Luận văn: Công tác quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Công tác quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Phân tích và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi của Công ty TNHH MTV Thương mại Đầu tư Phát triển Đô thị dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong tiến trình đổi mới, phát triển kinh tế xã hội ở Việt nam, nhu cầu về đầu tư và xây dựng là rất lớn. Như vậy, đầu tư xây dựng là một trong những nhân tố quan trọng trong quá trình phát triển xã hội. Với vị trí và tầm quan trọng của lĩnh vực đầu tư xây dựng đối với nền kinh tế quốc dân thì vai trò quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này là hết sức to lớn.

Xây dựng các công trình phát triển hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới, đáp ứng nhu cầu về nhà ở trong xu thế đô thị hóa ngày một tăng là một yêu cầu mang tính cấp bách và cần thiết hơn bao giờ hết đối với Việt Nam nói chung và thành phố Hải Phòng nói riêng. Trên thực tế, quá trình quản lý, chất lượng và hiệu quả quản lý các dự án đầu tư xây dựng là rất hạn chế và gặp nhiều khó khăn. Tình trạng đó có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chủ yếu là do sự chưa hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý, quy trình quản lý chưa chặt chẽ, tính chuyên nghiệp hoá chưa cao và chất lượng đội ngũ cán bộ trong công tác quản lý các dự án xây dựng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Ngoài ra khó khăn về nguồn vốn đầu tư; về cơ chế, chính sách, pháp luật còn chưa phù hợp với điều kiện thực tế (đặc biệt trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất) cũng là những nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án, làm sụt giảm hiệu quả đầu tư.

Trong thời gian qua, chủ đầu tư là Công ty TNHH MTV Thương mại Đầu tư Phát triển Đô thị thực hiện nhiệm vụ QLDA xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi tuy đã gặt hái được nhiều thành công, đã mang lại một bộ mặt mới cho đô thị thành phố Hải Phòng nhưng vẫn còn nhiều vấn đề bất cập cả về chủ quan nội tại lẫn khách quan từ cơ chế chính sách nên việc nâng cao năng lực quản lý phù hợp với điều kiện của thực tế của nước ta cũng như của thành phố Hải Phòng là cần thiết. Sau khi tiếp thu kiến thức lý luận từ khóa học và tổng hợp thực tiễn qua quá trình công tác tại đơn vị, tôi thực hiện đề tài “Phân tích và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi của Công ty TNHH MTV Thương mại Đầu tư Phát triển Đô thị” cho luận văn tốt nghiệp khóa học của mình.

2. Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là dựa trên cơ sở hệ thống hóa lý luận về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình và phân tích những ưu điểm và một số tồn tại, khó khăn vướng mắc trong công tác quản lý dự án để đưa ra biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi do Công ty TNHH MTV Thương mại Đầu tư Phát triển Đô thị làm chủ đầu tư.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn: Công tác quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

Đối tượng nghiên cứu là Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi dưới góc độ của cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị chủ đầu tư.

Phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn vào quá trình thực hiện nhiệm vụ QLDA xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi do Công ty TNHH MTV Thương mại Đầu tư Phát triển Đô thị làm CĐT.

4. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:

  • Phương pháp tổng hợp, phân tích, các phương pháp thống kê kết hợp với khảo sát thực tế;
  • Nghiên cứu số liệu thứ cấp các tài liệu thống kê, báo cáo các Dự án đầu tư, hồ sơ, công tác Quản trị dự án đầu tư công trình xây dựng hiện thời.

5. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận chung và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về dự án đầu tư và công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
  • Chương 2: Đánh giá thực trạng công tác Quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi
  • Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi.

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH

1.1. Khái niệm, vị trí và vai trò của đầu tư xây dựng công trình

1.1.1. Khái niệm về đầu tư xây dựng

ĐTXD là một loại hình đầu tư, trong đó việc bỏ vốn được xác định rõ và giới hạn trong phạm vi tạo ra những sản phẩm xây dựng công trình cơ sở vật chất kỹ thuật hoặc kết cấu hạ tầng của nền kinh tế như hệ thống: đường giao thông, hồ đập thủy lợi, trường học, bệnh viện…

Xét về bản chất ĐTXD chính là đầu tư tài sản vật chất và sức lao động trong đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm tăng thêm hoặc tạo ra tài sản mới cho mình đồng thời cho cả nền kinh tế, từ đó làm tăng thêm tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động sản xuất khác, là điều kiện chủ yếu tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội.

