Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trong luận văn này, tác giả tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam trong giai đoạn 2014–2024. Mục tiêu của nghiên cứu là đo lường mức độ tác động của các yếu tố nội tại và vĩ mô đến sự ổn định tài chính của 28 NHTM đang hoạt động tại Việt Nam.
Trên cơ sở kế thừa nền tảng lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu với hệ thống các biến độc lập bao gồm: các biến kiểm soát phản ánh đặc điểm nội tại của ngân hàng và các biến kinh tế vĩ mô đại diện cho môi trường hoạt động bên ngoài. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập theo dạng dữ liệu bảng (panel data) và được xử lý thông qua các phương pháp hồi quy như Pooled OLS, FEM, REM và SGMM nhằm đảm bảo độ tin cậy và chính xác trong ước lượng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố như tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ dự phòng rủi ro (LLP), tỷ lệ cho vay trên tài sản (LTA), tăng trưởng kinh tế (GDP) có tương quan cùng chiều đến ổn định tài chính ngân hàng. Quy mô ngân hàng (SIZE), hiệu quả sử dụng chi phí (CIR), tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM), tỷ lệ lạm phát (INF), tỷ lệ tự tài trợ (FR), tỷ lệ nợ xấu (NPL) có tương quan ngược chiều đến ổn định tài chính ngân hàng.
Trên cơ sở các kết quả đạt được, tác giả đã đề xuất một số khuyến nghị nhằm góp phần nâng cao mức độ ổn định tài chính cho hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời gian tới.
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do chọn đề tài
Ngân hàng thương mại giữ vai trò trọng tâm trong việc cung ứng tiền tệ cho hoạt động thanh toán, tài trợ đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Do đó, sự ổn định của các ngân hàng thương mại chính là nền tảng cốt lõi, đồng thời là nguồn gốc của sự ổn định toàn diện trong hệ thống tài chính quốc gia (Hussein, 2010). Nền kinh tế sẽ bị chi phối nếu xảy ra bất cứ diễn biến tiêu cực nào ảnh hưởng đến tính ổn định của NHTM (Ben Bouheni & Hasnaoui, 2017). Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu không chỉ riêng Việt Nam đang đối mặt với những gian truân trên thị trường tài chính mà Chính phủ và đặc biệt là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang triển khai các biện pháp giám sát chặt chẽ, nhằm kiểm soát rủi ro và củng cố năng lực của hệ thống ngân hàng, đảm bảo duy trì sự ODTC trong bối cảnh nhiều thách thức đang đặt ra.
Sự kiện sụp đổ ngân hàng Lehman Brother tại Mỹ trước thềm khủng hoảng đã tạo ra địa chấn toàn cầu. Hệ lụy và khả năng phát sinh rủi ro sau khủng hoảng vẫn còn tiềm ẩn theo đó hệ thống ngân hàng nước ta đã bày ra những yếu kém khi tập trung vào tăng trưởng cho vay mà xem nhẹ vai trò duy trì bền vững tài chính. Theo đó, các quốc gia và Việt Nam đang phải đối mặt với những ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch COVID-19, chiến tranh thương mại Mỹ- Trung, xung đột vũ trang Nga- Ukraine, Iran- Israel, làn sóng thất nghiệp, lạm phát tăng cao…. Những biến động này đã và đang đặt các ngân hàng trước hàng loạt thách thức, bao gồm sự sụt giảm về lợi nhuận, mức độ rủi ro gia tăng và nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự sức khỏe tài chính của ngân hàng. Năm 2022, lạm phát tại Mỹ đạt 9,1% cao nhất trong 40 năm trở lại đây, buộc FED nâng lãi suất lên 8 lần từ 0,25% lên 5%, NHTM Châu Âu từ 0% lên 3,5%. Một trong những nền kinh tế khổng lồ của thế giới, ba ngân hàng Silicon Valley Bank, Signature Bank và First Republic Bank tại Mỹ lần lượt tuyên bố phá sản trong năm 2023 theo đó cuộc khủng hoảng chưa có dấu hiệu dừng lại. Bên cạnh đó, theo nghiên cứu được đăng trên tờ USA Today cho biết có hơn 180 ngân hàng đang đối diện với nguy cơ trên bờ vực phá sản. Tại Châu Âu, ngân hàng mạnh thứ hai của Thụy Sĩ trong tình trạng của nguy cơ phá sản được ngân hàng USB mua lại. Luận văn: Ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng.
Tại một số quốc gia Châu Á như Indonesia, tình hình chính trị căng thẳng vào năm 2024 tạo ra môi trường khó lường buộc các ngân hàng phải áp dụng chính sách cho vay chặt chẽ hơn nhằm bảo vệ các ngân hàng trước nguy cơ bất ổn tài chính (Nadia và cộng sự, 2024). Hay tại Ấn Độ khủng hoảng nợ xấu do các khoản vay dễ cho lĩnh vực hạ tầng và thép đã khiến nợ xấu tăng vọt từ năm lên 2 con số vào năm 2018, khi đó buộc NHTW Ấn Độ phải công khai các khoản nợ xấu bị che dấu dẫn đến nhiều ngân hàng báo lỗ kỷ lục. Và để giải quyết tình trạng đó, vào chính phủ Ấn Độ tiến hành sáp nhập các ngân hàng giảm số lượng ngân hàng từ 27 ngân hàng xuống còn 12 ngân hàng vào năm 2021. Tại Trung Quốc, một nhân viên ngân hàng cấu kết với công ty tư nhân hòng nhằm chiếm đoạt tiền của khách hàng thông qua nền tảng huy động, hệ lụy hơn 400 nghìn khách hàng không thể rút tiền từ các ngân hàng với tổng số tiền lên tới 1,5 tỷ USD gây lên làn sóng biểu tình tại Hà Nam năm 2022.
Tại Việt Nam vấn đề ODTC đối với các NHTM được ưu tiên nhận diện và có vai trò then chốt trong nền kinh tế (NHNN, 2019). So với các nước phát triển thì ngân hàng Việt Nam hiện được đánh giá thấp hơn về tính bền vững. Cụ thể, Huỳnh Japan (2020) cho thấy điểm số ODTC của các NHTM Việt Nam từ năm 2007 – 2018 là 24,27 gần bằng điểm số trung bình của các NHTM tại Trung Quốc và Đông Âu, Châu Á và Mỹ Latinh những năm 2000-2012 là 24,61 (Chen & cộng sự, 2017). Giai đoạn 2000-2015 điểm ODTC của các NHTM hàng đầu Châu Âu là 28,22 (Brana & cộng sự, 2019). Kết quả đối với các ngân hàng tại các quốc gia tiên tiến hơn thì rất ổn định trong khi các nước kém phát triển cho thấy kết quả ổn định thấp hơn. Sự kiện chuyển giao bắt buộc đối với 4 ngân hàng yếu kém theo đề án “Cơ cấu lại hệ thống TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021-2025” đã phần nào phản ánh tính thiếu ổn định của hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng CBBank, OceanBank, GPBank, DongABank đã tái cấu trúc, mua lại, sáp nhập đặc biệt mua lại các ngân hàng yếu kém với giá 0 đồng. Hay hiện tượng công chúng rút tiền ồ ạt tại SCB vào cuối năm 2022 gây hoang mang dư luận ảnh hưởng đến niềm tin công chúng gây nên tâm lý lo ngại về sự an toàn đối với khoản tiền gửi tại tổ chức.
