Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
4.1 Thống kê mô tả
Nghiên cứu được thực hiện trên mẫu của 28 NHTM Việt Nam trong khoảng thời gian 10 năm từ 2014-2024. Dữ liệu bảng thu thập là dữ liệu cân bằng với 308 quan sát được thể hiện qua bảng thống kê mô tả sau:
- Bảng 4.1: Thống kê mô tả biến
Chỉ số đại diện cho ổn định tài chính Z-score có giá trị trung bình là 11,2 cùng với độ lệch chuẩn là 4,22. Trong đó, NHTM Sài Gòn Công Thương (SGB) đạt mức ổn định cao nhất với 28,22 trong năm 2014 và năm 2024 của NHTM Quốc Dân (NCB) mức độ ổn định tài chính thấp nhất là 0,44.
Hình 4.1 mô tả sự biến động chỉ số Z-score bình quân của các NHTM qua các năm từ 2014-2024. Năm 2022, chỉ số Z-score bình quân cao nhất ở mức 12,52 và thấp nhất vào năm 2017 ở mức 9,87. Chỉ số Z-score có xu hướng giảm từ khoảng 2014-2017 và có sự tăng trở lại trong 5 năm từ 2017 đến 2022. Trong 2 năm gần đây, mức độ ổn định tài chính có sự giảm nhẹ nhưng không đáng kể. Nguyên nhân có thể vì sau thời gian căng thẳng dịch bệnh cùng với những biến động kinh tế toàn cầu, kinh tế Việt Nam cũng bị ảnh hưởng, các ngành nghề kinh tế bị chững lại kéo theo nhu cầu tín dụng không khả quan ảnh hưởng đến thu nhập ngân hàng. Tuy nhiên, có thể thấy rằng mức độ bất ổn tài chính của hệ thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu cũng đang cố gắng kiểm soát đáng kể.
- Hình 4.1: Sự ổn định tài chính của ngân hàng giai đoạn 2014-2024
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) đạt mức trung bình 11,33%. Trong đó, Ngân hàng TMCP Quốc Tế (VIB) có khả năng sinh lời cao nhất vào năm 2021 với tỷ lệ 30,33% cùng với đó Ngân hàng TMCP Quốc Dân (NVB) năm 2024 mức sinh lời thấp nhất -91,7%. Theo đó, độ lệch chuẩn là 0,99% cho thấy mức độ biến động lợi nhuận trên với chủ sở hữu thấp cho thấy ROE của các ngân hàng tương đối đồng nhất và ổn định. Luận văn: KQNC đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng.
Hình 4.2 cho thấy khả năng sinh lời (ROE) có biến động rõ rệt trong giai đoạn 2014-2024. Từ năm 2014-2022, ROE trung bình của toàn hàng có xu hướng tăng và đạt đỉnh vào năm 2022 do hoạt động kinh doanh ngân hàng ngày càng được mở rộng thêm nhiều dịch vụ. Tuy nhiên, riêng ngân hàng TMCP Quốc Dân (NVB) tỷ lệ ROE gần như ở mức 0%. Bên cạnh đó, có thể thấy trong 2 năm gần đây tỷ lệ này giảm đáng kể có thể đến từ những khó khăn trong giai đoạn nền kinh tế đang gặp những vấn đề bất ổn khiến tình hình tài chính của ngân hàng nói chung bị ảnh hưởng.
- Hình 4.2: Tỷ suất sinh lời của ngân hàng giai đoạn 2014-2024
Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLP) trung bình là 1,4% với tỷ lệ cao nhất vào năm 2022 là ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPB) là 3,2% và thấp nhất là ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương năm 2020 là 0,76%.
Hình 4.3 thể hiện tỷ lệ trích lập dự phòng qua các năm cho thấy trong giai đoạn 2014-2021, tỷ lệ LLP vẫn duy trì ở ngưỡng tương đối ổn định, các ngân hàng kiểm soát được danh mục cho vay cho nên tỷ lệ trích lập không vượt mức quá cao. Bên cạnh đó, từ năm 2022 trở đi tỷ lệ LLP tăng cao hơn nhưng vẫn duy trì ở mức có thể chấp nhận được.
- Hình 4.3: Tỷ lệ trích lập dự phòng giai đoạn 2014-2024
Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (LTA) có giá trị trung bình khá cao trong 10 năm qua khoảng 59,92% cho thấy tài sản của ngân hàng phần với là cho vay khách hàng. Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPB) năm 2024 cao nhất là 85,45% và tỷ lệ thấp nhất là năm 2014 của Ngân hàng TMCP Hàng Hải (MSB) là 22%. Độ lệch chuẩn 10,29% có thấy các ngân hàng không có chênh lệch nhiều.
Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản của toàn hàng có diễn biến tăng và chiếm tỷ trọng hơn 60% trong tổng tài sản. Qua việc phát triển tín dụng, mở rộng cho vay với nhiều đối tượng, ngành nghề kinh tế, các ngân hàng đã và đang từng bước tạo điều kiện cung ứng vốn, mở rộng thị phần của mình qua hoạt động cho vay cải thiện vào việc phát triển kinh tế.
