr. Winnie Nyamute (2023) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tại Kenya. Mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập được nghiên cứu bởi phương pháp hồi quy tuyến tính. Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính đã kiểm toán của các ngân hàng tại Kenya trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2021 với biến phụ thuộc là “tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản” – ROA và các biến độc lập là “tổng vốn trên tổng tài sản có rủi ro” – CA, “tỷ lệ chi phí trên thu nhập” – ME, “tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ” – AQ, “tỷ lệ thanh khoản” – LR, “quy mô ngân hàng” – SIZE. Nghiên cứu chỉ ra rằng “quy mô ngân hàng” và “tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ” có tác động cùng chiều tới ROA. Các yếu tố “tổng vốn trên tổng tài sản có rủi ro”, “tỷ lệ thanh khoản” và “tỷ lệ chi phí trên thu nhập” có tác động ngược chiều tới ROA. Nghiên cứu chưa thể hiện mối quan hệ giữa yếu tố “kinh tế vĩ mô” và “hiệu quả hoạt động của các ngân hàng”.
Trong nghiên cứu của EhsanWaquarAhmad và cộng sự (2022) đã chỉ ra rằng có mối tương quan giữa các yếu tố “kinh tế vĩ mô” và “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. EhsanWaquarAhmad và cộng sự (2022) đã thu thập dữ liệu từ báo cáo tài chính của 6 ngân hàng tại Pakistan trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2017. Nghiên cứu đã cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa các yếu tố “kinh tế vĩ mô” và “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Yếu tố “kinh tế vĩ mô” được sử dụng trong mô hình là “tốc độ tăng trưởng GDP” – GDP và “tỷ lệ lạm phát” – INF. Biến phụ thuộc của mô hình là “tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu” – ROE, các biến độc lập gồm “tuổi của ngân hàng” – AGE, “quy mô” – SIZE, “vốn chủ sở hữu” – EQUITY, “sự phát triển tài chính” – FID, “tốc độ tăng trưởng GDP” – GDP, “tỷ lệ lạm phát” – INF. Nghiên cứu đã thể hiện tác động tiêu cực của SIZE cùng với tác động tích cực của “sự phát triển tài chính” – FID, “tốc độ tăng trưởng GDP” – GDP và “tỷ lệ lạm phát” – INF đến ROE, trong khi “tuổi của ngân hàng” – AGE và “vốn chủ sở hữu” – EQUITY hầu như không có bất kỳ tác động nào đến ROE.
Bảng 2.1. Bảng tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm liên quan
2.4. Khoảng trống nghiên cứu Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.
Sau khi tiến hành tổng hợp một số nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài trong và ngoài nước, tác giả nhận thấy còn tồn tại một số vấn đề, từ đó tác giả xác định được khoảng trống nghiên cứu sau đây:
Thứ nhất, có sự mâu thuẫn về kết quả của một số nghiên cứu. Nguyên nhân do các tác giả thực hiện đề tài tại các quốc gia khác nhau, mẫu nghiên cứu và chu kỳ dữ liệu được thu thập khác nhau.
Thứ hai, nguồn dữ liệu sử dụng trong các nghiên cứu trước tại Việt Nam được thu thập trong khoản thời gian ngắn cũng như phạm vi dữ liệu tương đối hẹp, số lượng các biến độc lập của mô hình nghiên cứu còn hạn chế, do đó chưa đạt được độ tin cậy nhất định.
Thứ ba, dữ liệu nghiên cứu tại Việt Nam chưa được cập nhật. Dữ liệu được dùng để nghiên cứu “hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại Việt Nam” đã được thực hiện từ các năm trước, do đó kết quả nghiên cứu có thể chưa phù hợp trong nền kinh tế xã hội hiện nay. Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.
Tóm lại, cần xây dựng mô hình mới kết hợp nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm cả yếu tố tài chính và phi tài chính nhằm đánh giá các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng một cách toàn diện hơn. Bên cạnh đó, một nghiên cứu mới nhất cần được thực hiện để kịp thời cập nhật số liệu cũng như đánh giá tình tình hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Nhờ đó, các nhà quản trị ngân hàng có thể kịp thời đưa ra những hàm ý chính sách phù hợp nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng của hoạt động kinh doanh cũng như tối ưu hoá lợi nhuận của ngân hàng.
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Trong chương 2, tác giả đã tổng hợp những khái niệm chung về “hiệu quả hoạt động của ngân hàng” và “các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Bên cạnh đó, tác giả đã lược khảo các nghiên cứu trước liên quan đến đề tài “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Tác giả đã tổng hợp và phân tích các nghiên cứu trước, từ đó các khoảng trống nghiên cứu còn tồn tại của đề tài đã được tác giả xác định. Cùng với những thông tin đã trình bày trong chương 1, tác giả tiến hành tổng hợp những khái niệm chung về “hiệu quả hoạt động của ngân hàng” và “các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng”, sau đó tiến hành xây dựng mô hình nghiên cứu, hệ thống các biến và phương pháp nghiên cứu trong chương 3. Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com
