Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1. Xây dựng mô hình
3.1.1. Cách đo lường biến
- Biến phụ thuộc
Biến phụ thuộc đại diện cho “hiệu quả hoạt động của ngân hàng” có thể được xác định bằng các chỉ số tài chính phù hợp. Trong mô hình hồi quy định lượng đánh giá “hiệu quả hoạt động của ngân hàng” thường sử dụng các biến phụ thuộc như “tỷ suất lợi nhuận trên tài sản” – ROA và “tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu” – ROE. Vì giới hạn về thời gian nghiên cứu, đề tài tập trung đánh giá “hiệu quả hoạt động” thông qua chỉ số ROA và đây cũng là biến phụ thuộc của mô hình. ROA cũng là biến phụ thuộc trong nghiên cứu của tác giả Bùi Văn Trịnh cùng cộng sự (2023), Đặng Thị Minh Nguyệt và cộng sự (2021), Đào Mỹ Hằng và cộng sự (2023), Nguyễn Thị Thanh Bình cùng cộng sự (2021), Elouali Jaouad và Oubdi Lahsen (2018), Nicholas Mbugua Njoki & Dr. Winnie Nyamute (2023), Nguyễn Chí Đức và Lê Hồ Trí Nhân (2023), Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013) .
- Các biến độc lập Luận văn: PPNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.
Ngoài việc dựa vào kết quả của các nghiên cứu trước, đề tài còn áp dụng lý thuyết về mô hình CAMEL để lựa chọn các biến độc lập của mô hình. Mô hình CAMEL là mô hình dùng để đánh giá sức khỏe của các tổ chức tài chính, dựa trên 5 yếu tố cơ bản:
- C – Capital Adequacy (Tính ổn định vốn): “Quy mô ngân hàng” – SIZE, “Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ” – NPL
- A – Asset Quality (Chất lượng tài sản): “Quy mô tiền cho vay” – LOAN, “Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ” – NPL
- M – Management (Quản lý): “Tỷ lệ vốn chủ sở hữu” – ETA, “Tỷ lệ chi phí trên doanh thu” – TCTR
- E – Earnings (Lợi nhuận): “Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản” – ROA
- L – Liquidity (Thanh khoản): “Quy mô tiền cho vay” – LOAN, “Tỷ lệ cho vay trên tiền gửi” – LDR
Bên cạnh các chỉ tiêu tài chính, các yếu tố kinh tế – xã hội cũng có những ảnh hưởng nhất định đến “hiệu quả hoạt động của các ngân hàng”. Trong nghiên cứu của Kiganda (2014) cho rằng, một số yếu tố kinh tế vĩ mô có thể tác động đến “hiệu quả hoạt động” của các ngân hàng ở Kenya. Cụ thể, các yếu tố kinh tế vĩ mô bao gồm: “tốc độ tăng trưởng kinh tế”, “lạm phát” và “tỷ giá”. Tuy nhiên nghiên cứu chưa xem xét về các yếu tố khác như quản trị nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực và quản trị nguồn nhân lực cũng có những đóng góp đáng kể đối với sự tăng trưởng của hệ thống ngân hàng. Alnoor (2020) cho thấy nguồn nhân lực là nền tảng quyết định sự phát triển của các doanh nghiệp nói chung. Bên cạnh đó, Hunnes (2009) cho thấy rằng “thu nhập nội bộ” có mối tương quan thuận với “hiệu quả hoạt động” tại Na Uy giai đoạn (1986 – 1997). Do vậy, nghiên cứu đã sử dụng thêm yếu tố quản trị nguồn nhân lực thông qua chỉ số “thu nhập bình quân của nhân viên” – EAI và yếu tố kinh tế vĩ mô thông qua các chỉ số “lạm phát” – INF, “tốc độ tăng trưởng GDP” – GDP làm biến độc lập của mô hình.