Từ thực tiễn nêu trên, việc nghiên cứu và phân tích các yếu tố tác động đến sự ổn định của hệ thống NHTM một trong những ưu tiên hàng đầu. Thêm vào đó, lượng các nghiên cứu còn ở giai đoạn đầu và chưa nhiều tại Việt Nam và vẫn tồn tại các quan điểm chưa đồng nhất mà vẫn còn nhiều ý kiến, quan điểm trái ngược. Do đó, với đề tài “CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ỔN ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM” được nghiên cứu trong khoảng thời gian 2014-2024, tác giả kỳ vọng các yếu tố đo lường đến sự ODTC tại các ngân hàng được xem xét để củng cố cơ sở khoa học cũng như đa dạng thêm những khuyến nghị có thể đề xuất cho các nhà quản trị, nhà hoạch định ngân hàng trong tương lai.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu Luận văn: Ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng.
- Mục tiêu tổng quát
Đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đến ODTC của các NHTM Việt Nam. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề xuất các khuyến nghị phù hợp nhằm góp phần nâng cao mức độ tự ODTC.
- Mục tiêu cụ thể
Xác định yếu tố ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến sự ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam.
Đưa ra các khuyến nghị nhằm nâng cao ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Xác định yếu tố nào ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam?
- Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến sự ổn định tài chính của hệ thống NHTM Việt Nam như thế nào?
- Khuyến nghị phù hợp nhằm nâng cao sự ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam?
1.4 Đối tượng và рhạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: các yếu tố ảnh hưởng đến sự ODTC của các NHTM Việt Nam.
Phạm vi không gian: 28 NHTM trên tổng số 31 NHTM đang hoạt động. Sự lựa chọn dựa trên tiêu chí loại trừ các ngân hàng bị mua lại, sáp nhập, có vốn hoàn toàn từ nước ngoài và bị kiểm soát đặc biệt. Đồng thời, nguồn dữ liệu được công bố công khai, minh bạch, đầy đủ BCTC được kiểm toán trên các trang web của các ngân hàng.
Phạm vi thời gian: giai đoạn 10 năm từ năm 2014 đến năm 2024. Đây là thời kỳ luật các TCTD 2010 được áp dụng đối với các NHTM Việt Nam và thực hiện tái cấu trúc hệ thống và sáp nhập theo đề án 254 của NHNN và Chính Phủ, cùng với sự thành lập VAMC nhằm đảm bảo tính ổn định trong hoạt động. Bên cạnh đó, tiêu chuẩn giám sát Basel II đến chuẩn Basel III được thực thi để kiểm soát rủi ro, tính ổn định tại các Ngân hàng. Đồng thời đây cũng là giai đoạn các ngân hàng đương đầu với nhiều khó khăn, biến động trên thị trường kinh tế trong và sau căng thẳng do dịch Covid 19 tạo bối cảnh phù hợp giúp bài nghiên cứu có mang lại giá trị thực tiễn cao. Luận văn: Ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng.
1.5 Phương рháр nghiên cứu
1.5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu trong giai đoạn 2014–2024 của 28 NHTM Việt Nam, được thu thập từ BCTC hợp nhất đã được kiểm toán. Bên cạnh các biến vi mô phản ánh đặc điểm nội tại của ngân hàng, dữ liệu liên quan đến các yếu tố kinh tế vĩ mô như tốc độ tăng trưởng GDP và tỷ lệ lạm phát được tác giả thu thập từ nguồn dữ liệu của Ngân hàng Thế giới (World Bank).
1.5.2 Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu
Sau khi xử lý làm sạch bộ dữ liệu, tác giả sử dụng các phương kiểm định để kiểm tra tính hợp lý của mô hình Sau đó, OLS được đưa vào để ước lượng và kiểm định các giả thuyết. Lựa chọn mô hình thích hợp giữa FEM, REM nếu mô hình có hiện tượng phương sai không đồng nhất và tự tương quan, mô hình FGLS sẽ được đưa vào để khắc phục. Sau đó qua kiểm tra nội sinh, nếu xảy ra hiện tượng nội sinh trong mô hình, phương pháp SGMM sẽ được sử dụng để khắc phục. Do đó phương pháp hồi quy SGMM làm chủ đạo cho luận văn.
1.6 Đóng góр củа đề tài
Về mặt lý luận: hệ thống hóa cơ sở lý thuyết, nhận diện các yếu tố tác động và đo lường mức độ tác động của từng yếu tố đến ODTC của các NHTM Việt Nam.
Về mặt thực tiễn: Thông qua các công trình nghiên cứu liên quan để có thêm các bằng chứng thực nghiệm nhằm xem xét kỹ hơn về yếu tố đo lường ODTC và mức độ tác động đến ODTC của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2014-2024. Từ đó, đề xuất khuyến nghị phù hợp với tình hình thực tế tại thị trường ngân hàng Việt Nam.
1.7 Bố cục bài nghiên cứu
Bố cục bài nghiên cứu gồm 5 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Luận văn: Ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng.
