Luận văn: Nhân tố tác động đến thông tin minh bạch ngành dược

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Nhân tố tác động đến thông tin minh bạch ngành dược hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các nhân tố tác động đến mức độ minh bạch thông tin: trường hợp các công ty ngành dược phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Ngành dược phẩm Việt Nam hiện đứng thứ ba trong nhóm Pharmerging Markets với tốc độ tăng trưởng ấn tượng (14%/năm), được thúc đẩy bởi quy mô dân số lớn (101 triệu người), tốc độ già hóa nhanh nhất thế giới (14,2 triệu người từ 60 tuổi trở lên), gia tăng các bệnh không lây nhiễm và mức chi tiêu bình quân cho dược phẩm dự kiến tăng 45% giai đoạn 2021–2026 (Fitch Solutions). Trong bối cảnh này, cùng với chiến lược phát triển ngành dược đến năm 2045 của Chính phủ (Quyết định 376/QĐ-TTg), đặt ngành dược vào vị thế hấp dẫn đối với nhà đầu tư. Tuy nhiên, sau đại dịch COVID-19 và các bê bối gian lận tài chính toàn cầu (Enron, WorldCom), tính minh bạch thông tin (MBTT) trở thành yếu tố then chốt để xây dựng niềm tin thị trường và thu hút vốn. Nghiên cứu này tập trung phân tích các nhân tố tác động đến MBTT tại 21 công ty dược phẩm niêm yết trên sàn HOSE và HNX giai đoạn 2018–2023, sử dụng mô hình Correlated Random Effects (CRE) kết hợp sai số cụm hóa để xử lý dữ liệu bảng. Kết quả thực nghiệm xác định ba yếu tố tác động tiêu cực đến MBTT: kiêm nhiệm chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc/Tổng giám đốc (dual), tỷ lệ sở hữu cổ phiếu cao của Hội đồng quản trị (bo) và đòn bẩy tài chính cao (lev). Đồng thời, nghiên cứu phát hiện hai hiệu ứng quan trọng: kiểm toán Big4 (aud) có vai trò điều tiết, làm suy yếu tác động tiêu cực của dual lên MBTT và tương tác giữa dual và bo: tác động tiêu cực của kiêm nhiệm càng mạnh khi tỷ lệ sở hữu của Hội đồng quản trị cao. Kết quả khẳng định nhu cầu cấp thiết phải cải thiện cơ cấu quản trị công ty (tách biệt chức vụ, quản lý sở hữu Hội đồng quản trị), kiểm soát đòn bẩy tài chính, và khuyến khích sử dụng dịch vụ kiểm toán chất lượng cao. Nghiên cứu góp phần cung cấp giải pháp nâng cao MBTT, tăng cường niềm tin nhà đầu tư và phát triển bền vững thị trường chứng khoán Việt Nam.

CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU

1.1 Lý do chọn đề tài

Ngành dược phẩm Việt Nam đứng thứ 3 trong số 12 quốc gia thuộc nhóm Pharmerging Markets, với mức tăng trưởng 14% chỉ xếp sau Argentina và Pakistan (Pharmedi Vietnam, 2024), được đánh giá là một trong những quốc gia có mức tăng trưởng ngành dược nhanh và tổng giá trị thị trường lớn. Việt Nam là quốc gia đông dân có nền kinh tế nhiều tiềm năng tăng trưởng, tính đến hết năm 2024 dân số Việt Nam khoảng 101 triệu người đứng thứ 03 trong khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 16 trên toàn thế giới (Cafef.vn, 2025). Thu nhập bình quân đầu người 7,7 triệu đồng/ tháng; tăng 8,6% so với năm 2023; tăng 6,9% so với năm 2022 (Trang tin của ban tuyên giáo và dân vận Trung Ương, 2025). Tốc độ già hóa dân số nhanh, theo trang nso.gov.vn từ năm 2011, Việt Nam là một trong số các quốc gia có tốc độ già hóa nhanh nhất thế giới. Đến hết năm 2024, số lượng người già từ 60 tuổi trở lên là 14,2 triệu người, tăng 2,8 triệu người so với năm 2019 và tăng 4,7 triệu người so với năm 2014. Bên cạnh đó tỷ lệ mắc các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, alzheimer, ung thư phổi và tiểu đường,… ngày càng phổ biến. Khi thu nhập khả dụng tăng dẫn đến chi tiêu cho y tế và sức khỏe tăng là điều tất yếu, theo Fitch Solutions, chi tiêu bình quân đầu người cho dược phẩm dự báo sẽ tăng từ 1,46 triệu đồng/tháng (2021) lên 2,12 triệu đồng/tháng (2026). Chính vì vậy mà ngành dược phẩm Việt Nam được xem là một miếng bánh béo bở đối với các nhà đầu tư. Hơn nữa, quyết định số 376/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 17 tháng 3 năm 2021 về việc phê duyệt chương trình phát triển công nghiệp dược, dược liệu sản xuất trong nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Mục tiêu xây dựng ngành công nghiệp dược trong nước đạt mức độ phát triển ở trình độ cao, đạt cấp độ 4 theo thang phân loại của tổ chức y tế Thế giới (WHO) và giá trị thị trường đạt top 3 ASEAN. Cụ thể đến năm 2025 Việt Nam sẽ có từ 01 đến 02 chuỗi liên kết nghiên cứu, nuôi trồng, chế biến sản xuất tuân thủ theo quy định GACP-WHO và đến năm 2045 tổng giá trị ngành công nghiệp dược đóng góp vào GDP trên 20 tỷ USD; Việt Nam là nước có thuốc phát minh từ nguồn dược liệu đặc hữu được nghiên cứu, sản xuất và đăng ký bản quyền. Càng khẳng định vị thế và tương lai của ngành dược góp phần đưa ngành công nghiệp dược Việt Nam ra thế giới, ngang tầm các nước tiên tiến trong khu vực.

Đặc biệt sau trận đại dịch COVID-19, thế giới lại càng hiểu thêm về giá trị của ngành dược và hệ thống y tế. Không chỉ đóng vai trò chủ chốt trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng mà còn là động lực để thúc đẩy kinh tế thông qua thu hút đầu tư, phát triển công nghệ và tạo việc làm. Đại dịch COVID-19 hơn bao giờ hết đã chứng minh tầm quan trọng của ngành này, khi nhu cầu về thuốc men, vaccine và trang thiết bị y tế trở thành quyết định sống còn để kiểm soát dịch bệnh và khôi phục nền kinh tế. Bên cạnh đó, đại dịch cũng tạo ra những thay đổi lớn trong mô hình đầu tư, bởi sự thay đổi hành vi tiêu dùng, dòng vốn và chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp. Giãn cách xã hội đã làm tăng nhu cầu mua sắm online, làm việc từ xa, và giải trí trực tuyến. Bằng chứng là cổ phiếu của các công ty công nghệ như Amazon, Zoom, Microsoft đã tăng vọt, điển hình là cổ phiếu Zoom tăng từ khoảng 70 USD đầu năm 2020 lên hơn 500 USD vào tháng 10/2020. Đẩy mạnh đầu tư vào y tế và công nghệ sinh học, điển hình là giá cổ phiếu của các công ty như Pfizer, Moderna và BioNTech tăng mạnh, thu hút hàng tỷ USD đầu tư. Sự bùng nổ của tiền điện tử khi Bitcoin tăng từ khoảng 7.000 USD vào tháng 3/2020 lên mức gần 65.000 USD vào tháng 4/2021. Cuối cùng là bất động sản ngoại ô do xu hướng làm việc từ xa khiến nhu cầu nhà ở tại khu vực trung tâm giảm, trong khi nhà ở ngoại ô, có không gian rộng rãi hơn lại được quan tâm. Chính vì sự dịch chuyển trong cơ cấu vốn chuyển biến quá nhanh, đã tạo ra cơ hội cho các nhà đầu tư. Mặt khác đây cũng là thách thức vô cùng lớn khi vấn đề về tính minh bạch và công bố thông tin vẫn là một bài toán khó mà các nhà đầu tư quan tâm. Từ việc chậm trễ báo cáo tài chính đến nghi ngờ về độ chính xác của dữ liệu công bố, gây ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin của nhà đầu tư, hiệu quả quản lý nhà nước. Việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin là vấn đề vô cùng cấp thiết. Đặc biệt sau dư chấn làn sóng bê bối gian lận kế toán của hàng loạt các ông lớn như: WorldCom, Enron, Olympus, Health South,….. Tính minh bạch và công bố thông tin đã trở thành một trong những yếu tố quan trọng nhằm thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư.

1.2 Tính cấp thiết của đề tài Luận văn: Nhân tố tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

Hiểu được tầm quan trọng của tính minh bạch và công bố thông tin, khi minh bạch được xem là một trong những yếu tố quan trọng làm tăng sức hấp dẫn của một công ty và niềm tin của nhà đầu tư (Truong & Nguyen, 2024). Sự thiếu minh bạch ở một số công ty đã mang đến hậu quả tiêu cực khó lường, thậm chí còn tạo ra hiệu ứng dây truyền bất lợi cho toàn bộ thị trường. Việc phân tích các nhân tố tác động đến mức độ minh bạch thông tin, sẽ phần nào giúp nhà đầu tư có cái nhìn tổng thể hơn về thị trường, nguyên nhân dẫn đến trường hợp thiếu minh bạch thông tin, đưa ra dự báo từ đó giúp giảm thiểu rủi ro, xây dựng niềm tin cho các nhà đầu tư, giúp nhà đầu tư ra quyết định đúng đắn và kịp thời. Phần lớn các nghiên cứu trước đó tập trung vào nghiên cứu tính minh bạch thông tin của một quốc gia ví dụ: Pfeiffer và Jarchow (2024) khi nghiên cứu 429 công ty từ năm 2006-2014 tại Đức, thông qua mô hình tuyến tính tổng quát (GLM) và mô hình probit cho rằng, quy mô công ty có tác động dương đến tính minh bạch và sự tham gia của các thành viên gia đình trong hội đồng quản trị sẽ làm giảm tính minh bạch. Hoặc thông tin của một khu vực hoặc hệ thống pháp lý và kế toán khác nhau ở các quốc gia, đặc biệt là sự khác biệt giữa các nước theo hệ thống common law và civil law, ví dụ: Bushman và Smith (2003); mà chưa đề cập đến sự khác biệt trong minh bạch thông tin của từng ngành. Bên cạnh đó kết quả nghiên cứu cho thấy vẫn còn nhiều tranh cãi. Một số nghiên cứu trước đó cho rằng các quốc gia có MBTT và môi trường công bố thông tin tốt thì doanh nghiệp ít phụ thuộc vào dòng tiền nội bộ để tài trợ đầu tư – nghĩa là họ có khả năng huy động vốn bên ngoài tốt hơn (Love, 2000). Kiểm toán chất lượng cao có tác động tiêu cực đến MBTT (Kachouri & Jarboui, 2017). Tuy nhiên, Truong và Nguyen (2024) khi nghiên cứu 338 công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) và Hà Nội (HNX) trong giai đoạn 2012–2022, khi phân tích dữ liệu bảng thông qua các bước hồi quy OLS, FEM, REM và các kiểm định cần thiết để lựa chọn mô hình phân tích phù hợp. Đồng thời, các khiếm khuyết mô hình được xử lý bằng hồi quy GLS và hồi quy Robust đã chỉ ra rằng quy mô công ty và vai trò của kiểm toán Big4 có tác động tích cực đến minh bạch thông tin, trong khi đòn bẩy tài chính có tác động tiêu cực đến minh bạch thông tin do mức độ vay nợ cao có thể dẫn đến động cơ điều chỉnh lợi nhuận. Đây cũng là kết quả nghiên cứu của (Le & ctg., 2025). Nhìn chung, số lượng nghiên cứu còn hạn chế. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về minh bạch thông tin chủ yếu tập trung vào xây dựng bộ chỉ số minh bạch và Công bố thông tin (Truong & Nguyen, 2016). Minh bạch đặc biệt trong việc công khai các tài liệu quy hoạch có ảnh hưởng rõ rệt đến việc tăng đầu tư (Malesky & ctg., 2015) hoặc các yếu tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin tài chính các ngành dịch vụ tiện ích, du lịch, hóa dược và vật liệu xây dựng (Le & ctg.,2025). Tuy nhiên số lượng biến vẫn còn hạn chế, chưa có sự tương tác giữa các biến trong nghiên cứu, điều này để ngỏ khả năng thực hiện các nghiên cứu bổ sung với bộ biến phong phú hơn nhằm cung cấp một cái nhìn đầy đủ hơn về các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin. Nghiên cứu này cung cấp thông tin về “Các nhân tố tác động đến mức độ minh bạch thông tin: Trường hợp các công ty ngành dược phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam”. Dữ liệu được thu thập từ 21 công ty ngành dược phẩm được niêm yết trên sàn HOSE, HNX giai đoạn từ năm 2018-2023. Chúng tôi chọn mẫu bắt đầu mẫu từ 2018 vì, như chúng ta đã biết 2020 – 2021 là thời điểm cao trào diễn ra đại dịch COVID-19 đây được xem là cột móc vô cùng quan trọng đối với những thay đổi của ngành dược. Vì vậy dữ liệu thu thập trong giai đoạn từ 2018-2023 sẽ giúp ta có cái nhìn tổng quát về sự khác biệt về tính MBTT trước, trong và sau dịch Covid- 19 Đồng thời để bảo đảm tính liên tục của mẫu, nếu dữ liệu được lùi về trễ hơn, nhiều công ty chưa niêm yết hoặc niêm yết nhưng đã hủy,….dẫn đến tình trạng mẫu nhỏ, mất tính đại diện ngành. Mặc khác, N= 21, để mô hình CRE hiệu quả thì 5 ≤ T ≤ 8 là phù hợp, nếu T quá dài có thể gây nhiễu thông tin, hơn nữa trong thời gian dài, dữ liệu có thể không ổn định, làm tăng sai số. Thời điểm 2018 đây là năm tài chính đầy đủ đầu tiên sau khi Nghị định 71/2017/NĐ-CP có hiệu lực và Thông tư 95/2017/TT-BTC được ban hành, qua đó chuẩn hóa nghĩa vụ và tần suất công bố thông tin quản trị, giúp tăng tính nhất quán và khả năng so sánh theo thời gian của dữ liệu quản trị và tài chính. Câu hỏi đặc ra là liệu việc kiêm nhiệm chức vụ CEO và tổng giám đốc/ giám đốc có làm cản trở tính minh bạch thông tin? Quyền sở hữu hội đồng quản trị lớn hơn có liên kết hay ràng buộc các giám đốc trong các quyết định công bố thông tin không? Hay đòn bẩy tài chính tác động như thế nào đến tính minh bạch thông tin? Cuối cùng kiểm toán Big4 có làm giảm tác động tiêu cực của việc kiêm nhiệm chức vụ đối với tính minh bạch thông tin?

Cho đến nay, vẫn chưa có một công thức hay thước đo chính thức nào để đánh giá mức độ minh bạch thông tin của một công ty tại Việt Nam. Bài nghiên cứu dựa trên sự kế thừa thang đo minh bạch thông tin của (Truong & Nguyen, 2016). Trong bối cảnh hệ thống pháp luật về chứng khoán vẫn đang trong giai đoạn hoàn thiện, nhiều chính sách chưa thực sự phù hợp với thực tế và tương thích với công ước quốc tế. Việc nhận định về tính minh bạch thông tin vẫn chưa thực sự được đánh giá đúng và đủ. Sự thiếu minh bạch là nguyên nhân dẫn đến những gian lận gây ảnh hưởng to lớn đến thị trường. Các cam kết của doanh nghiệp trong việc công bố kịp thời và minh bạch thông tin tài chính làm giảm rủi ro lựa chọn bất lợi đối với nhà đầu tư –đặc biệt là trong giao dịch với người có thông tin nội bộ. Điều này giúp tăng thanh khoản thị trường và giảm chi phí vốn (Bushman & Smith, 2003). Chính vì vậy, tác giả mở rộng hướng nghiên cứu này thông qua nhận diện đầy đủ hơn các yếu tố có ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin sang lĩnh vực dược phẩm để đánh giá thực trạng minh bạch thông tin của các công ty dược phẩm niêm yết là thật sự cần thiết. Qua đó giúp cho các nhà hoạch định chính sách có sự điều chỉnh hợp lý nhằm tăng cường chất lượng minh bạch thông tin, cũng như giúp cho cổ đông nhận thấy cần tăng cường quản trị công ty nhằm nâng cao tính minh bạch thông tin tại các công ty dược phẩm Việt Nam. Kết quả được kỳ vọng là sự kiêm nhiệm chức vụ CEO và tổng giám đốc/ giám đốc (dual), tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của thành viên Hội đồng quản trị (bo), Đòn bẩy tài chính (lev) có tác động âm đến minh bạch thông tin (trans). Tương tác giữa dual và Công ty kiểm toán (aud) là tác động âm, tác động này giảm bớt khi công ty được kiểm toán bởi Big4. Luận văn: Nhân tố tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

1.3 Mục tiêu nghiên cứu luận văn

1.3.1 Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát là phân tích các nhân tố tác động đến mức độ minh bạch thông tin của các công ty ngành dược phẩm niêm yết trên sàn HOSE và sàn HNX giai đoạn 2018-2023. Qua đó, đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao tính minh bạch thông tin của các công ty ngành dược phẩm.

1.3.2 Mục tiêu cụ thể

  • Đo lường thực trạng minh bạch thông tin của các công ty dược phẩm niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2018–2023.
  • Xác định các nhân tố tác động đến mức độ minh bạch thông tin của các công ty dược phẩm niêm yết tại Việt Nam.
  • Phân tích xu hướng và mức độ ảnh hưởng của các tác động của từng nhân tố đến mức độ minh bạch thông tin.
  • Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao tính minh bạch thông tin của các công ty ngành dược phẩm, phù hợp với đặc thù ngành và bối cảnh thị trường Việt Nam, góp phần tăng cường niềm tin nhà đầu tư và phát triển thị trường vốn.

1.4 Câu hỏi nghiên cứu

  • Câu hỏi 1: Những nhân tố nào tác động đến mức độ minh bạch thông tin của các công ty ngành dược phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam?
  • Câu hỏi 2: Xu hướng và mức độ ảnh hưởng của các tác động của từng nhân tố đến mức độ minh bạch thông tin như thế nào?
  • Câu hỏi 3: Kiểm toán bởi công ty Big4 có điều tiết và làm suy yếu tác động tiêu cực của tình trạng kiêm nhiệm chức vụ đến minh bạch thông tin không?
  • Câu hỏi 4: Tác động tiêu cực của kiêm nhiệm chức vụ đến minh bạch thông tin có trở nên mạnh hơn trong các doanh nghiệp mà hội đồng quản trị nắm giữ tỷ lệ cổ phần cao không?
  • Câu hỏi 5: Đâu là các giải pháp nhằm nâng cao tính minh bạch thông tin của các công ty ngành dược phẩm?

1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn: Nhân tố tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

1.5.1 Đối tượng nghiên cứu

  • Mức độ minh bạch thông tin và các nhân tố tác động đến mức độ minh bạch thông tin của các công ty ngành dược phẩm

1.5.2 Phạm vi nghiên cứu

  • Nội dung nghiên cứu: Mức độ minh bạch thông tin và các nhân tố tác động đến mức độ minh bạch thông tin của các công ty ngành dược phẩm
  • Về không gian: Các công ty niêm yết trên sàn HOSE và HNX
  • Về thời gian: Số liệu phân tích dựa trên báo cáo tài chính và công bố thông tin trên web của 21 doanh nghiệp dược phẩm giai đoạn 2018-2023

1.6 Ý nghĩa và đóng góp của nghiên cứu

  • Nghiên cứu của tác giả có sự khác biệt đáng kể so với các nghiên cứu trước.

Thứ nhất, nghiên cứu xác định các nhân tố tác động đến mức độ minh bạch thông tin của các công ty dược phẩm niêm yết tại Việt Nam, trong khi các nghiên cứu trước chủ yếu tập trung vào chất lượng báo cáo, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp của một quốc gia hoặc một khu vực, điều này giúp ta có cái nhìn sâu, cụ thể và có tính ứng dụng cao hơn cho chính ngành dược, bằng cách loại bỏ sự khác biệt giữa các ngành, tập trung vào các yếu tố đặc thù ngành, các vấn đề thực tiễn và giải pháp khả thi trong bối cảnh cụ thể ngành dược phẩm tại Việt Nam.

Thứ hai, nếu các nghiên cứu trước đó sử dụng phương pháp tổng hợp lý thuyết riêng, sau đó dẫn chứng nghiên cứu thực nghiệm để đưa ra giả thuyết thì nghiên cứu của tác giả áp dụng phương pháp tiếp cận đồng thời, bằng cách đối chiếu lý thuyết với dẫn chứng thực nghiệm nhằm cung cấp cái nhìn tổng thể mang tính thuyết phục hơn.

Thứ ba, nghiên cứu sử dụng mô hình CRE, cho phép kiểm soát hiệu ứng cá nhân có tương quan với biến độc lập, hay nói cách khác kiểm tra sự tương tác giữa các biến để quan sát tác động của các biến độc lập với nhau sẽ ảnh hưởng như thế nào đến biến phụ thuộc. Từ đó có cái nhìn tổng thể hơn về cơ cấu tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp, nhằm nâng cao tính minh bạch. Luận văn: Nhân tố tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

  • KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trên đây là nội dung của chương 1, bao gồm lí do chọn đề tài, tính cấp thiết, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, đóng góp của đề tài. Tiếp theo chương 2, tác giả sẽ trình các khái niệm, lý thuyết về MBTT. Theo đó tác giả cũng tổng hợp và sơ lược các nghiên cứu trước để từ đó thấy rõ khoảng trống và tính mới của bài nghiên cứu.

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở lý thuyết

2.1.1 Khái niệm về minh bạch thông tin

Bushman và Smith (2003) cho rằng, minh bạch thông tin là mức độ công khai, chính xác và kịp thời thông tin của doanh nghiệp, giúp nhà đầu tư và các bên liên quan đưa ra quyết định hợp lý. Minh bạch thông tin cao giúp giảm rủi ro, nâng cao hiệu quả thị trường và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng đã đưa ra khái niệm minh bạch thông tin trong lĩnh vực ngân hàng như sau: “Minh bạch thông tin trong hoạt động ngân hàng là việc công bố ra công chúng thông tin kịp thời, tin cậy nhằm đảm bảo người sử dụng thông tin đó có thể đánh giá chính xác về tình hình và kết quả tài chính của ngân hàng, hoạt động kinh doanh và các rủi ro liên quan”.

Tính minh bạch của các hoạt động và Công bố thông tin là một trong những yếu tố tác động mạnh mẽ đến sự ổn định của thị trường tài chính. Một trong những yếu tố quan trọng nhất khiến công ty hấp dẫn được và làm tăng niềm tin của các nhà đầu tư là tính minh bạch. Đối với các bên liên quan, điều quan trọng là các công ty phải minh bạch với cả thông tin tích cực và tiêu cực, tuy nhiên công ty có thể miễn cưỡng chia sẻ hoặc ngăn chặn thông tin tiêu cực công bố ra bên ngoài (Healy & Palepu, 2001).