- Hình 4.4: Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản giai đoạn 2014-2024
Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (ETA) có giá trị trung bình là 8,29% đảm bảo đúng quy định theo thông tư 13 của NHNN và yêu cầu tiêu chuẩn Basel II (tối thiểu 8%) với độ lệch chuẩn 3,07% chứng tỏ các ngân hàng có sự chênh lệch về tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản trong có thấp nhất là Ngân hàng TMCP Phát Triển và Đầu Tư Việt Nam (BIDV) vào năm 2017 là 4,06% cao nhất là Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương (SGB) năm 2014 là 22,02%.
Quy mô ngân hàng (SIZE) có giá trị trung bình là 19.1 trong đó ngân hàng có quy mô lớn nhất là ngân hàng TMCP Phát Triển và Đầu Tư Việt Nam (BIDV) vào năm 2024 là 21.73 và ngân hàng có quy mô bé nhất là ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương (SGB) năm 2014 là 16.57. Với độ lệch chuẩn là 1.15 là tương đối cao cho thấy sự chênh lệch khá cao về tổng tài sản giữa nhóm ngân hàng có vốn nhà nước và các ngân hàng còn lại. Luận văn: KQNC đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng.
Qua hình 4.6, có thể thấy quy mô ngân hàng có xu hướng tăng đều qua từng năm từ 18.08 đến 19.79. Điều này cho thấy các ngân hàng có sự phát triển mạnh mẽ trong suốt hơn một thập kỷ qua đó giúp mở rộng khả năng cạnh tranh, gia tăng cơ hội hội nhập trong khu vực và quốc tế. Tính đến thời điểm hiện tại, quy mô tổng tài sản toàn hàng có sự phân hóa rõ rệt. Cụ thể, 4 ngân hàng có vốn nhà nước (BIDV, Agribank, Vietinbank, Vietcombank) lần lượt chiếm lĩnh vị trí đầu về tổng tài sản tạo nên lợi thế về cạnh tranh trên thị trường so với các ngân hàng khác.
- Hình 4.5: Quy mô ngân hàng giai đoạn 2014-2024
Chi phí hoạt động (CIR) có giá trị trung bình là 51,1% trong đó ngân hàng có chi phí hoạt động thất nhất là 6,79% vào năm 2014 là ngân hàng TMCP Lộc Phát (LPB) và cũng trong năm đó ngân hàng TMCP Quốc Dân có chi phí hoạt động cao nhất là 230,3%.
Qua hình 4.7 có thể thấy chi phí hoạt động giảm qua các năm và có sự tăng nhẹ vào 3 năm cuối. Trước những biến động về kinh tế, nhiều ngân hàng đã chủ động cắt giảm chi phí như áp dụng hạ tầng công nghệ, giảm bớt nhân sự hay cắt giảm lương thưởng.
- Hình 4.6: Chi phí hoạt động giai đoạn 2014-2024
Tỷ lệ lãi thuần (NIM) có giá trị trung bình là 3,06% trong đó tỷ lệ NIM cao nhất là 9,45% của ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPB) năm 2019 và NIM thấp nhất là của ngân hàng TMCP Quốc Dân (NVB) năm 2024 là -1,92%.
Qua hình 4.8 cho thấy NIM toàn hàng qua các năm có xu hướng tăng đạt đỉnh vào năm 2022 và có sự giảm nhẹ vào 2 năm cuối. Qua có thể thấy khả năng sử dụng vốn của các ngân hàng đã được cải thiện, quản lý tài sản có hiệu quả, xử lý tốt các khoản nợ.
- Hình 4.7: Tỷ lệ lãi thuần giai đoạn 2014-2024
Tỷ lệ tài trợ (FR) có giá trị trung bình là 6,62 trong đó ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) năm 2023 đạt giá trị cao nhất 9,02 và ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPB) đạt giá trị thấp nhất vào năm 2014 là 0.51. Qua hình 4.9 cho thấy tỷ lệ FR có nhiều biến động. Từ năm 2021 trở về trước FR liên tục giảm cho thấy các NHTM gặp khó khăn trong việc thu hút huy động, người dân chọn cách nắm giữ tiền hơn là gửi tiền vào ngân hàng. Tuy nhiên, sau những nỗ lực chứng minh niềm tin với khách hàng, tỷ lệ FR tăng trở lại cũng củng cố bộ đệm vốn nhằm duy trì tính ổn định của ngân hàng.
- Hình 4.8: Tỷ lệ tài trợ giai đoạn 2014-2024 Luận văn: KQNC đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng.
Tỷ lệ nợ xấu (NPL) có giá trị trung bình là 2,46% trong đó ngân hàng TMCP Kỹ Thương (TCB) đạt tỷ lệ nợ xấu thấp nhất vào năm 2020 là 0,5% trong khi đó ngân hàng TMCP Đại Chúng (Pvcombank) có tỷ lệ nợ xấu cao nhất là 34,96% vào năm 2021. Qua hình 4.10 có thể thấy NPL có chiều hướng giảm và đạt mức thấp nhất vào năm 2018. Tuy nhiên từ năm 2019 với sự bùng phát từ đại dịch toàn cầu tỷ lệ nợ xấu tăng trở lại và vượt mức 3% vào năm 2023.
- Hình 4.9: Tỷ lệ nợ xấu giai đoạn 2014-2024
Tăng trưởng kinh tế (GDP) có trị trung bình là 6,13% trong đó năm 2022 GDP đạt giá trị cao nhất trong giai đoạn 10 năm là 8,02% và đạt mức thấp nhất vào năm 2021 là 2,55%. Nhìn chung, GDP duy trì ổn định trong những năm đầu nghiên cứu tuy nhiên sau những diễn biến phức tạp từ đại dịch năm 2019 khiến GDP giảm vào mức thấp trong 2 năm. Tuy lấy được đà tăng từ năm 2022 nhưng do những bất ổn về kinh tế, chính trị cũng ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và đầu tư nước ngoài làm GDP năm 2023 giảm còn 5,05%. Sang đến năm 2024, tăng trưởng GDP đạt 7,09% nhờ sự kết hợp hiệu quả giữa các ngành nghề và đầu tư mạnh mẽ.
Lạm phát (INF) có giá trị trung bình là 2,9% trong đó năm năm 2014 có lạm phát cao nhất là 4,8% và năm 2015 là thấp nhất với 0,06%. Với độ lệch chuẩn là 0,11% cho thấy lạm phát không biến đổi lớn trong giai đoạn nghiên cứu. Nhìn chung, tỷ lệ lạm phát được kiểm soát khá tốt, duy trì ổn định đặc biệt có nhiều tác động từ bên ngoài như đại dịch toàn cầu, xung đột chính trị.
4.2 Phân tích tương quan Luận văn: KQNC đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng.
4.2.1 Ma trận hệ số tương quan
Bảng 4.2 trình bày hệ số tương quan giữa các cặp biến độc lập. Nếu hệ số tương quan giữa các biến độc lập lớn hơn 0,8 thì có khả năng dẫn đến hiện tượng đa cộng tuyến cao trong mô hình (Gujarati, 2004). Các cặp biến độc lập có mức tương quan tuyệt đối nhỏ hơn 0,8 cho thấy không có sự đa cộng tuyến. Để kiểm định chính xác hơn cho kết luận này, tác giả sẽ sử dụng hệ số phóng đại phương sai VIF để kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến.
- Bảng 4.2: Tương quan giữa các biến
4.2.2 Kiểm định đa cộng tuyến
- Bảng 4.3: Kiểm trịnh đa công tuyến
Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến thông qua hệ số VIF theo tác giả Nguyễn Đình Thọ (2011), nếu có biến độc lập nào có VIF lớn hơn 10 thì biến này được coi là có đa cộng tuyến cao. Theo kết quả hệ số phóng đại phương sai VIF có giá trị trung bình 1,94 < 10, giá trị VIF dao động từ 1,03 đến 3,49 do đó mô hình không tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến, các biến đưa vào mô hình nghiên cứu có thể xem xét là phù hợp để phân tích.
4.3 Kiểm định hồi quy tổng thể OLS, FEM REM
Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng để so sánh và kiểm chứng 3 mô hình hồi quy Pooled OLS, FEM, REM trên cơ sở so sánh các giả thuyết đặt ra được thể hiện kết quả chi tiết tại bảng 4.4 dưới đây:
- Bảng 4.4: Kết quả ước lượng mô hình Pooled OLS, FEM, REM
Từ bảng kết quả hồi quy của 3 mô hình Pooled OLS, FEM, REM với biến phụ thuộc Z- score ta so sánh và lựa chọn các mô hình như sau: Luận văn: KQNC đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng.
- Kiểm định F-test lựa chọn mô hình OLS và FEM
Theo kết quả cho P-value = 0.0000 ≤ 5% tức là bác bỏ H0 nghĩa là có sự khác biệt giữa các đối tượng hoặc các thời điểm khác nhau. Kiểm định F-test cho rằng cả 2 mô hình thì FEM phù hợp hơn mô hình Pooled OLS.
- Kiểm định Hausman Test lựa chọn mô hình FEM và REM
Với giả thuyết H0 cho rằng không có sự tương quan giữa sai số đặc trưng giữa các đối tượng với các biến giải thích cho kết quả cả 2 mô hình với biến phụ thuộc ROA và ROE có P-value = 0.0000 ≥ 5% dó đó chấp nhận H0 nghĩa là mô hình REM phù hợp.
- Kiểm định Breusch and Pagan test lựa chọn mô hình REM và OLS
Kết quả cả hai mô hình đều có P-value = 0.0000 ≤ 5% nên bác bỏ H0 nghĩa là mô hình REM phù hợp hơn mô hình Pooled OLS.
Thông qua các kiểm định cho thấy mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) là phù hợp
4.4 Kiểm định các khuyết tật của mô hình
- Bảng 4.5: Kết quả kiểm định khuyết tật mô hình
Từ kết quả kiểm định khuyết tật của mô hình tại bảng 4.5 cho thấy mô hình có hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi, nghiên cứu tiếp tục sử dụng phương pháp FGLS để khắc phục.
4.5 Khắc phục hiện tượng nội sinh với phương pháp SGMM Luận văn: KQNC đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng.
Nghiên cứu tiến hành kiểm tra nội sinh từng biến thông qua kiểm định Durbin-Wu Hausman với giả thuyết:
- H0: biến ngoại sinh H1: biến nội sinh
- Tại Wu- Hausman cho P-value > 0,05 => chấp nhận H0
Bảng 4.6: Kết quả kiểm định nội sinh
Bảng 4.7 trình bày kết quả kiểm định Durbin-Wu-Hausman để kiểm tra hiện tượng nội sinh của các biến độc lập được sử dụng trong mô hình hồi quy SGMM. Kết quả kiểm định cho thấy mô hình có 4 biến nội sinh gồm ROE, CIR, NIM, SIZE
Tác giả sử dụng ước lượng SGMM là mô hình khắc phục biến nội sinh của mô hình và có độ trễ để khắc phục tính tương quan để đưa ra kết luận cuối cùng. Đặc biệt, tác giả tập trung vào kiểm định sargan, hansen và Arellano-Bond (AR2) bởi vì đây là các kiểm định để đánh giá được sự phù hợp của các biến ngoại sinh trong mô hình SGMM.
- Bảng 4.7: Mô hình hồi quy SGMM
Kết quả thấy rằng, kiểm định sargan, hansen có giá trị P-value lần lượt là 0,964 và 0,417 > 5% cho thấy các biến ngoại sinh đều phù hợp với mô hình. Đồng thời, Kiểm định AR(2) có p-value lag 0,541 >5% nghĩa là phần dư trong mô hình không có hiện tượng tự tương quan bậc 2. Ngoài ra, tác giả xem xét đến số nhóm phải lớn hơn số công cụ để đảm bảo được tính ổn định trong mô hình. Như vậy, sử dụng mô hình SGMM với biến trễ của phụ thuộc làm biến công cụ đã giải quyết được hiện tượng nội sinh trong mô hình. Các kết quả tìm thấy được trong mô hình là vững và đạt yêu cầu hoàn toàn có thể phân tích được.
4.6 Thảo luận kết quả nghiên cứu Luận văn: KQNC đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng.
Kết quả nghiên cứu 28 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2014-2024 cho thấy hầu hết các yếu tố được xem xét trong bài có tác động đến sự ổn định tài chính của ngân hàng và có ý nghĩa thống kê. Kết quả nghiên cứu được tóm tắt cụ thể như sau:
- Bảng 4.8: Tổng hợp kết quả nghiên cứu
Phương trình nghiên cứu được trình bày như sau: Z-score = -28,06+ 6,95 ROE + 166,66 LLP + 4,14 LTA – 0,38 FR -1,23 SIZE -80,52 NIM -5,06 CIR -11,39 NPL + 15,76 GDP – 27,64 INF.
Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) có mối quan hệ cùng chiều với sự ODTC ngân hàng tại mức ý nghĩa 1% phù hợp với kỳ vọng của tác giả. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu đồng nhất với lý thuyết triển vọng và các nghiên cứu của Bashir & cộng sự (2021), Koskei (2020), Elnahass & cộng sự (2021), Ali & cộng sự (2019). ROE cao cho thấy hoạt động ngân hàng tạo ra lợi nhuận từ đó ngân hàng có nguồn vốn để dùng cho các hoạt động tái đầu tư từ đó nâng cao khả năng ODTC của ngân hàng. Ngoài ra, ROE cao còn thể hiện năng lực lãnh đạo của nhà quản trị giúp nhận được sự tín nhiệm từ đối tác, thu hút thêm khách hàng. Đặc biệt là trong bối cảnh nhiều cạnh tranh và khó khăn như hiện tại, nếu ROE duy trì ở mức thấp cho thấy ngân hàng đang hoạt động bất ổn, lợi nhuận nhận được không đủ để duy trì hoạt động kinh doanh và ROE thấp vẫn kéo dài càng thể hiện khả năng điều hành tài chính của người quản lý không tốt dẫn đến gia tăng rủi ro, ảnh hưởng đến khả năng ODTC trong tương lai.
Tỷ lệ dự phòng rủi ro (LLP) có mối quan hệ cùng chiều với ODTC ngân hàng tại mức ý nghĩa 1% phù hợp với kỳ vọng của tác giả. Kết quả phù hợp với nghiên cứu của Ahamed & cộng sự (2019), Chai & cộng sự (2022) khi ngân hàng trích lập dự phòng cao dưới góc nhìn của quản trị rủi ro thận trọn, tỷ lệ dự phòng cao thể hiện ngân hàng chủ động nhận diện và xử lý rủi ro tín dụng. Việc trích lập đầy đủ giúp tạo bộ đệm tài chính, hạn chế tác động tiêu cực của nợ xấu đến vốn chủ sở hữu và lợi nhuận. Theo đó, dự phòng hợp lý góp phần làm giảm biến động lợi nhuận, củng cố hệ số an toàn vốn và nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc kinh tế vĩ mô. Luận văn: KQNC đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng.
Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (LTA) có mối quan hệ cùng chiều với ODTC ngân hàng tại mức ý nghĩa 10% phù hợp với kỳ vọng của tác giả. Thu nhập thuần của ngân hàng chủ yếu đến từ doanh số cho vay, chính vì lẽ đó các hoạt động cấp tín dụng luôn được kỳ vọng cũng như chú trọng nhằm nâng cao khà năng sinh lời cho ngân hàng. Hoạt động cho vay tạo ra thu nhập lãi – nguồn thu chủ yếu của ngân hàng – từ đó cải thiện lợi nhuận và tăng cường khả năng tích lũy vốn nội sinh. Lợi nhuận cao giúp củng cố bộ đệm vốn, giảm xác suất mất khả năng thanh toán và nâng cao chỉ số ổn định tài chính.
Tỷ lệ tài trợ (FR) có mối quan hệ ngược chiều với ODTC ngân hàng tại mức ý nghĩa 5% phù hợp với kỳ vọng của tác giả. Tiền gửi là nguồn vốn giá rẻ và an toàn để đáp ứng cho hoạt động cho vay của ngân hàng. Theo đó, tỷ lệ tài trợ tăng nghĩa là tiền gửi từ khách hàng được huy động dồi dào nhằm tài trợ cho hoạt động kinh doanh ngân hàng giúp gia tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, tỷ lệ này càng lớn thì áp lực chi trả lãi tiền gửi càng cao, gia tăng sức ép tạo ra thu nhập từ lãi làm giảm tính ổn định của ngân hàng. Tỷ lệ tài trợ tăng làm tăng chi phí hoạt động như tăng các hoạt động khuyến mại, cung cấp lãi suất thấp và các hoạt động khác. Do đó, ngân hàng phải đối mặt với lợi nhuận thấp hơn do thu nhập lãi từ hoạt động đầu tư và cho vay giảm. Thêm vào đó, nguồn vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn là nguồn vốn ngắn hạn, trong khi nhu cầu vay vốn trung và dài hạn lại cao mà ngân hàng thường dùng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn. Vậy nên, khi nền kinh tế gặp biến động hay khách hàng gửi rút vốn mà không huy động được nguồn vốn thay thế sẽ đẩy ngân hàng vào tình trạng mất thanh khoản ảnh hưởng kéo theo sự sụt giảm ODTC.
Quy mô ngân hàng (SIZE) có mối quan hệ ngược chiều với sự ODTC ngân hàng tại mức ý nghĩa 1% phù hợp với kỳ vọng của tác giả. Kết quả nghiên cứu đồng nhất với lý thuyết “Quá lớn để sụp đổ” các ngân hàng có quy mô rất lớn và mức độ liên kết cao có thể được kỳ vọng sẽ nhận được sự can thiệp của chính phủ và bảo hộ từ NHTW trước những biến động kinh tế. Kỳ vọng cứu trợ này làm phát sinh vấn đề đạo đức khuyến khích ngân hàng chấp nhận rủi ro cao hơn nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Bên cạnh đó, quy mô lớn thường đi kèm với cấu trúc tổ chức phức tạp, làm gia tăng chi phí giám sát và rủi ro quản trị. Khi một ngân hàng lớn gặp khủng hoảng, tác động lan truyền có thể gây bất ổn toàn hệ thống, làm suy giảm ổn định hơn các ngân hàng có quy mô bé hơn. Luận văn: KQNC đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng.
Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM) có mối quan hệ ngược chiều với sự ODTC ngân hàng tại mức ý nghĩa 10% cùng với kỳ vọng của tác giả. Cho vay là nguồn thu nhập chính vì vậy tỷ lệ lãi thuần cao thì lợi nhuận ngân hàng cao. Tuy nhiên, Nim cao cũng phản ánh rằng ngân hàng tập trung chủ yếu vào hoạt động tín dụng hay phân khúc khách hàng có rủi ro cao để đạt được lợi suất cao thì khi xảy ra biến động kinh tế bất ngờ, hoạt động tín dụng ảnh hưởng kéo theo ảnh hưởng đến ODTC
Hiệu quả sử dụng chi phí (CIR) có có mối quan hệ ngược chiều với sự ODTC ngân hàng tại mức ý nghĩa 5% phù hợp với kỳ vọng của tác giả. Theo đó, chi phí hoạt động ngân hàng là các khoản chi như lãi tiền gửi, lãi tiền vay và chi phí tương tự trong quá trình hoạt động đóng vai trò quan trọng trong cung cố năng lực tài chính của ngân hàng. Chi phí cao làm giảm lợi nhuận ròng của ngân hàng, suy giảm khả năng hấp thụ rủi ro trước những biến động tiêu cực. Thêm vào đó, hiệu quả chi phí kém thể hiện năng lực quản lý kém chưa quản lý cân đối được giữa chi phí và lợi nhuận. Sự kém hiệu quả này có thể đi kèm với quản trị rủi ro yếu, làm gia tăng rủi ro tín dụng và rủi ro hoạt động. Khi hệ thống kiểm soát nội bộ không hiệu quả, ngân hàng dễ đối mặt với biến động thu nhập lớn hơn, ảnh hưởng tiêu cực đến ổn định tài chính.
Tỷ lệ nợ xấu (NPL) có mối quan hệ ngược chiều với sự ODTC ngân hàng tại mức ý nghĩa 5% cùng với kỳ vọng của tác giả. Tỷ lệ nợ xấu cao cho thấy ngân hàng buộc phải đối diện với khả năng không thu hồi được vốn vay, bên cạnh đó chi phí bỏ ra cho công tác xử lý cũng không hề nhỏ gây tiêu tốn một phần lợi nhuận. Theo đó, tỷ lệ nợ xấu càng cao chứng tỏ công tác cho vay đang còn lỏng lẻo, chất lượng tín dụng kém, giám sát sau vay còn hạn chế làm gia tăng sự bất ổn tài chính.
Tăng trưởng kinh tế (GDP) có có mối quan hệ cùng chiều với sự ODTC ngân hàng tại mức ý nghĩa 5% cùng với kỳ vọng của tác giả. GDP tăng thể hiện nền kinh tế có dấu hiệu phát triển, thu nhập người dân tăng thúc đẩy nhu cầu đầu tư tăng thêm và gửi tiết kiệm, gia tăng cấp tín dụng thúc đẩy lợi nhuận củng cố bức tường tài chính. Kinh tế ổn định thu nhập cải thiện áp lực trả nợ ngân hàng giảm bớt hạn chế rủi ro cho ngân hàng. Ngược lại, GDP giảm cho thấy nền kinh tế đang gặp bất ổn ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp không thu về được lợi nhuận để trả nợ ngân hàng dễ khiến gây ra áp lực lên hệ thống tài chính ngân hàng.
Tỷ lệ lạm phát (INF) có mối quan hệ ngược chiều với sự ODTC ngân hàng tại mức ý nghĩa 5% cùng với kỳ vọng của tác giả. Gia tăng của lạm phát là sự suy giảm của nền kinh tế kéo theo buộc ngân hàng phải gia tăng lãi suất, chi phí vay vốn vì thế cũng phải tăng theo gây sụt giảm lợi nhuận ảnh hưởng tiêu cực tài chính của ngân hàng. Lạm phát tăng biểu hiện của suy thoái sinh tế kéo theo giá cả tăng làm nhu cầu tiêu dùng giảm, thu nhập giảm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán khách hàng, gia tăng nợ xấu ảnh hướng đến tài chính của ngân hàng.
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
5.1 Kết luận Luận văn: KQNC đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng.
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự ổn định của các NHTM Việt Nam trên cơ sở kế thừa khung lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu. Kết quả ước lượng từ mô hình nghiên cứu 28 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2014-2024 sử dụng chỉ số Z-score đại diện cho biến đo lường ODTC trả lời được 3 câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra trong mục tiêu nghiên cứu. Kết quả cho thấy tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ dự phòng rủi ro (LLP), tỷ lệ cho vay trên tài sản (LTA), tăng trưởng kinh tế (GDP) có tương quan cùng chiều đến ổn định tài chính ngân hàng. Quy mô ngân hàng (SIZE), hiệu quả sử dụng chi phí (CIR), tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM), tỷ lệ lạm phát (INF), tỷ lệ tự tài trợ (FR), tỷ lệ nợ xấu (NPL) có tương quan ngược chiều đến ổn định tài chính ngân hàng. Dựa trên kết quả phân tích, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị có liên quan nhằm duy trì, cải thiện sự ODTC của các NHTM Việt Nam.