Kết quả ĐTXD là sự tăng thêm về tài sản vật chất (nhà xưởng thiết bị…), từ đó làm nền tảng phát triển cho tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật…) và tài sản vô hình (những phát minh sáng chế, bản quyền…) có cơ hội phát triển. Các kết quả đạt được của đầu tư góp phần làm tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội. Hiệu quả của đầu tư xây dựng phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế xã hội thu được với chi phí chi ra để đạt kết quả đó.

Mục đích của ĐTXD là vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốc gia, cộng đồng và nhà đầu tư. Trong đó, đầu tư của Nhà nước nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập quốc dân, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của các thành viên trong xã hội. Đầu tư của doanh nghiệp nhằm tối thiểu chi phí, tối đa lợi nhuận, nâng cao khả năng cạnh tranh và chất lượng nguồn nhân lực… Luận văn: Công tác quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

ĐTXD thường được thực hiện bởi một chủ đầu tư nhất định. Xác định rõ chủ đầu tư có ý nghĩa quan trọng trong quá trình quản lý đầu tư nói chung và vốn đầu tư nói riêng.

Xét về đặc điểm thì ĐTXD là một hình thức đầu tư, nó là một hoạt động bỏ vốn, do vậy quyết định đầu tư trước hết là quyết định tài chính, thể hiện ở các chỉ tiêu: Tổng mức đầu tư, nguồn, cơ cấu tài chính, khả năng hoàn vốn …

ĐTXD là một hoạt động có tính lâu dài, kết quả của ĐTXD là những sản phẩm có giá trị lớn. Có những dự án kéo dài hàng chục năm, đây là một điểm khác biệt so với những loại hình đầu tư khác. Do tính chất lâu dài nên phải trù liệu dự tính được những thay đổi đến quá trình thực hiện dự án. Do công trình thường rất lớn, nên người sử dụng không thể “mua” ngay công trình một lúc mà phải “mua” từng phần (từng hạng mục hay bộ phận công trình hoàn thành). Việc cấp vốn ĐTXD phải phù hợp với đặc điểm này được thể hiện qua việc chủ đầu tư tạm ứng cho nhà thầu trong quá trình thi công xây lắp.

Sản phẩm ĐTXD có tính đơn chiếc, nên chi phí cho mỗi sản phẩm là khác nhau. Đây là một đặc điểm cần lưu ý trong quá trình quản lý vốn đầu tư. Quản lý vốn ĐTXD công trình phải dựa vào dự toán chi phí đầu tư xác định cho từng công trình.

ĐTXD là hoạt động mang tính rủi ro cao do thời gian đầu tư dài, hoạt động phụ thuộc nhiều vào điều kiện thiên nhiên.

1.1.2. Vai trò của đầu tư xây dựng trong nền kinh tế

ĐTXD là hoạt động có vai trò quyết định trong việc tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội, là nhân tố quan trọng làm thay đổi chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân của mỗi quốc gia, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước theo hướng CHN-HĐH.

ĐTXD có vai trò vô cùng to lớn trong quá trình phát triển của mọi quốc gia trên toàn thế giới. Vai trò này thể hiện trên một số phương diện cụ thể như sau:

ĐTXD vùa tác dụng tới tổng cung vùa tác động đến tổng cầu của nền kinh tế: Khi cần tiến hành một hoạt động đầu tư, sẽ phải có một lượng tiền lớn được huy động để đưa vào lưu thông trong nền kinh tế để mua sắm các nguyên liệu, vật liệu, máy móc thiết bị, trả tiền dịch vụ, thuê nhân công… làm cho tổng cầu tăng vọt. Đây chính là tác động ngắn hạn của đầu tư đối với tổng cầu.

Đến khi các thành quả của đầu tư phát huy tác dụng các năng lực mới đi vào hoạt động thì tăng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên kéo theo sản lượng tiềm năng tăng lên và giá cả hàng hoá giảm đi. Đây chính là tác dụng trong dài hạn của ĐTXD.

ĐTXD tác động hai mặt đến sự ổn định KT-XH: Do tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với sự tăng cung và tăng cầu của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư, dù là tăng hay giảm đều cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì sự ổn định vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế của mỗi quốc gia.

ĐTXD tác động đến tăng trưởng và phát triển kinh tế: Theo kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy, tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia trong một thời kỳ phụ thuộc vào hệ số hiệu quả vốn đầu tư của một quốc gia đó.

Trong đó: Luận văn: Công tác quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

  • ICOR : Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
  • V : Vốn đầu tư
  • DGDP : Mức tăng GDP

Nếu ICOR không đổi thì mức tăng GDP phụ thuộc hoàn toàn vào vốn đầu tư. Sự gia tăng vốn đầu tư sẽ làm tăng GDP nhiều hơn. Vì vậy, đầu tư tác động mạnh mẽ đến mức tăng trưởng kinh tế [24].

ĐTXD tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Kinh nghiệm các nước cho thấy, động lực để có thể tăng trưởng nhanh với tốc độ mong muốn (từ 9¸10%) của nền kinh tế là tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển nhanh ở các khu vực công nghiệp và dịch vụ vì những ngành này có thể đạt tốc độ tăng trưởng cao nhờ sử dụng những tiềm năng vô hạn về trí tuệ con người.

ĐTXD với việc tăng cường khả năng công nghệ và khoa học kỹ thu¾t của đất nước: Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá. Đầu tư là điều kiện tiên quyết của sự phát triển và tăng cường công nghệ. Bởi vì để tiến hành công nghiệp hoá đất nước thì không thể thiếu công nghệ đó là các máy móc thiết bị, các bí quyết công nghệ nhằm nâng cao năng suất – năng lực sản xuất kinh doanh của mọi ngành.

1.2. Khái niệm, đặc điểm và các giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình Luận văn: Công tác quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

1.2.1. Khái niệm dự án ĐTXD

Khi ĐTXD công trình, Chủ ĐTXD công trình phải lập báo cáo đầu tư, dự án đầu tư (hoặc lập báo cáo kinh tế – kỹ thuật) để xem xét, đánh giá hiệu quả KT-XH của dự án.

Nên dự án là việc thực hiện một mục đích hay nhiệm vụ công việc nào đó dưới sự ràng buộc về yêu cầu và nguồn vật chất đã định. Thông qua việc thực hiện dự án để cuối cùng đạt được mục tiêu nhất định đã đề ra và kết quả của nó có thể là một sản phẩm hay một dịch vụ.

Theo Luật Xây dựng thì dự án ĐTXD là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định. Hồ sơ dự án đầu tư xây dựng bao gồm 2 phần, phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở [19].

  • Như vậy dự án đầu tư có thể xem xét từ nhiều góc độ khác nhau:

Về mặt hình thức nó là một tập hợp hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.

Trên góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế-xã hội trong một thời gian dài.

Trên góc độ kế hoạch, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển KT-XH, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ.

Về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định.

1.2.2. Đặc điểm của dự án ĐTXD công trình Luận văn: Công tác quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

ĐTXD là tập hợp các hồ sơ và bản vẽ thiết kế, trong đó bao gồm các tài liệu pháp lý, quy hoạch tổng thể, kiến trúc, kết cấu, công nghệ tổ chức thi công … được giải quyết. Các dự án ĐTXD có một số đặc điểm sau:

Dự án có tính thay đổi: Dự án xây dựng không tồn tại một cách ổn định cứng, hàng loạt phần tử của nó đều có thể thay đổi trong quá trình thực thi do nhiều nguyên nhân, chẳng hạn các tác nhân từ bên trong như nguồn nhân lực, tài chính, các hoạt động sản xuất… và bên ngoài như môi trường chính trị, kinh tế, công nghệ, kỹ thuật … và thậm chí cả điều kiện KT-XH.

Dự án có tính duy nhất: Mỗi dự án đều có đặc trưng riêng biệt lại được thực hiện trong những điều kiện khác biệt nhau cả về địa điểm, không gian, thời gian và môi trường luôn thay đổi.

Dự án có hạn chế về thời gian và quy mô: Mỗi dự án đều có điểm khởi đầu và kết thúc rõ ràng và thường có một số kỳ hạn có liên quan. Có thể ngày hoàn thành được ấn định một cách tuỳ ý, nhưng nó cũng trở thành điểm trọng tâm của dự án, điểm trọng tâm đó có thể là một trong những mục tiêu của người đầu tư. Mỗi dự án đều được khống chế bởi một khoảng thời gian nhất định, trên cơ sở đó trong quá trình triển khai thực hiện, nó là cơ sở để phân bổ các nguồn lực sao cho hợp lý và có hiệu quả nhất.

Dự án có liên quan đến nhiều nguồn lực khác nhau: Triển khai dự án là một quá trình thực hiện một chuỗi các đề xuất để thực hiện các mục đích cụ thể nhất định, chính vì vậy để thực hiện được nó chúng ta phải huy động nhiều nguồn lực khác nhau, việc kết hợp hài hoà các nguồn lực đó trong quá trình triển khai là một trong những nhân tố góp phần nâng cao hiệu quả dự án.

1.2.3. Các giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình

Dự án ĐTXD và quá trình ĐTXD của bất kỳ dự án nào cũng bao gồm 3 giai đoạn: Chuẩn bị đầu tư; Thực hiện đầu tư; Kết thúc xây dựng và đưa công trình vào khai thác sử dụng. Quá trình thực hiện DAĐT có thể mô tả bằng sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1. Quá trình thực hiện dự án đầu tư

  • Giai đoạn chuẩn bị đầu tư:

Đối với các dự án quan trong quốc gia theo Nghị quyết số 66/2015/QH11 của Quốc hội thì chủ đầu tư phải lập Báo cáo đầu tư trình Chính phủ xem xét để trình Quốc hội thông qua chủ trương và cho phép đầu tư. Đối với dự án nhóm A không có trong quy hoạch ngành được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì chủ đầu tư phải báo cáo Bộ quản lý ngành để xem xét, bổ sung quy hoạch theo thẩm quyền hoặc trình Thủ tướng Chính phủ chấp thuận bổ sung quy hoạch trước khi lập dự án ĐTXD công trình. Vị trí, quy mô xây dựng công trình phải phù hợp với quy hoạch xây dựng được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nếu chưa có trong quy hoạch xây dựng thì phải được UBND cấp tỉnh chấp thuận. Luận văn: Công tác quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

  • Giai đoạn thực hiện đầu tư:

Sau khi lựa chọn được nhà thầu thiết kế, trên cơ sở dự án được phê duyệt, nhà thầu thiết kế tổ chức thực hiện các công việc tiếp theo của mình. Tuỳ theo quy mô, tính chất công trình xây dựng, việc thiết kế có thể thực hiện theo một bước, hai bước hay ba bước.

Thiết kế một bước là thiết kế bản vẽ thi công áp dụng đối với công trình chỉ lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật.

Thiết kế hai bước bao gồm thiết kế cơ sở và thiết kế bản vẽ thi công áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự án đầu tư.

Thiết kế ba bước bao gồm thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự án và có quy mô là cấp đặc biệt, cấp I và công trình cấp II có kỹ thuật phức tạp do người quyết định đầu tư quyết định.

Chủ đầu tư tổ chức thẩm định phê duyệt thiết kế kỹ thuật đối với công trình thực hiện thiết kế 3 bước hoặc thiết kế bản vẽ thi công đối với công trình thực hiện thiết kế 1 bước, 2 bước.

Người quyết định đầu tư phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công cùng với Báo cáo kinh tế – kỹ thuật xây dựng công trình đối với trường hợp thực hiện thiết kế 1 bước.

Chủ đầu tư tổ chức đấu thầu để lựa chọn nhà thầu thi công xây dựng.

Sau khi lựa chọn được nhà thầu thi công, chủ đầu tư tổ chức đàm phán ký kết hợp đồng thi công xây dựng công trình với nhà thầu và tổ chức quản lý thi công xây dựng công trình.

  • Giai đoạn kết thúc xây dựng và đưa công trình vào khai thác sủ dụng:

Sau khi công trình được thi công xong theo đúng thiết kế đã được phê duyệt, đảm bảo các yêu cầu về chất lượng, kỹ thuật, mỹ thuật, chủ đầu tư thực hiện công tác bàn giao công trình cho cơ quan quản lý, sử dụng thực hiện khai thác, vận hành công trình với hiệu quả cao nhất.

Như vậy các giai đoạn của quá trình đầu tư có mối liên hệ hữu cơ với nhau, mỗi giai đoạn có tầm quan trọng riêng của nó cho nên không đánh giá quá cao hoặc xem nhẹ một giai đoạn nào và kết quả của giai đoạn này là tiền đề của giai đoạn sau. Trong quá trình quản lý ĐTXD chủ đầu tư luôn đóng vai trò quan trọng và quyết định đến việc nâng cao hiệu quả đầu tư và xây dựng.