NPL – “Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ” là một chỉ số quan trọng đánh giá mức độ rủi ro trong hoạt động cũng như phản ánh chất lượng tín dụng của ngân hàng. Các khoản nợ xấu sẽ không mang lại lợi nhuận trong khi ngân hàng vẫn cần phải trích lập dự phòng rủi ro làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng. “Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ” cao sẽ làm giảm thu nhập lãi thuần, từ đó lợi nhuận của ngân hàng cũng sẽ bị ảnh hưởng. Do đó, tác động của “tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ” đến “hiệu quả hoạt động ngân hàng” được kỳ vọng là âm. NPL cũng được sử dụng trong nghiên cứu của các tác giả Đặng Thị Minh Nguyệt cùng cộng sự (2021), Bùi Văn Trịnh cùng cộng sự (2023), Nguyễn Thị Thanh Bình cùng cộng sự (2021), Nicholas Mbugua Njoki & Dr. Winnie Nyamute (2023), Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013).
- NPL = Nợ xấu/ Dư nợ cho vay Luận văn: PPNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.
LOAN – “Quy mô tiền cho vay” phản ánh mối quan hệ giữa tổng dư nợ cho vay và tổng tài sản đồng thời đo lường rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Đây là hoạt động mang lại thu nhập chủ yếu, tuy nhiên nó cũng sẽ tồn tại nhiều rủi ro. Do đó, chỉ số này có thể có tác động cùng chiều cũng như ngược chiều đến “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Các nghiên cứu trước của tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình cùng cộng sự (2021), Nguyễn Chí Đức cùng cộng sự (2023), Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013) cũng sử dụng biến độc lập LOAN trong nghiên cứu của mình.
- LOAN = Dư nợ cho vay/ Tổng tài sản
LDR – “Tỷ lệ cho vay trên tiền gửi” phản ánh mối quan hệ giữa dư nợ cho vay và tiền gửi của ngân hàng. Lợi nhuận từ khoảng cách lãi suất giữa hoạt động tín dụng và huy động là nguồn thu nhập chủ yếu của ngân hàng. Do đó, nguồn vốn huy động được sử dụng tối ưu thông qua hoạt động cho vay cũng góp phần làm tăng tỷ suất sinh lời cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Như vậy nếu “tỷ lệ cho vay trên tiền gửi” cao cho thấy nguồn vốn huy động được sử dụng một cách hiệu quả và nếu “tỷ lệ cho vay trên tiền gửi” thấp thì nguồn vốn này chưa được sử dụng tốt. Do đó, mối quan hệ giữa LDR và ROA có dấu kỳ vọng là dương. LDR cũng được dùng trong nghiên cứu của Bùi Văn Trịnh cùng cộng sự (2023), Đào Mỹ Hằng cùng cộng sự (2023), Nguyễn Phúc Quý Thạnh (2019) và Nguyễn Thị Thanh Bình cùng cộng sự (2021).
- LDR = Dư nợ cho vay/ Tiền gửi khách hàng
ETA – “Tỷ lệ vốn chủ sở hữu” đánh giá mức độ an toàn tài chính và khả năng chịu rủi ro của ngân hàng. Vốn chủ sở hữu của ngân hàng được dùng để đối phó với các khoản lỗ và rủi ro, giảm khả năng vỡ nợ. Chỉ số “tỷ lệ vốn chủ sở hữu” của ngân hàng cao sẽ được tiếp cận các nguồn vốn vay với chi phí thấp một cách dễ dàng hơn. Tuy nhiên, nếu chỉ số này quá cao sẽ làm cho ngân hàng khó có thể sử dụng đòn bẩy tài chính do có ít nợ, gây trở ngại cho hoạt động của ngân hàng. Do đó các ngân hàng cần duy trì “tỷ lệ vốn chủ sở hữu” ở mức hợp lý để nâng cao “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Các tác giả Bùi Văn Trịnh cùng cộng sự (2023), Đào Mỹ Hằng cùng cộng sự (2023), Nguyễn Chí Đức cùng cộng sự (2023), Nguyễn Phúc Quý Thạnh (2019), Elouali Jaouad và Oubdi Lahsen (2018), Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013) cũng sử dụng biến độc lập ETA trong nghiên cứu của mình.
- ETA = Vốn chủ sở hữu/ Tổng tài sản Luận văn: PPNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.
TCTR – “Tỷ lệ chi phí trên doanh thu” là một chỉ số đo lường mức độ quản lý chi phí của ngân hàng. Chỉ số này có tác động trực tiếp đến “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Khi chỉ số “tỷ lệ chi phí trên doanh thu” thấp cho thấy ngân hàng có thể tối ưu hóa chi phí hoạt động, ngân hàng có thể cung cấp các sản phẩm dịch vụ với giá cạnh tranh, thu hút khách hàng và tăng thị phần, từ đó tăng lợi nhuận. Tỷ lệ này thấp còn phản ánh việc quản lý chi phí hiệu quả và giúp ngân hàng nâng cao “hiệu quả hoạt động”. Các nghiên cứu trước của các tác giả Bùi Văn Trịnh cùng cộng sự (2023), Elouali Jaouad và Oubdi Lahsen (2018), Nguyễn Thị Thanh Bình cùng cộng sự (2021), Nicholas Mbugua Njoki & Dr. Winnie Nyamute (2023), Nguyễn Chí Đức cùng cộng sự (2023), Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013) cũng sử dụng biến độc lập TCTR.
- TCTR = Chi phí/ Doanh thu
EAI: Trong nghiên cứu của mình, Vũ Thị Giang và Đỗ Cẩm Tú (2019) cho rằng thu nhập của nhân viên có vai trò quan trọng đối với người lao động và cả doanh nghiệp. Đối với người lao động, thu nhập có tác dụng to lớn trong việc khuyến khích người lao động yên tâm và dồn hết sức mình cho công việc. Đối với doanh nghiệp, đây được xem như là một bộ phận của chi phí sản xuất và là đòn bẩy quan trọng để nâng cao hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp. Do đó chỉ số “thu nhập bình quân của nhân viên” có thể phản ánh tác động của yếu tố quản trị nguồn nhân lực đến “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Khi chỉ số “thu nhập trung bình của nhân viên” cao, nhân viên được hưởng mức thu nhập tốt, từ đó tăng động lực, cải thiện năng suất lao động và nâng cao “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Nghiên cứu đã sử dụng yếu tố “thu nhập bình quân của nhân viên” để phản ánh tác động của yếu tố quản trị nguồn nhân lực đến “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Đây là điểm mới được tác giả sử dụng trong mô hình nghiên cứu. Trong nghiên cứu của mình, tác giả Đặng Thị Minh Nguyệt cùng cộng sự (2021) đã cho thấy tác động cùng chiều của yếu tố nguồn nhân lực mà cụ thể là “năng suất lao động” đến “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Kết quả nghiên cứu của tác giả Huỳnh Minh Tâm (2023) cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa yếu tố “phúc lợi của nhân viên” và “kết quả kinh doanh của doanh nghiệp”. Do đó, mối quan hệ giữa “thu nhập bình quân của nhân viên” và “hiệu quả hoạt động của ngân hàng” được kỳ vọng là dương. Luận văn: PPNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.