Chương này trình bày tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu, phạm vi đối tượng phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa khoa học đề tài. Từ đó giúp người đọc có cái nhìn khái quát về tổng thể về đề tài.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm
Chương này trình bày khái niệm, vai trò, các lý thuyết nền tảng có liên quan đến ODTC và cách thức đo lường sự ODTC ngân hàng. Sau đó, lược khảo các công trình nghiên cứu để có cái nhìn tổng quan làm căn cứ xác định mô hình nghiên cứu Đồng thời, đưa ra nhận định về một số khoảng trống để từ đó trình bày hướng nghiên cứu tiếp theo.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương này thể hiện quy trình, mô hình nghiên cứu, cách thu thập dữ liệu, phương pháp ước lượng và kiểm định được sử dụng trong đề tài. Đồng thời đề xuất các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trình bày các kết quả thực nghiệm thu được sau khi tiến hành phân tích hồi quy dựa trên mô hình nghiên cứu đã được xây dựng, đồng thời thực hiện các kiểm định cần thiết nhằm lựa chọn mô hình ước lượng phù hợp nhất. Sau đó, thảo luận kết quả, đối chiếu và so sánh với các nghiên cứu trước đó nhằm làm rõ hơn các phát hiện và khẳng định tính nhất quán hoặc khác biệt.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị
Đưa ra kết luận tổng quát từ đó đề xuất một số hàm ý quản trị đối với nhà quản trị nhằm gia tăng sự ODTC. Nhận diện được hạn chế của nghiên cứu và đưa ra một số định hướng phát triển tiếp theo nhằm giúp đề tài được hoàn thiện hơn.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
2.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Sự ổn định tài chính tại ngân hàng thương mại
Ổn định tài chính được đề cập đầu tiên bởi NHTW Anh vào năm 1994, theo đó ổn định tài chính là nhận diện các rủi ro có thể xảy ra và đưa ra các giải pháp để giảm thiểu nó (Allen, 2006). NHTW Châu Âu (2014) cũng nhận định ODTC là các tổ chức tài chính có năng lực tự chống chịu các rủi ro trước những cú sốc từ nền kinh tế. NHTW Úc cũng cho rằng việc phân bổ phù hợp vốn đầu tư và vốn tiết kiệm nhằm đẩy mạnh kinh tế có nghĩa là tài chính ổn định. NHTW Thụy Sĩ thì cho rằng khi trung gian tài chính đối mặt với bất ổn tiềm tàng mà vẫn duy trì thâm chí thực hiện tốt nhiệm vụ của mình thì chứng tỏ tổ chức đó có nền tảng tài chính ổn định. Còn theo FED nhấn mạnh rằng hệ thống tài chính ổn định là khi trong cả điều kiện thuận lợi và khó khăn, thậm chí có thể đứng vững khi gặp khủng hoảng. Luận văn: Ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng.
Theo Brunnermerier và cộng sự (2009), sự ổn định tài chính là không có bất kỳ cuộc suy thoái nào đang diễn ra thông qua việc toàn bộ các NHTM cân bằng được khả năng ổn định. Ngân hàng có được sự ổn định nghĩa là không tồn tại những áp lực tài chính về hữu hình lẫn vô hình đặc biệt là sự bất ổn có khả năng trở thành rủi ro toàn bộ hệ thống có thể gây tổn hại toàn bộ nền kinh tế (Crockett, 1997).
Theo Nguyễn Minh Sáng (2021) trạng thái mà hệ thống không có bất ổn, các thành phần của NHTM hoạt động ổn định và thực hiện tốt chức năng cơ bản tài chính bao gồm luân chuyển nguồn vốn cho nền kinh tế, thanh toán đồng thời chống chọi được với các rủi ro của nền kinh tế từ giai đoạn đầu để hạn chế sự lan rộng của khủng hoảng hệ thống chính là ổn định tài chính.
Raouf và Ahmed (2020) nêu rằng việc tin tưởng vào hệ thống tài chính cũng là ODTC. Các tác giả cũng cho rằng những cú sốc và sự lây lan khi thanh khoản và việc tuân thủ hợp đồng trở nên đáng ngờ có thể là mối đe dọa cho sự ổn định tài chính các ngân hàng. Thêm vào đó, biến động giá bất thường và không thể đoán trước chính là các chỉ báo về khó khăn tài chính.
Như vậy, sự ODTC của NHTM là quá trình vận hành ổn định các chức năng cơ bản như một nhà TCTC trung gian khác, qua đó đóng góp vào việc phân phối nguồn lực kinh tế hiệu quả hơn. Khi này các NHTM có thể vận hành ổn định và hiệu quả các chức năng của mình đồng thời ứng phó được với tác động tiêu cực bên ngoài mà không gây ra các sự cố trực tiếp hay gián tiếp đến kinh tế.
2.1.2 Vai trò của ổn định tài chính ngân hàng Luận văn: Ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng.
Ngân hàng với chức năng then chốt trong nền kinh tế quốc gia, kênh dẫn vốn giúp luân chuyển luồng tiền thanh toán đa quốc gia thúc đẩy đầu tư. Chính vì vậy, việc ODTC của ngân hàng là vấn đề tiên quyết sống còn đối với một quốc gia vì bất khi hoạt động của ngân hàng bị chững lại thì có thể gây ra những hệ lụy nghiêm trọng đến cả nền kinh tế. Bài học từ khủng hoảng tài chính tại Mỹ 2008 đến nay vẫn còn như mới cho thấy ODTC là mục tiêu cần được ưu tiên và chú trọng vì:
Các chính sách tài khóa, vĩ mô, tiền tệ được thực thi trong quá trình duy trì ODTC ngân hàng (Nguyễn Thị Như Quỳnh, 2021). Do đó, các mục tiêu kinh tế như thúc đẩy tăng trưởng, ổn định lạm phát, tỷ giá hối đoái cũng như giảm tỷ lệ thất nghiệp đạt được trong quá trình vận hành ổn định.
Sự ODTC còn góp phần thúc đẩy hiệu quả kinh doanh giữa các chủ thể kinh tế làm tăng thêm tăng trưởng kinh tế quốc gia. Qua đó, ngân hàng có hệ thống tài chính vững mạnh có thể chống chọi được trước những cú sốc và gia cố thêm hàng rào tài chính bảo đảm an toàn kinh doanh. Vì vậy, gia tăng niềm tin từ phía khách hàng, dễ dàng hơn trong việc thu hút tiền từ người dân trong quá trình vận hành ngân hàng.
Ổn định tài chính của NHTM sẽ góp phần kiểm soát rủi ro phá sản đột ngột thông qua quản lý có hiệu quả hoạt động ngân quỹ, điều phối các hoạt động tín dụng theo chủ trương tránh những nguy cơ trực tiếp lẫn gián tiếp gây nguy hại và bất ổn cho toàn hệ thống.
Bất ổn trong hệ thống tài chính ngân hàng gia tăng chi phí của bất ổn tài chính đối với nền kinh tế thông qua việc làm suy giảm hiệu suất của khu vực tài chính. Levine, Beck và Laoyza 2000a, b, đã khẳng định vai trò quan trọng của ODTC trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thông qua các chức năng trung gian và thanh toán. Do đó, việc đánh giá chi phí bất ổn tài chính cần tập trung vào mức độ ảnh hưởng của nó đến các chức năng cốt lõi này. Khác với những biến động bình thường của thị trường, bất ổn tài chính thể hiện ở việc làm suy yếu hoạt động của hệ thống tài chính và có thể diễn ra ở nhiều cấp độ. Mức nghiêm trọng nhất là khủng hoảng tài chính, khi hệ thống mất chức năng trong thời gian dài. Tuy nhiên, hệ thống có thể chịu căng thẳng đáng kể ngay cả trước khi khủng hoảng xảy ra. Chi phí bất ổn phụ thuộc vào mức độ căng thẳng và không chỉ đơn thuần là vấn đề quy mô, mà còn mang tính chất định tính. Ngoài ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm và sản lượng, bất ổn tài chính còn đe dọa đến triển vọng tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế. Luận văn: Ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng.