1.3. Nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng tại doanh nghiệp

1.3.1. Lập dự án đầu tư Luận văn: Công tác quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

Như đã trình bày trong phần khái niệm dự án đầu tư, nếu xét về mặt hình thức, dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày đề xuất một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động, chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Nếu xét về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt được các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định. Nếu xét trên góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế – xã hội trong một thời gian dài [24].

  • Để lập dự án đầu tư, cần thực hiện các bước sau:

Một là, Chủ đầu tư dự án chuẩn bị lập hồ sơ đầu tư theo các nội dung sau:

  • Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư;
  • Tiến hành tiếp xúc, thăm dò thị trường trong nước và ngoài nước để xác định nhu cầu tiêu thụ, khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tìm nguồn cung ứng thiết bị, vật tư cho sản xuất; xem xét khả năng về nguồn vốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư;
  • Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm xây dựng;
  • Lập dự án đầu tư;
  • Gửi hồ sơ dự án và văn bản trình đến người có thẩm quyền quyết định đầu tư tổ chức cho vay vốn đầu tư và cơ quan thẩm định dự án đầu tư.

Hai là, hoàn tất dự án theo các nội dung chính như sau:

  • Báo cáo đầu tư (Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi);
  • Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư, các điều kiện thuận lợi và khó khăn;
  • Dự kiến quy mô đầu tư, hình thức đầu tư;
  • Chọn khu vực địa điểm xây dựng và dự kiện nhu cầu diện tích sử dụng đất trên cơ sở giảm tới mức tối đa việc sử dụng đất và những ảnh hưởng về môi trường, xã hội và tái định cư (có phân tích, đánh giá cụ thể);
  • Phân tích, lựa chọn sơ bộ về công nghệ, kỹ thuật (bao gồm cả cây trồng, vật nuôi nếu có) và các điều kiện cung cấp vật tư thiết bị, nguyên liệu, năng lượng, dịch vụ, hạ tầng;
  • Phân tích, lựa chọn sơ bộ các phương án xây dựng;
  • Xác định sơ bộ tổng mức đầu tư, phương án huy động các nguồn vốn, khả năng hoàn vốn và trả nợ, thu lãi;
  • Tính toán sơ bộ hiệu quả đầu tư về mặt kinh tế – xã hội của dự án;
  • Xác định tính độc lập khi vận hành, khai thác của các dự án thành phần hoặc tiểu dự án (nêu có).

Nội dung chủ yếu của dự án đầu tư bao gồm:

  • Những căn cứ để xác định sự cần thiết phải đầu tư;
  • Lựa chọn hình thức đầu tư; Luận văn: Công tác quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.
  • Chương trình sản xuất và các yếu tố phải đáp ứng (đối với các dự án có sản xuất);
  • Các phương án địa điểm cụ thể (hoặc vùng địa điểm, tuyến công trình) phù hợp với quy hoạch xây dựng (bao gồm cả tài liệu về sự lựa chọn địa điểm, trong đó có đề xuất giải pháp hạn chế tới mức tối thiểu ảnh hưởng đối với môi trường và xã hội);
  • Phương án giải phóng mặt bằng, kế hoạch tái định cư (nếu có);
  • Phân tích lựa chọn phương án kỹ thuật, công nghệ (bao gồm cả cây trồng, vật nuôi nếu có);
  • Các phương án kiến trúc, giải pháp xây dựng, thiết kế sơ bộ của các phương án đề nghị lựa chọn, giải pháp quản lý và bảo vệ môi trường;
  • Xác định rõ nguồn vốn (hoặc loại nguồn vốn), khả năng tài chính, tổng mức đầu tư và nhu cầu vốn theo tiến độ. Phương án hoàn trả vốn đầu tư (đối với dự án có yêu cầu thu hồi vốn đầu tư);
  • Phương án quản lý khai thác dự án và sử dụng lao động;
  • Phân tích hiệu quả đầu tư;

Các mốc thời gian chính thực hiện đầu tư. Dự án nhóm C phải lập ngay kế hoạch đấu thầu. Dự án nhóm A, B có thể lập kế hoạch đấu thầu sau khi có quyết định đầu tư (tuỳ điều kiện cụ thể của dự án). Thời gian khởi công (chậm nhất), thời hạn hoàn thành đưa công trình vào khai thác sử dụng (chậm nhất);

  • Kiến nghị hình thức quản lý thực hiện dự án;
  • Xác định chủ đầu tư;
  • Mối quan hệ và trách nhiệm của các cơ quan liên quan đến dự án.