5.2 Khuyến nghị
Thứ nhất, tăng cường hiệu quả hoạt động và quản lý để gia tăng vốn chủ sở hữu. Bằng việc triển khai đồng bộ các giải pháp tối ưu như chú trọng mở rộng quy mô tín dụng bền vững mà hiệu quả gia tăng lợi nhuận qua hoạt động lãi thuần đảm bảo quản trị ổn định được dư nợ và chất lượng tài sản. Bên cạnh đó, đẩy mạnh thu nhập ngoài lãi thông qua các hoạt động song song với tín dụng như thẻ, bảo hiểm, ngân hàng số. Đồng hành cùng việc tạo ra lợi nhuận, công tác kiểm soát chi phí cần được chú trọng, ứng dụng công nghệ số trong bối cảnh cạnh tranh và chuyển đổi số cũng là cách để giảm chi phí, tăng hiệu suất. Ngoài ra, các ngân hàng cần tối ưu hóa VCSH bằng việc tăng hiệu quả sử dụng vốn, chỉ thực hiện tăng vốn khi thực sự cần thiết và quản lý cổ tức, mua cổ phiếu quỹ hợp lý.
Thứ hai, ngân hàng cần có dự phòng tổn thất cho vay kịp thời nhằm bảo vệ ngân hàng trước những tổn thất trong danh mục cho vay góp phần giữ vững năng lực tài chính và củng cố thêm lá chắn giúp ngân hàng chống chịu trước những cú sốc kinh tế. Việc trích lập dự phòng cần được theo dõi liên tục theo thời gian và trích lập hợp lý hướng tới ổn định lâu dài thay vì đối phó trong ngắn hạn hay máy móc theo quy định. Theo đó, ngân hàng cần hoàn thiện khung chính sách theo hướng linh hoạt, phản ánh rủi ro thực tế theo chuẩn mực quốc tế cho phép các ngân hàng trích lập trên cơ sở tổn thất kỳ vọng thay vì tổn thất đã xảy ra. Xây dựng hệ thống quản trị tín dụng tiên tiến nhằm đánh giá, nhận diện sớm các rủi ro đảm bảo công tác phân loại nợ và trích lập chính xác hơn tránh dự phòng thiếu hay thừa không cần thiết. Luận văn: KQNC đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng.
Thứ ba, tín dụng là hoạt động cốt lõi của ngân hàng nếu tín dụng tăng trưởng chậm hoặc bị siết chặt thì ngân hàng không thể tạo ra nhiều lợi nhuận để tăng trưởng, còn nếu nới lỏng quá mức mà không có biện pháp quản lý sẽ gia tăng rủi ro tài chính. Do đó, ngân hàng cần xây dựng tỷ trọng cho vay phù hợp với mô hình kinh doanh cũng như khẩu vị rủi ro của chính mình. Không chạy theo tăng trưởng nóng vô tình gây khó khăn cho chính mình mà cũng không xiết chặt quá mức khiến hoạt động bị kém hiệu quả. Bên cạnh đó, cho vay dựa trên danh mục tín dụng theo hướng an toàn và hiệu quả, chú trọng đến chất lượng cho vay, phân bổ nguồn vốn hợp lý vào các ngành nghề, đối tượng dễ thu hồi vốn. Công tác thẩm định, giám sát cần minh bạch, trung thực, xây dựng kế hoạch rõ ràng trước những biến động thị trường.
Thứ tư, ngoài nguồn tài trợ từ tiền gửi ngân hàng có thể tăng cường nguồn vốn sở hữu qua các kênh công cụ đa dạng hơn như tài trợ không hoàn lại, vốn ưu đãi. Nhằm giảm rủi ro khi quá phụ thuộc vào nguồn tiền gửi khi xảy ra biến động người dân rút tiền ồ ạt gây thiếu hụt vốn. Ngân hàng cần xây dựng và đánh giá năng lực sử dụng vốn hợp lý nguồn vốn tài trợ, đảm bảo ngân hàng đủ khả năng chống chọi và duy trì hoạt động trước những tình huống bất ngờ, góp phần xây dựng sự phát triển bền vững của ngân hàng.
Thứ năm, quy mô giúp ngân hàng mở rộng kinh doanh tiếp cận dễ dàng với khách hàng tạo ra lợi nhuận. Nâng cao tổng tài sản không chỉ qua nguồn vốn huy động hay vốn vay mà còn qua các chiến lược tăng vốn hiệu quả như chào bán cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, thu hút vốn từ các nhà đầu tư mới. Đa dạng hóa địa lý và ngành nghề kinh doanh có thể dễ dàng tiếp cận với nhiều đối tượng cũng như phân tán rủi ro tốt hơn. Theo đó, quy mô rộng đòi hỏi ngân hàng cần đảm bảo khả năng điều hành cân bằng và thận trọng phòng ngừa các rủi ro lây lan mang tính hệ thống.
Thứ sáu, hiệu quả quản lý chi phí là điều kiện quan trọng để nâng cao năng tài chính cũng như phản ánh đầu tư chiến lược dài hạn của ngân hàng. Ngân hàng cần xác định rõ chi phí của mình dùng vào chi phí tiêu dùng hay chi phí đầu tư. Việc gia tăng chi phí đầu tư đúng hướng hợp với xu thế như đầu tư vào công nghệ nhằm giảm chi phí dài hạn và nâng cao năng lực cạnh tranh hay đầu tư vào hệ thống quản trị rủi ro có thể nâng cao khả năng ứng phó trước khủng hoảng. Thêm vào đó, nhà quản trị cần giám sát và kiểm soát chi phí so với khả năng tạo ra lợi nhuận. Thường xuyên quan sát, so sánh chuẩn ngành với các ngân hàng có cùng quy mô để điều chỉnh chi phí ngân hàng mình có phù hợp. Luận văn: KQNC đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng.
Thứ bảy, ngân hàng cần duy trì biên lãi ròng ở mức hợp lý và bền vững mà không gây áp lực lên người vay hay tạo ra rủi ro hệ thống là vai trò thiết yếu trong đảm bảo ổn định ngân hàng. Các chính sách cần hướng đến tăng chất lượng tài sản, giảm chi phí hoạt động, điều chỉnh lãi suất phù hợp tránh trường hợp ngân hàng đánh đổi lợi nhuận và rủi ro, cải thiện các chính sách nhằm thu hút khách hàng. Cần tích cực theo dõi tỷ lệ lãi thuần, nếu lãi thuần quá cao nghĩa là ngân hàng có thể xảy ra rủi ro tín dụng, mà quá thấp thì khả năng sinh lời kém. Tăng hiệu quả sử dụng vốn như ưu tiên các khoản vay và đầu tư có lợi suất cao nhưng kiểm soát được rủi ro, giảm tỷ trọng tài sản không sinh lãi như tiền gửi NHNN vượt yêu cầu hay tài sản tồn đọng. Ứng dụng công nghệ trong quản lý khách hàng, đánh giá tín dụng để thiết kế sản phẩm phù hợp.
Thứ tám, chính sách tín dụng cần cân nhắc đến rủi ro và tỷ lệ đảm bảo phù hợp với khả năng thu hồi nợ khi khách hàng không trả được nợ. Công tác theo dõi, bám sát tình hình sử dụng vốn và khả năng thanh toán đúng hạn cần được ưu tiên cũng như có biện pháp can thiệp sớm khi có dấu hiệu rủi ro đặc biệt là các khoản vay lớn dài hạn đầu tư vào các lĩnh vực có rủi ro cao như bất động sản, chứng khoán. Thực hiện trích lập dự phòng đầy đủ và đúng quy định nhằm bảo vệ vốn trước khả năng khoản vay mất khả năng thu hồi. Do đó, mỗi ngân hàng cần xây dựng, phát triển hệ thống cảnh báo sớm rủi ro tín dụng giúp ngân hàng chủ động hơn trong xử lý, hạn chế phát sinh nợ xấu. Kết hợp với trung tâm thông tin tín dụng quốc gia nhằm giám sát các khoản vay liên ngân hàng.
Thứ chín, NHTM cần chú ý trước những biến động vĩ mô nhằm chủ động xây dựng chính sách quản lý phù hợp để giảm thiểu những rủi ro và tăng cường hoạt động.
5.3 Hạn chế của nghiên cứu Luận văn: KQNC đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng.
Mặc dù đã đạt được một số kết quả nhất định, nghiên cứu vẫn còn hạn chế về thu thập dữ liệu từ các NHTM Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu chỉ thu thập dữ liệu của 28 NHTM trên 31 NHTM do một số ngân hàng đang trong kiểm soát đặc biệt hay bị mua lại với giá 0 đồng, do vậy chưa phản ánh toàn diện tình hình của tất cả NHTM tại Việt Nam. Hay là phân loại loại hình hoạt động của ngân hàng như NHNN, Ngân hàng TMCP, Ngân hàng có vốn 100% nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng chính sách xã hội.
Bên cạnh đó hạn chế về thời gian và nguồn lực, nghiên cứu chỉ tập trung giai đoạn gần từ năm 2014-2024 mà bỏ qua khoảng thời gian trước 2014. Đo lường ODTC chỉ tập trung chủ yếu vào chỉ số Z-score mà chưa chú ý đến các chỉ tiêu khác. Nghiên cứu chỉ tập trung vào một số yếu tố kế thừa từ nghiên cứu trước mà vẫn còn nhiều yếu tố khác chưa xem xét đến do khả năng hạn chế về thu thập dữ liệu của tác giả. Hay là đo lường các nhân tố vĩ mô cơ bản mà chưa kể đến sự điều hành của Chính Phủ, chính sách NHNN… Luận văn: KQNC đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng.
5.4 Đề xuất hướng nghiên cứu mới
Để các nghiên cứu tương lai được hoàn thiện và chính xác hơn, tác giả đề xuất một số hướng nghiên cứu sau:
- Mở rộng thêm không gian và thời gian nghiên cứu để đạt được kết quả toàn diện hơn.
- Xem xét đến các yếu tố mới có khả năng ảnh hưởng đến ODTC để tăng tính khái quát hơn.
- Không chỉ tập trung đo lường ODTC qua chỉ số Z-score mà áp dụng thêm các chỉ số khác để tăng tính khách quan.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: KQNC đến sự ổn định tài chính của các Ngân hàng […]