- EAI = Ln (Chi phí nhân viên/ S ố nhân viên bình quân)
SIZE: “Quy mô ngân hàng” có những ảnh hưởng đáng kể đến “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Với quy mô lớn, ngân hàng có thể tăng cường đầu tư vào công nghệ, phát triển sản phẩm mới, mở rộng mạng lưới, tăng sức cạnh tranh. Tuy nhiên, các ngân hàng lớn thường kém linh hoạt hơn so với các ngân hàng nhỏ, ảnh hưởng đến khả năng thích ứng với những biến đổi thị trường cũng như gặp khó khăn trong việc quản trị và kiểm soát, dẫn đến tăng chi phí hoạt động, giảm lợi nhuận. Kết quả của một số nghiên cứu trước cho thấy có sự mâu thuẫn về tác động của “quy mô ngân hàng” đến “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Các nghiên cứu của Bùi Văn Trịnh cùng cộng sự (2023), Đào Mỹ Hằng cùng cộng sự (2023), Elouali Jaouad và Oubdi Lahsen (2018), Nguyễn Phúc Quý Thạnh (2019), Nguyễn Thị Thanh Bình cùng cộng sự (2021), Nicholas Mbugua Njoki & Dr. Winnie Nyamute (2023), Nguyễn Chí Đức cùng cộng sự (2023) cho thấy rằng các ngân hàng lớn có hiệu quả hoạt động tốt hơn. Trái với những nghiên cứu nêu trên, Đặng Thị Minh Nguyệt cùng cộng sự (2021), Ehsan Waquar Ahmad cùng cộng sự (2022) đã cho thấy sự tác mối tương quan ngược chiều giữa “quy mô ngân hàng” và “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Nghiên cứu kỳ vọng sẽ có mối tương quan thuận giữa biến độc lập SIZE và biến phụ thuộc ROA.
- SIZE = Ln (Tổng tài sản)
INF – “Tỷ lệ lạm phát” cũng có tác động đến “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Khi lạm phát tăng, lãi suất huy động và lãi suất vay sẽ tăng. Như vậy, “tỷ lệ lạm phát” có thể tác động tích cực cũng như tiêu cực đến “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Tác giả Ehsan Waquar Ahmad cùng cộng sự (2022), Đào Mỹ Hằng cùng cộng sự (2023), Nguyễn Chí Đức cùng cộng sự (2023) cũng đã dùng biến INF trong mô hình nghiên cứu của mình.
- INF = Lạm phát
GDP – Mối tương quan giữa tình hình kinh tế và “hiệu quả hoạt động của ngân hàng” được kỳ vọng tìm thấy thông qua sự tác động của GDP đến ROA. Khi nền kinh tế tăng trưởng mạnh, nhu cầu vay vốn và sử dụng các dịch vụ ngân hàng của các doanh nghiệp và cá nhân sẽ tăng, giúp ngân hàng tăng trưởng tín dụng và doanh thu và ngược lại. Do đó, mối quan hệ giữa “tốc độ tăng trưởng GDP” và “hiệu quả hoạt động của ngân hàng ROA” được kỳ vọng là dương. Trong nghiên cứu của mình, tác giả Đào Mỹ Hằng cùng cộng sự (2023), Ehsan Waquar Ahmad cùng cộng sự (2022), Elouali Jaouad và Oubdi Lahsen (2018), Nguyễn Chí Đức cùng cộng sự (2023) cũng đã sử dụng biến độc lập GDP trong mô hình nghiên cứu.
- GDP = Tốc độ tăng trưởng GDP Luận văn: PPNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.
3.1.2. Các giả thuyết nghiên cứu
Dựa vào cơ sở lý thuyết và kết quả nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước, tác giả tiến hành xây dựng các giả thuyết cho bài nghiên cứu để trả lời cho những câu hỏi nghiên cứu và thực hiện các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra.
- Giả thuyết H1: “Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ NPL” có tác động ngược chiều với “hiệu quả hoạt động ROA”
Tỷ lệ nợ xấu” là chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng của trong hoạt động của ngân hàng. Khi “tỷ lệ nợ xấu” tăng cao sẽ có những tác động không tốt đến “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Giả thuyết phù hợp với kết quả nghiên cứu của Đặng Thị Minh Nguyệt cùng cộng sự (2021), Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013).
- Giả thuyết H2: “Quy mô tiền cho vay LOAN” có tác động ngược chiều với “hiệu quả hoạt động ROA”
Trong nghiên cứu của mình, Nguyễn Thị Thanh Bình cùng cộngg sự (2021) đã cho thấy rằng “tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản” có tác động tiêu cực đến “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Mặc dù cho vay là hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng, tuy nhiên nó vẫn tiềm ẩn những rủi ro. Rủi ro tín dụng sẽ gây ra những tổn thất cho ngân hàng. Do đó, khi “quy mô tiền cho vay” tăng lên thì “hiệu quả hoạt động của ngân hàng” giảm xuống.
- Giả thuyết H3: “Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tiền gửi LDR” có tác động cùng chiều với “hiệu quả hoạt động ROA”
Giả thuyết phù hợp với kết quả nghiên cứu của Bùi Văn Trịnh cùng cộng sự (2023), Đào Mỹ Hằng cùng cộng sự (2023), Nguyễn Thị Thanh Bình cùng cộng sự (2021). “Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tiền gửi” cao cho thấy ngân hàng đã sử dụng hiệu quả nguồn vốn huy động, “hiệu quả hoạt động của ngân hàng” cũng được nâng cao. Do đó, LDR tăng thì ROA sẽ tăng.
- Giả thuyết H4: “Tỷ lệ vốn chủ sở hữu ETA” có tác động cùng chiều với “hiệu quả hoạt động ROA”
Kết quả nghiên cứu của các tác giả Bùi Văn Trịnh cùng cộng sự (2023), Đào Mỹ Hằng cùng cộng sự (2023), Nguyễn Chí Đức cùng cộng sự (2023), Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013) đã chỉ ra mối quan hệ cùng chiều của “tỷ lệ vốn chủ sở hữu” và “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn ổn định và an toàn, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của ngân hàng. “Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản” cao sẽ giúp ngân hàng giảm bớt nhu cầu tài trợ bên ngoài cũng như giảm bớt rủi ro. Ngoài ra, các ngân hàng có “tỷ lệ vốn chủ sở hữu” cao sẽ có mức độ uy tín cao và nhận được sự tin tưởng của công chúng, từ đó, “hiệu quả hoạt động của ngân hàng” cũng được nâng cao.
- Giả thuyết H5: “Tỷ lệ chi phí trên doanh thu TCTR” có tác động ngược chiều với “hiệu quả hoạt động ROA”
Tỷ lệ chi phí trên doanh thu” phản ánh năng lực quản lý của ngân hàng khi cân đối điều chỉnh giữa thu vào và chi ra sao cho đạt mức hiệu quả như yêu cầu. “Tỷ lệ chi phí trên doanh thu” càng cao thì “hiệu quả hoạt động của ngân hàng” càng thấp. Giả thuyết phù hợp với kết quả nghiên cứu của các tác giả Bùi Văn Trịnh cùng cộng sự (2023), Elouali Jaouad và Oubdi Lahsen (2018), Nguyễn Thị Thanh Bình cùng cộng sự (2021), Nicholas Mbugua Njoki & Dr. Winnie Nyamute (2023), Nguyễn Chí Đức cùng cộng sự (2023), Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013). Luận văn: PPNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.