Ổn định tài chính là điều kiện thiết yếu không chỉ để duy trì ổn định giá cả – mục tiêu của NHTW – mà còn đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Bất ổn tài chính gây thiệt hại lớn do biến động giá tăng mạnh, nguy cơ phá sản của tổ chức tài chính và giảm hiệu quả phân bổ nguồn lực. Theo Chang (2024), từ thập niên 1980, tự do hóa tài chính thúc đẩy tăng trưởng ngành tài chính, nhưng cũng làm gia tăng rủi ro bất ổn, dẫn đến các cuộc khủng hoảng và suy giảm tăng trưởng. Do đó, nhiều quốc gia đã chú trọng hơn đến ODTC ngân hàng trong hoạch định chính sách, nhất là trong bối cảnh gia tăng liên kết tài chính toàn cầu và sự phát triển nhanh của các công cụ tài chính phức tạp.
2.1.3 Đo lường ổn định tài chính của Ngân hàng Thương mại
Phương pháp phân tích chỉ số tài chính: Một số nghiên cứu đã sử dụng tính chất bắc cầu thông qua phân tích tỷ lệ các chỉ tiêu: tỷ suất sinh lời, tỷ lệ thanh khoản, khả năng thanh toán, ….để đánh giá ODTC ngân hàng. Lập luận này cho rằng những tỷ số trên là thước đo đại diện cho các rủi ro để phản ánh đến ODTC. Tuy nhiên, quan điểm trên không được ủng hộ do tỷ số chỉ phản ảnh mối quan hệ gián tiếp, không thể hiện đầy đủ về quy mô và bản chất của ODTC ngân hàng.
Tỷ số bộ khung đánh giá CAMELS có khả năng trong nhận diện và phản ứng nhanh chóng với các áp lực tài chính đang tồn tại. CAMELS đại diện cho cho cho các biến số bao gồm Capital (an toàn vốn), Asset (chất lượng tài sản), Manager (năng lực quản trị), Earning (thu nhập), Liquidity (khả năng thanh khoản) và Sensitivity (mức độ nhạy cảm với lãi suất thị trường). Hiện nay, CAMELS kết hợp với các biến số phi tài chính được một số nghiên cứu đưa vào để đánh giá và phân tích tính ODTC.
Tại Ngân hàng cách tiếp cận thông dụng và phổ biến hơn để phản ánh sự ODTC là qua phân tích chỉ số Z-Score. Năm 1968, để dự đoán khả năng phá sản hay vỡ nợ của các các tổ chức tài chính, Edward I.Altman đã sử dụng Z-score với hàm ý Z-score càng cao thì tài chính ngân hàng càng vững chắc. Kế thừa nghiên cứu của Altman, Joseph Piotroski và cộng sự đã điều chỉnh và áp dụng Z-score để đánh giá khả năng chịu đựng của ngân hàng. Z-score xây dựng từ nhiều thành tố, giúp đánh giá một cách tổng quát về hoạt động ngân hàng gồm ổn định về mặt tài chính, rủi ro tổng thể và dự báo nguy cơ phá sản. Cụ thể, Z-score được đo lường theo công thức:
Trong đó : ROA là lợi nhuận ròng trên tổng tài sản bình quân E/A là vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản 𝜎𝑅𝑂𝐴 là độ lệch chuẩn của giá trị ROA đại diện cho sự biến động khả năng sinh lời.
Z-score đại diện số lần độ lệch chuẩn của ROA, nếu ROA giảm xuống theo số lần đó thì khi đó VCSH sẽ bị suy kiệt và khiến ngân hàng rơi vào mất khả năng tài chính. Z-score càng cao chứng tỏ ngân hàng có được sự ổn định tốt và rủi ro tổng thể thấp. Theo Chiaramonte và cộng sự (2016), chỉ số Z-score có thể dự đoán tốt nguy cơ thất bại của các ngân hàng ở mức 76%. Mặc dù, Z-score sử dụng dữ liệu từ BCTC nên hạn chế nếu các NHTM cố tình thao túng hay thay đổi dữ liệu trên BCTC của mình (Lê Hà Diễm Chi và cộng sự, 2023). Nhưng Z-score lại thích hợp hơn ở Việt Nam khi tính toán đơn giản, chỉ cần thông tin sẵn có trên BCTC (Nguyễn Thị Minh Châu, 2023).
2.2 Các lý thuyết nền tảng Luận văn: Ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng.
2.2.1 Lý thuyết quyền lực thị trường
Lý thuyết quyền lực thị trường với giả thuyết cho rằng thị phần của doanh nghiệp tăng lên là biểu hiện của quyền lực thị trường và doanh nghiệp sẽ có lợi nhuận cao hơn nhờ sức mạnh của quyền lực thị trường. Theo Olweny và Shipho (2011), có hai cách tiếp cận khác nhau trong lý thuyết MP là Sức mạnh thị trường tương đối và Cấu trúc – Hành vi – Hiệu quả. Theo lý thuyết, khả năng sinh lời của công ty bị tác động bởi cấu trúc thị trường thông qua các quyết định từ lãnh đạo. Theo cách tiếp cận của SCP, mức độ thị trường tập trung làm tăng sức mạnh thị trường tiềm năng của các ngân hàng do đó doanh thu cũng tăng theo. Các ngân hàng ở các thị trường tập trung nhiều khả năng tạo ra lợi nhuận bất thường bởi khả năng hạ lãi suất tiền gửi và nâng lãi suất cho vay cao hơn do độc quyền, so với các công ty hoạt động ở các thị trường kém tập trung hơn, không phân biệt về hiệu quả của các công ty đó (Tregenna, 2009). Không giống như SCP, hướng tiếp cận RMP đặt ra rằng lợi nhuận ảnh hưởng bởi thị phần. Theo Athanasoglou và cộng sự (2008), hướng tiếp cận RMP giả định rằng chỉ ngân hàng lớn mới có thể thực hiện quyền lực thị trường thông qua các sản phẩm mới khác biệt để gia tăng lợi nhuận không cạnh tranh. Vì vậy, đối với các ngân hàng lớn có thế mạnh về chất lượng sản phẩm đồng thời sở hữu danh tiếng tốt có thể nâng giá sản phẩm và cải thiện chất lượng dịch vụ để thu được nhiều lợi nhuận hơn.
2.2.2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng
Lý thuyết thông tin bất cân xứng được đề xuất bởi George A. Akerlof (1970), nhấn mạnh sự tồn tại của chênh lệch thông tin giữa các chủ thể tham gia giao dịch trên thị trường. Trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, hiện tượng này thể hiện ở việc người đi vay thường nắm giữ nhiều thông tin hơn về năng lực tài chính, mức độ rủi ro và khả năng trả nợ của mình so với các định chế tài chính. Sự bất cân xứng thông tin có thể dẫn đến các vấn đề như lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức, từ đó làm gia tăng rủi ro tín dụng cho ngân hàng. Để hạn chế những tác động tiêu cực của thông tin bất cân xứng, các định chế tài chính cần xây dựng quy trình thẩm định và sàng lọc khách hàng một cách chặt chẽ trước khi quyết định cấp tín dụng. Việc thu thập, kiểm chứng và phân tích đầy đủ thông tin liên quan đến người vay trước khi giải ngân đóng vai trò then chốt trong quản trị rủi ro tín dụng. Thông qua đó, ngân hàng có thể nâng cao chất lượng danh mục tín dụng, giảm thiểu khả năng phát sinh nợ xấu và góp phần đảm bảo sự ổn định tài chính của hệ thống.
2.2.3 Lý thuyết Quá lớn để sụp đổ Luận văn: Ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng.
Lý thuyết Quá lớn để sụp đổ (Too big to fail) đề cập đến mối quan hệ giữa rủi ro và quy mô ngân hàng. Thuật ngữ “quá lớn để sụp đổ” lần đầu được nhắc đến bởi Nghị sĩ Hoa Kỳ Stewart McKinney vào năm 1984 trong phiên điều trần của Quốc hội về việc Tổng công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang đã thực hiện cứu trợ đối với Ngân hàng Continental Illinois (ngân hàng lớn thứ bảy của Hoa Kỳ lúc bấy giờ đang trong bối cảnh không còn thanh toán và tháo chạy khỏi ngân hàng từ tháng 4 năm 1984). Lý thuyết này cho rằng sự sụp đổ của các định chế tài chính bao gồm ngân hàng có quy mô quá lớn, liên kết mạnh mẽ với nhiều thành phần kinh tế khác trong hệ thống tài chính và có ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế sẽ gây ra thảm họa cho nền kinh tế, vì vậy chính phủ sẽ can thiệp vào việc cung cấp các gói hỗ trợ để không cho phép các tổ chức này phá sản, qua đó giúp duy trì sự ổn định ngân hàng. Feldman& Stern (2003) cho rằng khi các chủ nợ của các ngân hàng lớn mong đợi vào sự can thiệp của Chính phủ, họ sẽ có xu hướng giảm bớt sự cảnh giác trong việc kiểm soát hoạt động của các ngân hàng này hay nói cách khác áp dụng ít kỷ luật lên các ngân hàng này. Từ đó, các ngân hàng lớn bằng lòng đánh đổi rủi ro quá mức, dẫn đến có những hành động chấp thuận những khoản vay hay đặt cược không an toàn dẫn đến một số quốc gia đã phải đối mặt với suy thoái kinh tế đáng kể do sự bất ổn này gây ra, hành động này được xem là rủi ro đạo đức (moral hazard). Hậu quả là gây lãng phí tài nguyên (Feldman& Stern, 2003). Từ đó hàm ý rằng, để ngăn ngừa rủi ro do sự phá sản từ các ngân hàng có quy mô lớn, ngoài việc nhận được sự hỗ trợ từ chính phủ thì việc giám sát là ưu tiên không kém để giảm rủi ro. Về khía cạnh ODTC, Abuzayed &ctg (2018) cho rằng những ngân hàng có quy mô lớn thường sẽ hiếm khi đối mặt rủi ro, nói cách khác sẽ hưởng được lợi ích từ việc đa dạng hóa hoạt động. Mặt khác, lý thuyết Lợi thế kinh tế theo quy mô cho rằng các ngân hàng lớn tạo ra được lợi nhuận nhờ phân bổ chi phí hợp lý qua đó nâng cao tính ổn định (Berger & ctg, 1987). Về khía cạnh khác lý thuyết Quá lớn để sụp đổ cho rằng khi các ngân hàng có quy mô lớn sụp đổ sẽ gây ra thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế.
2.3 Các yếu tố tác động đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng thương mại Việt Nam Luận văn: Ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng.
Bên cạnh các yếu tố đặc trưng liên quan đến hiệu quả vận hành và khẩu vị rủi ro riêng biệt, các ngân hàng luôn vận động trong mối liên kết chặt chẽ với bối cảnh kinh tế vĩ mô, nơi mà mọi biến động đều ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của ngân hàng.
2.3.1 Các yếu tố đặc trưng của ngân hàng
- Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Bất kỳ ngân hàng đang hoạt động thì ROE là chỉ tiêu đầu tiên mà các các nhà quản trị quan tâm (Bunda & cộng sự, 2008). ROE biểu thị cho khả năng thanh toán mạnh và ảnh hưởng mạnh đến tình hình kinh doanh. Nếu NHTM hoạt đông kinh doanh trơn tru, đảm bảo được khả năng thanh toán đồng nghĩa có lợi nhuận bảo đảm được cho tính ổn định và ngược lại. Theo nghiên cứu chỉ ra của Nguyễn Minh Sáng (2021) rằng NHTM có khả năng sinh lời cao thường có ODTC cao do tối ưu hóa hiệu quả tài chính để giữ sự ổn định. Lê Thông Tiến và cộng sự (2021), Ghenimi A (2017) củng cố thêm niềm tin cho thấy mối quan hệ giữa tỷ lệ lợi nhuận trên VCSH cao góp phần vào sự ODTC của hệ thống. Thông qua ROE xem xét ngân hàng có đang sử dụng hợp lý nguồn vốn để tạo ra lợi ích cũng như đánh giá tính bền vững của tài chính.
- Tỷ lệ dự phòng rủi ro (LLP)
Tỷ lệ dự phòng rủi ro (LLP) là khoản tiền dự phòng nhằm bù đắp cho tổn thất dự kiến trong danh mục cho vay đồng thời đại diện cho độ nhạy cảm của ngân hàng trước những biến động thị trường. LLP càng cao nghĩa là hoạt động cho vay của ngân hàng đang gặp vấn đề trong thu hồi khoản nợ, ngược lại LLP thấp cho thấy khả năng thu hồi vốn cao. Nếu LLP luôn nằm ở mức cao trong thời gian dài, ngân hàng có thể gặp bất ổn trong duy trì hoạt động và tạo ra doanh thu (Vũ Ngọc Hoài Chân, 2016). Các nghiên cứu của (Chai & cộng sự, 2022) cũng cho rằng chỉ số LLP càng cao thì ngân hàng thiếu sự ổn định, do chất lượng tín dụng kém dẫn đến rủi ro thiếu hụt nguồn vốn cho vay trong duy trì ổn định ngân hàng.
- Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (LTA) Luận văn: Ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng.
Nguồn thu của ngân hàng chủ yếu là qua hoạt động cung ứng tiền tệ ra thị trường thông qua hoạt động cho vay. Tỷ lệ LTA thể hiện cơ cấu của tỷ trọng ngân hàng cho vay trong tổng tài sản cũng cho thấy mức độ mà ngân hàng dễ bị tổn thất trước những thay đổi trong nhận thức và thái độ trả nợ của khách hàng ảnh hưởng đến nguồn vốn gián đoạn quá trình hoạt động gây ra khó khăn với tài chính ngân hàng. Khi các khoản vay tăng trưởng ồ ạt mà thiếu kiểm soát về chất lượng có thể dẫn đến việc ngân hàng phải đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận (Ahamned & cộng sự, 2019). Lịch sử tín dụng Việt Nam cũng cho thấy sau giai đoạn bùng nổ tín dụng đã để lại hệ lụy nặng nề khi phải xử lý sự tăng trưởng nợ xấu vào các năm sau đó.
- Quy mô ngân hàng (SIZE)
Quy mô ngân hàng thể hiện quy mô tổng tài sản của ngân hàng phản ánh sức mạnh tài chính, khả năng chống chọi với biến động thị trường. Theo nghiên cứu của Võ Thị Thúy Kiều và cộng sự (2021) các ngân hàng lớn sẽ hoạt động kinh doanh càng rộng, mô hình hoạt động cồng kềnh khó quản lý được hệ thống và con người nên có thể gặp nhiều rủi ro nên không ổn định bằng ngân hàng nhỏ. Mặt khác, có nhận xét rằng ngân hàng có quy mô lớn chứng tỏ ổn định tài chính lớn, có lợi thế trong hoạt động với nguồn lực mạnh, khai thác và sử dụng hiệu quả điểm mạnh từ quy mô rộng gia tăng sức cạnh tranh với thị trường tạo ra lợi nhuận (Bashir & cộng sự, 2021), Yensu & cộng sự (2021).
- Hiệu quả sử dụng chi phí (CIR)
Hiệu quả sử dụng chi phí là một trong chỉ tiêu quan trọng để kiểm soát tài chính ngân hàng tính toán dựa trên chi phí hoạt động trong suốt quá trình vận hành. Dựa trên lý thuyết hiệu quả, các ngân hàng chú trọng đầu tư vào công tác quản lý chi phí sẽ có khả năng tạo ra lợi nhuận cao hơn, từ đó góp phần nâng cao mức độ ODTC của chính ngân hàng đó. Nguyễn Thị Minh Ngọc (2022), Riadi & cộng sự (2022), Maria & cộng sự (2022) cho rằng hiệu quả sử dụng chi phí càng cao thì tính ODTC của ngân hàng càng thấp.
- Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM) Luận văn: Ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng.
Tỷ lệ thu nhập lãi thuần thể hiện biên sinh lời hoạt động chênh lệch lãi suất giữa huy động và cấp tín dụng. NIM càng cao thể hiện ngân hàng có lợi thế tốt việc quản lý tốt tài sản có sinh lời để tạo ra nguồn thu nâng cao khả năng sinh lời từ đó góp phần nâng cao tính bền vững tài chính và giảm bớt rủi ro. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Ngọc (2022) và Ghenimi A (2017) nếu ngân hàng có NIM cao chứng tỏ ngân hàng ăn được chênh lệch nhiều từ hoạt động lãi suất tạo ra được nhiều lợi nhuận củng cố thêm sự ODTC. Tuy nhiên, Yitayaw & cộng sự (2023), Maria & cộng sự (2022) lại cho rằng NIM cao chứng tỏ ngân hàng tập trung quá nhiều vào hoạt động cho vay mà bỏ qua thu nhập ngoài lãi, chấp nhận đánh đổi rủi ro vì mục tiêu sinh lời, đặc biệt trong bối cảnh đại dịch khiến nền kinh tế bị khựng lại, hoạt động cho vay cũng vì thế mà chững lại gây nên khó khăn với sự ODTC ngân hàng.
- Tỷ lệ tài trợ (FR)
Nguồn vốn của ngân hàng chiếm thị phần trọng yếu đến từ huy động do tiền gửi là nguồn vốn rẻ so với nguồn từ công cụ tài chính như cổ phiếu, chứng khoán, trái phiếu (Kleff và Weber, 2008) qua đó đảm bảo được khả năng thanh khoản của ngân hành. Theo Nguyễn Quốc Anh (2024), khi tiền gửi cao cho thấy ngân hàng thừa khả năng tài chính để chi trả cho hoạt động khác của ngân hàng. Thêm vào đó, người dân tin tưởng gửi tiền chứng tỏ uy tín của ngân hàng hoạt động ổn đinh. Tuy nhiên, khi tiền gửi đột ngột suy giảm khiến ngân hàng rơi vào tình trạng vốn bị ảnh hưởng buộc ngân hàng phải sử dụng bên trong để chi trả sẽ khiến người dân hoài nghi về tình hình tài chính ngân hàng.
- Tỷ lệ nợ xấu (NPL)
Nợ xấu là chỉ số được đặc biệt quan tâm khi ngân hàng quyết định cho vay. Bên cạnh đánh giá chất lượng danh mục cho vay, khâu thẩm định, đánh giá khách hàng cực kỳ cần thiết. Khi khách hàng không có khả năng thanh toán hay thiếu thiện chí trả nợ khiến khoản vay không thể trả đúng hạn. Quá nhiều khoản vay quá hạn lâu ngày khiến NPL vượt 3% mức cho phép của NHNN chứng tỏ cho vay tín dụng gặp vấn đề, khả năng quản trị nợ kém dẫn đến không thể thu hồi được vốn vay gây áp lực đến xử lý nợ, gia tăng chi phí thu hồi nợ gây lên sự bất ổn lên hệ thống tài chính.
2.3.2 Các yếu tố vĩ mô Luận văn: Ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng.
- Tăng trưởng kinh tế (GDP)
Tăng trưởng kinh tế ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực cũng như chủ thể kinh tế, đặc biệt đối với ngân hàng thì GDP càng biểu thị rõ rệt hơn cả.. GDP cao thể hiện rằng tình hình kinh doanh được cải thiện, kéo theo nhu cầu đi vay tăng trưởng, thu nhập khách hàng cũng vì thế mà đảm bảo được tài chính trả cho ngân hàng, hoạt động ngân hàng vận hành ổn định. Tuy nhiên, các nghiên cứu của Ghenimi A (2017), Imbierowicz & Raunch (2014) lại cho rằng tăng trưởng kinh tế không đi kèm với ODTC do ngân hàng nới lỏng điều kiện nhằm mở rộng cho vay thúc đẩy kinh tế. Vì vậy điều kiện cho vay linh hoạt hơn có thể làm chất lượng khoản vay không còn. Chính vì lẽ đó, GDP có thể gây ra phản ứng ngược đối với ODTC của ngân hàng.
- Tỷ lệ lạm phát (INF)
Tỷ lệ lạm phát tăng theo đó giá trị đồng tiền giảm, vì vậy người dân việc gửi tiền tại ngân hàng không còn hấp dẫn mà người dân chuyển sang tích trữ các loại tài sản khác do đó thanh khoản ngân hàng gặp nguy cơ buộc phải tăng lãi suất huy động nhằm bình ổn dòng tiền gửi. Thêm vào đó, giá trị tài sản thực bị giảm, tỷ lệ nợ xấu tăng do khả năng chi trả người vay bị ảnh hưởng gia tăng thêm rủi ro tín dụng. Nghiên cứu của Bashir & cộng sự (2021) cho biết tỷ lệ lạm phát cao làm giảm sự ODTC. Tuy nhiên, Lê Thông Tiến và cộng sự (2022), Ghenimi A và cộng sự (2017) cho rằng lạm phát tác động cùng chiều đến ODTC. Các tác giả cho rằng khi lạm phát được dự đoán trước thì để ODTC các ngân hàng sẽ tự động điều chỉnh lãi suất phù hợp nhằm tránh được nguy cơ.
2.4 Các nghiên cứu thực nghiệm Luận văn: Ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng.
2.4.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Berger & cộng sự (2019) nghiên cứu về 690 ngân hàng trong đó có 95 ngân hàng Hồi Giáo và 595 ngân hàng ngoài Hồi Giáo ở 24 quốc giai đoạn 2000-2014. Nhóm tác giả chỉ ra rằng các ngân hàng Hồi Giáo tạo ra nhiều thanh khoản hơn trên mỗi đơn vị tài sản mặc dù nắm giữ nhiều khoản vay và ít chứng khoán. Đặc biệt trong bối cảnh khó khăn việc tạo thanh khoản tại các ngân hàng thường có ảnh hưởng xấu đến ODTC tại các ngân hàng đặt tại quốc gia có thu nhập cao, ngược lại các quốc gia có thu nhập thấp thì không có ảnh hưởng. Trong khi đó, tại ngân hàng Hồi Giáo thì việc tạo thanh khoản liên quan đến ODTC.
Bashir & cộng sự (2021) trong nghiên cứu về tính công khai và mức độ đối đầu đến ODTC của 164 ngân hàng Trung Quốc giai đoạn 2000-2014 cho thấy rằng sự minh bạch, kết hợp với sức mạnh thị trường, có tác dụng làm giảm rủi ro mất khả năng thanh toán và rủi ro tín dụng thị trường. Điều này cho thấy cơ chế kỷ luật thị trường trở nên hiệu quả hơn trong bối cảnh yêu cầu công bố thông tin rõ ràng. Ngoài ra, độ trễ Z-score, tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ cho vay trên tài sản, lạm phát, khủng hoảng kinh tế có ảnh hưởng tích cực đến ODTC trong khi đó tỷ lệ vốn, cấu trúc thị trường, quy mô ngân hàng, tỷ lệ chi phí, biến giả sở hữu có ảnh hưởng tiêu cực đến ODTC.
Koskei (2020) với nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến ODTC ngân hàng Kenya trong khoảng thời gian 2015-2019. Kết quả cho thấy rằng tỷ lệ thanh khoản, tỷ lệ lạm phát và lãi suất cho vay có làm suy giảm mức độ ODTC của ngân hàng. Ngược lại, tăng trưởng cho vay, ROE tăng thì sự ODTC của các ngân hàng được cải thiện. Tỷ giá hối đoái được phát hiện có mối quan hệ dương nhưng không có ý nghĩa thống kê với ODTC, gợi ý rằng biến này không ảnh hưởng đáng kể đến sự ổn định tài chính của ngân hàng. Tương tự, nợ công quốc gia cũng cho thấy mối quan hệ tiêu cực nhưng không có ý nghĩa thống kê với ODTC, hàm ý rằng đây không phải là các yếu tố quyết định đến sự ổn định tài chính của các ngân hàng tại Kenya trong giai đoạn nghiên cứu.
Nghiên cứu của Yitayaw và cộng sự (2023) đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ODTC của 17 ngân hàng tại Ethiopia giai đoạn 2014–2020. Kết quả chỉ ra rằng lãi suất cho vay, tài sản hữu hình, tốc độ tăng trưởng GDP, mức độ kiểm soát tham nhũng và hiệu quả của pháp quyền đều có ảnh hưởng đáng kể đến ODTC của các ngân hàng. Đặc biệt, mức độ ODTC trong quá khứ có tác động đến ODTC hiện tại, cho thấy tính bền vững trong hiệu quả hoạt động ngân hàng theo thời gian. Ngược lại, hiệu quả hoạt động của ngân hàng và mức độ tập trung trong ngành lại có ảnh hưởng tiêu cực hàm ý rằng sự kém hiệu quả và sự tập trung quá mức có thể làm suy giảm mức độ ổn định của hệ thống.
Yensu và cộng sự (2021) về các yếu tố ảnh hưởng đến sự ODTC của 8 ngân hàng tại Ghana trong giai đoạn 2008–2017 cho thấy rằng quy mô ngân hàng và biên lợi nhuận ròng có tác động tích cực ODTC của các ngân hàng. Ngược lại, khả năng chi trả lãi suất lại cho thấy tác động tiêu cực. Bên cạnh đó, các yếu tố liên quan đến quản trị doanh nghiệp như đặc điểm cá nhân và giới tính của CEO, quy mô hội đồng quản trị và tần suất họp của hội đồng quản trị cũng có ảnh hưởng tích cực ODTC của ngân hàng. Xét về các biến vĩ mô, cả tỷ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng GDP đều tác động tích cực ổn định ngân hàng, trong khi lãi suất ngân hàng lại có ảnh hưởng tiêu cực đáng kể, cho thấy vai trò quan trọng của môi trường kinh tế trong việc định hình sự ổn định tài chính. Luận văn: Ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng.
Ahamed & cộng sự (2019) với nghiên cứu tác động của ổn định tài chính với sự lành mạnh của 2913 ngân hàng của 87 quốc gia trong giai đoạn 2004-2012. Kết quả chỉ ra rằng mức độ hòa nhập tài chính có mối liên hệ chặt chẽ và tích cực với sự ổn định của ngân hàng – nghĩa là, khi mức độ hòa nhập tài chính tăng, sự ổn định tài chính của ngân hàng cũng được cải thiện. Đặc biệt, tác động tích cực này trở nên rõ rệt hơn trong các hệ thống ngân hàng có mức độ cạnh tranh thấp, cho thấy vai trò điều tiết của cạnh tranh trong mối quan hệ giữa hòa nhập tài chính và ổn định tài chính. Ngoài ra, các yếu tố như tỷ lệ cho vay, quy mô ngân hàng, chi phí hoạt động, tỷ lệ vốn chủ sở hữu và GDP đều cho thấy mối quan hệ tích cực với sự ODTC. Ngược lại, dự phòng cho vay và mức độ đa dạng hóa thu nhập lại có tác động tiêu cực.
Ali & cộng sự (2019) và cộng sự nghiên cứu này các yếu tố quyết định nội tại của lợi nhuận ngân hàng và sự ổn định trong 24 ngân hàng Pakistan giai đoạn 2007-2015. Kết quả cho thấy quy mô ngân hàng, rủi ro tín dụng, rủi ro tài trợ và mức độ ổn định có tác động thống kê đáng kể đến lợi nhuận ngân hàng, trong khi rủi ro thanh khoản không có ảnh hưởng đáng kể. Kết quả hồi quy từ mô hình đánh giá sự ODTC chỉ ra rằng quy mô ngân hàng, rủi ro thanh khoản, rủi ro tài trợ và lợi nhuận có ảnh hưởng tích cực với sự bền vững tài chính. Ngược lại, rủi ro tín dụng, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu được ghi nhận là không đáng kể về mặt thống kê.
2.4.2 Các nghiên cứu trong nước Luận văn: Ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng.
Nguyễn Quốc Anh và cộng sự (2024) với nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự ODTC 20 NHTM Việt Nam vào 2013-2022 cho thấy các yếu tố nội tại như quy mô ngân hàng, rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, sở hữu nước ngoài, bên cạnh yếu tố vĩ mô gồm dịch bệnh Covid, GDP, tỷ lệ lạm phát là những yếu tố chính ảnh hưởng đến ổn định qua hai biến phụ thuộc là NPL, Z-score Lê Thông Tiến và cộng sự (2022) nghiên cứu ảnh hưởng của rủi ro tín dụng và lạm phát đến ổn định tài chính giai đoạn 2012-2022 tại Việt Nam cho thấy quy mô ngân hàng, tỷ lệ vốn chủ, ROE, lạm phát có ảnh hưởng tích cực đến ODTC trong khi rủi ro tín dụng, nợ xấu ảnh hưởng nghịch chiều.
Trần Thị Thanh Nga và Trần Đình Điệu (2024) trong nghiên cứu tác động của tạo thanh khoản đến ODTC của 53 ngân hàng Đông Nam Á giai đoạn 2007-2021 cho thấy tỷ lệ nợ xấu, NIM, rủi ro thanh khoản, quy mô vốn có tác động tích cực đến ODTC của ngân hàng.
Lê Ngọc Quỳnh Anh và cộng sự (2020) nghiên trong 4 năm của 19 NHTM Việt Nam cho thấy ảnh hưởng các yếu tố nội tại gồm quy mô ngân hàng ROE và tỷ lệ cho vay đối với tiền gửi giúp ngân hàng hoạt động bền vững hơn trong khi đó biên lãi ròng là yếu tố tiên quyết trong việc suy giảm tài chính.
Nguyễn Thị Hương và Nguyễn Thị Thu Huyền (2022) nghiên cứu 24 NHTM HNX giai đoạn 2011-2020 chỉ ra rằng ROE, tổng tài sản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có ảnh hưởng dương đến ổn định tài chính trong khi tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản có ảnh hưởng âm với ổn định tài chính. Ngoài ra, nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng cho thấy tốc độ tăng trưởng lợi nhuận sau thuế và tốc độ tăng trưởng tín dụng ảnh hưởng đến ổn định tài chính.
- Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm
2.4.3 Khoảng trống các nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo
Ở các nghiên cứu trước khi nghiên cứu về sự ODTC ở hệ thống các NHTM, những tác giả đều trình bày những ảnh hưởng ở góc độ dữ liệu thể hiện tính bất ổn dưới dạng dữ liệu thời gian và không gian. Mặc dù các phương pháp nghiên cứu dữ liệu có sự khác biệt, tuy nhiên thước đo sự ổn định này chủ yếu thể hiện qua công thức đo lường Z-score. Từ đó chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng nội bộ của ngân hàng như SIZE, ROE… Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây của tác giả còn tồn đọng nhiều khe hở và cần nghiên cứu thêm, vì: Luận văn: Ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng.
Các nghiên cứu không có tính đồng nhất với nhau, do ảnh hưởng của các mốc thời gian nghiên cứu khác nhau. Do đó việc xây dựng thêm các bằng chứng thực nghiệm rất quan trọng để bổ trợ cho nghiên cứu sau này.
Một số công trình nước ngoài diễn ra nằm ngoài mốc thời gian ổn định kinh tế trước năm 2010 đó là những năm mà nền kinh tế toàn cầu gặp khủng hoảng dẫn đến hệ thống các NHTM bị sụp đổ rất nhiều, đáng kể đến là sự sụp đổ của ngân hàng Lehman Brothers, dẫn đến kéo theo hệ lụy của một số hệ thống ngân hàng khác do tâm lý của người dân rơi vào sự bất ổn khi lượng tiền bị ồ ạt rút ra từ một số ngân hàng và tâm lý chung của người dân ở giai đoạn này là như nhau. Do đó, nguồn tiền cải thiện lại sự ổn định của ngân hàng là rất khó. Đến năm 2020-2021 đại dịch Covid 19 khiến toàn thế giới rơi vào lo âu, làm nền kinh tế trở nên lao đao, chịu ảnh hưởng nặng nề vì sự phong toả làm gián đoạn các giao dịch. Mặc cho ngân hàng đưa ra nhiều chính sách vay với lãi suất thấp, quy mô lớn nhưng khách hàng gặp khó khăn để có thể trả nợ đúng hạn, điều này đã khiến dư nợ bị ảnh hưởng. Gần đây nhất là vào năm 2022, xung đột của Nga và Ukraine làm giá hàng hoá tăng cao kéo theo sự gia tăng của lạm phát, bước vào giai đoạn kiệt quệ của nền kinh tế Luận văn: Ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng.
Trong khoảng thời gian 2014 -2024 là khoảng thời gian phục hồi sau giai đoạn khủng hoảng và gần đến giai đoạn suy thoái của nền kinh tế, cho thấy nghiên cứu ODTC là hết sức cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn. Vì vậy tác giả nghĩ nên cần thêm bằng chứng thực nghiệm để kiểm tra chính xác sự ODTC các NHTM Việt Nam đang bị ảnh hưởng bởi những yếu tố nào.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng […]