Luận văn: KQNC tác động đến thông tin minh bạch ngành dược

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC tác động đến thông tin minh bạch ngành dược hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các nhân tố tác động đến mức độ minh bạch thông tin: trường hợp các công ty ngành dược phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

4.1 Kết quả thống kê mô tả

  • Bảng 4.1 tác giả trình bày đặc điểm dữ liệu với các biến bao gồm giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất

Dựa trên kết quả thống kê mô tả bảng 4.1, mẫu nghiên cứu được thu thập theo tần suất năm của 21 công ty dược phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ 2018 đến năm 2023, với 126 quan sát. Nhìn chung, chỉ số minh bạch thông tin thô (trans) khá đồng nhất, trung bình 77,79 có mức độ minh bạch thông tin ở mức khá tốt và dao động trong khoảng (70–86), độ lệch chuẩn 3,84 điểm cho thấy không có quá nhiều sự khác biệt về mức độ minh bạch thông tin giữa các công ty qua các năm. Quy mô Hội đồng quản trị (bs) tương ứng ≈ 6 thành viên, ít nhất 3 và nhiều nhất 8 thành viên, mức chênh lệch ≈ 1 thành viên, tức là giữa các công ty và giữa các năm số lượng thanh viên Hội đồng quản trị có biến động tương đối ít. Chỉ 8% công ty có Chủ tịch kiêm tổng giám đốc/ giám đốc (dual), trong khi 41% được kiểm toán Big4 (aud); 23% số lượng cổ phiếu được sở hữu bởi Hội đồng quản trị (bo). Tổng tài sản bình quân ≈ 1.437 tỷ đồng, lệch chuẩn ≈ 1.635 tỷ đồng, biên độ dao động tổng tài sản giữa các công ty qua các năm thấp nhất từ ≈ 98 tỷ đồng đến cao nhất ≈ 9.748 tỷ đồng, cho thấy có sự chênh lệch rất lớn giữa quy mô của các công ty. Tỷ lệ nữ trong Hội đồng quản trị (bf) 23%, nhưng dao động rộng từ 0 đến 60%. Đòn bẩy tài chính (lev) trung bình 36%, cao nhất 97%, độ lệch chuẩn 0.20 điều này chứng minh có sự khác biệt lớn trong việc sử dụng đòn bẩy giữa các công ty; tỷ suất lợi nhuận (pro) trung bình 9%, chênh lệch từ -17% (mức lỗ tối đa) đến ≈ 34% (lợi nhuận tối đa). Đồng thời, độ lệch chuẩn là 0.08 cho thấy lợi nhuận giữa các công ty có sự chênh lệch khá lớn.

Việc xử lý dữ liệu không làm thay đổi các đặc tính cơ bản của mẫu nghiên cứu. Giá trị trung bình các biến chính sau xử lý dao động trong phạm vi ±5% so với dữ liệu thô (ví dụ: ltrans min thô: 70 → đã xử lý: e^4,25 ≈ 70,11 < 5%. Sự khác biệt này nằm trong ngưỡng sai số chấp nhận được của phương pháp Multiple Imputation (White & ctg., 2011). Các phương pháp xử lý dữ liệu tập trung vào giải quyết vấn đề kỹ thuật mà không làm biến dạng dữ liệu gốc: giảm độ lệch các biến được xử lý (ltrans) từ 3,84 xuống 0,05; (lbs) từ 1,20 xuống 0,23; (lfs) từ 1.635,37 xuống 1,03 đáp ứng giả định phân phối chuẩn; giữ nguyên kích thước mẫu (126 quan sát); loại bỏ ngoại lai giá trị tối đa (ltrans) từ 86 xuống 4,45; (lbs) từ 8 xuống còn 2,08; (lfs) từ 9.748,01 xuống còn 29,91. Kết quả trên chứng minh tính nhất quán giữa hai bộ dữ liệu. Sự khác biệt độ lệch chuẩn và khoảng biến thiên (min-max) phản ánh quá trình chuẩn hóa cần thiết để đáp ứng các giả định của mô hình, không phải sự sai lệch ngẫu nhiên. Do đó phân tích dựa trên dữ liệu đã xử lý đảm bảo độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.

  • Hình 4. 1 so sánh dữ liệu trước và sau xử lý của biến bs; fs, trans và tổng thể

4.2 Phân tích tương quan các biến Luận văn: KQNC tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

Bảng 4.2 trình bày hệ số tương quan giữa các biến. Chỉ số minh bạch (ltrans) tương quan dương vừa phải với quy mô Hội đồng quản trị (0,33), quy mô tài sản (0,32), việc được kiểm toán Big4 (0,46) và tỷ suất lợi nhuận (0,15); nhưng tương quan âm với sự kiêm nhiệm (–0,22) và đòn bẩy tài chính (–0,38). Các hệ số tương quan đều có trị tuyệt đối dưới (0,60); với hệ số tương quan cao nhất là (0,46) giữa ltrans và aud; thấp nhất là (-0,57) giữa lev và pro cho thấy không có sự tương quan mạnh giữa các biến. Tuy nhiên đây chỉ là đánh giá sơ bộ để chúng ta có cái nhìn tổng quan về số liệu được thu thập. Nhằm đánh giá toàn diện, chúng ta sẽ tiến hành chạy mô hình và một lần nữa kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến của mô hình.

4.3. Lựa chọn mô hình

  • Bảng 4. 3 Mô hình hồi quy Pooled OLS, FEM, REM

4.3.1 Kiểm định lựa chọn mô hình REM và Pooled OLS

Từ kết quả ước lượng mô hình Random Effects, tác giả tiến hành kiểm định Breusch–Pagan Lagrangian Multiplier (LM test) để xem xét sự phù hợp giữa Pooled OLS và Random Effects Model (REM). Ta có giả thuyết như sau:

  • H₀: không tồn tại thành phần sai số ngẫu nhiên theo cá thể, mô hình Pooled OLS là phù hợp.
  • H₁: có tồn tại thành phần sai số ngẫu nhiên, mô hình REM phù hợp hơn OLS.

Kết quả kiểm định cho thấy: chibar²(01) = 56,53, Prob > chibar² = 0,0000 Với giá trị p = 0,0000 < 0,01, ta bác bỏ giả thuyết H₀ ở mức ý nghĩa 1%. Điều này cho thấy có sự tồn tại khác biệt đặc thù theo cá thể trong dữ liệu, tức là các yếu tố không quan sát được của từng đơn vị ảnh hưởng đến biến phụ thuộc. Do đó, mô hình REM được lựa chọn thay vì Pooled OLS.

4.3.2 Kiểm định lựa chọn mô hình FEM và REM

Từ kết quả kiểm mô hình FEM và REM, tác giả thực hiện kiểm định Hausman để xem xét mô hình FEM hay mô hình REM là phù hợp. Ta có giả thuyết như sau: Luận văn: KQNC tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

  • H0: Các yếu tố không quan sát được trong mô hình không tương quan với biến độc lập
  • H1: Các yếu tố không quan sát được trong mô hình có tương quan với biến độc lập

Nếu p-value < 0,05: bác bỏ H0, hay nói cách khác có bằng chứng cho thấy các yếu tố không quan sát được có tương quan với biến độc lập => mô hình FEM là phù hợp và ngược lại.

Kết quả cho thấy Prob > chi2 = 0,010, bé hơn 0,05 (với mức ý nghĩa 5%) giá trị tới hạn chi2(7) ≈ 14,07; giá trị thực hiện kiểm định chi2(7) = 45,77 là rất lớn điều này cho thấy có sự khác biệt đáng kể giữa 2 mô hình. Đồng thời kết quả có ý nghĩa thống kê rất mạnh. Do đó, chúng ta bác bỏ giả thuyết H0, hay mô hình FEM phù hợp hơn mô hình REM.

Như vậy, sau khi thực hiện các kiểm định để lựa chọn mô hình, chúng ta kết luận mô hình tác động cố định (FEM) là phù hợp. Do đó tác giả tiến hành các bước kiểm định các khuyết tật của mô hình.

4.4. Kiểm định các khuyết tật trong mô hình nghiên cứu Luận văn: KQNC tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

4.4.1 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến

Mô hình FEM loại bỏ biến không thay đổi theo thời gian và tự nội suy nên hệ số tương quan giữa các biến độc lập trong FEM không thể kiểm định trực tiếp bằng VIF. Tuy nhiên VIF có thể kiểm định trực tiếp qua mô hình OLS mà vẫn phản ánh đúng mối quan hệ giữa các biến độc lập. Vì vậy ta có kiểm định dưới đây.

Nếu giá trị trung bình của VIF > 2 thì mô hình có hiện tượng đa cộng tuyến xảy ra. Kết quả nghiên cứu cho thấy, giá trị VIF của các biến độc lập đều bé hơn 2; đồng thời VIF trung bình là 1,41 < 2, do đó chúng ta kết luận được là mô hình không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.

4.4.2 Kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi

Kiểm định Modified Wald được thực hiện để kiểm định mô hình có xảy ra hiện tượng phương sai sai số thay đổi hay không. Kết quả giá trị thực hiện kiểm định Chi2(21) = 772,28 rất lớn so với giá trị tới hạn (tại α= 0,01, chi2(21) ≈ 38,93) cho thấy có sự khác biệt rõ rệt trong phương sai của các nhóm hay nói cách khác mô hình xảy ra hiện tượng phương sai sai số thay đổi theo nhóm. Prob > chi2 = 0,000, bé hơn 0,01 (với mức ý nghĩa 1%) có ý nghĩa thống kê rất mạnh; Do đó, bác bỏ giả thuyết H0, hay mô hình FEM có hiện tượng phương sai sai số thay đổi xảy ra.

4.4.3 Kiểm định hiện tượng tương quan

Kiểm định Wooldridge được thực hiện để xem xét mô hình có xảy ra hiện tượng tương quan bậc một hay không. Kết quả giá trị thực hiện kiểm định F(1, 20) = 4,981 là vừa đủ lớn để cho thấy có vấn đề về tự tương quan trong dữ liệu, Prob > F = 0,037 < 0,05 (với mức ý nghĩa 5%) có ý nghĩa thống kê mạnh. Do đó, bác bỏ giả thuyết H0, hay mô hình FEM có xảy ra hiện tượng tương quan.

Như vậy, chúng ta kết luận mô hình tác động cố định (FEM) có xảy ra hiện tượng phương sai sai số thay đổi và hiện tượng tương quan.

4.5 Đề xuất mô hình khắc phục Luận văn: KQNC tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

4.5.1 Ước lượng mô hình CRE với sai số chuẩn cụm hoá để khắc phục tự tương quan và phương sai sai số thay đổi

Để khắc phục các khuyết tật của mô hình tác động cố định (FEM), tác giả chọn mô hình tác động ngẫu nhiên tương quan (Correlated Random Effects – CRE) có sai số cụm hóa (clustered SE) để xử lý phương sai sai số thay đổi và hiện tượng tương quan. Đồng thời kiểm soát được tác động không quan sát được và khắc phục những hạn chế quan trọng của FEM: giữ lại biến không đổi theo thời gian, tăng hiệu quả ước lượng khi T nhỏ (dữ liệu trong bài T=6), kết hợp linh hoạt những ưu điểm của FEM và REM để không phải hy sinh những thông tin quan trọng trong dữ liệu. Mặc dù số lượng cụm (21 công ty) thấp hơn mức khuyến nghị thông thường (≥30), phương pháp này vẫn được ưu tiên hơn so với sai số chuẩn vce(robust), vốn không hiệu quả trong điều kiện có tự tương quan. Kết quả phân tích như sau:

4.5.2 Kiểm định Kiểm định sự cần thiết của mô hình CRE

Nhằm kiểm tra xem yếu tố không quan sát được có tương quan với biến độc lập không. Tác giả thực hiện kiểm định Wald để đánh giá ý nghĩa thống kê của các biến trung bình (Mundlak variables) trong mô hình CRE, sử dụng phương sai điều chỉnh theo cụm (vce(cluster firm)). Dù số cụm nhỏ (21), kiểm định Wald vẫn cho kết quả có ý nghĩa (Mô hình (1) chi² = 112,65; p = 0,00 < 0,01; mô hình (2) chi² = 116,07; p = 0,00 < 0,01; mô hình (3) chi² = 138,56; p = 0,00 < 0,01), cho thấy các yếu tố không quan sát được có tương quan với biến độc lập. Do đó, mô hình REM truyền thống không phù hợp, và CRE mở rộng được lựa chọn là thích hợp hơn. Tuy nhiên, do đặc điểm số cụm nhỏ, p-value được hiểu theo ý nghĩa tiệm cận.

4.6 Thảo luận kết quả nghiên cứu Luận văn: KQNC tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

4.6.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin

Bảng 4.9 trình bày kết quả ước lượng cho mô hình (1), (2) và (3). Tập trung vào mô hình cơ sở (1), kết quả ước lượng cho thấy ba biến có ý nghĩa thống kê: kiêm nhiệm Chủ tịch–Tổng giám đốc (dual), tỷ lệ sở hữu của hội đồng quản trị (bo) và đòn bẩy tài chính (lev) đều có hệ số âm và khác không, có ý nghĩa ở ngưỡng 1%; các biến kiểm toán Big4, quy mô hội đồng, quy mô tài sản, tỷ lệ nữ trong hội đồng và khả năng sinh lợi không có ý nghĩa thống kê. Những phát hiện này hàm ý rằng tính minh bạch thông tin của các công ty dược phẩm niêm yết suy giảm khi quyền lực tập trung vào một cá nhân kiêm nhiệm, khi hội đồng nắm giữ cổ phần lớn và khi doanh nghiệp gánh đòn bẩy cao. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Abbott và cộng sự (2000); Carcello và Nagy (2004a, 2004b); Persons (2005) khi đều chứng minh rằng một công ty có sự kiêm nhiệm chức vụ giữa CEO và Chủ tịch Hội đồng quản trị sẽ có xu hướng công bố báo cáo tài chính kém chất lượng hơn. Điều này cho thấy sự mâu thuẫn trong phân công công việc, tổng giám đốc là người điều hành công ty trong khi chủ tịch Hội đồng quản trị là người giám sát tổng giám đốc, khi một người nắm giữ cả hai chức vụ tức là họ đang giám sát chính bản thân mình, hay nói cách khác Hội đồng quản trị mất đi sự độc lập và khách quan trong việc giám sát hoạt động của ban điều hành. Đồng thời doanh nghiệp có thể kiểm soát nguồn thông tin ví dụ: Bóp méo hoặc che giấu thông tin nội bộ nhằm che giấu sai phạm và quản lý yếu kém, do có sự xung đột lợi ích và động cơ kiểm soát thông tin. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ sở hữu của Hội đồng quản trị có tác động tiêu cực đến MBTT. Khi Hội đồng quản trị sở hữu phần lớn cổ phần, họ sẽ nắm quyền kiểm soát chủ yếu và có thể sử dụng quyền lực này để bảo vệ lợi ích cho cá nhân hoặc một nhóm cổ đông, do vậy họ sẽ có xu hướng hạn chế công bố những thông tin bất lợi ra bên ngoài đây cũng là kết quả nghiên cứu của (Leung & Horwitz, 2004). Tuy nhiên khi mức độ sở hữu vừa phải tức là Hội đồng quản trị sở hữu cổ phần đáng kể nhưng chưa đạt mức kiểm soát tuyệt đối, điều này có thể tạo sự gắn kết lợi ích giữa Hội đồng quản trị và công ty, vì nó gắn liền giữa lợi ích cá nhân và lợi ích dài hạn của công ty. Họ sẽ giám sát ban điều hành chặc chẽ hơn và công bố thông tin chính xác, kịp thời nhằm đảm bảo công ty hoạt động hiệu quả, nâng cao hình ảnh, uy tín, cũng như đưa ra tín hiệu tích cực làm lợi cho khối cổ phiếu mà họ đang nắm giữ. Kết quả nghiên cứu của Salehi và cộng sự (2022) chỉ ra rằng Hội đồng quản trị và sở hữu của Hội đồng quản trị có mối quan hệ tích cực với tính minh bạch trong công bố thông tin tài chính. Bên cạnh đó kết quả nghiên cứu cũng cho thấy đòn bẩy tài chính có tác động tiêu cực đến MBTT. Đòn bẩy tài chính cao tạo động lực che giấu rủi ro tài chính do áp lực đáp ứng các yêu cầu từ chủ nợ, nhà đầu tư. Khi tỷ lệ nợ cao giá cổ phiếu công ty thường có xu hướng biến động lớn, để duy trì niềm tin của nhà đầu tư và sự ổn định giá cổ phiếu, doanh nghiệp có thể hạn chế công bố những thông tin tiêu cực. Một mặt doanh nghiệp có thể làm phức tạp cấu trúc báo cáo tài chính bằng cách hạch toán các công cụ nợ ( trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền, cổ phiếu ưu đãi, nợ ngân hàng,….) một cách phức tạp như thuê tài chính, một dạng nợ nhưng không ghi nhận nợ phải trả, thành lập công ty chuyên dụng,….Mặc dù những khoản nợ này không hiển thị trực tiếp nhưng vẫn tìm ẩn nguy cơ lớn cho doanh nghiệp (Ví dụ điển hình là Enron và Lehman Brothers). Ngoài ra nó còn làm ảnh hưởng đến giá trị ghi sổ của doanh nghiệp, giá trị sổ sách có thể không phản ánh đúng giá trị thị trường. Mặt khác nó làm tăng khả năng làm đẹp lợi nhuận trong ngắn hạn, giảm khả năng đánh giá tổng thể và tiềm năng dài hạn của doanh nghiệp để đảm bảo khoản vay được phê duyệt, nhà đầu tư rót vốn nhiều hơn, là kết quả nghiên cứu của (Le & ctg.,2025) khi thu thập báo cáo tài chính của 60 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thuộc bốn ngành, bao gồm dịch vụ tiện ích, du lịch, hóa dược và vật liệu xây dựng, từ năm 2013 đến năm 2022.

4.6.2 Vai trò điều tiết của việc lựa chọn đơn vị kiểm toán và tỷ lệ sở hữu của hội đồng quản trị Luận văn: KQNC tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

Trong mô hình 2 (cột 2, bảng 4.9), sau khi bổ sung biến tương tác dual × aud, hệ số của dual vẫn âm và có ý nghĩa 1% (β = –0,036), bo duy trì tác động âm ở mức 1%, còn lev tiếp tục âm và có ý nghĩa 1%; đáng chú ý, biến tương tác dương (β = 0,024) đạt mức ý nghĩa 10%, gợi ý kiểm toán Big4 làm suy yếu hậu quả tiêu cực của việc kiêm nhiệm Chủ tịch–CEO đối với minh bạch thông tin. Kết quả này phù hợp với lập luận của (Cohen, Krishnamoorthy & ctg., 2008) khi cho rằng Kiểm toán viên đánh giá rủi ro kiểm soát cao hơn ở những công ty mà quá trình quản trị bị chi phối bởi ban điều hành. Hay nói cách khác ở những công ty có sự kiêm nhiệm chức danh giữa chủ tịch-CEO, được đánh giá là rủi ro cao hơn, dễ tìm ẩn rủi ro thiếu minh bạch, tăng khả năng gian lận, sai sót. Việc kiểm toán độc lập sẽ giúp giảm thiểu rủi ro này, đặc biệt khi những công ty này được kiểm toán bởi Big4. Thực tế đã chứng minh kiểm toán Big4 có tính độc lập và uy tín cao hơn kiểm toán thông thường nhằm duy trì danh tiếng, tránh rủi ro pháp lý, kiện tụng,…. Bên cạnh năng lực chuyên môn cao, kinh nghiệm đa dạng và phong phú, đơn vị kiểm toán Big4 có thể nhận diện các rủi ro tốt hơn so với các tổ chức kiểm toán thông thường. Các chuẩn mực kiểm toán dành cho các công ty Big4 cũng nghiêm ngặt hơn. Chính vì vậy, mặc dù kiểm toán Big4 không ngăn chặn được toàn bộ rủi ro từ sự kiêm nhiệm chức danh chủ tịch-CEO, nhưng nó phần nào giúp giảm thiểu hậu quả tiêu cực của nó lên MBTT.

Trong mô hình 3 (cột 3, bảng 4.9), khi thay biến tương tác bằng dual × bo, hệ số trực tiếp của dual không còn ý nghĩa, bo vẫn âm và có ý nghĩa 1%, trong khi hệ số tương tác âm (β = –0,080) có ý nghĩa 1%, cho thấy tác động tiêu cực của kiêm nhiệm lên minh bạch càng mạnh khi hội đồng nắm giữ tỷ lệ sở hữu cao. Kết quả này tương thích với nghiên cứu của Lakhal (2005) khi cho rằng sự kiêm nhiệm và tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của thành viên Hội đồng quản trị cao có tác động tiêu cực đến minh bạch thông tin. Như đã thảo luận ở trên, sự kiêm nhiệm gây ra xung đột lợi ích và động cơ kiểm soát thông tin. Đặc biệt, khi Hội đồng quản trị sở hữu phần lớn cổ phần, họ sẽ nắm quyền kiểm soát chủ yếu và có thể sử dụng quyền lực này để bảo vệ lợi ích cho cá nhân hoặc một nhóm cổ đông. Bằng cách đẩy giá phiếu lên cao trong thời gian ngắn, điều này dẫn đến một sự đồng thuận ngầm hoặc thậm chí chủ động hợp tác trong việc kiểm soát thông tin ra bên ngoài vì có lợi ích chung. Kết quả của việc hợp tác này là gần như không tồn tại tại sự giám sát của Hội đồng quản trị. Khả năng, động cơ che giấu và định hướng thông tin trở nên rất cao, dẫn đến tính minh bạch thông tin bị suy giảm nghiêm trọng. Luận văn: KQNC tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

Một kết quả đáng chú ý là tác động của đòn bẩy tài chính lên mức độ minh bạch thông tin luôn âm trong cả ba mô hình, nhấn mạnh vai trò kiểm soát rủi ro tài chính như một điều kiện nền cho minh bạch thông tin trong ngành dược phẩm Việt Nam.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4:

Bài nghiên cứu phân tích các nhân tố tác động đến tính minh bạch thông tin (MBTT) của các công ty dược phẩm niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2018–2023. Sử dụng mô hình tác động ngẫu nhiên tương quan (CRE) với sai số cụm hóa (clustered SE), nghiên cứu xử lý hiệu quả hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tương quan nội tại. Kết quả chỉ ra ba yếu tố có tác động tiêu cực đến MBTT:

  • Kiêm nhiệm chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị và CEO/Tổng giám đốc
  • Tỷ lệ sở hữu cổ phiếu cao của Hội đồng quản trị.
  • Đòn bẩy tài chính.

Ngoài ra, nghiên cứu còn phát hiện hai hiệu ứng quan trọng:

  • Vai trò điều tiết của kiểm toán Big4: Dịch vụ kiểm toán Big4 làm suy yếu tác động tiêu cực của việc kiêm nhiệm Chủ tịch – Giám đốc/ Tổng giám đốc lên MBTT.
  • Hiệu ứng tương tác: Tác động tiêu cực của kiêm nhiệm Chủ tịch – Giám đốc/ Tổng giám đốc càng mạnh hơn khi Hội đồng quản trị nắm giữ tỷ lệ sở hữu cổ phần cao.

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1 Kết luận Luận văn: KQNC tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

Bằng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm dữ liệu của 21 công ty ngành dược phẩm trên 2 sàn chứng khoán HOSE và HNX. Nghiên cứu áp dụng các lý thuyết nền tảng như lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu, Lý thuyết chính sách công bố thông tin và Lý thuyết thông tin bất đối xứng; đồng thời dựa trên sự kế thừa thang đo minh bạch thông tin của (Truong & Nguyen, 2016). Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy CRE để xử lý thiên lệch, nếu xảy ra tương quan giữa các biến không quan sát được với biến độc lập do bỏ qua đặc tính riêng theo thời gian của từng doanh nghiệp: văn hóa công ty, năng lực quản lý,….) của mô hình Pooled OLS. Ước lượng được ảnh hưởng của cả biến thay đổi và không thay đổi theo thời gian mà không cần giả định không có tương quan giữa hiệu ứng riêng biệt của doanh nghiệp và cá biến độc lập như mô hình RE. Cuối cùng tối đa hóa thông tin khi biến độc lập chính ít biến động so với mô hình FE. Nghiên cứu đã xác định được các nhân tố quan trọng tác động đến mức độ minh bạch thông tin của các doanh nghiệp dược phẩm niêm yết tại Việt Nam, trong bối cảnh yêu cầu minh bạch ngày càng được nhà đầu tư coi trọng. Khi minh bạch thông tin được xem là nền tảng cho quyết định đầu tư hiệu quả, giảm thiểu rủi ro và duy trì sự ổn định của thị trường. Nhằm mục đích:

Giảm bất cân đối thông tin và rủi ro đạo đức: Thông tin không minh bạch tạo lợi thế cho người “nắm giữ thông tin” (công ty, cổ đông lớn, nhà quản lý), dẫn đến lựa chọn đối nghịch. Nhà đầu tư mua cổ phiếu kém chất lượng do không đánh giá đúng rủi ro. Ban lãnh đạo lợi dụng thông tin để tư lợi (VD: thao túng giá, che giấu thua lỗ).

Nâng cao hiệu quả định giá tài sản: Thông tin đầy đủ giúp nhà đầu tư đánh giá chính xác giá trị nội tại của doanh nghiệp, tránh định giá sai: cổ phiếu bị định giá thấp, nếu thiếu thông tin tích cực. Bong bóng giá xuất hiện khi thông tin tiêu cực bị che giấu.

Giảm chi phí giao dịch, giảm vốn: Nhà đầu tư không tốn nhiều chi phí tìm kiếm/thẩm định thông tin. Bên cạnh đó doanh nghiệp minh bạch dễ huy động vốn với lãi suất thấp hơn.

Tăng cường giám sát và quản trị công ty: Minh bạch cho phép nhà đầu tư đánh giá năng lực ban lãnh đạo, phát hiện xung đột lợi ích (VD: giao dịch nội gián, kiêm nhiệm chức vụ)

Tạo niềm tin và ổn định thị trường: Nhà đầu tư rút vốn ồ ạt khi nghi ngờ thiếu minh bạch sẽ gây biến động mạnh. Minh bạch giảm làm tăng guy cơ “hành vi bầy đàn” trong khủng hoảng Luận văn: KQNC tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

Tuân thủ chuẩn mực toàn cầu: Quỹ đầu tư nước ngoài (ETF, quỹ hưu trí) yêu cầu minh bạch theo chuẩn IFRS hoặc US GAAP. Chỉ số ESG (Môi trường-Xã hội-Quản trị) chiếm 40% quyết định đầu tư toàn cầu (Morgan Stanley, 2023)

Các phát hiện chính cho thấy cả tác động tiêu cực trực tiếp và hiệu ứng điều tiết khi có sự xuất hiện đồng thời giữa các yếu tố.

Sự tập trung quyền lực khi 1 cá nhân nắm cả vai trò Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc làm suy yếu cơ chế giám sát nội bộ (Jensen, 1993). Sự kiêm nhiệm này có khả năng kiểm soát thông tin nhạy cảm, ưu tiên lợi ích cá nhân thay vì công khai minh bạch.

Tỷ lệ sở hữu cổ phiếu Hội đồng quản trị tác động tiêu cực đến MBTT. Thành viên Hội đồng quản trị sở hữu cổ phần lớn có xu hướng “bảo vệ tài sản cá nhân” bằng cách che giấu thông tin tiêu cực để tránh ảnh hưởng giá cổ phiếu.

Đòn bẩy tài chính tác động tiêu cực đến MBTT. Doanh nghiệp có tỷ lệ nợ cao (Tổng nợ/Tổng tài sản > 50%) có động cơ che giấu rủi ro tài chính để duy trì tín dụng và tránh vi phạm điều khoản nợ do áp lực từ chủ nợ khiến doanh nghiệp chỉ công bố thông tin một chiều.

Tác động tiêu cực của kiêm nhiệm lên minh bạch càng mạnh khi hội đồng nắm giữ tỷ lệ sở hữu cao, tác động này được giảm bớt khi công ty được kiểm toán bởi Big4. Hội đồng sở hữu tỷ lệ cao, họ có quyền chi phối công ty. Đặc biệt khi CEO kiêm chủ tịch Hội đồng quản trị sẽ làm mất đi vai trò giám sát độc lập của Hội đồng quản trị đối với CEO. Điều này giúp tạo điều kiện thuận lợi để kiểm soát, định hướng hoặc che giấu thông tin nhằm phục vụ lợi ích cho một nhóm cá nhân. Kiểm toán Big4 trong vai trò là “người gác cổng” với uy tín, năng lực và tính độc lập; hoạt động như một cơ chế giám sát bên ngoài hiệu quả làm giảm tác động tiêu cực của việc kiêm nhiệm chức vụ đối với tính minh bạch thông tin, là rào chắn ngăn doanh nghiệp thao túng thông tin

5.2 Đề xuất kiến nghị Luận văn: KQNC tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

Nghiên cứu đã xác định được các nhân tố tác động đến mức độ minh bạch thông tin. Trong đó, kiêm nhiệm chức vụ chủ tịch Hội đồng quản trị và tổng giám đốc, tỷ lệ sở hữu cổ phần cao của Hội đồng quản trị, đòn bẩy tài chính cao có tác động tiêu cực đến MBTT. Đồng thời, kiểm toán bởi Big 4 đóng vai trò điều tiết, làm giảm phần nào tác động tiêu cực của kiêm nhiệm lên MBTT. Tuy nhiên, khi kiêm nhiệm kết hợp với tỷ lệ sở hữu Hội đồng quản trị cao thì tác động tiêu cực lại càng được khuếch đại. Xuất phát từ kết quả nghiên cứu, kết hợp xem xét đặc thù rủi ro cao của ngành dược phẩm, ngành có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng và chịu sự giám sát chặt chẽ. Nghiên cứu đề xuất các kiến nghị chính sách mang tính đặc thù sau:

5.2.1 Nhóm giải pháp về cải thiện cấu trúc quản trị công ty

Sự tập trung quyền lực (thể hiện qua kiêm nhiệm và sở hữu cao của Hội đồng quản trị) làm suy yếu cơ chế giám sát nội bộ, dẫn đến giảm MBTT. Kiến nghị cụ thể:

Bắt buộc tách bạch chức danh Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc: Áp dụng bắt buộc đối với các công ty dược có rủi ro quản trị cao, chẳng hạn như những công ty có tỷ lệ sở hữu của Hội đồng quản trị trên 30% hoặc có doanh thu chủ yếu từ các hợp đồng cung ứng công. Cơ quan thực hiện: Hội đồng quản trị, ban kiểm soát, với khuyến nghị chính sách gửi Ủy ban chứng khoán Nhà nước và các Sở giao dịch.

Khuyến nghị nội bộ trong vòng 6-12 tháng; tiến tới quy định bắt buộc hoặc khuyến nghị niêm yết trong vòng 12-24 tháng. Mục tiêu trên 80% công ty dược thực hiện tách bạch trong vòng 2 năm. Căn cứ dựa trên tính đặc thù ngành: Ngành dược liên quan đến an toàn sức khỏe cộng đồng, đòi hỏi sự kiểm soát và trách nhiệm giải trình rõ ràng. Sự tách bạch này là nền tảng để Hội đồng quản trị thực hiện chức năng giám sát hoạt động điều hành một cách độc lập và khách quan.

Tăng cường tỷ lệ và chất lượng thành viên Hội đồng quản trị độc lập: Quy định tỷ lệ tối thiểu 1/3 thành viên Hội đồng quản trị là độc lập, trong đó ít nhất một thành viên có chuyên môn sâu về dược phẩm (dược lý, quản lý dược) hoặc kiểm toán/ kiểm soát. Cơ quan thực hiện: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị. Mục tiêu hướng đến, trên 33% thành viên HĐQT là độc lập trong vòng 1 năm, thành lập các ủy ban chuyên trách như Ủy ban kiểm toán và Ủy ban quản trị rủi ro. Căn cứ dựa trên tính đặc thù ngành: Rủi ro đặc thù ngành (chất lượng thuốc, thu hồi sản phẩm, dược cảnh giác) đòi hỏi sự am hiểu chuyên môn ngay trong Hội đồng quản trị để đưa ra quyết sách đúng đắn và yêu cầu công bố thông tin minh bạch.

Công bố và quản lý “ngưỡng sở hữu tập trung” của Hội đồng quản trị: Khuyến nghị các công ty công bố kế hoạch giảm dần tỷ lệ sở hữu tập trung nếu vượt quá ngưỡng nhất định (đề xuất 30-40%), hoặc công bố đầy đủ cơ chế quản lý xung đột lợi ích đi kèm. Mục tiêu hướng đến trên 90% công ty có tỷ lệ sở hữu Hội đồng quản trị cao công bố kế hoạch giảm sở hữu hoặc tài liệu quản lý xung đột lợi ích chi tiết trong vòng 2 năm. Căn cứ dựa trên kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sở hữu cao của Hội đồng quản trị không chỉ tác động tiêu cực trực tiếp mà còn khuếch đại tác động xấu của kiêm nhiệm.

5.2.2 Nhóm giải pháp về nâng cao chất lượng kiểm toán và giám sát

Kiểm toán chất lượng cao đã được chứng minh có vai trò điều tiết tích cực, làm giảm tác động tiêu cực của kiêm nhiệm. Kiến nghị cụ thể: Luận văn: KQNC tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

Khuyến khích sử dụng kiểm toán chuyên ngành dược: Ưu tiên lựa chọn các công ty kiểm toán Big 4 hoặc các hãng kiểm toán có bộ phận chuyên môn về ngành dược phẩm. Cơ quan thực hiện: Hội đồng quản trị/Ban kiểm toán nội bộ; Ủy ban chứng khoán Nhà nước và các Sở giao dịch có thể đưa vào tiêu chí đánh giá quản trị công ty. Mục tiêu hướng đến, tỷ lệ công ty dược được kiểm toán bởi Big 4 hoặc kiểm toán viên có chuyên môn dược đạt trên 60% trong vòng 2 năm. Căn cứ dựa trên tính đặc thù ngành: Kiểm toán viên có chuyên môn sẽ hiểu rõ hơn về chuỗi cung ứng nguyên liệu (API), kiểm soát chất lượng (GMP), quản lý tồn kho thuốc, từ đó phát hiện tốt hơn các rủi ro trong công bố thông tin.

Bắt buộc công bố báo cáo kiểm toán bổ sung cho ngành dược: Báo cáo này cung cấp đánh giá độc lập về các khía cạnh then chốt ngoài tài chính, bao gồm: hệ thống quản lý chất lượng (GMP), kiểm soát chuỗi cung ứng (API), quản lý hạn dùng tồn kho, và hệ thống dược cảnh giác. Cơ quan thực hiện: Ban Giám đốc, phối hợp với kiểm toán viên độc lập. Mục tiêu 100% báo cáo thường niên có phụ lục kiểm toán chất lượng dược trong vòng 2 năm. Những vụ bê bối của Ranbaxy Ấn Độ và VN Pharma Việt Nam là minh chứng cho thấy kiểm toán tài chính thông thường là chưa đủ. Việc kiểm toán chuyên sâu vào chất lượng và quy trình có thể ngăn ngừa sớm các sai phạm nghiêm trọng.

Quy định luân chuyển kiểm toán và công khai phí kiểm toán: Áp dụng chính sách luân chuyển kiểm toán viên/ đơn vị kiểm toán sau một chu kỳ nhất định tối đa 5 đến 7 năm và yêu cầu công khai chi tiết phí kiểm toán theo từng hạng mục: kiểm toán Báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ, tư vấn. Mục tiêu hướng đến tỷ lệ luân chuyển kiểm toán đúng quy định đạt trên 90%; các doanh nghiệp công bố minh bạch phí kiểm toán. Mục đích giảm thiểu rủi ro quen thuộc giữa kiểm toán viên và ban lãnh đạo, từ đó tăng cường tính độc lập và chất lượng kiểm toán.

5.2.3 Nhóm giải pháp về cơ chế công bố thông tin đặc thù ngành dược

Các thang đo MBTT chung chung có thể bỏ sót những thông tin chuyên sâu, then chốt của ngành dược, dẫn đến bất cân xứng thông tin cho nhà đầu tư. Luận văn: KQNC tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

Kiến nghị xây dựng bộ chỉ số chi tiết công bố thông tin bắt buộc, bao gồm:

  1. Công bố thông tin về nghiên cứu và phát triển: từ tiền lâm sàng đến thử nghiệm lâm sàng, đối tác nghiên cứu, ước tính thời gian và chi phí đăng ký.
  2. Công bố kết quả thử nghiệm lâm sàng & dược cảnh giác: các sự kiện bất lợi nghiêm trọng, cảnh báo từ cơ quan quản lý và các đợt thu hồi thuốc.
  3. Công bố về chất lượng sản xuất và chứng nhận: tình trạng chứng nhận GMP/WHO-GMP/ISO, kết quả thanh tra của cơ quan quản lý trong vòng 3 năm, kế hoạch khắc phục nếu có.
  4. Công bố rủi ro chuỗi cung ứng API: nguồn gốc nhập khẩu nguyên liệu, mức độ phụ thuộc vào một nhà cung cấp hoặc một quốc gia cụ thể, kế hoạch dự phòng.
  5. Công bố chi tiết giao dịch liên quan và kênh phân phối: các giao dịch với công ty con, nhà phân phối; chính sách và chi phí cho hoạt động marketing, khuyến mại cho các đơn vị y tế. Lộ trình thực thi: đề xuất Ủy ban chứng khoán Nhà nước/HOSE/HNX ban hành bộ chỉ số chi tiết như một phần bổ sung bắt buộc trong Báo cáo thường niên của các công ty dược, bắt đầu bằng hình thức khuyến nghị trong 2 năm và chuyển thành quy định chính thức sau 2 năm.

Các bê bối điển hình: Việt Á gian lận giá kit xét nghiệm, thông đồng với các cơ quan y tế và VN Pharma nhập khẩu thuốc giả, làm giả hồ sơ, đều xuất phát từ sự thiếu minh bạch trong các khâu trên. Việc công bố bắt buộc sẽ tạo rào chắn phòng ngừa các sai phạm tương tự.

5.2.4 Nhóm giải pháp về quản lý đòn bẩy tài chính

Đòn bẩy cao gắn với động cơ che giấu thông tin tài chính để duy trì tín dụng và tránh vi phạm các điều khoản nợ. Kiến nghị cụ thể:

  1. Thiết lập ngưỡng đòn bẩy an toàn theo phân khúc ngành: Khuyến nghị các ngưỡng đòn bẩy khác nhau phù hợp với rủi ro của từng phân khúc (ví dụ: doanh nghiệp sản xuất lớn: lev < 0.6; doanh nghiệp nghiên cứu và phát triển: lev < 0.4).
  2. Công bố minh bạch mục đích và kế hoạch trả nợ: Yêu cầu công bố chi tiết mục đích sử dụng các khoản vay lớn và kế hoạch trả nợ cụ thể, có giám sát của Hội đồng quản trị. Mục tiêu 100% các khoản vay lớn được kèm theo kế hoạch trả nợ được công bố công khai.

Các kiến nghị nêu trên không chỉ xuất phát từ kết quả định lượng của nghiên cứu mà còn được thiết kế dựa trên đặc thù rủi ro và yêu cầu quản trị đặc biệt của ngành dược phẩm. Khác với nhiều ngành sản xuất khác, sản phẩm của ngành dược ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng con người. Do đó, việc tăng cường minh bạch thông tin, từ cấu trúc quản trị, chất lượng kiểm toán đến các thông tin chuyên ngành về nghiên cứu và phát triển, chất lượng và chuỗi cung ứng, không chỉ nhằm mục tiêu bảo vệ nhà đầu tư mà còn vì an toàn của người tiêu dùng và sự ổn định của toàn ngành y tế. Bài học từ các vụ bê bối: Việt Á, VN Pharma và nhiều công ty dược trên thế giới cho thấy, một cơ chế minh bạch được thiết kế đặc thù cho ngành là yêu cầu cấp thiết, góp phần xây dựng một thị trường chứng khoán lành mạnh và một nền công nghiệp dược bền vững.

5.3 Hạn chế của nghiên cứu Luận văn: KQNC tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

Phạm vi nghiên cứu hẹp (Nghiên cứu chị dựa trên số liệu thu thập của ngành dược phẩm trên sàn HNX và HOSE từ năm 2018-2023) điều này để ngỏ khả năng thực hiện các nghiên cứu bổ sung với bộ dữ liệu đầy đủ hơn.

Chỉ số đo lường minh bạch thông tin có thể chưa bao quát hết các khía cạnh. Hiện nay vẫn chưa có thang đo cụ thể về chỉ số MBTT tại Việt Nam, dữ liệu về mức độ minh bạch thông tin được tác giả tiến hành chấm điểm dựa trên sự kế thừa thang đo minh bạch thông tin của (Truong & Nguyen, 2016). Thang đo này được xây dựng dựa trên bộ chỉ số minh bạch và Công bố thông tin của Standard và Poor kết hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam về Công bố thông tin của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán.

Mô hình tuyến tính có thể chưa nắm bắt hết các mối quan hệ phi tuyến phức tạp, khả năng tồn tại biến bỏ sót dù đã sử dụng CRE để giảm thiểu.

5.4 Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng nghiên cứu sang các ngành khác để so sánh.
  • Phát triển chỉ số minh bạch thông tin toàn diện hơn cho thị trường Việt Nam.
  • Nghiên cứu thêm các nhân tố khác như văn hóa doanh nghiệp, trình độ ban lãnh đạo, áp lực truyền thông.
  • Sử dụng các phương pháp định tính (phỏng vấn) để hiểu sâu hơn cơ chế tác động.
  • Nghiên cứu tác động của minh bạch thông tin đến hiệu quả hoạt động và giá trị doanh nghiệp trong ngành Dược.

Kết luận chung: Nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm quan trọng về các nhân tố tác động đến minh bạch thông tin trong ngành dược phẩm niêm yết tại Việt Nam. Các phát hiện nhấn mạnh sự cần thiết phải cải thiện cơ cấu quản trị công ty (đặc biệt là tách bạch kiêm nhiệm và quản lý sở hữu Hội đồng quản trị), quản lý rủi ro tài chính hiệu quả, đồng thời khẳng định vai trò tích cực của kiểm toán chất lượng cao. Các kiến nghị đề xuất hướng đến việc nâng cao minh bạch, tăng cường niềm tin của nhà đầu tư và góp phần phát triển bền vững thị trường chứng khoán Việt Nam. Luận văn: KQNC tác động đến thông tin minh bạch ngành dược.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Nhân tố tác động đến thông tin minh bạch ngành dược

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
trackback

[…] ===>>> Luận văn: KQNC tác động đến thông tin minh bạch ngành dược […]

Contact Me on Zalo
0877682993
1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x