Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi của ngân hàng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
4.1. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu và xét tính tương quan của các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu
4.1.1. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu
Dựa trên việc thu thập số liệu của 24 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2013 – 2024 thì tình hình biến động của tỷ lệ Thu nhập lãi cận biên (NIM) được biểu diễn bằng
Nhìn chung tình hình NIM từ năm 2013 – 2024 của hệ thống NHTM Việt Nam được đại diện bởi 24 ngân hàng thì ta thấy trong giai đoạn này NIM có xu hướng tăng trưởng từ 9,15% năm 2013 tăng đến 15,17% năm 2024. Trong đó từ năm 2013 – 2017 thì NIM có xu hướng giảm từ 9,15% xuống còn 6,19% nguyên nhân đến từ việc trong giai đoạn này thì NHNN có xu hướng siết quy định về tín dụng của các NHTM vì nợ xấu và nợ quá hạn qua các năm này có xu hướng gia tăng. Do đó, các NHTM buộc phải thu hẹp dư nợ tín dụng và giảm lợi nhuận lớn từ hoạt động này. Sau đó bắt đầu từ năm 2018 đến năm 2023 thì NIM tăng mạnh đến 15,20%, mặc dù năm 2022 và 2023 dù có đại dịch Covid 19 nhưng NIM vẫn có xu hướng tăng trưởng do các NHTM Việt Nam vẫn gia tăng được dư nợ tín dụng trong giai đoạn để hỗ trợ cho các khách hàng vượt qua giai đoạn khó khăn của nền kinh tế do đó vẫn thu được lợi nhuận lợi. Mặt khác, trong giai đoạn này các NHTM Việt Nam tăng cường mở rộng hoạt động đa dạng hóa thu nhập để thu được nhiều lợi nhuận hơn nữa. Tuy nhiên, đến năm 2024 thì NIM lại có xu hướng giảm nhẹ so với năm 2023 chỉ đạt tỷ lệ 15,17%.
Bảng 4.1: Kết quả thống kê mô tả mẫu nghiên cứu các biến từ năm 2013 đến năm 2024
| Biến | Trung bình | Độ lệch chuẩn | Giá trị nhỏ nhất | Giá trị lớn nhất |
| NIM | 10,16% | 8,69% | 0,69% | 26,82% |
| SIZE | 32,7717 | 1,2428 | 30,3178 | 35,5263 |
| CEA | 8,91% | 3,90% | 2,69% | 23,84% |
| ME | 1,70% | 0,54% | 0,42% | 5,20% |
| CAR | 13,471 | 2,677 | 5,578 | 22,301 |
| LLR | 2,15% | 1,30% | 0,34% | 8,81% |
| DIVER | -56,88% | 14,6410 | -24815,87% | 49,99% |
| GDP | 5,85% | 1,57% | 2,58% | 8,02% |
| CPI | 4,98% | 4,64% | 0,63% | 18,68% |
Nguồn: Kết quả tính toán từ phần mềm STATA 14.0 Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi của ngân hàng.
NIM thì giá trị trung bình à 10,16% và độ lệch chuẩn 8,69% thì cho thấy sự khác biệt của các NHTM trên mẫu tổng thể có thể chênh lệch nhau nhiểu. Ngoài ra thì NIM nhỏ nhất là 0,69% của TPB năm 2013 và lớn nhất là 26,82% của ACB năm 2013.
Quy mô NH (SIZE) thì giá trị Log(Tổng tài sản) với giá trị trung bình là 32,7717 với độ lệch chuẩn là 1,2428 cho thấy các NHTM không có sự khác biệt quá lớn với nhau. Trong đó, giá trị nhỏ nhất của SIZE là 30,3178 của SGB năm 2015 và giá trị lớn nhất là 35,5263 của BIDV năm 2024. Ngoài ra, thì các NHTM có sở hữu của Nhà nước như VCB, AGB, CTG cũng có giá trị quy mô tổng tài sản lớn nhất trong hệ thống qua các năm.
Tỷ lệ đòn bẩy tài chính (CEA) thì giá trị trung bình là 8,91% với độ lệch chuẩn là 3,91% cho thấy mức chênh lệch của các NHTM trong hệ thống khá lớn đối với đòn bẩy tài chính. Trong đó, giá trị nhỏ nhất là 2,69% của SCB năm 2022 và lớn nhất là 23,83% của SGB năm 2015.
Tỷ lệ hiệu quả quản lý (ME) thì giá trị trung bình là 1,7% và độ lệch chuẩn là 0,54% cho thấy mức chênh lệch của các NHTM trong hệ thống không lớn đối với hiệu quả quản lý. Trong đó, giá trị nhỏ nhất là 0,42% của SCB năm 2013 và giá trị lớn nhất là 5,20% của TPB năm 2013.
Hệ số an toàn vốn (CAR) thì giá trị trung bình là 13,471 và độ lệch chuẩn là 2,677 cho thấy mức chênh lệch của các NHTM trong hệ thống không lớn đối với hệ số an toàn vốn. Trong đó, giá trị nhỏ nhất là 5,578 của MSB năm 2016 và giá trị lớn nhất là 22,301 của VPB năm 2014.
Tỷ lệ dự phòng Rủi ro tín dụng (LLR) thì giá trị trung bình là 15% với độ lệch chuẩn là 1,3% cho thấy các NHTM không có sự khác biệt quá lớn với nhau. Trong đó giá trị nhỏ nhất là 0,34% của SCB năm 2017 và giá trị lớn nhất là 8,81% của SHB năm 2014.
Đa dạng hóa thu nhập (DIVER) thì giá trị trung bình là -56,88% với độ lệch chuẩn là 14,64% và giá trị nhỏ nhất là 24815,9% của TPB năm 2013, giá trị lớn nhất là 49,99% của MSB năm 2016.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) trung bình mỗi năm là 5,85% từ 2013 – 2024 với độ lệch chuẩn là 1,57% trong đó năm 2023 là tỷ lệ thấp nhất với 2,58% và tỷ lệ thấp nhất 8,02% vào năm 2024. Tỷ lệ lạm phát (CPI) có giá trị trung bình mỗi năm là 4,98% với độ lệch chuẩn là 4,64% trong đó năm 2017 với tỷ lệ thấp nhất là 0,63% và năm 2013 với tỷ lệ cao nhất là 18,68%.
4.1.2. Phân tích sự tương quan của các biến độc lập trong mô hình
Để phân tích sự tương quan của các biến độc lập trong mô hình thì ta dựa trên kết quả của ma trận sau:
Bảng 4.2: Ma trận hệ số tương quan của các biến độc lập Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi của ngân hàng.
| SIZE | CEA | ME | CAR | LLR | DIVER | GDP | CPI | |
| SIZE | 1,0000 | |||||||
| CEA | -0,6185 | 1,0000 | ||||||
| ME | -0,2922 | 0,4175 | 1,0000 | |||||
| CAR | 0,1569 | 0,1369 | 0,1553 | 1,0000 | ||||
| LLR | -0,2379 | 0,1616 | 0,1098 | 0,0027 | 1,0000 | |||
| DIVER | 0,0945 | 0,0331 | -0,3857 | 0,1031 | 0,0666 | 1,0000 | ||
| GDP | -0,0203 | -0,0345 | 0,0324 | -0,0297 | -0,0270 | -0,0154 | 1,0000 | |
| CPI | -0,2519 | 0,1738 | 0,0556 | -0,0060 | 0,2529 | -0,1776 | 0,0389 | 1,0000 |
Nguồn: Kết quả tính toán từ phần mềm STATA 14.0
Bảng 4.2 mô tả hệ số tương quan là hệ số được dùng để chỉ mối quan hệ giữa các biến được sử dụng trong mô hình. Kết quả phân tích ma trận tự tương quan giữa các biến trong 2 mô hình cho thấy, không có hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng giữa các cặp biến độc lập xuất hiện trong mô hình, không có cặp biến nào có hệ số tự tương quan lớn hơn 0,8.
4.2. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi của ngân hàng.
4.2.1. Kết quả mô hình hồi quy đa biến
Để đánh giá tác động của các nhân tố nội tại ngân hàng và vĩ mô nền kinh tế đến tỷ lệ Thu nhập lãi cận biên (NIM) của các NHTM Việt Nam đại diện bởi 24 NHTM.
Kết quả được trình bày dưới bảng 4.3 như sau:
Bảng 4.3: Tổng hợp kết quả hồi quy Pooled OLS, FEM và REM
| Biến số |
Biến phụ thuộc NIM2 |
||
| OLS | FEM | REM | |
| SIZE | 0,024*** | 0,0577*** | 0,0343*** |
| CEA | -0,0046 | -0,0069 | -0,0034 |
| ME | 3,729*** | 1,507 | 1,819* |
| CAR | 0,0051*** | 0,0046*** | 0,0053*** |
| LLR | -1,427*** | -0,091*** | -0,951*** |
| DIVER | 0,0043*** | 0,0040*** | 0,0041*** |
| GDP | 1,297** | -0,257 | 0,868 |
| CPI | 0,455*** | 0,518*** | 0,456*** |
| Biến số | Biến phụ thuộc NIM2 | ||
| OLS | FEM | REM | |
| COVID | 0,0766*** | -0,0005 | 0,0541** |
| cons | -0,895*** | -1,865*** | -1,183*** |
| R-square | 69,56% | 79,23% | 78,48% |
| Với *, **, *** tương ứng mức ý nghĩa thống kê là 10%, 5%, 1% | |||
Nguồn: Kết quả tính toán từ phần mềm STATA 14.0
Giai đoạn 2013 – 2024 có xuất hiện đại dịch Covid 19 thì các nhân tố tác động đến NIM quy mô ngân hàng (SIZE), hệ số an toàn vốn (CAR), tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR), đa dạng hóa thu nhập (DIVER), tỷ lệ lạm phát (CPI) có ý nghĩa thống kê là 1%, 5%. Ngoài ra tỷ lệ chi phí hoạt động (ME) có ý nghĩa thống kê tác động tại mô hình Pooled OLS và REM với mức ý nghĩa 1% và 10% nhưng lại không có ý nghĩa với mô hình FEM. Hai biến đòn bẩy tài chính (CEA) và tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) không có ý nghĩa thống kê tác động đến NIM. Biến COVIS có ý nghĩa thống kê tại mô hình Pooled OLS và REM với mức ý nghĩa 5% và 1%. Nhìn chung, các biến số trong mô hình nghiên cứu đều chiều tác động tương đồng nhau, do đó có sự tin cậy để thực hiện các kiểm định tiếp theo.
4.2.2. So sánh sự phù hợp giữa mô hình tác động cố định FEM và mô hình tác động ngẫu nhiên REM Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi của ngân hàng.
Để lựa chọn mô hình thích hợp để nghiên cứu hơn giữa mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), tác giả sử dụng kiểm định Hausman. Giả thuyết kiểm định H0 là không có tương quan giữa các biến độc lập và phần dư (mô hình REM phù hợp); Giả thuyết H1 là có tương quan giữa các biến các biến độc lập và phần dư (mô hình FEM phù hợp)
Bảng 4.4: Kết quả kiểm định sự phù hợp của mô hình FEM và REM
| Đối với biến phụ thuộc NIM |
| Test: Ho: difference in coefficients not systematic |
| chi2(6) = (b-B)'[(V_b-V_B)^(-1)](bB) = 35,12 Prob>chi2 = 0,0870 |
| Giá trị P – value là 0,087 cao hơn 0,05 nên chấp nhận H0 bác bỏ H1. Hay nói cách khác mô hình REM phù hợp nghiên cứu hơn |
Nguồn: Kết quả tính toán từ phần mềm STATA 14.0
Dựa trên kết quả 4.4 ta thấy rằng kiểm định Hausman để so sánh sự phù hợp giữa mô hình FEM và REM thì kết quả cho thấy mô hình REM phù hợp hơn FEM. Mặt khác, trong 3 mô hình tác động thì mô hình FEM, REM có tính vững hơn mô hình Pooled OLS, do đó, kết quả kiểm định này ủng hộ cho việc chọn REM để thực hiện các kiểm định tiếp theo về khuyết tật của mô hình.
4.2.3. Kiểm định các khuyết tật của mô hình
Tại đây sẽ tiến hành kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan của mô hình REM
4.2.3.1. Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi
Giả thuyết của kiểm định H0 là Không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi trong mô hình; giả thuyết H1 là có hiện tượng phương sai sai số thay đổi trong mô hình Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi của ngân hàng.
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi của mô hình tác động cố định FEM
| Đối với biến phụ thuộc là NIM |
| H0: sigma(i)^2 = sigma^2 for all i |
| chi2 (30) = 215,39 |
| Prob>chi2 = 0,0000 |
| Prob>chi2 = 0,0000 thấp hơn 0,05 vì vậy ta bác bỏ H0 chấp nhận H1 hay đã có xảy ra hiện tượng phương sai thay đổi trong mô hình REM. |
Nguồn: Kết quả tính toán từ phần mềm STATA 14.0
Dựa trên kết quả bảng 4.5 ta thấy rằng mô hình REM đều gặp khuyết tật phương sai thay đổi trong mô hình.
4.2.3.2. Kiểm định hiện tượng tự tương quan
Giả thuyết của kiểm định H0 là không có hiện tượng tự tương quan trong mô hình. Giả thuyết H1 là có hiện tượng tự tương quan trong mô hình.
Bảng 4.6: Kết quả kiểm định hiện tượng tự tương quan
| Đối với biến phụ thuộc là NIM |
| Modified Wald test for groupwise heteroskedasticity |
| H0: no first order autocorrelation chi2 (24) = 75,716 Prob>chi2 = 0.0000 |
| Prob>chi2 = 0,0000 thấp hơn 0,05 vì vậy ta bác bỏ H0 chấp nhận H1 hay đã có xảy ra hiện tượng tự tương quan trong mô hình REM. |
Nguồn: Kết quả tính toán từ phần mềm STATA 14.0
Dựa trên kết quả bảng 4.6 ta thấy rằng mô hình REM gặp khuyết tật phương sai thay đổi trong mô hình.
4.2.3.3. Khắc phục các khuyết tật của mô hình được lựa chọn
Sau quá trình thực hiện các kiểm định nhằm phát hiện các khuyết tật phương sai thay đổi và tự tương quan của mô hình thì tiếp đó cần phải khắc các hiện tượng này để thu được kết quả hồi quy cuối cùng theo phương pahsp FGLS.
Kết quả được trình bày dưới bảng sau: Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi của ngân hàng.
Bảng 4.7: Kết quả ước lượng mô hình bằng phương pháp FGLS
| Biến độc lập |
Biến phụ thuộc NIM2 |
||
| Hệ số hồi quy | Sai số chuẩn | Giá trị P-value | |
| SIZE | 0,0284*** | 0,0039 | 0,000 |
| CEA | 0,0611 | 0,1071 | 0,569 |
| ME | 2,269*** | 0,6108 | 0,000 |
| CAR | 0,0047*** | 0,0012 | 0,000 |
| LLR | -1,041*** | 0,1620 | 0,000 |
| DIVER | 0,0040*** | 0,0001 | 0,000 |
| GDP | 0,108 | 0,3366 | 0,749 |
| CPI | 0,363*** | 0,0500 | 0,000 |
| COVID | 0,0126 | 0,0164 | 0,441 |
| Cons | -0,943*** | 0,1270 | 0,000 |
| Số quan sát | 288 | ||
| Wald chi2(8) | 941,05 | ||
| Prob > chi2 | 0,0000 | ||
| Với *, **, *** tương ứng mức ý nghĩa thống kê là 10%, 5%, 1% | |||
Nguồn: Kết quả tính toán từ phần mềm STATA 14.0 Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi của ngân hàng.
Sau khi sử dụng FGLS để khắc phục hiện tượng tự tương quan và phương sai sai số thay đổi, mô hình có ý nghĩa ở mức ý nghĩa 1% (do Prob =0,0000) nên mô hình hồi quy được xây dựng là phù hợp. NIM ảnh hưởng cùng chiều với các yếu tố đó là quy mô NH (SIZE); tỷ lệ chi phí hoạt động (ME); hệ số an toàn vốn (CAR); tỷ lệ đa dạng hóa thu nhập (DIVER); tỷ lệ lạm phát (CPI) với mức ý nghĩa thống kê 1% và tỷ lệ dự phòng Rủi ro tín dụng (LLR) có ảnh hưởng ngược chiều với NIM với mức ý nghĩa thống kê 1%. Kết quả mô hình hồi quy sau khi khắc phục bằng phương pháp FGLS như sau:
NIM = -0,943 + 0,0284*SIZE+ 2,269*ME + 0,0047*CAR – 1,041*LLR + 0,0040*DIVER + 0,363*CPI
Bảng 4.8: Tóm tắt kết quả nghiên cứu
| Biến độc lập | NIM | |||
| Giả thuyết | Kết quả nghiên cứu | |||
| Kỳ vọng dấu | Kết quả | P-value | Mức ý nghĩa | |
| SIZE | + | + | 0,000 | Có ý nghĩa thống kê |
| CEA | + | + | 0,569 | Không có ý nghĩa thống kê |
| ME | – | + | 0,000 | Có ý nghĩa thống kê |
| CAR | + | + | 0,000 | Có ý nghĩa thống kê |
| LLR | – | – | 0,000 | Có ý nghĩa thống kê |
| DIVER | + | + | 0,000 | Có ý nghĩa thống kê |
| GDP | + | – | 0,749 | Không có ý nghĩa thống kê |
| CPI | – | + | 0,000 | Có ý nghĩa thống kê |
| R2 | 78,48% | |||
Nguồn: Kết quả tính toán từ phần mềm STATA 14.0
Dựa trên kết quả bảng 4.8 thì hệ số xác định của mô hình REM với biến phụ thuộc NIM là 78,48% hay nói cách khác các biến có ý nghĩa thống kê tác động đến NIM bao gồm SIZE, ME, CAR, LLR, DIVER, CPI có thể giải thích được 78,48% sự thay đổi của NIM trong giai đoạn 2013 – 2024. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi của ngân hàng.
Hệ số tương quan của quy mô ngân hàng (SIZE) đối với NIM là 0,0284 với mức ý nghĩa thống kê 1% có nghĩa là quy mô NH có ảnh hưởng tích cực đến tỷ lệ Thu nhập lãi cận biên của NHTM Việt Nam trong giai đoạn năm 2013 – 2024. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Linh và Nguyễn Thị Ngọc Hương (2017); Nguyễn Thị Diễm Hiền và Nguyễn Hồng Hạt (2018); San và cộng sự (2015); Were và Wambua (2016); Rahman và cộng sự (2017); Islam và Nishiyama (2018); Homaidi và cộng sự (2020). Vì vậy chấp nhận giả thuyết H1.
Hệ số tương quan của đòn bẩy tài chính (CEA) đối với NIM là 0,0611 tuy nhiên P – value lại lớn hơn 5% điều này có nghĩa là đòn bẩy tài chính không ảnh hưởng đến tỷ lệ Thu nhập lãi cận biên của NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2013 – 2024. Vì vậy bác bỏ giả thuyết H2.
Hệ số tương quan của tỷ lệ chi phí hoạt động (ME) đối với NIM là 2,269 với mức ý nghĩa thống kê 1% có nghĩa là tỷ lệ chi phí hoạt động có ảnh hưởng tích cực đến tỷ lệ Thu nhập lãi cận biên của NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2013 – 2024. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Were và Wambua (2016). Vì vậy bác bỏ giả thuyết H3.
Hệ số tương quan của hệ số an toàn vốn (CAR) đối với NIM là 0,0047 với mức ý nghĩa thống kê 1% có nghĩa là hệ số an toàn vốn có ảnh hưởng tích cực đến tỷ lệ Thu nhập lãi cận biên của NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2013 – 2024. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Islam và Nishiyama (2018). Vì vậy chấp nhận giả thuyết H4.
Hệ số tương quan của tỷ lệ dự phòng Rủi ro tín dụng (LLR) đối với NIM lần lượt là -1,041 với mức ý nghĩa thống kê 1% có nghĩa là tỷ lệ dự phòng Rủi ro tín dụng có ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ lệ Thu nhập lãi cận biên của NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2013 – 2024. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của San và cộng sự (2015); Nguyễn Thị Mỹ Linh và Nguyễn Thị Ngọc Hương (2017). Vì vậy chấp nhận giả thuyết H5.
Hệ số tương quan của tỷ lệ đa dạng hóa thu nhập (DIVER) đối với NIM là 00,0400 với mức ý nghĩa thống kê 1% có nghĩa là đa dạng hóa thu nhập có ảnh hưởng tích cực đến tỷ lệ Thu nhập lãi cận biên của NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2013 – 2024. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Al-Homaidi và cộng sự (2022).
- Vì vậy chấp nhận giả thuyết H6.
Hệ số tương quan của tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) đối với NIM là 0,108 tuy nhiên P – value lại lớn hơn 5% điều này có nghĩa là tốc độ tăng trưởng kinh tế không ảnh hưởng đến tỷ lệ Thu nhập lãi cận biên của NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2013 – 2024. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của San và cộng sự (2015).
- Vì vậy bác bỏ giả thuyết H7.
Hệ số tương quan của tỷ lệ lạm phát (CPI) đối với NIM là 0,363 với mức ý nghĩa thống kê 1% có nghĩa là tỷ lệ lạm phát có ảnh hưởng tích cực đến tỷ lệ Thu nhập lãi cận biên của NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2013 – 2024. Vì vậy bác bỏ giả thuyết H8.
Hệ số tương quan của đại dịch Covid – 19 (COVID) đối với NIM là 0,0126 tuy nhiên P – value lại lớn hơn 5% điều này có nghĩa là đại dịch Covid 19 không ảnh hưởng đến tỷ lệ Thu nhập lãi cận biên của NHTM Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2013 – 2024. Vì vậy bác bỏ giả thuyết H9.
4.3. Thảo luận kết quả nghiên cứu Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi của ngân hàng.
Đối với quy mô NH (SIZE) thì hệ số tương quan là thể hiện sự ảnh hưởng cùng chiều với NIM, ta có thể thấy rằng “trong hoạt động của NHTM Việt Nam thì quy mô NH là một trong những yếu tố khẳng định được vị thế của NHTM trong thị trường, nó còn thể hiện năng lực cạnh tranh của NHTM trong hệ thống NH. Vì vậy, khi quy mô càng lớn thì các NHTM càng tham vọng muốn kiếm được lợi nhuận nhiều hơn vì thế sẽ tích cực gia tăng hoạt động tín dụng.” Mặt khác, LN thu được sẽ làm cơ sở để gia tăng quy mô NH. Dựa trên thực tế của các NHTM Việt Nam từ 6/2021 – 6/2022 vào thời điểm cuối năm 2021 thì tổng TS của các NHTM Việt Nam tăng 12,5% so với năm 2020 và tăng trưởng tín dụng là 17,09% so với năm 2020. Tương tự 6/2022 theo thống kê thì quy mô các NHTM Việt Nam tăng 13,05% so với cùng kỳ năm 2023 và tốc độ tăng trưởng tín dụng có phần chậm hơn 2021 nhưng vẫn ở mức 8,5% (Vũ Phong, 2024). Điều này cho thấy, các NHTM Việt Nam đang có tham vọng mở rộng quy mô NH thông qua LN của hoạt động tín dụng, hàng loạt các hoạt động giảm nhiệt với lãi suất cho vay và điều chỉnh tăng tỷ lệ lãi suất huy động nhằm thu hút khách hàng gửi cũng như vay tiền. Vì vậy, quy mô ngân hàng và thu nhập có mối quan hệ mật thiết tại thị trường ngân hàng Việt Nam.
Đối với đòn bẩy tài chính (CEA) thì hệ số tương quan thể hiện sự ảnh hưởng tích cực với NIM nhưng lại không ý nghĩa thống kê hay nói cách khác không ảnh hưởng đến NIM, điều này được luận giải trong giai đoạn 2013 – 2024 các NHTM Việt Nam gia tăng VCSH để mở rộng quy mô NH và gia tăng cho vay cũng như đầu tư vào các hạng mục. Nhưng trong giai đoạn này tình hình kinh tế ngoài việc bị NHNN siết chặt quy định về tín dụng, không tăng trưởng tốt và các sự suy thoái từ đại dịch kéo theo, nên việc huy động VCSH tạo ra cơ hội đầu tư cho NHTM nhưng với các chính sách hay chiến lược thiếu hợp lý hay tín hiệu thị trường không ổn định nên thật sự không đem lại LN nhiều cho NHTM từ kênh huy động này.
Đối với tỷ lệ chi phí hoạt động (ME) có tương quan dương với NIM hay ảnh hưởng cùng chiều với NIM, điều này đã luận giải cho việc các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2013 – 2024 đã có sự quản lý tốt trong việc kìm chế sự lãng phí chi phí hoạt động hay việc đầu tư các loại chi phí nhưng sử dụng kém hiệu quả ảnh hưởng đến việc tổng kết LN trên bảng Cân đối kế toán. Mặt khác, ta có thể thấy rằng với sức ép cạnh tranh của các NHTM trong giai đoạn này thì buộc các tổ chức cần phải bỏ ra các loại chi phí nhằm gia tăng khả năng tiếp cận nhiều hơn nữa để tiếp cận được khách hàng hay mở rộng cơ hội đầu tư kinh doanh, từ đó mời đem lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi của ngân hàng.
Đối với hệ số an toàn vốn (CAR) có hệ số tương quan cùng chiều với NIM hay nói cách khác hệ số này càng được duy trì cao thì tỷ lệ Thu nhập lãi cận biên của NHTM càng tăng. Điều này có nghĩa là các NHTM càng duy trì tỷ lệ này tốt trong các thời kì tăng trưởng hoặc khó khăn của NHTM sẽ tạo ra điều kiện cho HĐKD được đảm bảo để chống chọi với những rủi ro của thị trường, hay nói cách khác nếu NHTM có quá nhiều nợ xấu hay nợ quá hạn thì các NHTM vẫn đủ sức để tạo ra cơ hội tăng trưởng trong HĐKD của mình nhờ thanh khoản tốt nhằm đi mở rộng việc đầu tư các kênh sinh lời khác.
Đối với tỷ lệ dự phòng Rủi ro tín dụng (LLR) có hệ số tương quan ngược chiều với NIM điều này có nghĩa là các NHTM không nên để tỷ lệ này quá cao sẽ ảnh hưởng xấu đến LN của NHTM. Kết quả này cũng thể hiện đúng theo Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric CPIormation) của Akerlof (1970). Theo đó, việc các NHTM có sự khập khễnh trong việc nắm bắt thông tin khách hàng hay thị trường có thể dẫn đến sự gia tăng nợ xấu, buộc các NHTM Việt Nam phải trích lập dự phòng Rủi ro tín dụng để bảo hiểm cho cho các khoản nợ này, từ đó giảm hiệu quả HĐKD cũng như LN của các NHTM Việt Nam.
Đối với đa dạng hóa thu nhập (DIVER) có hệ số tương quan cùng chiều với NIM hay nói cách khác hệ số này càng được duy trì cao thì tỷ lệ Thu nhập lãi cận biên của NHTM càng tăng. Điều này có nghĩa là thị trường kinh tế hiện nay đang theo xu hướng phát triển bùng nổ với cách mạng công nghiệp 4.0, các NHTM dần có xu hướng tái cơ cấu các HĐKD truyền thống tín dụng chuyển sang các hình thức như ngân hàng điện tử, bảo hiểm hay các kênh đầu tư khác. Các hoạt động đa dạng hóa này giúp NHTM phân tán được rủi ro từ nợ xấu hay nợ quá hạn và thu được các khoản phí dịch vụ. Từ đó, góm phần làm gia tăng thu nhập của NHTM.
Đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến tỷ lệ Thu nhập lãi cận biên của NHTM, điều này luận giải cho việc nếu các NHTM Việt Nam có hoạt động trong môi trường có tốc độ tăng trưởng tốt nhưng các chiến lược kinh doanh không hiệu quả thì cũng chắc chắn được việc thu nhập được phát triển tốt, hay các hoạt động tạo ra sự cạnh tranh của NHTM hông được cải thiện thì cũng không tạo được bước đệm để các NHTM phát triển hoạt động lẫn cải thiện TN của mình.
Đối với tỷ lệ lạm phát (CPI) có hệ số tương quan cùng chiều với NIM hay nói cách khác lạm phát không phải lúc nào cũng ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế. Nếu nền kinh tế giữ được lạm phát ở mức ổn định và có thể kiểm soát, thì khả năng cho vay sẽ mở rộng, lợi nhuận ngân hàng tăng và giúp các ngân hàng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Về lạm phát, tỷ lệ cao hơn dẫn đến kỳ vọng lạm phát cao hơn và kết quả là phần bù rủi ro lạm phát lớn hơn đối với các khoản vay. Bởi vì các ngân hàng, giống như các nhà đầu tư, sẽ có xu hướng tăng lãi suất cho vay để phản ứng với lạm phát gia tăng và điều này làm tăng thu nhập của các NHTM.
Đối với đại dịch Covid 19 (COVID) có hệ số tương quan cùng chiều với NIM nhưng lại không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến NIM. Điều này có thể lý giải thông qua việc đại dịch xuất hiện trong vòng hai năm 2022 – 2023 nên mức độ ảnh hưởng vẫn chưa đủ đến tỷ lệ Thu nhập lãi cận biên của NHTM. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi của ngân hàng.
TÓM TẮT CHƯƠNG 4
Trong chương này tác giả đã tiến hành xử lý số liệu thu thập được của 24 NHTM Việt Nam từ năm 2013 – 2024. Thông qua thống kê mô tả mẫu nghiên cứu, đánh giá thình hình chung của NIM. Tiếp đó, hồi quy dữ liệu theo ba mô hình Pooled OLS, FEM, REM. Tác giả đã tiến hành đo lường sự phù hợp của 3 mô hình này thì mô hình tác động cố định REM là phù hợp sau đó tác giả tiến hành kiểm định các khuyết tật và khắc khục các khuyết tật này để ra được kết quả mô hình cuối cùng. Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến số quy mô NH, tỷ lệ chi phí hoạt động, hệ số an toàn vốn, đa dạng hóa thu nhập và tỷ lệ lạm phát có ảnh hưởng cùng chiều với NIM, ngược lại, tỷ lệ dự phòng Rủi ro tín dụng có ảnh hưởng ngược chiều với NIM. Từ kết quả này tác giả tiến hành thảo luận kết quả nghiên cứu và kết luận giả thuyết thống kê đồng thời định hướng các hàm ý chính sách cho chương 5 tiếp theo.
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH
5.1. Kết luận
Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy trên dữ liệu bảng nhằm tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ Thu nhập lãi cận biên của NHTM Việt Nam. Sử dụng biến phụ thuộc đại diện cho tỷ lệ Thu nhập lãi cận biên của các NHTM Việt Nam đó là NIM, các biến độc lập được sử dụng bao gồm các yếu tố bên trong ngân hàng và yếu tố bên ngoài. Dữ liệu ngân hàng được thu thập từ Báo cáo tài chính của 24 NHTM Việt Nam từ năm 2013 đến năm 2024 và dữ liệu vĩ mô được thu thập từ ADB Indicator và Tổng Cục Thống kê.
Luận văn đã đạt được mục tiêu nghiên cứu tổng quát và các mục tiêu nghiên cứu cụ thể đã đề ra trong chương 1 là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ Thu nhập lãi cận biên của NHTM Việt Nam và dựa vào đó đề xuất các hàm ý chính sách tại chương này. Đồng thời, trong nghiên cứu này tác giả đã chia dữ liệu nghiên cứu thành hai giai đoạn để xử lý số liệu đó là 2013 – 2021 và 2013 – 2024 để tìm sự khác biệt giữa hai giai đoạn có và không có đại dịch Covid 19. Kết quả nghiên cứu của mô hình FGLS cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ Thu nhập lãi cận biên của NHTM đã làm rõ các biến có ý nghĩa thống kê và có ảnh hưởng cùng chiều đến NIM của trong giai đoạn 2013 – 2021 và 2013 – 2024 là quy mô NH (SIZE), hiệu quả quản lý (ME), hệ số an toàn vốn (CAR), đa dạng hóa thu nhập (DIVER) và tỷ lệ lạm phát (CPI). Trong khi đó biến tỷ lệ dự phòng Rủi ro tín dụng (LLR) có tác động ngược chiều. Biến đòn bẩy tài chính (CEA) tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) thì không có ý nghĩa thống kê về sự ảnh hưởng đến tỷ lệ Thu nhập lãi cận biên của NHTM Việt Nam.
Trong đó, hệ số tương quan ảnh hưởng lớn nhất đến NIM là của biến số tỷ lệ chi phí hoạt động đó là 2,176 điều này cho thấy khi các NHTM muốn có nhiều lợi nhuận thì cần phải có công tác quản lý chi phí thật hiệu quả, hay việc bỏ ra chi phí lớn không hẳn sẽ làm cho LN của NHTM giảm, nếu các NHTM sử dụng các chi phí đó để tiếp cận được khách hàng hay tăng cơ hội đầu tư thì sẽ làm cho Thu nhập lãi cận biên tăng lên đột biến. Tiếp đó là hệ số tương quan của tỷ lệ dự phòng Rủi ro tín dụng đến NIM là -1,0710 điều này cho thấy hoạt động tín dụng vẫn là quan trọng và đem lại LN cao nhất cho ngân hàng nên rủi ro đến từ hoạt động này vẫn sẽ đe doạ nhiều nhất đến việc suy giảm Thu nhập lãi cận biên của NHTM Việt Nam.
5.2. Hàm ý chính sách Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi của ngân hàng.
5.2.1. Mở rộng quy mô ngân hàng
Theo như kết quả nghiên cứu, quy mô NH ảnh hưởng cùng chiều và thể hiện tích cực đến tỷ lệ Thu nhập lãi cận biên của các NHTM Việt Nam. Điều này đồng nghĩa với việc quy mô ngân hàng càng được mở rộng thì tỷ lệ Thu nhập lãi cận biên càng tăng. Một số kiến nghị của tác giả được đưa ra như sau:
Các NHTM có thể mở rộng quy mô bằng việc mở rộng mạng lưới hoạt động như tăng số lượng chi nhánh ngân hàng hay các phòng giao dịch ở các vị trí đắc địa như khu dân cư có mật độ dân số cao hay các khu công nghiệp tập trung để thu hút và tiếp cận đến khách hàng. Tuy nhiên để có thể thành lập chi nhánh ngân hàng thì các ngân hàng cần đáp ứng những yêu cầu liên quan đến việc các NHTM phải được kiểm toán, kiểm soát theo yêu cầu, đảm bảo các tỷ lệ an toàn trong hoạt động ngân hàng, phân loại nợ trích lập dự phòng theo quy định và tỷ lệ nợ xấu dưới 3% (21/2015/TT-NHNN) Bên cạnh đó, số lượng các chi nhánh tập trung đa số ở các thành phố phát triển, tuy nhiên ở các tỉnh và thành phố nhỏ lẻ chỉ có ít các NHTM tập trung. Vì vậy, cần có những chính sách để mở rộng quy mô một cách tối ưu vì nhu cầu của người dân khắp cả nước ngày một tăng cao.
Quy mô càng lớn “thì càng giúp các NHTM hoạt động kinh doanh tốt hơn nhưng đi đôi với đó là rủi ro về nguồn vốn và năng lực để duy trì hoạt động của các NHTM. Các chi phí hoạt động phát sinh trong quá trình ngân hàng mở rộng quy mô như chi phí mặt bằng, nhân lực,… ảnh hưởng đến LN của NHTM. Vì vậy, các NHTM cần nâng cao năng lực quản lý,” đẩy mạnh phát triển công nghệ và dựa vào nguồn vốn của từng ngân hàng để tăng quy mô một cách hợp lý.
Các NHTM có thể tăng tổng tài sản NH bằng cách nâng cao chất lượng dịch vụ, tích hợp nhiều tiện ích của các sản phẩm để khách hàng có thể lựa chọn sử dụng. Ngoài ra, các NHTM cần đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ của mình để tạo thêm nhiều cơ hội tiếp cận khách hàng Từ đó, số lượng khách hàng đến với NH cũng ngày một tăng, kéo theo doanh thu của NH của dần được ổn định. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi của ngân hàng.
5.2.2. Quản lý chi phí hoạt động
Theo như kết quả nghiên cứu, chi phí hoạt động có ảnh hưởng tích cực đến tỷ lệ Thu nhập lãi cận biên của các NHTM. Điều này phản ánh chi phí hoạt động là một mối quan tâm trên hết đối với các NHTM trong môi trường cạnh tranh khó khăn như hiện nay. Các NHTM muốn đạt lợi nhuận tốt thì cần phải cắt giảm bớt chi phí hoạt động. Tuy nhiên chi phí hoạt động gồm rất nhiều chi phí như chi phí lương nhân viên, chi phí công nghệ, chi các hoạt động khác,… nên vấn đề cắt giảm bớt các chi phí hoạt động cũng không phù hợp. Nếu như tình trạng chi phí hoạt động cao xảy ra, NHTM cũng cần phải tìm hiểu nguyên nhân, hiểu rõ vấn đề, đề xuất và thực hiện các biện pháp để khắc phục. Một số khuyến nghị của tác giả đưa ra như sau:
Thứ nhất, việc phát triển công tác trong việc quản lý nên được chú trọng và nâng cao, song song đó là NHTM nên tuyển dụng nguồn nhân sự có tiềm năng. Bên cạnh đó, các buổi đào tạo nâng cao cho nhân viên cần được tổ chức và phổ biến rộng rãi, việc này giúp cho hệ thống nhân lực của NHTM được phát triển, trình độ chuyên môn của nhân viên tăng cao. Vấn đề lương thưởng của nhân viên cũng nên cải thiện để giúp khuyến khích nhân viên hoạt động năng suất. Việc hiệu suất và chất lượng hoạt động của nhân viên tăng cao cũng giúp cho ngân hàng hoạt động một cách hiệu quả và đạt được những mục tiêu đề ra.
Thứ hai, việc đẩy mạnh công nghệ thông tin như mở dịch vụ NH số, Internet Banking,…sẽ giúp cho các bước thực hiện các giao dịch nhanh chóng hơn, cắt giảm bớt các thao tác và giúp khách hàng tiết kiệm thời gian khi giao dịch. Một số sản phẩm, dịch vụ của NHTM sẽ được quảng bá đến khách hàng dễ dàng hơn khi hệ thống công nghệ cao được đưa vào sử dụng. Từ đó giúp thu hút và tạo độ tin cậy lớn đối với khách hàng vì sự tiện lợi và nhanh chóng, giúp tăng số lượng khách hàng và NHTM thu được nguồn lợi nhuận ổn định.
5.2.3. Đảm bảo hệ số an toàn vốn
Theo như kết quả nghiên cứu, hệ số an toàn vốn có ảnh hưởng tích cực đến tỷ lệ Thu nhập lãi cận biên của các NHTM. Việc nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản cao sẽ giúp ngân hàng giảm thiểu được rủi ro thanh khoản và các NHTM không phải chịu áp lực từ việc huy động vốn. Các NHTM nên xem xét lại tỷ lệ nắm giữ tài sản thanh khoản và phân bổ tài sản hợp lý. Đây là việc rất quan trọng trong công tác kinh doanh của các NHTM. Bên cạnh đó, các NHTM phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về an toàn thanh khoản nói riêng cũng như các quy định về HĐKD của ngân hàng nói chung. Các NHTM phải duy trì mức độ an toàn cao hơn mức tối thiểu quy định đối với tỷ lệ thanh khoản. Chiến lược này sẽ cung cấp cho các NHTM những lựa chọn tốt hơn để tránh những rủi ro khi điều kiện kinh doanh bất thường xảy ra.
5.2.4. Đảm bảo chất lượng tín dụng Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi của ngân hàng.
Thứ nhất, các NHTM để xử lý nợ xấu dứt điểm và có hiệu quả trên cơ sở gắn liền trách nhiệm của cá nhân liên quan đến cho vay, ngân hàng cho vay cần tiến hành kiểm tra, đánh giá các khoản vay để xác định rõ nguyên nhân. Kiểm tra, sắp xếp lại các khoản nợ bằng cách phân tích thực trạng các món nợ quá hạn, nợ tiềm ẩn rủi ro và các khoản nợ đã được xử lý rủi ro để đánh giá khả năng thu hồi nợ. Việc sắp xếp lại các khoản nợ phải dựa trên tính khả thi các dự án, phương án kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức. Đối với các dự án có tính khả thi cao, ngân hàng có thể giãn nợ, gia hạn nợ cho doanh nghiệp, tổ chức. Ngân hàng cần phải kiểm tra thường xuyên thực trạng tài sản đảm bảo và tài sản thế chấp để có phương án xử lý và thu hồi nợ. Hoặc có thể bán nợ xấu cho công ty quản lý tài sản (VAMC), xử lý triệt để nợ xấu, giảm chi phí trích lập dự phòng rủi ro. Đối với những món nợ xấu cho vay tiêu dùng cá nhân, cho vay kinh doanh bất động sản có tài sản thế chấp, các ngân hàng cần có biện pháp xử lý kiên quyết bằng nguồn lực nội tại; bao gồm chế tài đối với các cá nhân có liên quan.
Thứ hai, các NHTM nên có tăng cường kiểm soát nội bộ, đảm bảo thực hiện đúng quy trình; xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả, tăng cường công tác giám sát đối với quản trị rủi ro. Gắn kết trách nhiệm vật chất đối với các cá nhân có quyền phê duyệt các quyết định có rủi ro.
Thứ ba, nâng cao chất lượng nhân sự. Để hạn chế rủi ro tín dụng, nâng cao chất lượng thẩm định khách hàng thông qua việc nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng. Cùng với việc không ngừng nâng cao trình độ và chất lượng nhân sự, NHTM cần có những chế độ đãi ngộ hợp lý nhằm thu hút được nguồn nhân lực có chất lượng cao và giữ chân được đội ngũ nhân sự giỏi đang có. Đặc biệt xây dựng và quán triệt đạo đức nghề nghiệp làm đầu với mọi đối tượng, đồng thời gắn kết quả thưởng cho nhân viên với chất lượng tín dụng để nâng cao trách nhiệm.
5.2.5. Đa dạng hóa thu nhập thông qua đa dạng hóa hoạt động kinh doanh
Luận văn đã chứng minh đa dạng hóa thu nhập tăng làm tăng Thu nhập lãi cận biên nên nên cần có giải pháp làm tỷ lệ đa dạng hóa thu nhập tăng có tác động làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản và hiệu quả sử dụng vốn. NHTM có thể tăng cường các hoạt động đa dạng hóa các nguồn thu nhập bằng cách đa dạng hóa và hoàn thiện các sản phẩm dịch vụ hiện có cũng như phát triển các dịch vụ mới. Đa dạng hóa và hoàn thiện các sản phẩm dịch vụ hiện có là điểm mạnh và mũi nhọn để phát triển dịch vụ ngân hàng. Hiện nay, cần chú trọng các sản phẩm công nghệ cao đem đến nhiều tiện ích cho khách hàng và gia tăng tính bảo mật thông tin trong các giao dịch tài chính.
5.2.6. Kiểm soát tốt các nhân tố vĩ mô nền kinh tế Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi của ngân hàng.
Theo như kết quả nghiên cứu, tỷ lệ lạm phát có ảnh hưởng tích cực đến tỷ lệ Thu nhập lãi cận biên của các NHTM. Do vậy, lạm phát phải được xem là yếu tố giúp các NHTM nâng cao hiệu quả hoạt động thông qua việc kích thích huy động vốn. Ổn định lạm phát, lãi suất và tỷ giá tiền tệ ở mức là một trong những việc làm cấp thiết trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là ở các quốc gia mới nổi như Việt Nam, nhằm đảm bảo ổn định tài chính tiền tệ quốc gia.
Hơn nữa, hoạt động của các NHTM dễ bị ảnh hưởng và biến động theo các diễn biến kinh tế vĩ mô. Những thay đổi có thể có tác động đến lợi nhuận của ngân hàng. Do đó, các NHTM phải theo dõi tình hình kinh tế Việt Nam cũng như nước ngoài để có thể xử lí kịp thời. Bên cạnh đó, các NHTM nên cập nhật và sử dụng hiệu quả các dữ liệu kinh tế, chính trị, xã hội để nhanh chóng xác lập phương hướng hoạt động. Để tạo ra các dự báo kịp thời và tránh các tổn thất có thể xảy ra sớm, các NHTM phải tăng cường khả năng thẩm định và đánh giá các chỉ tiêu tài chính tại ngân hàng.
5.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi của ngân hàng.
5.3.1. Hạn chế nghiên cứu
Một số biến độc lập trong mô hình bị đổi dấu so với kỳ vọng của tác giả và của một số nghiên cứu khác. Hạn chế của tác giả là chưa thực hiện thêm hồi quy để xem xét tính vững của mô hình.
5.3.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo
Sử dụng thêm các biến khác để làm biến độc lập đại diện cho các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ Thu nhập lãi cận biên của NHTM được sử dụng trong luận văn. Thực hiện thêm một số hồi quy để kiểm tra tính vững của mô hình. Thu thập thêm đầy đủ dữ liệu nhằm phân tích hoàn chỉnh thực trạng thu nhập của các NHTM Việt Nam. Mở rộng phạm vi nghiên cứu cho tất cả NHTM Việt Nam và một số NHTM trong khu vực, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
TÓM TẮT CHƯƠNG 5
Như vậy, chương 5 đã kết luận lại những kết quả nghiên cứu có được trong chương 4 về ảnh hưởng của một số nhân tố đến thu nhập lãi cận biên của các NHTM Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số biện pháp đối trong việc phát triển thu nhập này đó là: Mở rộng quy mô ngân hàng; Quản lý chi phí hoạt động; Đảm bảo hệ số an toàn vốn; Đảm bảo chất lượng tín dụng; Đa dạng hóa thu nhập thông qua đa dạng hóa hoạt động kinh doanh; Kiểm soát tốt các nhân tố vĩ mô nền kinh tế. Tác giả cũng nêu một số hạn chế trong nghiên cứu của luận văn, những hạn chế này là cơ sở cho hướng phát triển tiếp theo của luận văn trong tương lai. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi của ngân hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi của ngân hàng

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi của ngân hàng […]