- Giả thuyết H6: “Thu nhập bình quân của nhân viên EAI” có tác động cùng chiều với “hiệu quả hoạt động của ROA”
Việc cung cấp phúc lợi cũng như thu nhập tốt cho nhân viên đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Đây là mối quan hệ phức tạp và không đơn thuần là sự tác động cùng chiều do đây là một bộ phận của chi phí sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, chi phí tiền lương của nhân viên là chi cho đầu tư phát triển, nó được xem là một đòn bẩy quan trọng để nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra, thu nhập tốt cũng là động lực để nhân viên phát huy tối đa khả năng sáng tạo, gia tăng năng suất làm việc. Từ đó, “hiệu quả hoạt động của ngân hàng” cũng được nâng cao. Giả thuyết phù hợp với kết quả nghiên cứu của tác giả Huỳnh Minh Tâm (2023)
- Giả thuyết H7: “Quy mô ngân hàng SIZE” có tác động cùng chiều với “hiệu quả hoạt động ROA”
Kết quả nghiên cứu của Bùi Văn Trịnh cùng cộng sự (2023), Đào Mỹ Hằng cùng cộng sự (2023), Elouali Jaouad và Oubdi Lahsen (2018), Nguyễn Phúc Quý Thạnh (2019), Nguyễn Thị Thanh Bình cùng cộng sự (2021), Nicholas Mbugua Njoki & Dr. Winnie Nyamute (2023) đã chỉ ra mối quan hệ cùng chiều của “quy mô ngân hàng” và “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. “Quy mô ngân hàng” lớn sẽ tạo dựng được niềm tin nơi đối tác cũng như khách hàng. Từ đó, “hiệu quả hoạt động của ngân hàng” cũng sẽ ngày càng cao. Luận văn: PPNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.
- Giả thuyết H8: “Lạm phát INF” có tác động cùng chiều với “hiệu quả hoạt động ROA”
Giả thuyết phù hợp với kết quả nghiên cứu của Ehsan Waquar Ahmad cùng cộng sự (2022), Đào Mỹ Hằng cùng cộng sự (2023), Nguyễn Chí Đức cùng cộng sự (2023). Khi “lạm phát” tăng cao, lãi suất ngân hàng có xu hướng tăng. Do đó, “lạm phát” có tác động cùng chiều đến “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”.
- Giả thuyết H9: “Tốc độ tăng trưởng GDP – GDP” có tác động cùng chiều với “hiệu quả hoạt động ROA”
Khi “tốc độ tăng trưởng GDP” tăng lên cho thấy nền kinh tế tăng trưởng tốt, các doanh nghiệp hoạt động tốt sẽ đảm bảo được khả năng thanh toán khoản vay ngân hàng. Từ đó giảm tỷ lệ nợ xấu, “hiệu quả hoạt động của ngân hàng” sẽ được nâng cao. Giả thuyết phù hợp với kết quả nghiên cứu của Đào Mỹ Hằng cùng cộng sự (2023) và Ehsan Waquar Ahmad cùng cộng sự (2022).
3.1.3. Xây dựng mô hình
Với mục tiêu đo lường các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng và dựa trên cơ sở là kết quả của những nghiên cứu trước cùng tình hình hiện tại, mô hình hồi quy được sử dụng trong nghiên cứu có dạng:
ROAi,t = β0 + β1*NPLi,t + β2*LOANi,t + β3*LDRi,t + β4*ETAi,t + β5*TCTRi,t + β6*EAIi,t + β7*SIZEi,t + β8*INFi,t + β9GDPi,t
Bảng 3.1. Dấu kỳ vọng của các biến trong mô hình
| STT | Tên biến | Ký hiệu | Cách đo lường | Kỳ vọng dấu |
| Biến phụ thuộc | ||||
| 1 | Tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản |
ROA |
Lợi nhuận sau thuế/ Tổng tài sản | |
| Biến độc lập Luận văn: PPNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH. | ||||
| 1 | Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ | NPL | Nợ xấu/ Dư nợ cho vay | – |
| 2 | Quy mô tiền cho vay | LOAN | Cho vay/ Tổng tài sản | – |
| 3 | Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tiền gửi | LDR | Dư nợ cho vay/ Tiền gửi | + |
| 4 | Tỷ lệ vốn chủ sở hữu | ETA | Vốn chủ sở hữu/ Tổng tài sản | + |
| 5 | Tỷ lệ chi phí trên doanh thu | TCTR | Tổng chi phí/ Doanh thu | – |
| 6 | Thu nhập bình quân của nhân viên | EAI | Logarit cơ số tự nhiên của Chi phí nhân viên/Số nhân viên bình quân | + |
| 7 | Quy mô ngân hàng | SIZE | Logarit cơ số tự nhiên của tổng tài sản | + |
| 8 | Lạm phát | INF | Mức độ lạm phát | + |
| 9 | Tốc độ tăng trưởng GDP | GDP | Tố độ tăng trưởng GDP | + |
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)
3.2. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: PPNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua phân tích hồi quy trên phần mềm Stata17 để kiểm định các giả thuyết đã nêu ở mục 3.3.2 và kiểm định mức độ ảnh hưởng của các biến độc lập đến biến độc lập của mô hình.
Đầu tiên, tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phản ánh tổng quát các biến của mô hình. Bảng dữ liệu thống kê bao gồm tên (Variable), số lượng quan sát (Obs), giá trị trung bình (Mean), độ lệch chuẩn (Std. dev.), giá trị nhỏ nhất (Min) và giá trị lớn nhất (Max) của từng biến.
Sau khi thực hiện thống kê mô tả, nghiên cứu sử dụng ma trận tương quan giữa các biến độc lập để tìm ra và loại bỏ những cặp biến độc lập có hiện tượng đa cộng tuyến. Đa cộng tuyến là tình trạng các biến độc lập có mối tương quan cao với nhau.
Tiếp theo, tác giả sử dụng các mô hình hồi quy: mô hình hồi quy dữ liệu gộp (Pooled Ordinary Least Square – PooledOLS), mô hình hồi quy tác động cố định (Fixed Effects Model –FEM) và mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên (Random Effects Model -REM) và thông qua kiểm định Ftest, Hausman để lựa chọn mô hình phù hợp. Bên cạnh đó, dùng các kiểm định phương sai thay đổi, tự tương quan, đa cộng tuyến để tìm ra các khuyết tật của mô hình và khắc phục các khuyết tật của mô hình bằng FGLS.
3.3. Dữ liệu nghiên cứu Luận văn: PPNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.
Dữ liệu nghiên cứu là số liệu thu thấp từ báo cáo tài chính có kiểm toán của 22 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 2023. Tại Việt Nam chưa có hệ thống dữ liệu chính thức và thống nhất nên số liệu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau. Báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại được thu thập từ website chính thức của ngân hàng và website finace.vietstock.vn. Ngoài ra, các thông tin về yếu tố kinh tế vĩ mô được thu thập từ website worldbank.org và dữ liệu từ tổng cục thống kê.
Dữ liệu sau khi thu thập sẽ được loại các quan sát không đủ số liệu hoặc không phù hợp. Kết quả dữ liệu nghiên cứu là 220 quan sát của 22 ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời gian từ năm 2014 đến năm 2023.
TÓM TẮT CHƯƠNG 3
Trong chương 3, tác giả đã mô tả phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu của mô hình. Đồng thời, tác giả cũng đưa ra những giả thiết về mối quan hệ của “hiệu quả hoạt động của ngân hàng” với những yếu tố “tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ”, “quy mô tiền cho vay”, “tỷ lệ tiền cho vay so với tiền gửi”, “tỷ lệ vốn chủ sở hữu”, “tỷ lệ chi phí trên doanh thu”, “quy mô ngân hàng”, “thu nhập bình quân của nhân viên”, “lạm phát”, “tốc độ tăng trưởng GDP”.
Dữ liệu nghiên cứu được tác giả thu thập từ những nguồn đang tin cậy và được xử lý bằng Microsoft Excel, sau đó dữ liệu được phân tích bằng phần mềm Stata17. Kết quả phân tích sẽ đưc thông kê mô tả, phân tích tương quan giữa các biến độc lập, lựa chọn mô hình phù hơp, sau đó kiểm định các khuyết tật của mô hình và khắc phục nó. Kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày ở chương tiếp theo. Luận văn: PPNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: PPNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH […]