Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT
Vấn đề XHTD trở thành chủ đề mang tính thời sự. Quốc hội đã dành hẳn một ngày (27/05/2025) để thảo luận xung quanh đề tài này. Hồi chuông đã vang lên thúc giục chúng ta hành động và thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ nhằm mang lại hiệu quả trong việc hạn chế tình trạng XHTD đối với học sinh.
Làm thế nào để có thể giúp các em học sinh tự tin, vững bước trên con đường phía trước là trách nhiệm của nhà giáo dục. Mỗi nhà trường cần hướng các em đến những giá trị cao đẹp trong cuộc sống, bảo vệ các em trước những cám dỗ, trang bị cho các em kiến thức, kỹ năng phát triển một cách toàn diện.
Đề tài Quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận tập trung nghiên cứu, phân tích cơ sở lý luận của hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh trung học phổ thông cũng như công tác quản lí hoạt động này. Những hạn chế, thiếu sót trong quá trình quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh ở các trường THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận:
Khi tiến hành tìm hiểu về nhận thức của các đối tượng khảo sát, kết quả đánh giá với tín hiệu khả quan. Tuy nhiên, nhà trường chưa thực hiện giáo dục học sinh nhận biết các dấu hiệu bị XHTD một cách đầy đủ, chi tiết. Chưa thể hiện rõ nội dung giáo dục phòng tránh XHTD qua kế hoạch hoạt động năm học cũng như chưa tập trung vào nội dung XHTD khi triển khai. Nhà trường chủ yếu thực hiện giáo dục giới tính, giới và bình đẳng giới, tâm sinh lí lứa tuổi, tình yêu, tình bạn, hôn nhân, gia đình. Nội dung giáo dục phòng tránh XHTD chỉ được đề cập thoáng qua và thường tích hợp, lồng ghép khi thực hiện giảng dạy trên lớp và lồng ghép vào các hoạt động của Đoàn thanh niên.
Nhà trường đã triển khai một số phương pháp và hình thức giáo dục pháp luật nói chung, phòng tránh XHTD nói riêng song còn đơn điệu, chưa đa dạng, chưa mang lại hiệu quả cao.
Công tác kiểm tra, đánh giá về mục tiêu giáo dục phòng tránh XHTD chưa được CBQL quan tâm. Bỏ ngõ công tác sơ kết, tổng kết việc thực hiện nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục phòng tránh Đặc biệt, CBQL vẫn chưa tiến hành đánh giá, rút kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh. Từ đó, CBQL chưa cải tiến nội dung, cách thức thực hiện cho các năm học kế tiếp. Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
Chưa phát huy vai trò của các tổ chức chính trị, đoàn thể trong nhà trường. Thiếu sự phối hợp giữa các lực lượng bên trong và bên ngoài nhà trường. Chưa thường xuyên kết hợp với các trung tâm, các trường đại học, chuyên gia để giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh.
Công tác bố trí, chuẩn bị cơ sở vật chất cho hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh chưa được đảm bảo. Mặc dù các trường có tổ tư vấn tâm lí song tổ chức, bố trí phòng tư vấn chưa phù hợp. Tài liệu, tờ rơi cho công tác tuyên truyền chưa được bổ sung kịp thời. Công tác sữa chữa, mua sắm trang thiết bị phục vụ cho hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh chưa được quan tâm đúng mức.
Để khắc phục những hạn chế, thiếu sót trên, tác giả đề xuất 05 biện pháp quản lí (cần thiết và khả thi), bao gồm: Tăng cường công tác giáo dục pháp luật, tuyên truyền rộng rãi đến GV, HS, CMHS về giáo dục phòng tránh XHTD; Đẩy mạnh vai trò của các tổ chức chính trị, đoàn thể trong nhà trường, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường, đặc biệt là gia đình trong giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh; Tăng cường tổ chức, chỉ đạo đa dạng hóa các hình thức giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh; Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của nhà trường trong việc thực hiện hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh; Tăng cường bố trí kinh phí, trang bị đầy đủ cơ sở vật chất để tổ chức hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh.
Các biện pháp đề xuất dựa trên cơ sở lý luận và cơ sở thực trạng khảo sát tại 03 trường THPT trên địa bàn huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Cả 05 biện pháp đều thiết thực và có mối quan hệ gắn kết, phụ thuộc, bổ sung cho nhau trong quá trình thực hiện. Những biện pháp đề xuất sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
MỞ ĐẦU
1/. Lí do thực hiện đề tài
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII tiếp tục khẳng định “giáo dục là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn. Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực”.
Giáo dục với vai trò đầu tàu cho sự phát triển của đất nước; giáo dục phát triển thì xã hội phát triển và ngược lại. Trong đó, con người là chủ thể của quá trình phát triển và là một mắt xích quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Từng nhân tố tác động đến quá trình đi lên của xã hội, mỗi công dân phải được phát triển một cách toàn diện, đầy đủ nhất để góp phần vào thành công chung của đất nước.
Ngành giáo dục luôn chú trọng giáo dục phát triển toàn diện cho học sinh, nội dung chương trình tổng thể Bộ GD&ĐT vừa ban hành được xây dựng theo định hướng phát triển 05 phẩm chất (yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm) và 10 năng lực (tự chủ và tự học; giao tiếp và hợp tác; giải quyết vấn đề và sáng tạo, ngôn ngữ, tính toán, khoa học, công nghệ, tin học, nghệ thuật, thể chất) cho người học (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2023). Qua đó, giúp người học đủ đức, đủ tài, tích cực tham gia cống hiến, xây dựng đất nước. Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
Giáo dục học sinh trung học phổ thông (THPT) phải hướng đến nền tảng của xã hội, phải xây dựng một giá trị bền vững để có được những thế hệ công dân tốt, hoàn thành trọng trách gánh vác quê hương. Giáo dục học sinh THPT phát triển một cách đầy đủ, toàn diện là trách nhiệm của nhà giáo dục. Trong đó, làm thế nào để các em có được một tâm thế tốt nhất để bước vào đời là mục tiêu đặt ra hàng đầu hiện nay.
Để giáo dục học sinh THPT phát triển toàn diện thì phải có những biện pháp bảo vệ các em, hạn chế đến mức thấp nhất việc các em học sinh THPT bị tổn thương về mặt thể chất và tinh thần. Vấn đề xâm hại tình dục học sinh trở nên nóng hơn và được đề cập nhiều trong thời gian gần đây. Tại các diễn đàn chính trị-xã hội, mọi người đã quan tâm nhiều hơn về vấn đề xâm hại tình dục. Môi trường học đường rất dễ dàng xảy ra tình trạng xâm hại tình dục do có sự tiếp xúc thường xuyên. Học sinh trung học phổ thông là đối tượng đang ở độ tuổi dậy thì, tâm lí chưa thật sự ổn định. Cho nên, việc định hình nhân cách trong thời điểm này là hết sức quan trọng; tạo tiền đề cho việc phát triển cách nghĩ và cách làm trong tương lai của một công dân. Giáo dục các em học sinh thật tốt, tránh được việc bị xâm hại sẽ giúp các em vững bước trên con đường tương lai.
Gần đây, nhiều vụ xâm hại tình dục học sinh xảy ra và diễn biến có chiều hướng gia tăng. Việc xâm hại không chỉ diễn ra ở những môi trường phức tạp mà còn khá phổ biến ở học đường. Đa dạng về hành vi xâm hại, đa dạng về đối tượng, lứa tuổi thực hiện xâm hại và việc bị xâm hại xảy ra đối với cả nữ lẫn nam ở bất kỳ thời điểm nào, không gian nào. Học sinh trung học phổ thông có thể bị xâm hại tình dục từ chính thầy cô giáo trong nhà trường thông qua những va chạm vô tình hay cố ý; sự gần gũi hằng ngày dễ dàng phát sinh tình cảm thầy trò dẫn đến quan hệ thể xác ngoài ý muốn; trò trao đổi tình để được thầy cho điểm cao; học sinh thường hâm mộ thần tượng không kiểm soát được bản thân; bị bạn bè tò mò, trêu ghẹo hoặc tự khám phá bản thân, muốn làm người lớn… Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
Theo số liệu cổng thông tin điện tử của Quốc hội, từ năm 2010 đến tháng 6/2024 toàn quốc đã xảy ra 7.829 vụ xâm hại trẻ em. Riêng chỉ trong quý I năm 2024, Tổng đài Quốc gia bảo vệ trẻ em 111 đã tiếp nhận hơn 300.000 cuộc gọi đến, tư vấn cho gần 6.800 ca, can thiệp hơn 200 ca. Trong đó số trẻ em bị xâm hại tình dục chiếm 30%. Theo số liệu của Bộ Công an, trong năm 2021 và 2022 có 28 tỉnh, thành phố có từ 30 đến 110 trẻ em bị xâm hại. (Lê Phương, 2024)
“Qua phân tích, đối tượng thực hiện hành vi xâm hại trẻ em ngày càng mở rộng, từ những người lao động phổ thông có trình độ dân trí thấp đến những người có nghề nghiệp ổn định, có trình độ dân trí cao, tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi từ 18 trở lên…Một số trường hợp xâm hại diễn ra trong một thời gian dài, thậm chí kéo dài nhiều năm nhưng nạn nhân im lặng hay có không ít trường hợp không cung cấp thông tin cho cơ quan chức năng. Do đó, số trường hợp trẻ em bị xâm hại và bạo lực có nhiều khả năng chưa dừng lại như con số đã thống kê…” (Võ Lê, 2024).
Những con số biết nói, tuy nhiên đó chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Rất rất nhiều vụ xâm hại tình dục mà học sinh trung học phổ thông là nạn nhân nhưng các em và gia đình muốn giữ im lặng, không tố cáo cũng như lên tiếng để bảo vệ các em mà tìm cách tránh né sự việc. Nhiều địa phương không có ghi nhận số liệu những trường hợp bị xâm hại tình dục hằng năm làm vấn đề trở nên cấp bách và nóng hơn bao giờ hết. Nhiều đại biểu quốc hội cũng đã đưa tình trạng học sinh bị xâm hại tình dục vào nghị trường để bàn bạc, tìm biện pháp khắc phục cũng như ngăn chặn vấn nạn xâm hại tình dục học sinh.
Khi thảo luận về vấn đề này, nhiều ý kiến cho rằng việc tổ chức các hoạt động giáo dục về tâm sinh lí, giáo dục giới tính nói chung, giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục nói riêng đối với học sinh trung học là một cách thức “vẽ đường cho hươu chạy” . Tuy nhiên, qua thực tế cuộc sống, các em học sinh THPT rất tò mò về giới tính, về những thay đổi của cơ thể, những cảm xúc tuổi mới lớn và thậm chí các em chưa hiểu rõ những hành vi như thế nào được xem là xâm hại tình dục, một số em xem việc quan hệ tình dục đơn thuần chỉ là một trò chơi,…Đó là những gì mà nhà trường, gia đình và xã hội cần phải suy ngẫm và có những hành động cấp thiết và hiệu quả hơn giúp cho các em phòng tránh bị xâm hại tình dục. Bởi vì, nếu để các em học sinh bị xâm hại tình dục sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần và thể xác của các em, gây hậu quả nghiêm trọng đến cuộc sống của các em ở hiện tại và tương lai.
Hiện nay, chương trình giáo dục THPT chưa chú trọng nội dung giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục vì nhiều lí do khác nhau. Vấn đề đặt ra là, làm thế nào để học sinh THPT có thể tiếp cận và có cách nhìn, cách hiểu đúng bản chất của vấn đề xâm hại tình dục là trách nhiệm của thầy cô giáo – những nhà giáo dục. Song làm thế nào để các hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục được thực hiện một cách có kế hoạch và hiệu quả là trách nhiệm của các nhà quản lí, của hiệu trưởng nhà trường.
Trong thời gian qua, địa bàn huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận đã xảy ra một số vụ xâm hại tình dục mà đối tượng bị xâm hại là trẻ vị thành niên. Trong khi đó, hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục chưa được các trường THPT trên địa bàn đề cập và chú trọng. Thực tế cho thấy, các trường mới tập trung quản lí hoạt động dạy học, quản lí nhân sự, quản lí cơ sở vật chất,… mà chưa chú trọng quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh. Trên địa bàn cũng chưa có nghiên cứu nào về quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh. Đây là hồi chuông cảnh báo đối với công tác quản lí nhà trường.
Với những lí do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài “Quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận” để thực hiện luận văn tốt nghiệp.
2/. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận, đề tài khảo sát thực trạng quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Từ đó, đề xuất các biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận, góp phần vào việc giáo dục học sinh phát triển toàn diện.
3/. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể
- Quản lí hoạt động giáo dục học sinh trường trung học phổ thông
3.2. Đối tượng nghiên cứu
- Quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
4/. Giả thuyết khoa học
Hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT trên địa bàn huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận đã được quan tâm. Công tác quản lí nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh THPT đã được triển khai thực hiện nhưng kết quả chưa cao. Công tác kiểm tra, giám sát còn hạn chế; các nguồn lực về nhân lực, vật lực và tài lực vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh.
Nếu khảo sát, đánh giá và phân tích khách quan, chính xác về công tác quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh các trường THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận thì sẽ đề xuất được các biện pháp quản lí có tính cần thiết và khả thi cao đối với công tác giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh các trường THPT tại địa phương.
5/. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở trường trung học phổ thông. Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
- Tìm hiểu, xác định thực trạng công tác quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
- Đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
6/. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài “Quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường trung học phổ thông huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận”, tác giả luận văn sử dụng kết hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau đây:
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Tiến hành thu thập tài liệu, sách báo, tạp chí và các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài; Thực hiện phân tích nội dung, số liệu từ nhiều nguồn khác nhau để có cái nhìn tổng quan về vấn đề xâm hại tình dục đối với học sinh THPT, về quản lí các hoạt động giáo dục trong trường THPT để hình thành nên cơ sở lý luận của đề tài.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau đây:
6.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Mục đích: Xác định rõ thực trạng hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục và quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh các trường THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận; tìm hiểu và thu thập thông tin, dữ liệu để đánh giá một cách chi tiết, đúng đắn về vấn đề nghiên cứu. Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng phương pháp này để khảo nghiệm tính khả thi và cần thiết của các biện pháp mà đề tài đề xuất thực hiện.
Nội dung: Thực hiện thiết lập bảng khảo sát dành cho các đối tượng CBQL, GV, HS, CMHS. Sau đó, tiến hành khảo sát thực tế trên địa bàn huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận với số mẫu phù hợp (áp dụng công thức tính số mẫu 𝑛 = 𝑁 1+𝑁(𝑒)2 trong đó: n là cỡ mẫu, e=0.05, N: tổng thể). Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
Cách thức tiến hành: Thiết lập 03 mẫu phiếu khảo sát thực trạng và 01 phiếu khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất. Đối tượng khảo sát được lựa chọn một cách ngẫu nhiên và khách quan.
+ 01 mẫu phiếu khảo sát thực trạng đối với 27/27 CBQL, 99/132 GV; 01 mẫu phiếu khảo sát thực trạng đối với 339/2235 CMHS; 01 mẫu phiếu khảo sát thực trạng đối với 339/2235 HS của 03 trường THPT trên địa bàn huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
+ 01 phiếu khảo nghiệm tính khả thi và tính cần thiết của các biện pháp đề xuất đối với CBQL, GV của 03 trường THPT trên địa bàn huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
6.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Mục đích: Thu thập thêm thông tin một cách trực tiếp; đối chiếu và so sánh với kết quả khảo sát thực trạng qua phương pháp điều tra bằng bảng hỏi. Thu thập thêm ý kiến, thông tin cần thiết từ người được phỏng vấn mà khảo sát qua phiếu hỏi chưa đáp ứng được. Sử dụng ý kiến đóng góp của người được phỏng vấn đối với đề tài nghiên cứu; tập hợp được những ý tưởng mới, sáng tạo, những biện pháp hay đối với việc quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh.
Nội dung: Trao đổi về những thuận lợi, khó khăn của nhà trường trong giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục và quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh. Đề nghị người được phỏng vấn đánh giá về thực trạng hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục và quản lí hoạt động phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh tại đơn vị công tác (ưu điểm và nhược điểm) cũng như nguyên nhân của ưu nhược điểm; các biện pháp đề xuất nhằm nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục và quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh.
Cách thức tiến hành: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp (mặt đối mặt) một số CBQL, HS, GV.
6.2.3. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Mục đích: Tìm hiểu thực tế hoạt động quản lí phòng tránh xâm hại tình dục tại 03 trường THPT trên địa bàn huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
Nội dung: Tìm hiểu cách thức tổ chức thực hiện quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT trên địa bàn huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận; những nội dung đã được triển khai và hiệu quả mang lại thông qua các hoạt động.
Cách thức tiến hành: Tiến hành nghiên cứu, phân tích các hồ sơ quản lí như: kế hoạch; biên bản, báo cáo sơ kết, tổng kết và các sản phẩm khác của cán bộ quản lí, giáo viên và học sinh có liên quan đến hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục.
6.3. Phương pháp xử lí dữ liệu
Mục đích: Đánh giá một cách chính xác từ những số liệu, dữ liệu khảo sát thực tế để đưa ra những phân tích, nhận định phù hợp trên cơ sở kết quả thu thập được.
Nội dung: Tiến hành mã hóa các câu hỏi (định tính và định lượng) từ bảng khảo sát; thiết lập thông tin và thực hiện các biện pháp tính toán phù hợp với nhu cầu cần phân tích của đề tài nghiên cứu. Xây dựng kết hợp các yếu tố khi phân tích, nhận định vấn đề cần quan tâm.
- Cách thức tiến hành:
Đối với dữ liệu định tính: các cuộc phỏng vấn và những câu hỏi dạng định tính sẽ được phân tích bằng phương pháp trích lọc nội dung theo từng phần nghiên cứu. Các nội dung này được sử dụng phối hợp với dữ liệu định lượng để làm rõ hơn thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
Đối với dữ liệu định lượng: Sử dụng phần mềm SPSS 20 để tiến hành phân tích số liệu sau khi thực hiện khảo sát tại 03 trường THPT trên địa bàn huyện Ninh Sơn. Kết hợp với phần mềm bảng tính Microsoft Excel 2015 để thu được bảng số liệu cần thiết cho việc nghiên cứu.
7/. Phạm vi nghiên cứu Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
Nội dung: Tìm hiểu thực trạng quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận dưới sự điều hành, lãnh đạo của hiệu trưởng nhà trường.
Khách thể khảo sát: CBQL, GV, HS, CMHS của 03 trường THPT trên địa bàn huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
Thời gian: Khảo sát thực trạng quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận trong 03 năm học 2022 – 2023, 2023 – 2024 và 2024 – 2025.
8/. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận: Đề tài góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận về quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường THPT.
Về thực tiễn: Đánh giá đúng thực trạng quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Từ đó, đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn.
9/. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở trường trung học phổ thông.
- Chương 2: Thực trạng công tác quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường trung học phổ thông huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
- Chương 3: Biện pháp quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường trung học phổ thông huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận.
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÒNG TRÁNH XÂM HẠI TÌNH DỤC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Nghiên cứu ở nước ngoài Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
Vấn đề xâm hại tình dục đối với người chưa thành niên được tất cả các nước trên thế giới quan tâm vì những tác động to lớn của nó đối với xã hội nói chung và đối với những nạn nhân bị xâm hại nói riêng. Trong tất cả các nghiên cứu đều chỉ ra những mặt trái của vấn đề và đều nhất trí cho rằng cần phải giải quyết vấn đề thông qua truyền thông, thông qua giáo dục để xây dựng nên một bức tường ngăn chặn những hành vi xâm hại tình dục đối với người chưa thành niên.
Trung tâm kiểm soát dịch bệnh và Bộ Tư pháp Hoa Kỳ báo cáo tỉ lệ bị ép buộc quan hệ tình dục tại một số thời điểm trong cuộc sống lần lượt là 11% đối với các nữ sinh và 4% đối với các nam sinh trung học. Một phân tích tổng hợp được thực hiện trong năm 2014 đã phân tích 65 nghiên cứu tại 22 quốc gia và ước tính một con số quốc tế nói chung như sau:
- Ước tính 7,9% nam giới và 19,7% nữ giới phải đối mặt với việc bị xâm hại tình dục trước 18 tuổi.
- Tỷ lệ bị xâm hại tình dục cao nhất là ở Châu Phi với tỉ lệ 34,4%.
- Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Á có tỷ lệ xâm hại tình dục lần lượt là 9,2%, 10,1% và 23,9%.
- Nam Phi có tỷ lệ bị xâm hại tình dục cao nhất đối với cả nam giới (60,9%) và nữ giới (43,7%). Jordan thể hiện tỉ lệ bị xâm hại tình dục cao thứ hai ở nam giới với tỉ lệ 27%.
- Liên quan đến nữ giới, 07 quốc gia đã báo cáo tỷ lệ bị xâm hại tình dục là hơn 20%; cụ thể là 37,8% ở Úc; 32,2% ở Costa Rica; 31% ở Tanzania, 30,7% ở Israel; 28,1% ở Thụy Điển; 25,3% ở Mỹ và 24,2% ở Thụy Sĩ. (John Wihbey, 2016)
Qua các số liệu minh chứng cho chúng ta thấy rằng, vấn đề xâm hại tình dục ở các quốc gia thuộc Châu Âu, Châu Mỹ xảy ra với tỉ lệ ít hơn so với Châu Á và Châu Phi. Điều này có thể lí giải được là do sự phát triển của kinh tế, giáo dục đã tác động rất lớn đến vấn nạn này. Nếu người dân được giáo dục phòng tránh sớm sẽ giúp giảm thiểu những nguy cơ bị xâm hại tình dục. Nền kinh tế nghèo nàn, kém phát triển cũng chính là nguyên nhân của vấn đề xâm hại tình dục đối với trẻ vị thành niên. Vấn đề có chiều hướng gia tăng tại các quốc gia Châu Phi, nơi dễ diễn ra các hành vi xâm hại tình dục do nghèo đói và lạc hậu. Thực phẩm, nước sạch chính là sản phẩm giao dịch trong nhiều trường hợp xâm hại tình dục.
Những kết quả nghiên cứu của Yi Song và cộng sự tại Trung Quốc, cho thấy rằng trong số 5.215 đối tượng nghiên cứu, có 32,8% báo cáo đã từng bị xâm hại tình dục. Tỷ lệ bị xâm hại tình dục ở trẻ em gái được báo cáo (40,9%) cao hơn khoảng 1,4 lần so với trẻ em trai (29,5%). Tỷ lệ xảy ra cao nhất ở thanh thiếu niên 15 tuổi (42,0%), đối với học sinh (36,9%) và thanh niên sống ở thành phố hoặc những quận đang phát triển là 37,4%. (Yi Song và cộng sự, 2019)
Theo Tân Hoa Xã, ngày 23/12/2023 Bộ Giáo dục Trung Quốc yêu cầu tăng cường bảo vệ trẻ em khỏi bị tấn công tình dục. Bộ đã ban hành thông tư kêu gọi chính quyền và các trường học ở địa phương thúc đẩy giáo dục giới tính và dạy cho các em phòng tránh tấn công tình dục thông qua các tài liệu bỏ túi hoặc bằng nhiều hình thức khác nhau. (Xinhua, 2023)
Xâm hại tình dục xảy ra khá phổ biến tại Trung Quốc, với định kiến trọng nam khinh nữ nên hiện nay đất nước này đang xảy ra tình trạng mất cân bằng về giới tính một cách nghiêm trọng dẫn đến việc tỉ lệ nữ giới bị xâm hại tình dục khá nhiều. Tuy nhiên, qua kết quả nghiên cứu cũng cho chúng ta thấy rằng, nam giới cũng bị xâm hại tình dục với tỉ lệ khá cao. Độ tuổi bị xâm hại tình dục với tỉ lệ cao nhất là 15 tuổi. Cho nên, việc xây dựng và phát triển các chương trình bảo vệ là rất cần thiết đối với học sinh THPT. Mỗi thầy cô giáo, nhân viên y tế nhà trường, chính quyền và các tổ chức chính trị-xã hội phải cùng nhau chung tay ngăn chặn vấn nạn xâm hại tình dục và cung cấp những dịch vụ hỗ trợ cho nạn nhân.
Giáo dục phòng tránh XHTD trẻ chưa thành niên đối với các bậc phụ huynh, những người chăm sóc trẻ là cơ chế phòng ngừa hiệu quả để chống lại khả năng trẻ bị xâm hại. Trẻ em, người lớn đều cần những thông tin, kỹ năng, chiến lược bảo vệ khỏi vấn nạn XHTD từ những người lạ, người địa phương, người nước ngoài, bạn bè, các thành viên trong gia đình,…
Chương trình giảng dạy phổ biến trong các lớp giáo dục giới tính của các trường học ở Mỹ bao gồm hướng dẫn về các chủ đề sức khỏe tình dục, phòng ngừa HIV (Human immunodeficiency virus) hoặc bệnh lây truyền qua đường tình dục. Phòng ngừa mang thai thường được yêu cầu ở trường trung học phổ thông hơn ở trường trung học cơ sở hoặc tiểu học.
Theo truyền thống, các trường đã bắt đầu dạy giáo dục giới tính ở lớp năm và lớp sáu, tập trung chủ yếu vào giải phẫu sinh lý học, dậy thì và sinh sản. Giáo dục giới tính ở các lớp này thường được gọi là giáo dục tuổi dậy thì để phản ánh việc chuẩn bị cho trẻ những thay đổi mà tất cả con người trải qua khi chúng phát triển thành người lớn. Có ít dữ liệu về giáo dục giới tính được dạy ở tiểu học, nhưng ngày càng có nhiều trường bắt đầu giáo dục giới tính từ mẫu giáo cho phù hợp với tiêu chuẩn giáo dục giới tính quốc gia. (Wikipedia, 2025) Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
Các chương trình phòng chống xâm hại trẻ em hiện nay ở các nước tập trung chủ yếu vào việc giáo dục trẻ mẫu giáo và tiểu học về cách nhận biết các trường hợp xâm hại và dạy chúng các kỹ năng an toàn cá nhân. Các chương trình cũng tập trung vào việc giúp đỡ những trẻ em là nạn nhân của xâm hại tình dục trong quá khứ hoặc đang diễn ra bằng cách khuyến khích các em tiết lộ những sự cố đó cho cha mẹ hoặc những người lớn có trách nhiệm khác.
Theo tài liệu “International technical guidance on sexuality education” (tạm dịch: “Hướng dẫn kỹ thuật quốc tế về giáo dục giới tính”) của tổ chức Giáo dục, Khoa học, Văn hóa Liên Hiệp Quốc cho rằng những chính sách và chương trình giảng dạy quốc gia có thể sử dụng các thuật ngữ khác nhau để đề cập đến giáo dục toàn diện về giới tính. Giáo dục toàn diện về giới tính bao gồm: giáo dục phòng ngừa, giáo dục các mối quan hệ và tình dục, giáo dục đời sống gia đình, giáo dục HIV, giáo dục kỹ năng sống, lối sống lành mạnh và giáo dục những điều cơ bản nhất để có được cuộc sống an toàn. (UNESCO, 2014)
Sinart King – tác giả kiêm quản lí dự án của tổ chức cứu trợ trẻ em hoàng gia Anh tại khu vực Đông Nam Á thực hiện bộ tài liệu tập huấn “Tổ chức an toàn với trẻ em”. Bộ tài liệu tập huấn gồm có ba phần và một hướng dẫn tự nghiên cứu. Phần 1 tập trung vào Nâng cao nhận thức về bảo vệ trẻ em. Phần 2 để đánh giá mối liên hệ của tổ chức bạn với trẻ em – Cách bạn giải quyết về vấn đề bảo vệ trẻ em như thế nào. Phần 3 cung cấp những hướng dẫn cụ thể về các tổ chức có thể làm gì để cải thiện tình trạng bảo vệ trẻ em. Phần hướng dẫn tự nghiên cứu trình bày các thông tin liên quan đến bố cục của bộ tài liệu tập huấn. Phần hướng dẫn tự nghiên cứu không bao gồm toàn bộ phần 3 như mục tiêu của phần này là để các tổ chức tự phát triển về chính sách và hướng dẫn bảo vệ trẻ em. (Sinart King, 2011)
Việc xác định rõ vấn đề xảy ra là điều tiên quyết trong quá trình tìm kiếm giải pháp thực hiện, các quốc gia đều có những chương trình hành động cụ thể nhằm giảm thiểu tối đa vấn nạn xâm hại tình dục trẻ chưa thành niên. Mọi nỗ lực giải quyết vấn đề đều dựa trên những giá trị cốt lõi nhất là làm thế nào để tất cả mọi người đều được hạnh phúc, được bình đẳng, sống một cách vui tươi, thoải mái và đầy khát khao.
1.1.2. Nghiên cứu trong nước Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
Xâm hại tình dục là vấn đề nóng và được xã hội đặc biệt quan tâm trong khoảng thời gian gần đây, nhiều vụ việc được phản ánh thông qua báo chí và các phương tiện truyền thông. Đã có nhiều sự quan tâm từ phía chính quyền, các nhà giáo dục và phụ huynh đối với vấn nạn xâm hại tình dục. Tuy nhiên, còn ít nghiên cứu được triển khai vì đây thực sự là vấn đề nhạy cảm, ít được chia sẻ vì nhiều lí do khác nhau.
Đề cập đến vấn đề này, hai tác giả Phạm Xuân Thông và Võ Văn Thắng đã tiến hành “Nghiên cứu tình hình bị lạm dụng tình dục ở học sinh phổ thông trung học tại thành phố Nha Trang”, tỉnh Khánh Hòa. Kết quả và số liệu được công bố tại Hội nghị khoa học Bệnh viện quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2017 đã cho chúng ta thấy rõ thực trạng của vấn đề xâm hại tình dục đối với học sinh. (Phạm Xuân Thông và Võ Văn Thắng, 2017)
Trong môi trường học đường, tác giả Đỗ Thị Huế với đề tài “Công tác xã hội nhóm với việc phòng ngừa quấy rối tình dục cho học sinh nữ trường THCS Bắc Hồng, Đông Anh, Hà Nội” phân tích khá chi tiết về vấn đề xâm hại tình dục đối với học sinh nữ bậc trung học cơ sở, những yếu tố tác động đến vấn đề và vai trò của hoạt động nhóm trong việc phòng ngừa quấy rối tình dục. (Đỗ Thị Huế, 2023)
Riêng tác giả Trần Thị Nga quan tâm đến “Công tác xã hội nhóm trong phòng ngừa trẻ em có nguy cơ bị xâm hại tình dục”. Tác giả cho rằng “Tất cả trẻ em đều có nguy cơ trở thành nạn nhân của xâm hại tình dục. Không có sự phân biệt về học vấn, điều kiện kinh tế, lứa tuổi, giới tính, đặc điểm cá nhân. Chính vì thế, việc phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em là rất cần thiết”. (Trần Thị Nga, 2023) Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
Xâm hại tình dục trẻ em ở nước ta trở nên ngày càng phức tạp dưới nhiều góc độ khác nhau và để lại hậu quả nghiêm trọng trước mắt cũng như lâu dài đối với trẻ mầm non đồng thời ảnh hưởng xấu đến đạo đức, văn hóa, xã hội. Hai tác giả Nguyễn Thị Tĩnh và Mai Quốc Khánh lại cho rằng một trong những giải pháp cơ bản là cần phải bồi dưỡng kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em cho phụ huynh. (Nguyễn Thị Tĩnh và Mai Quốc Khánh, 2023)
Với chủ đề “Thực trạng và biện pháp giáo dục kỹ năng tìm kiếm sự giúp đỡ cho học sinh tiểu học khi có nguy cơ bị XHTD trên địa bàn thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ” của hai tác giả Bùi Thị Loan và Đinh Thị Hường lưu ý việc trang bị kiến thức, định hướng thái độ và rèn luyện kỹ năng tìm kiếm sự giúp đỡ cho học sinh tiểu học trước nguy cơ bị xâm hại tình dục, giúp các em học sinh nâng cao khả năng tự bảo vệ bản thân. (Bùi Thị Loan và Đinh Thị Hường, 2024)
Đối với hai tác giả Nguyễn Thanh Hùng và Phạm Thị Thúy Hằng tiến hành đề xuất mô hình thực hiện việc quản lí chất lượng hoạt động giáo dục phòng ngừa xâm hại tình dục cho học sinh phổ thông. Mô hình nêu bật vai trò của các lực lượng cộng đồng (nhà trường – gia đình – xã hội) trong việc thực hiện các biện pháp đặc biệt nhằm bảo vệ, giúp đỡ trẻ tránh khỏi những nguy cơ bị xâm hại tình dục. Trong đó, tổ chức hoạt động giáo dục phòng ngừa xâm hại tình dục cho học sinh là một trong các biện pháp cần được quan tâm triển khai thực hiện nhằm hình thành và phát triển kỹ năng tự bảo vệ bản thân hiệu quả trước nguy cơ bị xâm hại tình dục. (Nguyễn Thanh Hùng và Phạm Thị Thuý Hằng, 2024)
Các biện pháp phòng tránh xâm hại đối với trẻ được các tác giả đề xuất như: Công tác xã hội nhóm; bồi dưỡng kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em cho phụ huynh; rèn kỹ năng tìm kiếm sự giúp đỡ; phát huy vai trò của các lực lượng trong cộng đồng (nhà trường – gia đình – xã hội),… đã từng bước mang lại hiệu quả.
Hiện nay, đề tài “Nghiên cứu luận cứ, đề xuất mô hình phối hợp liên ngành trong giáo dục phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em” là đề tài nghiên cứu khoa học cấp quốc gia đang được triển khai (từ tháng 01/2024 đến tháng 12/2025) thuộc Chương trình “Nghiên cứu phát triển khoa học giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam, Mã số: KHGD/16- 20” do Giáo sư Trần Minh Hưởng chủ nhiệm đề tài, phối hợp với các cơ quan và cộng sự tổ chức thực hiện nhằm xây dựng được cơ sở khoa học, thực trạng công tác giáo dục, kinh nghiệm một số nước trên thế giới, đề xuất các mô hình và giải pháp của việc phối hợp liên ngành trong công tác giáo dục phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em thuộc độ tuổi mầm non và phổ thông ở trong và ngoài trường học. (Trần Minh Hưởng; Các tổ chức và cá nhân khác, 2024)
Theo một hướng nghiên cứu khác, luận án Tiến sĩ Luật học của tác giả Trần Văn Thưởng “Các tội xâm phạm tình dục trẻ em trên địa bàn miền đông nam bộ: Tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa” nêu lên quan điểm cần hướng dẫn các biện pháp phòng ngừa tội phạm xâm phạm tình dục cho trẻ em, nhất là trẻ em đang ở tuổi dậy thì, không uống rượu, bia hoặc xem phim khiêu dâm, kích dục với bạn khác giới. Khi đối tượng khác có hành động sàm sỡ và có nguy cơ bị xâm hại tình dục thì phải bình tĩnh, khôn khéo để thoát khỏi nơi đó, tìm cách tự vệ tránh khỏi sự thô bạo. Tổ chức cho các em học tập ở nhà và đi học theo tổ, nhóm; Nhà trường có các hình thức giao bài tập, kiểm tra kết quả chuẩn bị bài của các em ở nhà và chú ý phát hiện những biểu hiện tâm lý bất thường của các em trong thời gian học tập để phối hợp với gia đình làm rõ nguyên nhân. (Trần Văn Thưởng, 2023) Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
Vào ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại Hà Nội, UNICEF và Tòa án nhân dân tối cao đã phối hợp tổ chức một Hội thảo tham vấn về dự thảo Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về các tội xâm hại tình dục, đặc biệt là xâm hại tình dục người chưa thành niên. Dưới sự chủ trì của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Hòa Bình, Hội thảo là diễn đàn để các chuyên gia tư pháp, cán bộ thi hành pháp luật, thảo luận về cách thức hướng dẫn và giải thích những yếu tố cơ bản của các tội xâm hại tình dục cũng như các biện pháp mà thẩm phán có thể áp dụng để làm cho thủ tục xét xử thân thiện hơn với người chưa thành niên nhằm thúc đẩy hiệu quả thi hành pháp luật. (UNICEF Việt Nam, 2024)
Bên cạnh đó, các cơ quan quản lí nhà nước luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với trẻ em. Theo đó, Luật trẻ em năm 2021 quy định rõ xâm hại tình dục trẻ em là một trong các hành vi bị nghiêm cấm tại mục 3 Điều 6 (Điều 6. Các hành vi bị nghiêm cấm: 3. Xâm hại tình dục, bạo lực, lạm dụng, bóc lột trẻ em) và Điều 25. Quyền được bảo vệ để không bị xâm hại tình dục: Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị xâm hại tình dục. (Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, 2021)
Đối với người dưới 18 tuổi, Hội đồng thẩm phán có nghị quyết số 06/2024/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các điều 141,142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi. Khi xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi, tòa án phải thực hiện xét xử kín, tuyên án công khai; Thẩm phán mặc trang phục làm việc hành chính, không mặc áo choàng; xử án tại phòng xét xử thân thiện; hạn chế triệu tập bị hại là người dưới 18 tuổi đến phiên tòa nếu vẫn giải quyết được vụ án bằng các biện pháp thay thế khác,… (Hội đồng thẩm phán, 2024)
Xâm hại tình dục trẻ chưa thành niên sẽ gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển về nhận thức, hành vi, cảm xúc của một đứa trẻ. Chúng ta phải có trách nhiệm ngăn chặn hành vi xâm hại tình dục đối với trẻ chưa thành niên. Để thực hiện điều này, cần có sự chung tay góp sức của cộng đồng, xây dựng các dịch vụ hỗ trợ, các chính sách pháp lí cụ thể, hạn chế rủi ro đối với nạn nhân, đào tạo nhân lực để tăng cường các yếu tố bảo vệ nạn nhân.
Có thể nhận thấy rằng, vấn đề xâm hại tình dục trẻ em đã được quan tâm và được một số tác giả đề cập trong thời gian qua. Đây là vấn đề mới, cần nghiên cứu tìm hiểu để có nhiều biện pháp giáo dục hữu hiệu, phù hợp trong tình hình hiện nay. Vai trò của giáo dục là rất quan trọng, giáo dục sẽ là môi trường tốt nhất để hành động và nâng cao hiệu quả hành vi đối với vấn đề xâm hại tình dục. Những nghiên cứu cũng đã chỉ ra các yếu tố tác động đến việc bị xâm hại tình dục, đề cập đến vai trò của nhà trường, phụ huynh học sinh và các tổ chức chính trị-xã hội. Những hồi chuông đã được gióng lên từng hồi, những vụ xâm hại liên tiếp xảy ra. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để ngăn chặn những hành động xâm hại một cách khoa học, giúp cho xã hội nhận ra được mức độ ảnh hưởng đến thân thể, tâm sinh lí của nạn nhân, từ đó có cái nhìn khách quan, toàn diện, đúng đắn về vấn đề xâm hại tình dục ở lứa tuổi thiếu niên và có câu trả lời thỏa đáng cho vấn đề này.
Điểm qua các nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước cho thấy, có khá nhiều tác giả đề cập đến vấn đề xâm hại tình dục đối với trẻ vị thành niên, khẳng định vai trò của giáo dục đối với học sinh nhằm phòng tránh xâm hại tình dục. Tuy nhiên, cho đến nay, nghiên cứu về quản lí hoạt động phòng tránh xâm hại tình dục trong nhà trường phổ thông chưa nhiều. Theo tìm hiểu của chúng tôi, hiện nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT trên địa bàn huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Trong bối cảnh tình trạng xâm hại tình dục đang diễn biến phức tạp, chúng tôi thấy rằng đây là vấn đề nghiên cứu có tính cấp thiết.
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
1.2.1. Xâm hại tình dục, phòng tránh xâm hại tình dục
Có nhiều khái niệm, định nghĩa khác nhau về XHTD. Theo từ điển Cambridge thì XHTD là hành vi quan hệ tình dục với trẻ em hoặc người già hoặc người bị bệnh tâm thần, trái với mong muốn của người đó hoặc không có sự đồng ý của người đó. (Cambridge Dictionary, 2025)
XHTD, còn gọi là lạm dụng tình dục, là hành vi xâm hại tình dục của người này với người khác. Việc xâm hại thường sử dụng vũ lực hoặc lợi dụng người khác để thực hiện hành vi. Khi sử dụng vũ lực trong thời gian ngắn hoặc không thường xuyên thì được gọi là tấn công tình dục. Người phạm tội được gọi là người lạm dụng tình dục hoặc người xâm hại tình dục. XHTD cũng bao gồm những hành vi bất kỳ của một người trưởng thành hoặc người lớn tuổi đối với trẻ em, hoặc các cá nhân khác ít tuổi hơn để kích thích tình dục được gọi là XHTD trẻ em hoặc hiếp dâm trẻ em theo luật quy định của mỗi quốc gia.
Theo hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán thì xâm hại tình dục người dưới 16 tuổi là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ người dưới 16 tuổi tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với người dưới 16 tuổi và sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức (ví dụ: hoạt động xâm hại tình dục được thực hiện do đồng thuận với người dưới 13 tuổi); do cưỡng bức, do hứa hẹn các lợi ích vật chất (tiền, tài sản) hay các lợi ích phi vật chất (ví dụ: cho điểm cao, đánh giá tốt, tạo cơ hội tiến bộ…). (Hội đồng thẩm phán, 2024) Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
- Có 2 loại xâm hại tình dục – xâm hại qua tiếp xúc và xâm hại không qua tiếp xúc:
Xâm hại qua tiếp xúc: là người thực hiện xâm hại thông qua việc tiếp xúc thân thể với trẻ. Bao gồm: chạm vào bất kỳ bộ phận nào trên cơ thể của trẻ (cho dù là trẻ có mặc quần áo hay không); sử dụng một bộ phận cơ thể trẻ; thủ dâm; quan hệ tình dục qua đường sinh dục, bằng miệng, tay, hậu môn; hiếp dâm; buộc trẻ chạm vào cơ thể người khác hoặc tham gia vào các hoạt động tình dục khác có sự tiếp xúc cơ thể…
Xâm hại không qua tiếp xúc: là người thực hiện xâm hại không thông qua việc tiếp xúc cơ thể trẻ. Bao gồm: khoe bộ phận sinh dục cho trẻ thấy; kể những câu chuyện về tình dục; cho trẻ xem phim, truyện khiêu dâm; tìm cách hướng dẫn, kích thích tình dục trẻ; làm cho trẻ thủ dâm; sử dụng hình ảnh trẻ để khiêu dâm; buộc trẻ phải thực hiện, xem, hoặc chia sẽ hình ảnh, video xâm hại tình dục; trò chuyện về tình dục qua mạng trực tuyến hoặc điện thoại thông minh,… (NSPCC, 2025b)
Như vậy, chúng ta có thể hiểu khái niệm XHTD là hành động kích thích của người này đối với người khác (cùng tuổi hoặc nhỏ tuổi hơn, trẻ em, người già, người bệnh tâm thần) liên quan đến tình dục bằng cách dụ dỗ, đe dọa hoặc ép buộc thực hiện một cách thường xuyên hoặc trong một khoảng thời gian nhất định.
Theo nghĩa thông thường, phòng tránh là phòng bị trước nhằm tránh những điều không hay có thể xảy ra. Theo từ điển Cambridge thì phòng tránh là hành động ngăn chặn điều gì đó xảy ra hoặc ngăn chặn ai đó làm một việc gì đó. (Cambridge Dictionary, 2025)
Qua phân tích, chúng ta có thể hiểu khái niệm phòng tránh là những hoạt động mang tính chất phòng bị, ngăn ngừa trước những thứ không may mắn có thể xảy ra và ảnh hưởng không tốt đến với chúng ta.
Từ khái niệm XHTD và phòng tránh đã trình bày, có thể hiểu: Phòng tránh XHTD là hoạt động có tính chất phòng bị, ngăn ngừa những hành vi dụ dỗ, đe dọa, ép buộc, lôi kéo người khác thực hiện các hoạt động mang tính chất tình dục.
1.2.2. Giáo dục, hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
Theo từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì giáo dục theo nghĩa chung là hình thức học tập theo đó kiến thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo hay nghiên cứu. Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học.
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt chỉ có trong xã hội loài người, giáo dục nảy sinh, biến đổi và phát triển cùng với sự nảy sinh, biến đổi và phát triển của xã hội loài người. Bản chất của hiện tượng giáo dục là sự truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của các thế hệ loài người, chức năng trọng yếu của giáo dục đối với xã hội là hình thành và phát triển nhân cách con người.
Giáo dục (theo nghĩa rộng) là hoạt động giáo dục tổng thể hình thành và phát triển nhân cách được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch nhằm phát triển tối đa những tiềm năng (sức mạnh thể chất và tinh thần) của con người. Như vậy, giáo dục là một bộ phận của quá trình xã hội hình thành cá nhân con người, bao gồm những nhân tố tác động có mục đích, có tổ chức của xã hội, do những người có kinh nghiệm, có chuyên môn gọi là nhà giáo dục, nhà sư phạm đảm nhận. Nơi tổ chức hoạt động giáo dục một cách có hệ thống có kế hoạch chặt chẽ nhất là nhà trường. Với nghĩa rộng như trên, giáo dục là một hoạt động tổng thể bao gồm giáo dục trí tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục thể chất, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục lao động do nhà trường phụ trách trước xã hội.
Giáo dục (nghĩa hẹp) là một bộ phận của hoạt động giáo dục (nghĩa rộng), là hoạt động giáo dục nhằm hình thành thế giới quan khoa học, tư tưởng chính trị, đạo đức, thẩm mỹ, lao động, phát triển thể lực, những hành vi và thói quen ứng xử đúng đắn của cá nhân trong các mối quan hệ xã hội. Theo nghĩa này giáo dục (nghĩa hẹp) bao gồm các bộ phận: đức dục, mỹ dục, thể dục, giáo dục lao động.
Theo từ điển Tiếng Việt do tác giả Hoàng Phê (chủ biên) thì giáo dục có nghĩa là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra. (Hoàng Phê và cộng sự, 2003)
Có thể hiểu, giáo dục là một hoạt động của xã hội loài người nhằm mục đích truyền đạt lại kinh nghiệm, kỹ năng, kiến thức của khoa học và cuộc sống cho các thế hệ sau. Giúp con người đạt được các phẩm chất và năng lực cần thiết để tồn tại và phát triển. Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
Như vậy, hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh bao gồm tất cả những hoạt động mang tính chất hướng dẫn, truyền đạt để học sinh nắm bắt kiến thức, kỹ năng trong việc phòng bị, ngăn ngừa các hành vi mang tính chất kích thích, dụ dỗ, thực hiện các hoạt động mang tính chất tình dục.
1.2.3. Quản lí, quản lí trường trung học phổ thông
Hiện nay, có thể tiếp cận khái niệm quản lí bằng nhiều cách khác nhau. Theo góc độ tổ chức thì quản lí là cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, kiểm tra. Dưới góc độ điều khiển học thì quản lí là điều hành, điều khiển, chỉ huy.
Theo Từ điển Tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học biên soạn năm 2003, khái niệm quản lí được định nghĩa là:
- Trông coi và giữ gìn theo những nhu cầu nhất định
- Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo nhu cầu nhất định (Hoàng Phê và cộng sự, 2003)
Quản lí được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lí đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội. (Trần Kiểm, 2013)
Quản lí là quá trình thực hiện có định hướng và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục đã đề ra. (Nguyễn Thị Mỹ Lộc và cộng sự, 2017)
Quản lí là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lí đến đối tượng bị quản lí trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định. (Nguyễn Ngọc Quang, 1990)
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm quản lí, song có thể hiểu một cách khái quát: Quản lí là sự tác động liên tục, có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí đến khách thể quản lí trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đề ra. Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
Quản lí trường trung học phổ thông thực chất là quản lí quá trình giáo dục, đào tạo. Tham gia vào quá trình giáo dục, đào tạo có rất nhiều nhân tố khác nhau: mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, phương pháp đào tạo, đội ngũ người dạy, tập thể người học, hình thức đào tạo, điều kiện đào tạo, môi trường đào tạo, bộ máy đào tạo, quy chế đào tạo. Quản lí trường trung học phổ thông chính là quản lí những nhân tố đó, trong đó quản lí đội ngũ người dạy và tập thể người học được coi là trung tâm, vì đây là các nhân tố tạo động lực của quá trình giáo dục, đào tạo.
Quản lí nhà trường trung học phổ thông có thể hiểu là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lí và có hướng đích của chủ thể quản lí đến tập thể giáo viên và học sinh và các lực lượng trong và ngoài trường nhằm huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động của nhà trường hướng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu dự kiến. (Trần Kiểm, 2002)
Như vậy, quản lí nhà trường trung học phổ thông là hệ thống tác động sư phạm có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí nhà trường (hiệu trưởng; các phó hiệu trưởng) đến tập thể đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh và các điều kiện về cơ sở vật chất, tài chính nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.
1.2.4. Quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh THPT
Từ các khái niệm XHTD, hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho HS và quản lí trường THPT, có thể hiểu, Quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT là hệ thống những tác động có tính chủ động, có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí đến tập thể đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh, phụ huynh học sinh và các tổ chức chính trị-xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm giúp học sinh trung học phổ thông phòng bị, ngăn ngừa các hành vi mang tính chất kích thích, dụ dỗ, lôi kéo, đe dọa, ép buộc, thực hiện các hoạt động mang tính chất tình dục.
1.3. Lý luận về hoạt động phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở trường THPT Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
1.3.1. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh THPT
Lứa tuổi học sinh THPT từ 15 đến 18 tuổi nên là tuổi thanh niên. Đây là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn. Tuổi thanh niên có nhiều sự thay đổi nhanh và mạnh về sinh lý và tâm lý. Đây là giai đoạn khó khăn và phức tạp vì không phải lúc nào nhịp điệu và các giai đoạn của sự phát triển tâm sinh lý lứa tuổi cũng trùng hợp với các thời kỳ trưởng thành về mặt xã hội. Hiện nay, do sự phát triển nhanh của xã hội và đặc biệt là chế độ dinh dưỡng tốt nên trẻ em lớn nhanh hơn và sự tăng trưởng đầy đủ diễn ra sớm hơn so với các thế hệ trước đây, nên tuổi dậy thì bắt đầu và kết thúc sớm hơn khoảng 2 năm.
Đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ và phức tạp nhất của cuộc đời mỗi con người. Biểu hiện của giai đoạn này là xảy ra đồng thời một loạt những thay đổi bao gồm sự chín muồi về thể chất, sự biến đổi điều chỉnh về tâm lý và các quan hệ xã hội. Nhưng đây cũng là giai đoạn nảy sinh nhiều rối nhiễu về tâm lý nhất so với các lứa tuổi khác. Tuổi học sinh THPT là thời kì đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể. Cơ thể của các em đã đạt tới mức phát triển của người trưởng thành, nhưng sự phát triển của các em về nhận thức, kỹ năng, giao tiếp, thái độ,…còn kém so với người lớn. Ở lứa tuổi này, các em dễ bị kích thích bởi những điều mới lạ và sự biểu hiện của nó cũng giống như ở tuổi thiếu niên. Tuy nhiên, tính dễ bị kích thích này được hình thành không phải chỉ do nguyên nhân sinh lý như ở tuổi thiếu niên mà nó còn do cách sống và môi trường sống của mỗi cá nhân.
Nhìn chung, ở lứa tuổi này các em có sức khỏe và sức chịu đựng tốt hơn tuổi thiếu niên. Thể chất của các em đang ở độ tuổi phát triển mạnh mẽ rất sung sức, muốn khẳng định bản thân, muốn được công nhận là người lớn và hành động theo quyết định của cá nhân (không thích bị ràng buộc). Đôi khi còn mang tính chống đối lại cha mẹ, thể hiện tính độc lập của bản thân. Các em học sinh THPT luôn cố gắng khẳng định mình như một người lớn vì vậy có những hành vi bắt chước người lớn, thể hiện rõ các mối quan hệ yêu đương và những mối quan hệ tình cảm khác.
Ở giai đoạn phát triển đặc biệt này, các em chịu ảnh hưởng rất mạnh mẽ của các điều kiện văn hóa, giáo dục, kinh tế của môi trường gia đình và xã hội đồng thời cũng là giai đoạn các em gây nhiều lo ngại cho các bậc cha mẹ và cho cộng đồng. (Trần Thị Dung, 2018)
1.3.2. Tầm quan trọng của hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở trường THPT Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
Môi trường giáo dục là môi trường tốt nhất để tiến hành giáo dục cho học sinh và trường học là tổ chức xã hội bên ngoài gia đình gần gũi nhất mà trẻ em có sự liên lạc thường xuyên, liên tục. Do đó, trường học đặc biệt phù hợp để giúp các em phát triển kiến thức, kỹ năng, bao gồm cả việc phòng tránh bị xâm hại tình dục. Ngày nay, nhiều trường học đang cố gắng trở thành những địa điểm thực hiện hiệu quả hơn trong các nỗ lực phòng ngừa và can thiệp nhằm giảm bớt sự phức tạp của vấn đề xâm hại tình dục.
Mỗi nhà trường THPT đều phải có trách nhiệm chính trong việc chăm sóc cho học sinh của mình. Nhà trường cần phải đảm bảo môi trường an toàn cho trẻ và theo dõi sự phát triển của các em, thông báo cho cơ quan chức năng bất kỳ tình huống gây tổn thương đối với học sinh. Giáo viên sẽ là người được các em học sinh chia sẽ việc bị xâm hại tình dục.
Hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh mang tính cấp thiết trong giai đoạn hiện nay nhằm bảo vệ các em trước nguy cơ bị xâm hại tình dục. Việc giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở mỗi lứa tuổi là khác nhau về hình thức và nội dung. Trách nhiệm đó thuộc về những nhà giáo dục, những người được các em tin tưởng nhất và phải luôn đồng hành cùng các em suốt một chặng đường dài.
Khi các em bị dụ dỗ, lôi kéo, ép buộc hoặc bị lừa tham gia vào các hoạt động mang tính chất tình dục nhưng các em vẫn không nhận ra bản thân mình đang bị xâm hại tình dục. Việc trẻ bị xâm hại tình dục có thể xảy ra ở bất cứ nơi nào với hình thức trực tiếp hoặc trực tuyến. Trẻ không bao giờ có lỗi khi chúng bị xâm hại tình dục, điều quan trọng là chúng ta cần đảm bảo cho trẻ biết điều này để trẻ tự bảo vệ bản thân.
Giúp các em học sinh nhận ra được rằng người bị xâm hại tình dục sẽ có những ảnh hưởng trong ngắn hạn và dài hạn. Tác động từ việc bị xâm hại tình dục cũng có thể kéo dài suốt cả cuộc đời. Các em có thể bị lo lắng và trầm cảm; rối loạn ăn uống; căng thẳng sau chấn thương; tự gây thương tích cho bản thân; hay có ý nghĩ tự tử hoặc thực hiện tự tử; bị bệnh lây truyền qua đường tình dục; mang thai ngoài ý muốn; có cảm giác xấu hổ và tội lỗi; vướng vào rượu, nghiện ngập và ảnh hưởng đến các mối quan hệ với bạn bè, người thân trong gia đình và đồng nghiệp. (NSPCC, 2025a)
1.3.3. Mục tiêu và nội dung hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở trường THPT
- Mục tiêu Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
Mục tiêu chính của việc giáo dục phòng tránh XHTD là trang bị cho các em những kiến thức, kỹ năng và các giá trị để có thể an toàn hơn trong các mối quan hệ xã hội. Các em cũng cần tìm hiểu về các nguy cơ bị khai thác, bị xâm hại tình dục và nhận ra được những điều này một khi chúng xảy ra để tự bảo vệ bản thân.
Giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh ở trường THPT còn giúp các em nắm rõ những quy định của pháp luật, hiểu rõ bản chất của xâm hại tình dục và biết phải đối phó như thế nào. Giúp học sinh phát triển, củng cố các kỹ năng phòng tránh nhằm giảm rủi ro, tìm kiếm sự giúp đỡ (khi có yêu cầu).
- Nội dung
Giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh ở trường THPT gồm một số nội dung sau:
Giáo dục học sinh nhận biết các dấu hiệu hoặc khả năng bị XHTD. Dấu hiệu bị xâm hại tình dục các em có thể nhận thấy bao gồm những dấu hiệu về cảm xúc và hành vi, dấu hiệu về thể chất.
Những dấu hiệu cho thấy người lớn có thể làm tổn thương đến trẻ: Không tôn trọng ranh giới; hay thích chạm vào cơ thể trẻ; cố gắng để trở thành một người bạn của trẻ hơn là cần làm đúng vai trò của một người lớn; không có mối quan hệ phù hợp với lứa tuổi; tìm kiếm lí do để được ở một mình với trẻ; tặng quà cho trẻ cho không có dịp gì hoặc lí do nào; dành nhiều thời gian gần gũi với trẻ. (RAINN, 2025)
Xây dựng và thực hiện các chủ đề hướng dẫn về phòng tránh xâm hại tình dục theo hướng tích cực phù hợp với lứa tuổi của các em. Giáo dục kỹ năng cần thiết trong việc đảm bảo sự an toàn của các em trước nguy cơ bị XHTD.
Các chủ đề thực hiện: Nâng cao nhận thức của trẻ về vấn đề xâm hại tình dục; những vấn đề về tình bạn, tình yêu, gia đình; tìm hiểu về giới; một số kỹ năng phòng tránh xâm hại tình dục; mạng xã hội và những tác động tiêu cực.
Giáo dục học sinh tìm hiểu và phát triển cảm xúc phù hợp với lứa tuổi. Học sinh được tiếp xúc và thể hiện những tình cảm lành mạnh, biết điều chỉnh những cảm xúc của cá nhân, khuyến khích cha mẹ giáo dục con cái và trở thành người lớn đáng tin cậy đối với trẻ. (Pam Davis, 2025) Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
Hướng dẫn, cập nhật các chính sách và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến công tác phòng tránh XHTD để giáo viên, phụ huynh và học sinh nắm bắt, thực hiện. Bao gồm:
Công ước Liên Hiệp Quốc về quyền trẻ em có hiệu lực từ ngày 2/9/1990 (Việt Nam phê chuẩn ngày 20/2/1990) quy định các Quốc gia thành viên cam kết bảo đảm dành cho trẻ em sự bảo vệ và chăm sóc cần thiết cho hạnh phúc của các em . (Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc, 1990)
Thông tư 23/2015/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ngày 16 tháng 8 năm 2015 Quy định quy trình can thiệp, trợ giúp trẻ em bị bạo lực, bị xâm hại tình dục. (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, 2015)
Chỉ thị 18/CT_TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 16 tháng 5 năm 2022 về việc tăng cường giải pháp phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em. (Thủ tướng Chính phủ, 2022)
Công văn số 995/BLĐTBXH_TE của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội ngày 17 tháng 3 năm 2022 về việc tăng cường công tác bảo vệ trẻ em, thực hiện các giải pháp phòng, chống xâm hại, bạo lực trẻ em. (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, 2022)
Quyết định 1863/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 23 tháng 12 năm 2024 về việc phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em giai đoạn 2025 – 2025. (Thủ tướng Chính phủ, 2024)
Kế hoạch phối hợp số 5533/KH-BLĐTBXH-BGDĐT giữa Bộ Lao động Thương binh và Xã hội với Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 19 tháng 12 năm 2024 về phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em trong các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông đến năm 2025. (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội; Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2024)
Kế hoạch hành động số 898/KH-SGDĐT của Sở GD&ĐT Ninh Thuận ngày 22 tháng 04 năm 2025 về việc phòng ngừa, hố trợ, can thiệp bạo lực, xâm hại tình dục trẻ em trong các cơ sở giáo dục giai đoạn 2025-2025 trên địa bàn tỉnh. (Sở GD&ĐT Ninh Thuận, 2025) Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
Giáo dục cho học sinh về quyền trẻ em, đời sống gia đình, Luật Lao động và những quy định trong Luật hình sự có liên quan đến vấn đề phòng tránh XHTD. Giúp các em học sinh hiểu rõ những quy định của nhà nước để tự tin bước vào cuộc sống. Đây cũng là một kênh giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục hiệu quả, hiểu rõ luật để không vi phạm luật.
Đối với Luật Trẻ Em: sơ lược nội dung về quyền và bổn phận của trẻ em; bảo vệ trẻ em; chăm sóc và giáo dục trẻ; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình trong việc thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em. (Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, 2021)
Đối với Luật Giáo dục: tập trung vào mục tiêu của giáo dục phổ thông; nhiệm vụ và quyền của người học; các hành vi người học không được làm; các chính sách đối với người học; trách nhiệm của gia đình. (Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, 2010)
Đối với Luật Lao động: gắn với các nội dung về quyền và nghĩa vụ của người lao động; quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động; các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực lao động. (Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, 2024)
Đối với Luật Hôn nhân và Gia đình: bao gồm các nội dung về những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình; bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình; điều kiện kết hôn. (Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, 2019)
Đối với Luật Hình sự: Những quy định đối với các tội danh: Tội hành hạ người khác; Tội hiếp dâm; Tội cưỡng dâm; Tội lây truyền HIV cho người khác,… (Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, 2020)
1.3.4. Phương pháp và hình thức giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở trường THPT Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
- Phương pháp
Giáo dục đúng đắn về giới tính và tình dục là điều cần thiết trong việc thúc đẩy cuộc sống lành mạnh cả về tinh thần và thể chất. Giáo dục phòng tránh XHTD có thể khó khăn vì chúng ta không biết bắt đầu từ đâu, làm thế nào để tiếp cận nó, hoặc thậm chí là dạy như thế nào?. Do đó, chúng ta cần sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhau trong việc giáo dục cho học sinh phòng tránh xâm hại tình dục.
Phương pháp tư vấn trực tiếp hoặc gián tiếp: Sử dụng giáo viên được tập huấn về công tác tư vấn học đường để tiến hành tư vấn cho học sinh qua gặp mặt trực tiếp để trao đổi hoặc tư vấn qua email.
Phương pháp đóng vai, thực hiện tiểu phẩm: Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành, “làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định. Đây là phương pháp nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự việc cụ thể mà các em vừa thực hiện hoặc quan sát được. (Tủ sách thư viện khoa học, 2025)
Phương pháp dựa trên nỗi sợ hãi: là một cách làm đánh vào khía cạnh tâm lý của con người, gây hoang mang và buộc con người phải hành động ngay để chế ngự nỗi sợ đó. Những hình phạt đối với người XHTD, những ảnh hưởng đối với cuộc sống của nạn nhân sau khi bị xâm hại sẽ tác động đến hành vi của mỗi chúng ta.
Phương pháp đặt vấn đề: Cách tiếp cận này được thực hiện bằng cách đặt câu hỏi, nêu ý tưởng và quan sát của học sinh, hướng học sinh vào trung tâm của việc trải nghiệm học tập. Học sinh được hướng dẫn để điều tra và tìm kiếm câu trả lời bằng cách sử dụng các kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng giải quyết vấn đề và lý luận dựa trên những chứng cứ thu thập được.
Phương pháp giải quyết vấn đề: Cách tiếp cận này bắt đầu bằng cách trình bày một vấn đề cho học sinh trước khi các em nhận được bất kỳ kiến thức nào về một chủ đề. Phương pháp này cho phép chúng ta kiểm soát nhiều hơn những chủ đề hoặc vấn đề cần tập trung. Sau khi học sinh được thông báo về vấn đề này, các em được khuyến khích tìm kiếm kiến thức và giải pháp hợp tác cùng nhau.
Ngoài ra, chúng ta cần sử dụng kết hợp hình ảnh, sơ đồ, video và các phương tiện truyền thông để hỗ trợ thực hiện công tác giáo dục. Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
- Hình thức
Giáo dục phòng tránh XHTD có thể được thực hiện qua nhiều hình thức phong phú như:
- Thông qua công tác tuyên truyền dưới cờ về nội dung xâm hại tình dục cũng như những vụ việc xâm hại tình dục mang tính thời sự; thực hiện tuyên truyền thông qua phụ huynh học sinh bằng tờ rơi hoặc tài liệu.
- Tổ chức các diễn đàn để các em được trao đổi, thảo luận ý kiến cũng như nắm bắt được tâm tư, tình cảm, những khó khăn của học sinh đối với vấn đề xâm hại tình dục.
- Thực hiện tổ chức mô hình phòng tư vấn tâm sinh lí; thành viên của Ban tư vấn tâm sinh lí được đào tạo, huấn luyện và có chứng chỉ.
- Thực hiện giảng dạy tích hợp, lồng ghép nội dung XHTD thông qua các bộ môn Giáo dục công dân, Sinh học, Ngữ văn, các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
- Xây dựng môi trường học đường thân thiện, an toàn, lành mạnh; trường học hạnh phúc.
- Phối kết hợp với tất cả các tổ chức chính trị, đoàn thể trong nhà trường như Chi bộ, Công Đoàn, Đoàn Thanh Niên, Hội LHTN Việt Nam, các Chi đoàn, chính quyền địa phương, gia đình học sinh để thực hiện công tác giáo dục phòng tránh XHTD đối với học sinh.
- Thông qua các chương trình ngoại khóa, trải nghiệm sáng tạo (trong và ngoài nhà trường) cùng với sự giúp đỡ của các chuyên gia tâm lí.
- Thông qua hoạt động của Câu lạc bộ kỹ năng được tổ chức hàng tháng với những chủ đề phù hợp.
1.4. Lý luận về quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở trường THPT
1.4.1. Tầm quan trọng của quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở trường THPT
Mỗi chúng ta cần phải xác định tầm quan trọng của công tác quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh ở các trường THPT. XHTD đã trở thành tâm điểm trong thời gian qua, xã hội đã và đang có cái nhìn khá đầy đủ về vấn nạn này. Quản lí tốt hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục sẽ góp phần giúp cho học sinh phát triển một cách đầy đủ, toàn diện; giảm thiểu những tác động tiêu cực đến xã hội. Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
Quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT giúp chúng ta xác định rõ vị trí, vai trò, trách nhiệm của CBQL, GV, NV, CMHS và các tổ chức chính trị-xã hội trong và ngoài nhà trường trong việc giúp học sinh trung học phổ thông phòng bị, ngăn ngừa có chất lượng và hiệu quả các hành vi mang tính chất kích thích, dụ dỗ, đe dọa, ép buộc, thực hiện các hoạt động mang tính chất tình dục.
1.4.2. Nội dung quản lí hoạt động phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở trường THPT
Quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT được hiểu là hệ thống những tác động có tính chủ động, có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí đến tập thể đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh, phụ huynh học sinh và các tổ chức chính trị-xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm giúp học sinh trung học phổ thông phòng bị, ngăn ngừa các hành vi mang tính chất kích thích, dụ dỗ, lôi kéo, đe dọa, ép buộc, thực hiện các hoạt động mang tính chất tình dục.
Quản lí hoạt động phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở trường THPT bao gồm các nội dung sau:
- Quản lí mục tiêu giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT
Nhà trường tiến hành xây dựng kế hoạch, xác định rõ mục tiêu của hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh. Những kiến thức, kỹ năng và các giá trị cần đạt được để bản thân các em học sinh có thể tự bảo vệ bản thân an toàn.
CBQL hướng dẫn, tuyên truyền cho các thành viên trong nhà trường và CMHS biết được tầm quan trọng của hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh trong giai đoạn hiện nay.
Nhà trường tổ chức thực hiện công tác giáo dục pháp luật, giúp học sinh, CMHS hiểu rõ bản chất của việc bị xâm hại tình dục. Nhà trường cung cấp thông tin, nhân lực cho những học sinh đang tìm kiếm sự giúp đỡ.
Nhà trường chỉ đạo các tổ chức đoàn thể phối hợp với chính quyền địa phương nhằm đảm bảo quyền lợi cho học sinh. Thực hiện tốt kế hoạch đề ra và có những điều chỉnh hợp lí nhằm thực hiện một cách đầy đủ nhất mục tiêu của hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh. Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
- Quản lí nội dung giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT
Nhà trường xác định nội dung, chuyên đề cần giáo dục cho học sinh để phòng tránh XHTD;
- Phân công cán bộ giáo viên thu thập tài liệu, chuẩn bị các điều kiện để thực hiện các nội dung, chuyên đề giáo dục học sinh phòng tránh XHTD;
- Tổ chức cho giáo viên xây dựng kế hoạch bài học, trình tự thực hiện; các hoạt động theo chủ đề hoặc lồng ghép trong các môn học được sắp xếp một cách khoa học.
- Tổ chức, chỉ đạo biên soạn nội dung giáo dục và bố trí thời gian, thời điểm giáo dục phòng tránh XHTD hợp lí trong năm học;
- Chỉ đạo rà soát, cập nhật các chính sách và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến công tác phòng tránh xâm hại tình dục như Luật Trẻ em, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Giáo dục, Luật Lao động, Luật Hình sự, các chỉ thị, nghị quyết, thông tư,…
- Tổ chức tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật liên quan đến phòng tránh XHTD cho toàn thể học sinh cũng như cán bộ giáo viên nhà trường.
- Tổ chức cho giáo viên tham gia các lớp tập huấn để đảm bảo kiến thức về giáo dục phòng tránh XHTD.
- CBQL chỉ đạo thực hiện việc giáo dục học sinh về nội dung an toàn mạng để các em nhận thấy mức độ nguy hại đối với bản thân khi sử dụng mạng xã hội Facebook, Zalo.
- Nhà trường xây dựng môi trường học đường thân thiện, xanh-sạch-đẹp và an toàn; trường học hạnh phúc để các em học sinh có cảm giác là ngôi nhà thứ hai và nhận thấy bản thân được an toàn, được bảo vệ.
- CBQL thường xuyên chỉ đạo cải tiến nội dung cho phù hợp hơn với lứa tuổi các em, đa dạng về nội dung tuyên truyền, phong phú về hình ảnh.
- Tổ chức, chỉ đạo giáo viên chú trọng đến những nội dung giúp các em học sinh điều tiết được cảm xúc của bản thân và thể hiện được những hành vi, cử chỉ đẹp trong tình bạn, tình yêu.
- CBQL tiến hành kiểm tra quá trình chuẩn bị, biên soạn nội dung và tổ chức thực hiện giáo dục phòng tránh XHTD theo đúng kế hoạch đã đề ra.
Tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện nội dung giáo dục phòng tránh XHTD trong nhà trường. Trên cơ sở đó, khen thưởng các cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và sáng tạo; đồng thời phê bình, rút kinh nghiệm đối với những hoạt động chưa đạt so với yêu cầu đặt ra. Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
- Quản lí phương pháp và hình thức giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT
Hiệu trưởng ra quyết định thành lập Tổ tư vấn trong nhà trường, chỉ đạo giáo viên phụ trách thường xuyên chia sẻ, giải đáp thắc mắc của các em học sinh một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Nhà trường xây dựng quy trình và chương trình thực hiện phòng tránh XHTD rõ ràng để bảo vệ học sinh.
Hướng dẫn giáo viên cách thức tiến hành, các phương pháp thực hiện giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh (phương pháp tư vấn trực tiếp và gián tiếp; phương pháp đóng vai, thực hiện tiểu phẩm; phương pháp dựa trên sự sợ hãi; phương pháp đặt vấn đề; phương pháp giải quyết vấn đề).
Nhà trường huy động sự tham gia, vào cuộc của các lực lượng trong và ngoài nhà trường; nêu cao tinh thần, trách nhiệm của các tổ chức chính trị-xã hội trong hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh.
Chỉ đạo giáo viên các bộ môn Sinh học, Giáo dục công dân, Ngữ văn thực hiện lồng ghép, tích hợp giáo dục phòng tránh XHTD khi giảng dạy trên lớp.
Tổ chức phối hợp với Đoàn Thanh niên, Hội LHTN Việt Nam, GV chủ nhiệm tổ chức cho học sinh trải nghiệm phòng tránh XHTD (trong và ngoài nhà trường). Xây dựng kế hoạch sinh hoạt dưới cờ vào thứ hai hàng tuần có lồng ghép nội dung giáo dục giới tính.
Tổ chức phối hợp với Đoàn Thanh niên thực hiện các diễn đàn thanh niên để các em học sinh chia sẻ, nêu ý kiến, quan điểm về vấn đề XHTD. Phối hợp với Công Đoàn giải quyết những phản ánh liên quan đến XHTD qua Hộp thư góp ý của đơn vị.
Tổ chức các hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD thông qua Câu lạc bộ kỹ năng;
Thường xuyên kiểm tra việc sử dụng các phương pháp, hình thức giáo dục phòng tránh XHTD trong nhà trường. Qua đó, rút kinh nghiệm, cải tiến phương pháp và hình thức phù hợp, mang lại hứng thú, hiệu quả cho công tác giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh.
- Quản lí các điều kiện giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT
CBQL tổ chức, bố trí phòng làm việc, phòng tư vấn, trang thiết bị, dụng cụ, nguồn kinh phí đầy đủ để thực hiện giáo dục phòng tránh XHTD cho học Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
Nhà trường liên hệ với các trường đại học, các trung tâm, chuyên gia tư vấn để phối hợp tổ chức giáo dục ngoại khóa cho học sinh.
Tạo sự đồng thuận cao từ phía chính quyền cũng như phụ huynh học sinh trong việc tổ chức thực hiện giáo dục giới tính cho học sinh.
Nhà trường chủ động các nguồn học liệu như sách, băng, đĩa, tờ rơi, địa chỉ website cần truy cập. Trang bị báo Thanh niên, báo Tuổi trẻ, báo Mực tím, báo Công an và một số máy vi tính cho thư viện nhà trường nhằm giúp học sinh đa dạng hơn về nguồn cung cấp thông tin.
CBQL thường xuyên kiểm tra, rà soát, bổ sung, sữa chữa các hạng mục nhằm đảm bảo công tác giáo dục được thuận lợi.
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở trường THPT
1.5.1. Yếu tố khách quan
Tính đặc thù của nền văn hóa Á đông. Người Việt Nam thường ngại đề cập trực tiếp những vấn đề liên quan đến tình dục và hoạt động chăm sóc sức khỏe sinh sản nói chung, sức khỏe tình dục nói riêng. Hầu hết các ông bố, bà mẹ đều né tránh việc giáo dục giới tính cho con một cách khoa học, thay vào đó là sự đe dọa và làm nghiêm trọng hóa vấn đề. Điều đó làm trẻ trở nên lo lắng quá mức, có thể cự tuyệt việc tiếp cận mọi thông tin có liên quan đến vấn đề tình dục, hoặc sẽ tò mò muốn khám phá bằng mọi cách, như một phương thức phản kháng và chống đối lại sự áp đặt của người lớn.
Những tác động tiêu cực từ văn hóa phẩm ngoại lai. Sự xâm nhập của các văn hóa phẩm đồi trụy, phim ảnh khiêu dâm phát tán tràn lan trên mạng Internet đã ảnh hưởng xấu đến sự phát triển tâm sinh lí, gây ra sự lệch lạc về đạo đức, lối sống của một bộ phận thanh, thiếu niên. Công tác quản lí các loại hình dịch vụ, băng đĩa hình, văn hóa phẩm đồi trụy thiếu chặt chẽ, thiếu đồng bộ nên nhiều bộ phim, sách truyện có nội dung bạo lực, khiêu dâm vẫn được trình chiếu và bày bán công khai.
Hệ thống pháp luật liên quan đến bảo vệ trẻ vẫn còn khoảng trống. Mặc dù đã có quy định về quy trình, trách nhiệm, thẩm quyền đánh giá nguy cơ và quản lí trường hợp trẻ em bị bạo lực, bị XHTD nhưng chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm cung cấp, xử lý thông tin, thông báo, tố giác hành vi xâm hại trẻ em. Thiếu quy định cụ thể đầu mối tiếp nhận, xử lý thông tin, thông báo, tố giác và phối hợp xác minh, đánh giá, điều tra về hành vi xâm hại, tình trạng mất an toàn hoặc gây tổn hại, mức độ nguy cơ gây tổn hại đối với trẻ em. Chưa có quy định về thẩm quyền, thủ tục tách trẻ em ra khỏi cha mẹ, người chăm sóc trong trường hợp chính cha mẹ, người chăm sóc có hành vi XHTD đối với trẻ em; thiếu hệ thống theo dõi để đảm bảo những trẻ em này không tiếp tục bị bạo lực, bị XHTD trong tương lai. Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
Nhận thức của người dân, phụ huynh học sinh và học sinh về phòng tránh XHTD: Có nhận thức đúng là cơ sở để hành động đúng. Nếu người dân, CMHS, các em học sinh chưa có nhận thức đúng đắn về phòng tránh bị xâm hại tình dục thì không thể giúp đỡ các em khi tình huống XHTD xảy ra. Các em khi bị xâm hại tình dục đa phần đều có tâm lý sợ hãi, mặc cảm, tự ti, nên không dám chia sẻ với bất kỳ ai, không dám tố giác kẻ phạm tội. Còn cha mẹ của các em cũng chưa hướng dẫn những kiến thức cơ bản cho các em để chủ động phòng tránh xâm hại tình dục hoặc vì e ngại ảnh hưởng đến tương lai của con em mình nên cũng không tố giác kẻ phạm tội; thậm chí còn chấp nhận thỏa hiệp, đền bù.
Môi trường kinh tế-xã hội của địa phương. Tình hình kinh tế-xã hội tác động rất lớn đến công tác quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh. Một bộ phận các gia đình tập trung cho làm ăn kinh tế dẫn đến tình trạng sao nhãng, bỏ mặc trẻ, đó là mầm mống cho việc nảy sinh các hành vi XHTD đối với trẻ. Những khó khăn về kinh tế, xã hội cũng dẫn đến gia tăng áp lực tâm lý trong đời sống gia đình và xã hội, gây ra các hành vi lệch chuẩn ở trẻ em và người lớn. Bên cạnh đó, việc tạo cho trẻ em một môi trường thân thiện, với các điều kiện vui chơi, giải trí lành mạnh, phát triển năng khiếu chưa được quan tâm, đầu tư đúng mức.
Vai trò của gia đình. Gia đình là tế bào của xã hội, môi trường sống tại mỗi gia đình có ảnh hưởng rất nhiều đối với việc phát triển tâm sinh lí của trẻ. Nhiều gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn; cha mẹ ly hôn, ly thân; cha mẹ mắc các tệ nạn xã hội; vi phạm pháp luật… cũng là nguyên nhân dẫn đến việc trẻ thiếu sự quan tâm, chăm sóc, dẫn đến việc trẻ dễ dàng bỏ học, lang thang kiếm sống và bị bạo lực, bị XHTD.
1.5.2. Yếu tố chủ quan Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
Nhận thức của cán bộ quản lí và giáo viên nhà trường. Nhà trường thường tập trung giáo dục văn hóa, ít chú trọng giáo dục về mặt tinh thần. Công tác giáo dục đạo đức lối sống cho trẻ cần được chú trọng, công tác giáo dục giới tính cần thường xuyên, với các phương pháp giáo dục và hướng dẫn cách phòng ngừa tội phạm đối với các em.
Kiến thức, năng lực của cán bộ quản lí, giáo viên. Giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh đòi hỏi kiến thức, năng lực của CBQL, GV nhà trường. Họ cần được tập huấn kiến thức, kỹ năng giáo dục phòng tránh XHTD. Từ đó, việc triển khai thực hiện mới đạt hiệu quả.
Công tác tuyên truyền giáo dục phòng tránh XHTD. Việc thực hiện tuyên truyền giáo dục về phòng chống xâm hại tình dục trẻ cần được thực hiện thường xuyên, tránh mang tính hình thức và chạy theo phong trào. Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật cần thường xuyên và hiệu quả.
Sự kết hợp quản lí giáo dục giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh đòi hỏi sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Mối quan hệ giữa 3 yếu tố này cần được bền chặt. Nếu gia đình phó mặc việc giáo dục các em cho nhà trường và thiếu sự phối hợp thì kết quả giáo dục sẽ hạn chế và ngược lại.
Đặc điểm về tâm sinh lý của các em. Học sinh THPT còn bồng bột thiếu suy nghĩ và sự non nớt về trí tuệ, làm theo phim ảnh sách báo đồi trụy, dùng chất kích thích là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trẻ bị xâm hại. Về thể chất, các em còn yếu ớt chưa có sự phát triển đầy đủ, chưa có khả năng chống cự lại các hành vi xâm hại của tội phạm. (Trần Thị Thu Hiền, 2019)
Tiểu kết Chương 1 Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
Quán triệt tinh thần Nghị quyết 29/TW khóa XI, giáo dục nước nhà phải đổi mới căn bản và toàn diện, đổi mới các yếu tố căn bản của sự nghiệp giáo dục và đổi mới đồng thời các thành tố giáo dục như mục tiêu đào tạo, nội dung giáo dục, phương pháp dạy học, thiết chế tổ chức nhà trường và phương thức thi cử đánh giá. (Ban Chấp hành trung ương, 2018). Trong đó, việc đẩy mạnh các hoạt động giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh ở các trường THPT là yêu cầu cấp thiết và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Học sinh ở lứa tuổi trung học phổ thông cần được trang bị một cách đầy đủ nhất những kiến thức cũng như những kỹ năng cần thiết để bảo vệ bản thân và bạn bè trước nguy cơ bị XHTD; giúp các em học sinh vững tin bước vào cuộc sống.
Hiện nay đã có nhiều tác giả trong và ngoài nước đề cập đến vấn đề xâm hại tình dục đối với trẻ vị thành niên, khẳng định vai trò của giáo dục đối với học sinh nhằm phòng tránh xâm hại tình dục. Tuy nhiên, cho đến nay, nghiên cứu về quản lí hoạt động phòng tránh xâm hại tình dục trong nhà trường phổ thông chưa nhiều. Nhà trường cần định hướng mục tiêu giáo dục cụ thể, rõ ràng đối với vấn đề xâm hại tình dục. Sử dụng phối kết hợp các phương pháp và hình thức khác nhau để tiến hành tổ chức hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT.
Quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT được hiểu là hệ thống những tác động có tính chủ động, có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí đến tập thể đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh, phụ huynh học sinh và các tổ chức chính trị-xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm giúp học sinh trung học phổ thông phòng bị, ngăn ngừa các hành vi mang tính chất kích thích, dụ dỗ, lôi kéo, đe dọa, ép buộc, thực hiện các hoạt động mang tính chất tình dục.
Với cách tiếp cận theo nội dung, quản lí hoạt động phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở trường THPT bao gồm các nội dung: Quản lí mục tiêu giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh; quản lí nội dung giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh; quản lí phương pháp và hình thức giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh; quản lí các điều kiện giáo dục phòng tránh XHTD cho học sinh THPT.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT. Các yếu tố khách quan đó là những đặc thù của nền văn hóa Á đông; sự tràn lan của văn hóa phẩm ngoại lai; sự phát triển kinh tế-xã hội địa phương; nền tảng gia đình. Các yếu tố chủ quan tác động công tác quản lí đó là: nhận thức của CBQL, GV; kiến thức và kỹ năng của tập thể nhà trường về công tác giáo dục phòng tránh XHTD; năng lực cán bộ quản lí, giáo viên còn hạn chế; công tác tuyên truyền giáo dục phòng tránh XHTD; sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội, đặc điểm tâm sinh lý của học sinh…
Kết quả tìm hiểu, nghiên cứu ở chương 1 là cơ sở, là nền tảng để tác giả có cái nhìn đầy đủ hơn về vấn đề đang nghiên cứu. Thông qua nội dung chương 1 là cơ sở lý luận để tác giả xây dựng bộ công cụ nghiên cứu hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh THPT và quản lí hoạt động giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường THPT huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng QLGD phòng tránh xâm hại tình dục cho HS

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Quản lí giáo dục phòng tránh xâm hại tình dục cho HS […]