2.1.2 Lý thuyết nền tảng liên quan đến minh bạch thông tin

2.1.2.1 Lý thuyết đại diện

Lý thuyết đại diện do Michael C. Jensen và William H. Meckling đề xuất trong bối cảnh kinh tế vào những thập niên 1960-1970. Khi mô hình doanh nghiệp đại chúng với sự tách biệt quyền sở hữu (cổ đông) và quyền kiểm soát (nhà quản lý chuyên nghiệp) ngày càng phổ biến, cùng các sự kiện như những vụ bê bối tài chính và sự thất bại của một số tập đoàn lớn. Trong khi các lý thuyết kinh tế vi mô truyền thống (như bản chất doanh nghiệp của Coase) giả định rằng các nhà quản lý luôn hành động vì lợi ích tối đa cho chủ sở hữu. Thực tế cho thấy giả định này không còn phù hợp, có sự mâu thuẫn về mặt lợi ích giữa cổ đông và nhà quản lý chuyên nghiệp. Bằng chứng là, cả cổ đồng và nhà quản lý đều tìm cách tối đa hóa lợi ích cá nhân, đây là tiền đề cũng là nguyên nhân dẫn đến hành vi lừa đảo hoặc tạo ra những lựa chọn bất lợi. Điều này hoàn toàn phù hợp với lý thuyết đại diện của (Jensen & Meckling, 1976) khi cho rằng quan hệ giữa các cổ đông (người ủy quyền) và người quản lý công ty (người được ủy quyền) được hiểu như là quan hệ đại diện hay quan hệ ủy thác. Mối quan hệ này được xem như là mối quan hệ hợp đồng mà theo đó các cổ đông bổ nhiệm, chỉ định người khác để thực hiện việc quản lý cho họ, trong đó bao gồm cả việc trao quyền định đoạt tài sản của công ty. Ở một khía cạnh khác, lý thuyết đại diện chỉ ra rằng sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát công ty sẽ dẫn đến những xung đột về lợi ích khi xảy ra vấn đề bất cân xứng thông tin giữa cổ đông và người quản lý công ty do cả hai bên đều có lợi ích khác nhau. Đối với nhà quản lý họ quan tâm nhiều đến lợi ích của họ sẽ có được (lương, thưởng…), nhưng đối với các cổ đông thì họ lại quan tâm nhiều hơn đến giá trị của công ty. Chính vì sự mâu thuẫn này đã làm phát sinh chi phí đại diện, tức là chi phí để duy trì mối quan hệ đại diện hiệu quả để nhà quản lý hoạt động vì lợi ích của cổ đông nhiều hơn. Những biểu hiện của xung đột này được thể hiện qua việc: sử dụng vốn kém hiệu quả, sử dụng tài sản công cho lợi ích cá nhân (văn phòng xa hoa, xe công đắt tiền, du lịch hạng sang…), tự mãn (không nỗ lực làm việc và luôn cảm thấy những gì mình làm là đủ, là quá nhiều, thiếu sáng tạo, tránh các dự án rủi ro cần thiết nhưng vất vả), chủ nghĩa bành trướng (theo đuổi tăng trưởng quy mô thông qua M&A để gia tăng quyền lực, địa vị và thu nhập, bất kể việc đó có tạo ra giá trị cho cổ đông hay không), trì hoãn/lẩn tránh rủi ro (tránh các dự án rủi ro nhưng có lợi nhuận kỳ vọng cao để bảo vệ vị trí cá nhân), mục đích cá nhân (nhà quản lý có thể ưu tiên các quyết định mang lại lợi ích ngắn hạn để tăng thưởng, thăng chức hơn là giá trị dài hạn).

Bên cạnh đó, lý thuyết đại diện còn chỉ ra mối quan hệ xung đột giữa cổ đông (chủ sở hữu) và chủ nợ. Trong khi cổ đông (đại diện bởi nhà quản lý) muốn tối đa hóa lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, chủ nợ muốn đảm bảo khả năng trả nợ và thu hồi gốc + lãi đúng hạn. Điều này được chứng minh dựa trên việc chủ sở hữu đầu tư vào dự án rủi ro cao (sau khi vay nợ, cổ đông/nhà quản lý có động cơ chuyển vốn vào các dự án rủi ro rất cao. Nếu thành công lợi nhuận lớn thuộc về cổ đông, nếu thất bại chủ nợ chịu phần lớn tổn thất), chi trả cổ tức quá mức (một hình thức rút vốn dưới dạng cổ tức ra khỏi doanh nghiệp, làm giảm tài sản đảm bảo cho chủ nợ, tăng rủi ro vỡ nợ), thâm hụt đầu tư (từ bỏ các dự án NPV dương vì phần lớn lợi ích sẽ thuộc về chủ nợ khi doanh nghiệp gần ngưỡng phá sản). Luận văn: Nhân tố tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

Chi phí đại diện là tổng các chi phí phát sinh do sự tồn tại của quan hệ đại diện và các xung đột lợi ích liên quan, bao gồm: chi phí giám sát (chi phí mà người ủy quyền (cổ đông, chủ nợ) bỏ ra để giám sát và kiểm soát hành vi của người đại diện (nhà quản lý). Ví dụ: chi phí kiểm toán, chi phí hệ thống kiểm soát nội bộ, chi phí hội đồng quản trị), chi phí cam kết (chi phí mà người đại diện (nhà quản lý) tự nguyện bỏ ra để cam kết sẽ không làm tổn hại đến lợi ích của người ủy quyền, hoặc để bồi thường nếu họ gây tổn hại. Ví dụ: chi phí mua bảo hiểm trách nhiệm quản lý, chi phí lập các báo cáo tài chính phức tạp, các điều khoản hạn chế trong hợp đồng quản lý), tổn thất còn lại (sự suy giảm giá trị đối với người ủy quyền do sự khác biệt không thể loại bỏ hoàn toàn giữa quyết định tối ưu của người đại diện và quyết định tối ưu cho người ủy quyền, ngay cả khi đã có giám sát và cam kết. Đây là phần thiệt hại không tránh khỏi và được tính bằng công thức: chi phí đại diện = chi phí giám sát + chi phí cam kết + tổn thất còn lại)

Tóm lại theo lý thuyết đại diện của (Jensen & Meckling, 1976). Thứ nhất, việc lựa chọn cấu trúc vốn (tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu) là một cơ chế để giảm thiểu tổng chi phí đại diện, tăng nợ vừa có tác dụng kỷ luật nhà quản lý (giảm chi phí đại diện cổ đông – quản lý) nhưng lại làm tăng chi phí đại diện cổ đông – chủ nợ, cấu trúc vốn tối ưu là điểm cân bằng giữa hai loại chi phí này. Thứ hai, vấn đề về chi trả cổ tức, khi doanh nghiệp chi trả cổ tức cao, dẫn đến thiếu vốn cho các dự án đầu tư hoặc mở rộng, để bù đắp cho lượng vốn thiếu hụt doanh nghiệp buộc phải huy động vốn từ các nguồn bên ngoài: phát hành cổ phiếu mới, vay nợ từ ngân hàng,….) buộc doanh nghiệp phải thường xuyên tiếp cận thị trường vốn hơn, điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải chịu sự giám sát khắt khe của thị trường và các tổ chức tài chính, từ đó giúp giảm chi phí đại diện cổ đông – nhà quản lý. Tuy nhiên, chi phí đại diện cổ đông – chủ nợ lại có thể tăng lên, đặc biệt nếu doanh nghiệp suy giảm khả năng thanh toán. Bên cạnh đó lý thuyết đại diện còn là cơ sở cho các cơ chế quản trị, cung cấp nền tảng lý luận cho sự ra đời và phát triển của các cơ chế quản trị doanh nghiệp, nhằm giảm thiểu chi phí đại diện. Cơ chế nội bộ: hội đồng quản trị độc lập, hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán độc lập, chính sách thù lao quản lý gắn với hiệu quả.

Sự phát triển lý thuyết đại diện của (Jensen & Meckling, 1976) đã đặt nền móng cho sự hiểu biết hiện đại về động lực bên trong doanh nghiệp và các tổ chức nói chung. Bằng cách khái niệm hóa quan hệ ủy quyền – đại diện, xác định các xung đột lợi ích cố hữu và đặc biệt là đưa ra khái niệm “chi phí đại diện” với ba thành phần rõ ràng: chi phí giám sát, chi phí cam kết và tổn thất còn lại. Lý thuyết đã cung cấp một công cụ phân tích mạnh mẽ, không chỉ giải thích các quyết định tài chính như cấu trúc vốn và chính sách cổ tức, mà còn đặt cơ sở lý luận cho sự phát triển của quản trị doanh nghiệp và hàng loạt nghiên cứu ứng dụng trong kinh tế học, tài chính, quản trị, kế toán, luật và khoa học tổ chức. Mặc dù đã được mở rộng và điều chỉnh qua thời gian, những nguyên lý cốt lõi về xung đột lợi ích và nhu cầu kiểm soát chi phí đại diện mà Jensen và Meckling đề xuất năm 1976 vẫn giữ nguyên giá trị và tiếp tục định hình cách chúng ta suy nghĩ về các tổ chức và sự ủy quyền trong xã hội ngày nay.

2.1.2.2 Lý thuyết tín hiệu Luận văn: Nhân tố tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

Nếu Spence (1973) là người đặt nền móng cho lý thuyết tín hiệu trong kinh tế học, thì Ross (1977) là người phát triển và ứng dụng lý thuyết này vào thị trường tài chính, đây được xem là trụ cột lý thuyết quan trọng trong kinh tế học hiện đại để giải quyết vấn đề thông tin bất đối xứng. Bằng cách chỉ ra cách các cá nhân, tổ chức sử dụng những hành động tốn kém có chi phí khác biệt giữa các loại hình chất lượng để truyền đạt thông tin riêng tư một cách đáng tin cậy, lý thuyết này đã thành công trong việc giải thích một loạt các hiện tượng kinh tế phức tạp, từ đầu tư giáo dục (người có năng lực cao sẽ bỏ ra chi phí thấp hơn người có năng lực thấp để đạt mục tiêu cao hơn) đến quyết định cơ cấu vốn và chính sách cổ tức của doanh nghiệp.

Trong bối cảnh các thị trường luôn tồn tại thông tin bất cân xứng, khi một bên nắm giữ nhiều thông tin hơn bên kia. Lý thuyết tín hiệu của Spence (1973) và Ross (1977) đã ra đời như một công cụ lý thuyết mạnh mẽ chỉ ra cách thức để giải quyết sự bất cân xứng về thông tin, cơ chế phát tín hiệu hay nói cách khác là cách các cá nhân, tổ chức truyền đạt thông tin riêng tư nhằm giảm thiểu sự bất cân xứng này. Theo lý thuyết tín hiệu, Công bố thông tin được xem như là một phương tiện hữu hiệu để đưa tín hiệu đến với các nhà đầu tư. Vì vậy, Công bố thông tin là một công cụ mà các công ty có thể sử dụng để tạo ra sự khác biệt về hiệu quả hoạt động của công ty này so với công ty khác. Lý thuyết này không chỉ có ý nghĩa học thuật sâu sắc mà còn ứng dụng rộng rãi trong tài chính, quản trị nhân sự, marketing và nhiều lĩnh vực kinh tế – xã hội khác.

Sự ra đời của lý thuyết tín hiệu bắt nguồn từ hai nguyên nhân chính: Một là thách thức từ thông tin bất cân xứng trên thị trường lao động (Spence, 1973) người lao động biết rõ năng lực thực sự của mình (thông tin riêng tư), trong khi nhà tuyển dụng không thể quan sát trực tiếp năng lực này trước khi tuyển dụng. Sự bất cân xứng này dẫn đến nghịch lý lựa chọn ngược. Nhà tuyển dụng, không phân biệt được lao động giỏi/kém, có xu hướng trả mức lương trung bình. Điều này khiến lao động giỏi (có năng suất cao hơn mức lương trung bình) không muốn tham gia thị trường, chỉ còn lại lao động kém, làm giảm chất lượng tổng thể thị trường. Câu hỏi đặt ra, làm thế nào người lao động giỏi có thể truyền tín hiệu hay nói cách khác là năng lực thực sự của họ đến nhà tuyển dụng một cách đáng tin cậy để tránh nghịch lý này? Hai là thách thức từ thông tin bất cân xứng trên thị trường vốn (Ross, 1977) ban quản trị doanh nghiệp nắm rõ triển vọng và rủi ro thực sự của công ty, trong khi các nhà đầu tư bên ngoài không có đủ thông tin này. Sự bất cân xứng này cũng dẫn đến nghịch lý lựa chọn ngược. Nhà đầu tư, không phân biệt được công ty tốt/xấu, sẽ định giá cổ phiếu dựa trên giá trị kỳ vọng trung bình. Điều này khiến công ty tốt bị định giá thấp hơn giá trị thực và khó huy động vốn, trong khi công ty xấu lại có thể huy động vốn dễ dàng hơn. Câu hỏi đặt ra: làm thế nào ban quản trị công ty tốt có thể đưa ra tín hiệu chất lượng thực sự của công ty cho nhà đầu tư một cách đáng tin cậy để thu hút vốn với chi phí hợp lý?

Lý thuyết tín hiệu giải quyết các thách thức trên thông qua việc nghiên cứu cách các bên có thông tin tốt hơn (người gửi tín hiệu) sử dụng các hành động quan sát được (tín hiệu) để tiết lộ một cách đáng tin cậy thông tin riêng tư của họ cho bên kém thông tin hơn (người nhận tín hiệu). Luận văn: Nhân tố tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

Tóm lại lý thuyết tín hiệu đã mang lại những kết quả và đóng góp quan trọng, giúp giải thích hành vi trên thị trường bất cân xứng nhằm cung cấp một khuôn khổ lý thuyết vững chắc lý giải tại sao các cá nhân và doanh nghiệp thực hiện những hành động tốn kém (đầu tư giáo dục, sử dụng nợ cao, chia cổ tức, kiểm toán chất lượng cao…) ngay cả khi chúng không trực tiếp làm tăng năng suất hay giá trị nội tại, bởi chúng là “tín hiệu” để truyền đạt thông tin. Giảm thiểu nghịch lý lựa chọn ngược, bằng cách tạo điều kiện cho việc phân biệt các loại hình chất lượng khác nhau lý thuyết tín hiệu giúp giảm thiểu vấn đề “hàng xoàng đuổi hàng tốt”, cải thiện hiệu quả hoạt động của thị trường. Định hình chính sách và quyết định nhân sự, giải thích tiền lương dựa trên bằng cấp, vai trò của chứng chỉ nghề nghiệp. Giải thích các quyết định về cơ cấu vốn, chính sách cổ tức, phát hành vốn cổ phần, lựa chọn kiểm toán viên cũng như việc sử dụng giá cao, bảo hành dài hạn, quảng cáo tốn kém để giải quyết vấn đề tín hiệu chất lượng sản phẩm…….

2.1.2.3 Lý thuyết chính sách công bố thông tin

Lý thuyết công bố thông tin được phát triển bởi nhiều tác giả và được kế thừa dựa trên các lý thuyết liên quan như lý thuyết đại diện, lý thuyết các bên liên quan và lý thuyết thông tin bất đối xứng. Healy và Palepu (2001) đã nghiên cứu về động cơ và tác động của chính sách công bố thông tin lên thị trường, Watts và Zimmerman (1986) người đã phát triển lý thuyết về công bố thông tin từ góc độ kế toán doanh nghiệp. Lý thuyết chính sách công bố thông tin là một trụ cột lý thuyết trong kế toán, tài chính và quản trị doanh nghiệp, lý thuyết này tập trung nghiên cứu về động cơ, nội dung, thời điểm và phương thức công bố thông tin của các tổ chức đặc biệt là doanh nghiệp, nhằm tối ưu hóa lợi ích của các bên liên quan và nâng cao tính minh bạch thị trường.

Dựa trên cơ sở hình thành, lý thuyết công bố thông tin ra đời nhằm khắc phục ba nguyên nhân chính. Một là, thất bại thị trường do thông tin bất đối xứng. Thị trường tài chính tồn tại tình trạng thông tin không cân xứng giữa nhà quản lý (người nắm thông tin) và nhà đầu tư (người thiếu thông tin), dẫn đến rủi ro lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức. Hai là, yêu cầu về tính minh bạch trong quản trị doanh nghiệp. Các bên liên quan (cổ đông, chủ nợ, cơ quan quản lý) ngày càng yêu cầu doanh nghiệp công bố thông tin đầy đủ để giảm thiểu xung đột lợi ích (theo Lý thuyết Đại diện). Ba là, áp lực từ cơ chế pháp lý và thị trường. Các quy định bắt buộc công bố thông tin (ví dụ: Luật Chứng khoán) và kỳ vọng của nhà đầu tư buộc doanh nghiệp phải xây dựng chính sách công bố hợp lý. Luận văn: Nhân tố tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

Từ đó trả lời các câu hỏi:

  • Công bố thông tin gì? Thông tin tài chính (báo cáo tài chính, dự báo lợi nhuận), phi tài chính (ESG (tập hợp ba tiêu chuẩn đánh giá và đo lường các yếu tố về phát triển toàn diện), quản trị công ty), rủi ro kinh doanh, chiến lược dài hạn,… với tiêu chí thông tin có khả năng tác động đến quyết định của nhà đầu tư.
  • Thời điểm công bố? Cân nhắc giữa công bố kịp thời để giảm bất đối xứng thông tin và tránh công bố gây bất ổn thị trường (ví dụ: trong giai đoạn khủng hoảng).
  • Cách thức công bố? Lựa chọn kênh công bố (báo cáo thường niên, họp báo, cổng thông tin điện tử) và hình thức trình bày (đơn giản, dễ hiểu, đa ngôn ngữ) để tối đa hóa hiệu quả tiếp cận.

Mục tiêu của lý thuyết:

  • Giảm chi phí vốn: công bố thông tin minh bạch giúp giảm bất đối xứng thông tin → nhà đầu tư yên tâm hơn → giảm tỷ suất sinh lợi yêu cầu (Botosan, 1997).
  • Nâng cao giá trị doanh nghiệp: doanh nghiệp có chính sách công bố tốt thường được định giá cao hơn (Lang & Lundholm, 1993).
  • Giảm xung đột đại diện: minh bạch thông tin hạn chế hành vi cơ hội của nhà quản lý (Jensen & Meckling, 1976).
  • Tăng tính ổn định thị trường: công bố kịp thời giúp thị trường phản ứng hợp lý hơn với biến động (Verdi, 2006).

Tóm lại, lý thuyết chính sách công bố thông tin hình thành từ nhu cầu giải quyết thất bại thị trường do thông tin bất đối xứng và xung đột lợi ích giữa các bên liên quan. Nội dung cốt lõi xoay quanh việc giải quyết ba vấn đề: thông tin cần công bố, thời điểm công bố và cách thức công bố nhằm tối ưu hóa lợi ích kinh tế và nâng cao minh bạch. Lý thuyết được định hình bởi (Watts & Zimmerman, 1986) và hoàn thiện bởi (Healy & Palepu, 2001). Lý thuyết đã phát triển từ góc độ kế toán đơn thuần sang tích hợp quản trị, tài chính và phát triển bền vững. Kết quả thực tiễn cho thấy chính sách công bố hiệu quả góp phần giảm chi phí vốn, tăng giá trị doanh nghiệp và ổn định thị trường. Luận văn: Nhân tố tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

2.1.2.4 Lý thuyết thông tin bất đối xứng

Sự hoàn hảo của thị trường trong lý thuyết cổ điển dựa trên giả định, tất cả các bên tham gia đều nắm giữ thông tin đầy đủ và hoàn hảo. Tuy nhiên, trong thực tế, giả định này hiếm khi xảy ra. Lý thuyết thông tin bất đối xứng ra đời nhằm phân tích các tình huống trong đó một bên trong giao dịch sở hữu nhiều thông tin hoặc chi tiết hơn so với bên kia. Sự bất cân xứng này phá vỡ cơ chế vận hành của thị trường, dẫn đến các hiện tượng kém hiệu quả như lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức gây ra rủi ro trong giao dịch. Akerlof (1970) đưa ra khái niệm “thị trường lemon” giải thích cách thông tin bất đối xứng gây ra sự lựa chọn đối nghịch của các nhà đầu tư. Spence (1973) đề xuất phương pháp để bên có ít thông tin hơn có thể suy luận thông tin thông qua tín hiệu; Stiglitz (1975) mở rộng khái niệm sàng lọc thông tin để giảm tác động của thông tin bất đối xứng. Hậu quả của việc thông tin bất đối xứng là bên có ít thông tin hơn sẽ dễ ra quyết định không hiệu quả bằng bên có đầy đủ thông tin; mặc khác bên có nhiều thông tin có thể gây ra hành vi gian lận, lừa đảo.

Lý thuyết thông tin bất đối xứng hình thành từ thực tế hiển nhiên, nhưng lại bị bỏ qua trong các mô hình kinh tế học thuần túy ban đầu. Bởi lẽ chi phí để có được thông tin là rất cao và không phải ai cũng có khả năng tiếp cận như nhau, đặc biệt trong điều kiện thị trường hiện tại.

Chuyên môn hóa và phân công lao động. Trong nền kinh tế hiện đại, sự phân công lao động ngày càng sâu rộng dẫn đến việc các cá nhân và tổ chức trở nên cực kỳ am hiểu trong lĩnh vực của mình, nhưng lại thiếu hiểu biết về các lĩnh vực khác. Chẳng hạn, một người thợ sửa ô tô biết rõ về tình trạng chiếc xe hơn nhiều so với người chủ muốn bán nó.

Lợi thế của người trong cuộc. Bên trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, tiêu thụ hoặc sở hữu tài sản luôn nắm giữ những thông tin chi tiết mà bên ngoài khó lòng biết được (ví dụ: người quản lý biết rõ năng lực của doanh nghiệp hơn cổ đông, người mua bảo hiểm biết rõ tình trạng sức khỏe của mình hơn công ty bảo hiểm).

Sự phức tạp của hàng hóa và dịch vụ. Các sản phẩm ngày càng trở nên phức tạp về mặt kỹ thuật, khiến cho người tiêu dùng thông thường không đủ khả năng đánh giá chính xác chất lượng của chúng (ví dụ: chất lượng một con chíp máy tính, hiệu quả của một quỹ đầu tư). Luận văn: Nhân tố tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

Chênh lệch thông tin tạo ra lợi thế cho bên nắm giữ nhiều thông tin hơn và là nguyên nhân sâu xa dẫn đến những vấn đề trên thị trường. Chính vì vậy, lý thuyết thông tin bất đối xứng đã ra đời, tập trung giải quyết hai vấn đề chính phát sinh là Lựa chọn ngược và Tín hiệu, đồng thời đề xuất cơ chế sàng lọc để khắc phục chúng. Akerlof (1970) đưa ra mô hình Market for Lemons để minh họa, kiểm tra tính chính xác của thông tin. Trên thị trường tồn tại cả xe tốt và xe xấu. Người bán biết rõ chất lượng xe, nhưng người mua thì không. Vì không thể phân biệt, người mua chỉ sẵn sàng trả một mức giá trung bình. Điều này khiến người bán xe tốt không muốn bán vì giá bị đè xuống, trong khi người bán xe xấu lại rất muốn bán. Kết quả, tỷ lệ xe xấu trên thị trường ngày càng tăng, chất lượng trung bình giảm xuống và cuối cùng thị trường xe tốt có thể sụp đổ hoàn toàn, chỉ còn lại xe xấu. Hậu quả, lựa chọn đối nghịch xảy ra. Nó dẫn đến sự kém hiệu quả của thị trường, thậm chí là tạo ra thất bại thị trường, nơi các giao dịch cùng có lợi không thể diễn ra.

Để giải quyết vẫn đề nêu trên, Spence (1973) đã đề xuất phương pháp tín hiệu, nhằm đưa ra một cơ chế, từ đó bên có nhiều thông tin chủ động truyền tải thông tin một cách đáng tin cậy cho bên ít thông tin thông qua các hành động tốn kém. Hành động tốn kém đó được gọi là “tín hiệu”. Ví dụ điển hình là bằng cấp trong tuyển dụng. Một ứng viên tài năng có thể sử dụng tấm bằng từ một trường đại học danh giá (một tín hiệu tốn kém về thời gian, tiền bạc và trí tuệ) để chứng minh năng lực của mình cho nhà tuyển dụng. Ứng viên kém năng lực sẽ khó lòng bắt chước tín hiệu này vì chi phí để họ đạt được nó là quá cao. Kết quả tín hiệu này giúp giảm bớt sự bất đối xứng thông tin, cho phép thị trường hoạt động hiệu quả hơn. Nó cho phép phân loại các đối tượng có chất lượng khác nhau, từ đó khắc phục được vấn đề lựa chọn đối nghịch.

Stiglitz (1975) đã đưa ra khái niệm về sàn lọc thông tin. Trái ngược với tín hiệu, sàng lọc là cơ chế do bên thiếu thông tin chủ động thiết kế để phát hiện và phân loại bên có nhiều thông tin (bên A). Stiglitz phân tích điều này trong thị trường bảo hiểm và tín dụng. Ví dụ, một công ty bảo hiểm (bên B) không biết rủi ro thực sự của từng khách hàng (bên A). Họ có thể đưa ra một menu các hợp đồng với các mức phí và khấu trừ khác nhau. Khách hàng ít rủi ro sẽ lựa chọn hợp đồng có phí thấp và mức khấu trừ cao, trong khi khách hàng nhiều rủi ro sẽ chọn hợp đồng có phí cao và khấu trừ thấp. Thông qua lựa chọn của khách hàng, công ty bảo hiểm đã “sàng lọc” được thông tin. Kết quả, sàng lọc cho phép bên thiếu thông tin thiết kế cơ chế để buộc bên kia tiết lộ đặc điểm riêng của họ, từ đó giảm thiểu tác hại của lựa chọn đối nghịch và định giá chính xác hơn cho từng nhóm đối tượng

Về nguồn gốc hình thành, mặc dù nhận thức về vấn đề thông tin bất đối xứng đã có từ trước, nhưng bài báo “The market for lemons: quality uncertainty and the market mechanism” (Akerlof, 1970) được coi là viên đá tảng đầu tiên thiết lập nên lý thuyết này một cách chính thức và có hệ thống. Akerlof là người đầu tiên chỉ ra một cách rõ ràng và trực quan rằng thông tin bất đối xứng có thể dẫn đến sự sụp đổ của toàn bộ thị trường. Nghiên cứu đã mở đường cho hai phát hiện quan trọng tiếp theo: “Job Market Signaling” (Spence, 1973) và các bài báo về sàng lọc trong bảo hiểm và thị trường vốn “The theory of” screening,” education, và the distribution of income” (Stiglitz, 1975) và “Information và competitive price systems” (Grossman và Stiglitz, 1976). Luận văn: Nhân tố tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

Tóm lại, lý thuyết thông tin bất đối xứng, với ba đóng góp nền tảng về lựa chọn đối nghịch, tín hiệu và sàng lọc, đã làm thay đổi cách các nhà kinh tế học nhìn nhận về sự vận hành của thị trường. Nó chỉ ra rằng, sự không hoàn hảo của thông tin không phải là một ngoại lệ mà là quy luật phổ biến, và chính điều này là nguyên nhân sâu xa của nhiều hiện tượng kinh tế phức tạp. Từ một ý tưởng khai phá về “thị trường chanh”, lý thuyết đã phát triển thành một trụ cột của kinh tế học vi mô hiện đại, có sức ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều lĩnh vực từ tài chính, quản trị đến chính sách công, cung cấp những công cụ mạnh mẽ để phân tích và cải thiện hiệu quả của các giao dịch trên thực tế.

2.1.2.5 Lý thuyết đo lường minh bạch thông tin

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của thị trường tài chính, minh bạch thông tin đã trở thành một trụ cột quan trọng của quản trị doanh nghiệp hiện đại. Minh bạch thông tin không đơn thuần là việc công bố thông tin mà là sự đầy đủ, kịp thời, dễ tiếp cận và đáng tin cậy của các thông tin tài chính và phi tài chính, giúp các bên liên quan (nhà đầu tư, cổ đông, cơ quan quản lý) đưa ra các quyết định kinh tế hợp lý. Tuy nhiên, bản tính của minh bạch được xem là vô hình và trừu tượng, vì minh bạch vốn là một thuộc tính chất lượng, khó quan sát và so sánh trực tiếp. Giới nghiên cứu và nhà đầu tư không thể dừng lại ở các nhận định chung chung như công ty A minh bạch hơn công ty B mà cần một thước đo định lượng, khách quan để kiểm chứng các giả thuyết. Nhu cầu nhìn thấy và đong đếm được sự minh bạch là động lực chính thúc đẩy sự ra đời của lý thuyết đo lường minh bạch thông tin. Mặt khác, yêu cầu từ các nghiên cứu thực nghiệm: Các lý thuyết nền tảng như lý thuyết đại diện hay lý thuyết tín hiệu đều đưa ra các dự đoán về mối quan hệ giữa minh bạch thông tin với các biến số khác (như chi phí vốn, hiệu quả hoạt động, giá trị doanh nghiệp). Tuy nhiên, để kiểm định các mối quan hệ này một cách khoa học, minh bạch phải được chuyển đổi thành một biến số có thể phân tích được trong các mô hình hồi quy. Không có sự đo lường, mọi giả thuyết chỉ dừng lại ở suy diễn lý thuyết. Áp lực từ thực tiễn quản trị và đầu tư: Các nhà quản lý cần một công cụ để đánh giá và cải thiện chính sách công bố thông tin của mình. Các nhà đầu tư cần một tiêu chí để so sánh và lựa chọn cổ phiếu. Các cơ quan quản lý (như Ủy ban Chứng khoán) cần một chỉ báo để giám sát tuân thủ và đánh giá sức khỏe của thị trường. Tất cả các đối tượng này đều cần một thước đo chuẩn mực và thống nhất, điều mà lý thuyết đo lường hướng đến để đáp ứng. Do đó, lý thuyết đo lường minh bạch thông tin ra đời nhằm mục tiêu lượng hóa khái niệm này, biến khái niệm thành một đối tượng có thể quan sát, so sánh và phân tích một cách khoa học. Luận văn: Nhân tố tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

Lý thuyết đo lường minh bạch thông tin không phải là một học thuyết độc lập do một tác giả cụ thể nào sáng lập. Thay vào đó, nó là sự kế thừa, tích hợp và phát triển từ các lý thuyết nền tảng khác: Lý thuyết đại diện của Jensen và Meckling (1976) đã chỉ ra mâu thuẫn lợi ích giữa người chủ sở hữu (cổ đông) và người đại diện (nhà quản lý). Thông tin bất đối xứng là nguồn cốt lõi của mâu thuẫn này. Việc đo lường minh bạch chính là cách để giảm thiểu bất đối xứng thông tin, giúp cổ đông giám sát hiệu quả hơn các hành vi của nhà quản lý, từ đó giảm chi phí đại diện. Lý thuyết tín hiệu (Spence, 1973) đã đưa ra dẫn chứng, các công ty có chất lượng tốt có động cơ báo hiệu cho thị trường biết điều đó thông qua mức độ minh bạch cao. Việc đo lường mức độ minh bạch trở thành một tín hiệu có thể định lượng được, giúp phân biệt các công ty tốt với công ty kém chất lượng, từ đó thu hút vốn với chi phí thấp hơn. Lý thuyết các bên liên quan (Freeman, 1984) đã giải thích minh bạch không chỉ dành cho nhà đầu tư mà còn cho tất cả các bên liên quan (nhân viên, khách hàng, cộng đồng). Đo lường minh bạch giúp đánh giá mức độ đáp ứng trách nhiệm và sự tương tác của doanh nghiệp với toàn bộ các nhóm này. Sự ra đời của các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) và các quy định về công bố thông tin ngày càng chặt chẽ chính là bối cảnh thực tiễn thúc đẩy sự phát triển của lý thuyết này. Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng, mặc dù cùng tuân thủ một chuẩn mực, mức độ minh bạch giữa các công ty là khác nhau, và sự khác biệt này có tác động đến hiệu quả hoạt động và giá trị của doanh nghiệp. Sự phát triển của các phương pháp đo lường lý thuyết đo lường minh bạch thông tin phát triển song hành với sự tiến hóa của các phương pháp đo lường và có thể chia sự phát triển này thành ba giai đoạn chính

Giai đoạn đầu: Đo lường bằng chỉ số định tính. Các nghiên cứu ban đầu thường sử dụng các biến số đại diện, phổ biến nhất: Chất lượng kiểm toán, việc sử dụng danh tiếng của kiểm toán viên (doanh nghiệp có được kiểm toán bởi Big $ hay không) làm yếu tố đại diện cho chất lượng và độ tin cậy của báo cáo tài chính. Quy mô hội đồng quản trị và tính độc lập của Hội đồng quản trị, dựa trên giả định một Hội đồng quản trị có tỷ lệ thành viên độc lập cao sẽ giám sát và yêu cầu công bố thông tin tốt hơn. Sở hữu tổ chức, các nhà đầu tư tổ chức được cho là có năng lực và động cơ giám sát, thúc đẩy minh bạch thông tin.

Giai đoạn phát triển: Đo lường bằng chỉ số tổng hợp. Đây là bước tiến quan trọng, cho phép lượng hóa trực tiếp mức độ minh bạch thông qua việc xây dựng các chỉ số tổng hợp từ nhiều tiêu chí. Các nghiên cứu tiên phong có ảnh hưởng lớn bao gồm: Chỉ số công bố thông tin của (CIFAR, 1995), một trong những nỗ lực đầu tiên và có hệ thống, xếp hạng minh bạch của các công ty dựa trên số lượng mục thông tin được công bố trong báo cáo thường niên. Nghiên cứu của (Botosan, 1997) trong bài báo kinh điển “Disclosure Level and the Cost of Equity Capital” đăng trên Tạp chí The Accounting Review của Mỹ, Botosan đã xây dựng một chỉ số định lượng cho minh bạch thông tin dựa trên 5 nhóm thông tin trong báo cáo thường niên của các công ty sản xuất. Nghiên cứu này cung cấp một công cụ đo lường cụ thể và tìm thấy mối quan hệ nghịch biến giữa mức độ công bố thông tin và chi phí vốn chủ sở hữu. Đây được xem là một cột mốc quan trọng, thiết lập nền tảng phương pháp luận cho nhiều nghiên cứu sau này. Nghiên cứu của Standard & Poor’s đã phát triển một bộ tiêu chí đánh giá tính minh bạch toàn diện hơn, bao gồm cả thông tin sở hữu và cơ cấu tổ chức. Luận văn: Nhân tố tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

Giai đoạn hiện đại: Đo lường đa chiều và ứng dụng công nghệ lý thuyết tiếp tục phát triển với cách tiếp cận toàn diện hơn: Mô hình của Bushman và cộng sự (2004) trong bài báo “What determines corporate transparency?” trên Tạp chí Journal of Accounting Research, các tác giả đề xuất một khung đo lường minh bạch đa chiều, bao gồm: Cường độ công bố thông tin, tính kịp thời của thông tin và mức độ thấu hiểu của nhà phân tích và truyền thông. Cách tiếp cận này phản ánh rõ ràng hơn bản chất phức tạp của minh bạch thông tin. Ứng dụng xử lý ngôn ngữ tự nhiên, với sự bùng nổ của dữ liệu lớn (Big Data), các nhà nghiên cứu bắt đầu sử dụng kỹ thuật ngôn ngữ tự nhiên để phân tích văn bản (báo cáo thường niên, bản tin, họp báo) nhằm đo lường tính dễ đọc, sắc thái cảm xúc và mức độ cụ thể của thông tin, mở ra một hướng đi mới cho lý thuyết đo lường minh bạch.

Tóm lại, việc hình thành lý thuyết đo lường minh bạch thông tin không phải là ngẫu nhiên mà là kết quả tất yếu của quá trình phát triển nhận thức và nhu cầu thực tiễn trong nghiên cứu quản trị công ty và tài chính. Lý thuyết này được hình thành từ nền tảng của lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu và được thúc đẩy bởi nhu cầu thực tiễn từ thị trường vốn. Lý thuyết không ngừng phát triển, từ những cách tiếp cận gián tiếp, đơn lẻ sang các phương pháp đo lường trực tiếp, tổng hợp và đa chiều. Sự tiến hóa của nó phản ánh nỗ lực không ngừng của giới học thuật và thực hành trong việc nắm bắt một khái niệm then chốt nhưng phức tạp, góp phần nâng cao hiệu quả của thị trường tài chính và quản trị công ty trên toàn cầu.

2.1.2.6 Lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin

Mức độ minh bạch thông tin giữa các doanh nghiệp không đồng nhất và luôn biến động. Sự khác biệt này không phải ngẫu nhiên mà chịu sự chi phối của một hệ thống các nhân tố nội sinh và ngoại sinh. Việc xác định và phân tích các nhân tố này dựa trên nền tảng lý thuyết vững chắc, giúp giải thích tại sao một số doanh nghiệp tự nguyện công bố thông tin vượt trội trong khi số khác chỉ tuân thủ mức tối thiểu. Lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin là một trụ cột quan trọng, cung cấp khung phân tích toàn diện cho các nghiên cứu thực nghiệm.

Sau khi đã có các công cụ đo lường, một câu hỏi mới và tất yếu nảy sinh: Tại sao mức độ minh bạch giữa các doanh nghiệp lại khác nhau? Lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng hình thành để trả lời câu hỏi này. Phát hiện về sự không đồng nhất trong thực tế: Các nghiên cứu ban đầu sử dụng các thước đo minh bạch (Botosan, 1997) đã chỉ ra một thực tế hiển nhiên, ngay cả khi cùng hoạt động trong một môi trường pháp lý, cùng ngành nghề, mức độ minh bạch giữa các doanh nghiệp vẫn có sự chênh lệch rất lớn. Sự khác biệt hệ thống này cho thấy phải có những yếu tố cấu trúc hoặc chiến lược đang chi phối hành vi công bố thông tin. Nhu cầu giải thích và dự báo hành vi doanh nghiệp, cộng đồng học thuật và các nhà quản lý không chỉ muốn mô tả sự khác biệt mà còn muốn hiểu được nguyên nhân sâu xa đằng sau chúng. Việc xác định được các nhân tố then chốt sẽ giúp giải thích động cơ (lợi ích và chi phí) khi doanh nghiệp quyết định mức độ minh bạch, dựa trên các lý thuyết như Đại diện, tính hợp pháp hay các bên liên quan. Dự đoán được doanh nghiệp nào có xu hướng minh bạch hơn, từ đó hỗ trợ cho việc ra quyết định đầu tư và giám sát. Nhu cầu hoạch định chính sách hiệu quả đối với các cơ quan quản lý, việc hiểu rõ đâu là những yếu tố thúc đẩy hoặc kìm hãm tính minh bạch là vô cùng quan trọng. Chẳng hạn, nếu nghiên cứu chỉ ra rằng sở hữu tập trung là nhân tố cản trở minh bạch, các nhà hoạch định chính sách có thể thiết kế các quy định nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của nhân tố này (ví dụ: siết chặt quy định công bố thông tin giao dịch của cổ đông lớn). Ngược lại, nếu sở hữu tổ chức thúc đẩy minh bạch, chính sách có thể khuyến khích sự tham gia của nhóm nhà đầu tư này. Tóm lại, nguyên nhân hình thành lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng bắt nguồn từ sự tò mò học thuật và nhu cầu thực tiễn muốn lý giải sự đa dạng trong hành vi công bố thông tin, từ đó tìm ra các đòn bẩy để quản lý và cải thiện tính minh bạch của toàn hệ thống. Luận văn: Nhân tố tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

Tương tự như lý thuyết đo lường, lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng được xây dựng dựa trên sự kết hợp của nhiều lý thuyết nền tảng, mỗi lý thuyết đưa ra một góc nhìn về động cơ và sức ép khiến doanh nghiệp phải cân nhắc mức độ minh bạch. Lý thuyết Cơ chế đền bù cho rằng, doanh nghiệp tồn tại trong một khế ước xã hội ngầm định. Để duy trì sự tồn tại, doanh nghiệp phải hành động phù hợp với các chuẩn mực và kỳ vọng của xã hội. Khi có khoảng cách tính hợp pháp, tức là sự khác biệt giữa hành vi của doanh nghiệp và kỳ vọng xã hội, doanh nghiệp sẽ sử dụng công bố thông tin như một công cụ để thu hẹp khoảng cách này. Các nhân tố như quy mô, áp lực truyền thông, hoặc hoạt động trong ngành nhạy cảm (môi trường, xã hội) thường thúc đẩy minh bạch nhằm duy trì tính hợp pháp. Lý thuyết Các bên liên quan đưa ra dẫn chứng cho thấy doanh nghiệp phải quản lý mối quan hệ với tất cả các nhóm có quyền lợi liên quan, không chỉ riêng cổ đông. Mức độ và nội dung thông tin công bố sẽ phụ thuộc vào quyền lực và sự ảnh hưởng của từng nhóm bên liên quan. Ví dụ, áp lực từ các nhà đầu tư tổ chức, khách hàng lớn, hoặc các tổ chức phi chính phủ sẽ trực tiếp thúc đẩy mức độ minh bạch. Lý thuyết đại diện, dựa trên việc công bố thông tin được xem như một cơ chế để giảm thiểu chi phí đại diện. Các nhân tố làm trầm trọng thêm mâu thuẫn đại diện (như cơ cấu sở hữu phân tán, sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành) sẽ thúc đẩy nhu cầu minh bạch cao hơn để giám sát nhà quản lý. Lý thuyết tín hiệu giải thích động cơ minh bạch dưới góc độ chi phí vốn. Doanh nghiệp có chất lượng cao, cần huy động vốn với chi phí thấp, sẽ có động cơ báo hiệu cho thị trường thông qua mức độ minh bạch cao. Ngược lại, doanh nghiệp gặp khó khăn có thể ngại công bố thông tin tiêu cực. Dựa trên các nền tảng lý thuyết trên, các nghiên cứu thực nghiệm đã tổng hợp và kiểm định một hệ thống các nhân tố ảnh hưởng, có thể được phân loại thành hai nhóm chính.

Nhóm nhân tố đặc điểm doanh nghiệp: Quy mô doanh nghiệp là nhân tố được khẳng định vững chắc nhất trong hầu hết các nghiên cứu. Các doanh nghiệp có quy mô lớn thường minh bạch hơn (Lang & Lundholm, 1993; Ahmed & Courtis, 1999). Do chịu áp lực giám sát lớn hơn từ công chúng và cơ quan quản lý, có đủ nguồn lực tài chính và con người để xây dựng hệ thống công bố thông tin phức tạp, có động cơ giảm chi phí chính trị. Kết quả, mối quan hệ này thường được lý giải bằng lý thuyết tín hiệu. Các doanh nghiệp có lợi nhuận cao có xu hướng tự nguyện công bố nhiều thông tin hơn để báo hiệu cho thị trường về sức mạnh tài chính của mình, từ đó nâng cao giá trị cổ phiếu và giảm chi phí vốn (Singhvi & Desai, 1971). Cơ cấu sở hữu tập trung thường có mối quan hệ nghịch biến với minh bạch. Khi sở hữu tập trung vào một nhóm cổ đông lớn, họ có thể tiếp cận thông tin trực tiếp nên nhu cầu công bố công khai giảm. Hơn nữa, họ có thể không muốn tiết lộ thông tin cho các đối thủ cạnh tranh. Trong khi đó, sở hữu tổ chức thường có quan hệ thuận chiều. Các nhà đầu tư tổ chức có chuyên môn và quyền lực để yêu cầu minh bạch hơn, đóng vai trò như một cơ chế giám sát hiệu quả, Cơ cấu quản trị công ty, Hội đồng quản trị với tỷ lệ thành viên độc lập cao và sự tồn tại của các ủy ban chuyên trách như ủy ban kiểm toán có tương quan tích cực với mức độ minh bạch. Các thành phần này thúc đẩy việc giám sát ban điều hành hiệu quả hơn. Luận văn: Nhân tố tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

Nhóm nhân tố môi trường bên ngoài: Áp lực từ các bên liên quan bao gồm các nhóm như hiệp hội ngành nghề, tổ chức xã hội, truyền thông đại chúng và khách hàng có thể tạo ra sức ép buộc doanh nghiệp phải minh bạch hơn, đặc biệt về các vấn đề môi trường – xã hội. Tính cạnh tranh của ngành, doanh nghiệp trong các ngành có mức độ cạnh tranh cao có thể cân nhắc giữa lợi ích của việc báo hiệu và chi phí của việc tiết lộ thông tin nhạy cảm cho đối thủ. Điều này có thể dẫn đến mối quan hệ phi tuyến tính giữa cạnh tranh và minh bạch. Hệ thống quy định và khuôn khổ pháp lý, đây là nhân tố then chốt. Các quy định bắt buộc về công bố thông tin từ Ủy ban Chứng khoán, các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS). Sự khác biệt về khuôn khổ pháp lý giữa các quốc gia giải thích sự khác biệt về mức độ minh bạch trung bình. Sự phát triển của thị trường vốn, môi trường đầu tư với sự tham gia đông đảo của các nhà đầu tư có hiểu biết và các tổ chức trung gian tài chính (công ty phân tích, định mức tín nhiệm) sẽ tạo ra một cơ chế giám sát và khen thưởng cho sự minh bạch, thúc đẩy các doanh nghiệp phải cạnh tranh về mức độ công bố thông tin.

Tóm lại, lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin cho thấy quyết định công bố thông tin của một doanh nghiệp là kết quả của một quá trình cân bằng phức tạp giữa chi phí và lợi ích, dưới sự tác động của cả yếu tố nội tại và áp lực bên ngoài, từ đó giải thích sự đa dạng trong hành vi công bố thông tin của doanh nghiệp. Các nhân tố này không chỉ có ý nghĩa học thuật mà còn có giá trị thực tiễn cao đối với các nhà quản lý, nhà đầu tư và các cơ quan hoạch định chính sách.

2.2. Lược khảo các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến mức độ minh bạch thông tin Luận văn: Nhân tố tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

2.2.1 Giới thiệu tổng quan

Tính minh bạch thông tin (MBTT) được xem là nền tảng cốt lõi của quản trị công ty hiện đại và một thị trường tài chính lành mạnh. Không chỉ là công cụ để giảm thiểu bất đối xứng thông tin giữa các cổ đông và nhà quản lý, MBTT còn là yếu tố then chốt thu hút vốn đầu tư, giảm chi phí vốn và nâng cao hiệu quả hoạt động (Jensen & Meckling, 1976). Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến MBTT do đó có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà quản lý, nhà đầu tư, nhà hoạch định chính sách và giới học thuật.

Trong phần này, tác giả sẽ lược khảo các nghiên cứu trước nhằm trình bày bức tranh rõ nét hơn về các nhân tố tác động đến mức độ minh bạch thông tin. Việc lược khảo các nghiên cứu theo một cấu trúc rõ ràng là tiền đề để luận văn xây dựng giả thuyết nghiên cứu hợp lý và khoa học. Dựa trên việc tổng hợp và phân tích một cách có hệ thống các nghiên cứu thực nghiệm trước đây, các nhân tố tác động đến MBTT được chia vào ba nhóm chính: Nhóm nhân tố thuộc về đặc điểm doanh nghiệp (quy mô, đòn bẩy tài chính, tỷ suất sinh lời); Nhóm nhân tố thuộc về cơ cấu quản trị công ty (tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của Hội đồng quản trị, sự kiêm nhiệm, công ty kiểm toán, tỷ lệ thành viên nữ) và Nhóm nhân tố thuộc về bối cảnh thể chế (văn hóa, hệ thống pháp lý, các chuẩn mực xã hội). Phần lược khảo này sẽ đi sâu vào từng nhóm nhân tố, trình bày các kết quả nghiên cứu, những mâu thuẫn và xu hướng chung, từ đó làm cơ sở để xác định khoảng trống nghiên cứu và xây dựng mô hình, giả thuyết cho luận văn.

2.2.2 Các nhóm nhân tố tác động chính Luận văn: Nhân tố tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

2.2.2.1 Nhóm nhân tố thuộc về đặc điểm doanh nghiệp

Nhóm nhân tố này tập trung vào các đặc trưng nội tại phản ánh tình hình tài chính và quy mô hoạt động của doanh nghiệp, là những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực và động cơ công bố thông tin.

Hầu hết các nghiên cứu đều thống nhất về mối quan hệ tích cực giữa quy mô doanh nghiệp và MBTT. Bushman và Smith (2003) khi nghiên cứu việc công bố minh bạch thông tin tài chính và chất lượng thông tin kế toán tác động đến quản trị công ty và hiệu quả hoạt động của các công ty giữa các hệ thống pháp lý và kế toán khác nhau ở các quốc gia, đặc biệt là sự khác biệt giữa các nước theo hệ thống common law và civil law cho rằng báo cáo tài chính đã được kiểm toán cùng với thuyết minh hỗ trợ là nền tảng thông tin đặc thù doanh nghiệp cung cấp cho nhà đầu tư và cơ quan quản lý. Các thị trường chứng khoán công khai hoạt động hiệu quả dựa trên các hệ thống thể chế hỗ trợ phức tạp nhằm thúc đẩy quản trị công ty. Trong số các thể chế này, hệ thống kế toán tài chính và công bố thông tin đóng vai trò trung tâm. Thông qua thảo luận các nghiên cứu dựa trên kinh tế học tập trung vào các đặc điểm của hệ thống kế toán và môi trường thể chế xung quanh có ý nghĩa quan trọng đối với quản trị hiệu quả các công ty và cung cấp một khung khái niệm về cách thức vận hành của thông tin kế toán trong một nền kinh tế, thảo luận một loạt các phát hiện nghiên cứu quan trọng, trình bày một khuôn khổ lý thuyết để mô tả và đo lường tính minh bạch của doanh nghiệp ở cấp độ quốc gia. Tóm lại các công ty lớn thường chịu sự giám sát chặt chẽ hơn từ công chúng, các cơ quan quản lý và giới truyền thông. Áp lực này, cộng với nguồn lực tài chính dồi dào để đầu tư cho hệ thống báo cáo phức tạp, khiến họ có xu hướng minh bạch hơn. Kết quả này được ủng hộ bởi nghiên cứu của Le và cộng sự (2025) khi nghiên cứu 660 báo cáo tài chính của 60 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thuộc bốn ngành, bao gồm dịch vụ tiện ích, du lịch, hóa dược và vật liệu xây dựng, từ năm 2013 đến năm 2022 bằng phương pháp sử dụng mô hình hiệu ứng cố định (Fixed Effects Model – FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effects Model – REM), cũng khẳng định quy mô công ty có ảnh hưởng tích cực đến MBTT. Tuy nhiên, vẫn có những ngoại lệ đáng chú ý. Nghiên cứu của Park và cộng sự (2024) khi nghiên cứu các ngân hàng mẹ chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng thương mại được niêm yết công khai tại Mỹ từ năm 1986- 2018 theo quý bao gồm 45.477 quan sát lại phát hiện một nghịch lý: tính minh bạch của ngân hàng có xu hướng giảm theo quy mô. Các tác giả lý giải rằng các ngân hàng lớn có cấu trúc hoạt động cực kỳ phức tạp và đa quốc gia, việc công bố thông tin chi tiết có thể làm lộ các chiến lược kinh doanh then chốt hoặc khiến họ đối mặt với nhiều rủi ro pháp lý hơn, dẫn đến xu hướng công bố thông tin một cách thận trọng và ít minh bạch hơn. Điều này cho thấy mối quan hệ giữa quy mô và MBTT có thể bị chi phối bởi yếu tố ngành nghề. Luận văn: Nhân tố tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

Mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và MBTT là phức tạp và không thống nhất. Một mặt, theo nghiên cứu của Bushman và Smith (2003) hay Park và cộng sự (2024) các công ty sử dụng nhiều nợ vay có động cơ để minh bạch hơn nhằm giảm chi phí đại diện và trấn an các chủ nợ về khả năng trả nợ, từ đó giảm chi phí vốn. Điều này ủng hộ cho tác động tích cực. Mặt khác, nghiên cứu của Le và cộng sự (2025) tại Việt Nam lại chỉ ra tác động tiêu cực của đòn bẩy tài chính lên MBTT. Điều này có thể lý giải rằng, các doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính cao thường đối mặt với áp lực tài chính lớn và rủi ro phá sản. Trong bối cảnh đó, nhà quản lý có thể có xu hướng che giấu các thông tin tiêu cực, trì hoãn công bố các khoản lỗ hoặc sử dụng các biện pháp kế toán sáng tạo để làm đẹp báo cáo tài chính, nhằm tránh vi phạm các điều khoản của hợp đồng nợ hoặc gây hoang mang cho các chủ nợ hiện tại. Sự khác biệt này cũng nhấn mạnh vai trò của bối cảnh thể chế và tình hình tài chính vi mô của doanh nghiệp.

Tương tự như đòn bẩy tài chính, mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và MBTT cũng tồn tại hai chiều hướng. Theo lý thuyết tín hiệu, các công ty có lợi nhuận cao sẽ công bố thông tin một cách minh bạch hơn, để báo tín hiệu cho thị trường về sức mạnh và tiềm năng của mình, từ đó thu hút đầu tư và nâng cao giá trị cổ phiếu. Bushman và Smith (2003) cũng ủng hộ quan điểm này. Ngược lại, nghiên cứu của Le và cộng sự (2025) lại tìm thấy mối tương quan tiêu cực. Một cách giải thích hợp lý là các công ty có lợi nhuận siêu ngưỡng, có thể muốn dành dụm những tin tốt và tránh công bố quá mức để hưởng lợi từ các cơ hội kinh doanh trong tương lai mà không bị đối thủ cạnh tranh chú ý. Hơn nữa, lợi nhuận cao đôi khi đi kèm với các giao dịch phức tạp, khiến việc công bố đầy đủ trở nên khó khăn và tốn kém.

Tóm lại, có thể thấy tác động của các đặc điểm doanh nghiệp đến MBTT là không tuyến tính và phụ thuộc nhiều vào bối cảnh cụ thể. Trong khi quy mô thường có tác động tích cực thì đòn bẩy tài chính và tỷ suất sinh lời lại cho thấy sự mâu thuẫn rõ rệt giữa các nghiên cứu, phản ánh sự đan xen giữa động cơ (muốn minh bạch để giảm chi phí vốn) và khả năng (nguồn lực để minh bạch) của doanh nghiệp. Sự khác biệt về ngành (ngân hàng so với các ngành khác) và đặc thù thể chế của mỗi quốc gia (như Việt Nam so với Mỹ) là những yếu tố then chốt giải thích cho những mâu thuẫn này.

2.2.2.2 Nhóm nhân tố thuộc về cơ cấu quản trị công ty

Nhóm nhân tố này đi sâu vào các cơ chế nội bộ được thiết kế để kiểm soát, giám sát và định hướng hoạt động của ban điều hành, nhằm bảo vệ lợi ích của các cổ đông. Nền tảng lý thuyết cho mối quan hệ giữa quản trị và MBTT được đặt ra bởi lý thuyết đại diện (Jensen & Meckling, 1976). Lý thuyết này cho rằng, Cấu trúc sở hữu ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi nhà quản lý và chi phí đại diện. Khi một người kiêm nhiệm quá nhiều sẽ dễ dẫn đến xung đột lợi ích, gian lận và giảm tính minh bạch. Đặc biệt khi chủ sở hữu là người trực tiếp quản lý điều hành doanh nghiệp có thể công bố thông tin sai sự thật nhằm thu hút nhà đầu tư. Vì vậy mà sự kiêm nhiệm càng cao thì MBTT của các công ty càng thấp. Cổ đông cần sử dụng quyền sở hữu và nợ để kiểm soát nhà quản lý, nhầm phân tán bớt quyền lực trong tay một cá nhân hoặc một nhóm người. Tối ưu hóa quyền sở hữu giúp giảm chi phí đại diện, tối đa hóa giá trị doanh nghiệp từ đó sử dụng hiệu quả đòn bẩy tài chính, tăng mức độ MBTT. Khi quyền sở hữu và quyền điều hành tách rời, các nhà quản lý (người đại diện) có thể hành động vì lợi ích cá nhân thay vì lợi ích của cổ đông (người ủy quyền), dẫn đến chi phí đại diện. MBTT là một cơ chế quan trọng để giảm thiểu chi phí này.

Về tỷ lệ sở hữu của Hội đồng quản trị và đa dạng giới trong Hội đồng quản trị. Leung và Horwitz (2004) cho rằng sự yếu kém trong quản trị doanh nghiệp và thiếu minh bạch thường được coi là nguyên nhân hoặc yếu tố góp phần gây ra khủng hoảng tài chính Châu Á của các công ty niêm yết công khai tại Hồng Kông, giống như các công ty Châu Á khác, có quyền sở hữu tập trung của giám đốc. Nghiên cứu sử dụng việc công bố phân khúc tự nguyện trên mức tối thiểu chuẩn mực làm đại diện cho tính minh bạch và xem xét mối quan hệ của nó với cơ cấu sở hữu và thành phần của hội đồng quản trị công ty tại Hồng Kông. Kết quả cho thấy, quyền sở hữu hội đồng quản trị cao có tác động tiêu cực đến Công bố thông tin và mối quan hệ tiêu cực này mạnh hơn khi hiệu quả hoạt động của công ty kém, sự đóng góp của các giám đốc không điều hành để tăng cường việc công bố phân khúc tự nguyện có hiệu quả đối với các công ty có quyền sở hữu của giám đốc thấp nhưng không hiệu quả đối với các công ty có quyền sở hữu tập trung. Bởi lẽ, quyền sở hữu tập trung có thể dẫn đến việc các cổ đông lớn (thường là thành viên Hội đồng quản trị) chi phối doanh nghiệp, từ đó công bố thông tin có chọn lọc để phục vụ lợi ích riêng của một nhóm người, gây bất lợi cho các cổ đông thiểu số. Tuy nhiên, Salehi và cộng sự (2022) khi sử dụng mô hình hồi quy đa biến dựa trên kỹ thuật dữ liệu bảng để kiểm tra các giả thuyết nghiên cứu được kiểm tra trên mẫu gồm 35 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Iraq từ năm 2012 đến năm 2018 lại cho rằng Hội đồng quản trị và sở hữu của Hội đồng quản trị có mối quan hệ tích cực với tính minh bạch trong công bố thông tin tài chính. và không có ảnh hưởng đáng kể giữa đa dạng giới tính trong Hội đồng quản trị và minh bạch thông tin. Điều này cũng trái ngược với nghiên cứu của Harakeh và cộng sự (2023) khi kết luận rằng đa dạng giới góp phần nâng cao tính minh bạch trong báo cáo tài chính. Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp nghiên cứu khác biệt trong khác biệt và các kiểm định bao gồm hồi quy biến công cụ, phân tích mẫu ghép, kiểm định giả mạo, kiểm định giả thuyết thay thế, dữ liệu được thu thập từ các công ty thuộc S&P 1500 loại trừ các công ty thuộc ngành tài chính và các công ty tiện ích, trong giai đoạn 2005-2008, gồm 3.027 quan sát theo năm. Sự khác biệt này có thể đến từ bối cảnh văn hóa – xã hội khác nhau. Ở các nước phương Tây, đa dạng giới là một chuẩn mực quản trị được đề cao, trong khi ở một số nước Trung Đông, vai trò của phụ nữ trong các vị trí ra quyết định còn hạn chế, dẫn đến tác động chưa rõ rệt. Luận văn: Nhân tố tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

Về quy mô Hội đồng quản trị, phần lớn nghiên cứu Kachouri và Jarboui (2017); Veronina và cộng sự (2005) hay Truong và Nguyen (2024) đều thống nhất rằng một Hội đồng quản trị với quy mô lớn hơn thường mang lại sự đa dạng về chuyên môn, kinh nghiệm và góc nhìn, từ đó nâng cao năng lực giám sát và yêu cầu minh bạch thông tin.

Chất lượng kiểm toán (thường được đo lường bằng việc sử dụng các công ty kiểm toán Big4 hoặc Big5) được xem là một cơ chế giám sát từ bên ngoài quan trọng. Kachouri và Jarboui (2017) khi xem xét mối quan hệ giữa các cơ chế quản trị công ty và minh bạch thông tin của 28 công ty phi tài chính được niêm yết, trên sàn chứng khoán Tunisia trong tám năm từ 2006 đến 2013 bằng phương pháp sử dụng mô hình hệ phương trình đồng thời. Kết quả thu được cho thấy rằng, đối với các công ty Tunisia, minh bạch tài chính có ảnh hưởng đáng kể đến quy mô hội đồng quản trị và chất lượng kiểm toán. Nghiên cứu hiện tại cũng cung cấp bằng chứng rằng các cơ chế quản trị công ty có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Đây cũng là kết quả nghiên cứu của Veronina và cộng sự (2005) khi khẳng định mối quan hệ tích cực giữa kiểm toán chất lượng cao và MBTT, do uy tín và năng lực chuyên môn của các hãng kiểm toán lớn buộc doanh nghiệp phải tuân thủ các chuẩn mực báo cáo cao hơn.

Tuy nhiên, Truong và Nguyen (2024) khi nghiên cứu tác động của Hội đồng quản trị và Ủy ban kiểm toán đối với tính minh bạch thông tin tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. MBTT tài chính được đo lường thông qua ba chỉ số phản ánh sự không minh bạch tài chính: tính tích cực của thu nhập, làm mịn thu nhập và tránh lỗ. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 338 công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) và Hà Nội (HNX) trong giai đoạn 2012–2022, lại chỉ ra một phát hiện gây ngạc nhiên: Ủy ban Kiểm toán có tác động tiêu cực đến MBTT. Các tác giả lý giải rằng, trong bối cảnh các công ty Việt Nam có xu hướng mạnh về tránh báo lỗ, Ủy ban Kiểm toán có thể đã bị chi phối bởi Hội đồng quản trị và tham gia vào việc “làm mịn” lợi nhuận hoặc điều chỉnh báo cáo, dẫn đến giảm tính trung thực và minh bạch của thông tin. Điều này cho thấy sự hiện diện hình thức của một cơ chế quản trị là chưa đủ; tính độc lập và thực quyền của nó mới là yếu tố then chốt. Luận văn: Nhân tố tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

Sự kiêm nhiệm của Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc/ Giám đốc là một yếu tố khác được đề cập. Theo Jensen và Meckling (1976), sự kiêm nhiệm này tập trung quá nhiều quyền lực vào một cá nhân, làm suy yếu vai trò giám sát của Hội đồng quản trị và tạo điều kiện cho xung đột lợi ích, gian lận và giảm MBTT.

Tóm lại, các cơ chế quản trị có mối quan hệ tương hỗ và phụ thuộc lẫn nhau trong việc thúc đẩy MBTT. Tuy nhiên, hiệu quả của chúng không phải là tuyệt đối. Tính hiệu quả phụ thuộc vào tính độc lập, thực quyền và đặc biệt là sự tương tác với bối cảnh thể chế địa phương. Một cơ chế tốt trên lý thuyết (như Ủy ban Kiểm toán) có thể hoạt động kém hiệu quả, thậm chí phản tác dụng, nếu nó chỉ tồn tại trên danh nghĩa.

2.2.2.3 Nhóm nhân tố thuộc về bối cảnh thể chế

Nhóm nhân tố này bao trùm và tác động đến cả hai nhóm trên, định hình môi trường trong đó doanh nghiệp hoạt động và các chuẩn mực về công bố thông tin.

Nghiên cứu của Archambault và Archambault (2003) là một minh chứng rõ nét, khi chỉ ra rằng việc công bố thông tin chịu sự ảnh hưởng bởi văn hóa quốc gia và văn hóa doanh nghiệp như khoảng cách quyền lực, chủ nghĩa cá nhân và né tránh rủi ro có ảnh hưởng hệ thống đến số lượng thông tin mà các công ty công bố. Ví dụ, các quốc gia có khoảng cách quyền lực thấp (nơi quyền lực được phân tán) thường có xu hướng minh bạch hơn. Dữ liệu được thu thập từ các công ty của 33 quốc gia thông qua xem xét một lượng lớn hơn các biến đại diện cho các yếu tố quyết định việc công bố thông tin. Mô hình được kiểm tra bằng cách sử dụng điểm công bố thông tin có trong xu hướng kế toán và kiểm toán quốc tế nhằm xem xét ảnh hưởng của văn hóa, hệ thống chính trị và kinh tế quốc gia, hệ thống tài chính và hoạt động của doanh nghiệp đối với số lượng công bố thông tin tài chính của doanh nghiệp.

Củng cố thêm cho luận điểm này bằng một so sánh cụ thể giữa Đức và Ba Lan, nghiên cứu của (Jacek Gad, 2016) cho rằng sự khác biệt trong hình thức trình bày báo cáo thu nhập toàn diện, với các công ty Đức minh bạch hơn, được lý giải là do sự khác biệt về khía cạnh của sự vật, hiện tượng được nhìn nhận ở một góc độ nhất định mà điển hình là văn hóa quốc gia, ảnh hưởng đến nhận thức và sự ưu tiên về tính minh bạch của các nhà lập báo cáo.

Nghiên cứu của Bushman và Smith (2003) đã nhấn mạnh sự khác biệt căn bản giữa các quốc gia theo Common Law (ví dụ: Mỹ, Anh) và Civil Law (ví dụ: Pháp, Đức). Các nước Common Law thường có hệ thống bảo vệ nhà đầu tư mạnh mẽ hơn, các chuẩn mực kế toán chặt chẽ hơn và yêu cầu công bố thông tin toàn diện hơn, dẫn đến mức độ MBTT trung bình cao hơn so với các nước Civil Law. Điều này tạo ra một thể chế chính thức định khung cho mọi hoạt động công bố thông tin.

Nhiều nghiên cứu tập trung vào các thể chế phi chính thức hoặc đặc thù. Nghiên cứu của Tahir và cộng sự (2021) tại Pakistan cho thấy thể chế về bình đẳng giới tác động sâu sắc đến hành vi tài chính của doanh nghiệp. Sự vắng mặt của phụ nữ trong các vị trí quản lý cấp cao không chỉ là vấn đề xã hội mà còn ảnh hưởng đến các quyết định tài chính và mức độ chấp nhận rủi ro, từ đó gián tiếp tác động đến MBTT. Tương tự, nghiên cứu của Ramos và cộng sự (2024) đã chỉ ra rằng thể chế doanh nghiệp gia đình tạo ra một động lực quản trị khác biệt. Các mối quan hệ gia đình, giá trị gia tộc và lợi ích đa thế hệ có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm tính minh bạch, tùy thuộc vào việc gia đình đó xem minh bạch là chiến lược để bền vững hay là mối đe dọa cho sự kiểm soát của họ.

Tóm lại, bối cảnh thể chế đóng vai trò là luật chơi vô hình và hữu hình, chi phối hành vi của tất cả các chủ thể trong nền kinh tế. Nó không chỉ tác động trực tiếp đến MBTT mà còn ảnh hưởng gián tiếp thông qua việc định hình các đặc điểm doanh nghiệp và hiệu quả của các cơ chế quản trị. Một nghiên cứu về MBTT sẽ là không đầy đủ nếu bỏ qua sự ảnh hưởng bao trùm của nhóm nhân tố này.

2.2.3. Khoảng trống nghiên cứu và định hướng cho luận văn Luận văn: Nhân tố tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

  • Tổng quan từ các nghiên cứu trên cho thấy một bức tranh đa dạng nhưng còn nhiều mâu thuẫn và khoảng trống:

Mâu thuẫn trong kết quả nghiên cứu: tồn tại sự không thống nhất về chiều hướng tác động của một số nhân tố then chốt (đòn bẩy tài chính, tỷ suất sinh lời, sở hữu Hội đồng quản trị, đa dạng giới). Điều này cho thấy có thể tồn tại các biến điều tiết (moderating variables) quan trọng, như đặc điểm ngành hoặc bối cảnh quốc gia, mà các nghiên cứu trước chưa xem xét đầy đủ.

Tính đặc thù của thị trường mới nổi: phần lớn các lý thuyết và nghiên cứu kinh điển được phát triển trong bối cảnh các thị trường tài chính phát triển. Các nghiên cứu ở thị trường mới nổi như Việt Nam còn tương đối ít ỏi và cho kết quả không hoàn toàn trùng khớp (ví dụ: tác động tiêu cực của Ủy ban Kiểm toán). Do đó, cần có những nghiên cứu kiểm chứng lại các mối quan hệ này trong bối cảnh thể chế, văn hóa và pháp lý đặc thù của Việt Nam.

Sự tương tác giữa các nhóm nhân tố: các nghiên cứu thường tập trung phân tích tác động riêng lẻ của từng nhóm nhân tố hoặc từng biến riêng lẻ. Một mô hình tích hợp đầy đủ ba nhóm nhân tố (Đặc điểm doanh nghiệp, Cơ cấu quản trị, Bối cảnh thể chế) trong một nghiên cứu duy nhất để kiểm tra tác động tổng hợp và tương tác của chúng đến MBTT tại Việt Nam vẫn còn là một khoảng trống.

Xuất phát từ những khoảng trống trên, Nghiên cứu này tập trung xác định các nhân tố tác động đến mức độ minh bạch thông tin của các công ty dược phẩm niêm yết tại Việt Nam. Cụ thể là các công ty ngành dược phẩm niêm yết trên sàn HOSE và HNX giai đoạn 2018-2023, một đối tượng chuyên biệt chưa được khai thác sâu so với các nghiên cứu trước đây thường có phạm vi rộng trên nhiều ngành hoặc quốc gia. Việc thu hẹp phạm vi giúp loại bỏ sự khác biệt liên ngành, mang lại cái nhìn cụ thể, sâu sắc và có tính ứng dụng cao, đề xuất được các giải pháp khả thi cho ngành dược Việt Nam. Về phương pháp, thay vì cách tiếp cận truyền thống là tổng hợp lý thuyết trước rồi mới kiểm chứng, nghiên cứu này áp dụng phương pháp tiếp cận đồng thời, đối chiếu song song lý thuyết với bằng chứng thực nghiệm để xây dựng một cơ sở lập luận tổng thể và thuyết phục hơn. Đặc biệt, nghiên cứu sử dụng mô hình CRE để kiểm soát hiệu ứng cá nhân và phân tích sự tương tác giữa các biến độc lập, từ đó cung cấp cái nhìn toàn diện về cách cơ cấu tổ chức và hoạt động doanh nghiệp ảnh hưởng đến tính minh bạch. Tác giả tin rằng kết quả nghiên cứu có thể đóng góp thêm vào bức tranh toàn cảnh nhằm làm rõ thêm các nhân tố tác động lên MBTT. Từ đó đề xuất các hàm ý quản trị và chính sách thiết thực, nhằm nâng cao MBTT, góp phần hoàn thiện hệ thống quản trị công ty và phát triển thị trường vốn Việt Nam nói chung và ngành dược phẩm Việt Nam nói riêng.

  • KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Chương 2 trình bày khái niệm và các lý thuyết nền tảng liên quan đến minh bạch thông tin, bao gồm: lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết chính sách công bố thông tin và lý thuyết thông tin bất đối xứng. Ngoài ra, tác giả cũng khái quát các bài nghiên cứu trước. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy MBTT chịu tác động đa chiều bởi: đặc điểm doanh nghiệp (quy mô, đòn bẩy tài chính, tỷ suất sinh lời); cơ cấu quản trị (tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của Hội đồng quản trị, sự kiêm nhiệm, công ty kiểm toán, tỷ lệ thành viên nữ) và bối cảnh thể chế (văn hóa, pháp lý). Song, vẫn còn tồn tại nhiều mâu thuẫn, điều này phản ánh sự khác biệt về bối cảnh và phương pháp luận. Chính khoảng trống này cùng những tác động đa chiều nêu trên là cơ sở tiền đề để tác giả tiếp tục nghiên cứu các nhân tố tác động đến MBTT của công ty dược phẩm trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam, nhằm cung cấp giải pháp thiết thực cho nhà quản lý và nhà đầu tư. Luận văn: Nhân tố tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: PPNC tác động đến thông tin minh bạch ngành dược

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Nhân tố tác động đến thông tin minh bạch ngành dược […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x