1.3.2. Thẩm định dự án đầu tư

Thẩm định dự án đầu tư, nhất là hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu tư là hoạt động kinh tế quan trọng. Nó nhằm đánh giá tính khả thi về mặt tài chính là cơ sở đánh giá hiệu quả KTXH của dự án. Có thể định nghĩa một cách khái quát về hoạt động thẩm định dự án đầu tư như sau: “Thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức xem xét đánh giá một cách khách quan, khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thực hiện và hiệu quả của dự án để từ bỏ ra quyết định đầu tư, cho phép đầu tư hoặc tài trợ vốn cho dự án” [25].

Đây là một quá trình kiểm tra, đánh giá các nội dung cơ bản của dự án một cách độc lập, tách biệt với quá trình soạn thảo dự án. Thẩm định dự án tạo cơ sở vững chắc cho hoạt động đầu tư có hiệu quả. Các kết luận rút ra từ quá trình thẩm định là cơ sở để các đơn vị, cơ quan có thẩm quyền của nhà nước ra quyết định đầu tư, cho phép đầu tư hoặc tài trợ cho dự án.

Mục đích quan trọng nhất của hoạt động thẩm định dự án đầu tư là nhằm lựa chọn được dự án có tính khả thi cao. Bởi vậy, trong quá trình tiến hành các hoạt động thẩm định các dự án cần phải đạt được các mục đích cơ bản như sau:

  • Đánh giá tính hợp lý của dự án. Tính hợp lý được thể hiện ở từng nội dung và phương thức tính toán của dự án;
  • Đánh giá tính hiệu quả của dự án. Hiệu quả của dự án được xem xét trên hai phương diện: hiệu quả tài chính và hiệu quả KT-XH của dự án; Luận văn: Công tác quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

Đánh giá khả năng thực hiện của dự án. Đây là mục đích hết sức quan trọng trong thẩm định dự án. Một dự án hợp lý và hiệu quả cần phải có khả năng thực hiện. Tính hợp lý và hiệu quả là hai điều kiện quan trọng để dự án có thể thực hiện được. Nhưng khả năng thực hiện của dự án còn phải xem xét đến các kế hoạch tổ chức thực hiện, nguồn nhân lực, môi trường pháp lý cho dự án…

Xuất phát từ vai trò và đặc điểm của hoạt động ĐTXD công trình, công tác chuẩn bị đầu tư là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý đầu tư xây dựng. Thẩm định dự án là giai đoạn tiếp theo của quá trình soạn thảo dự án. Kết quả của công tác thẩm định dự án đầu tư sẽ là cơ sở để ra quyết định chấp thuận hay bác bỏ dự án đầu tư. Chính vì vậy, yêu cầu chung được đặt ra đối với công tác thẩm định dự án đầu tư là:

  • Lựa chọn được các dự án đầu tư có tính khả thi cao (có khả năng thực hiện, đem lại hiệu quả và hiệu quả chắc chắn);
  • Loại bỏ được các dự án đầu tư không khả thi, nhưng không bỏ lỡ mất các cơ hội đầu tư có lợi.

Công tác thẩm định dự án tập trung vào các nội dung:

  • Thẩm định thị trường của dự án;
  • Thẩm định khía cạnh kỹ thuật của dự án;
  • Thẩm định về phương diện tổ chức, quản lý thực hiện dự án;
  • Thẩm định tài chính của dự án;
  • Thẩm định về các chỉ tiêu KT-XH của dự án.

1.3.3. Thực hiện đầu tư Luận văn: Công tác quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

  • Lập kế hoạch quản lý dự án

Lập kế hoạch là giai đoạn thứ hai của quy trình quản lý dự án và là sự khởi đầu cần thiết để hành động. Nói chung, việc lập kế hoạch dự án luôn được bắt đầu bằng mục tiêu đã được xác định sau cùng, và kế hoạch đó phải trả lời được câu hỏi: “Căn cứ vào mục tiêu của chúng ta về …, chúng ta cần phải hoàn thành những nhiệm vụ nào?”.

Cụ thể hơn, những người lập kế hoạch phải xác định trình tự và thời hạn phải hoàn tất những nhiệm vụ này. Ở đây, người lập kế hoạch tách mục tiêu đã định thành những nhiệm vụ chính. Điều không kém phần quan trọng nữa là cần phân biệt khung thời gian của dự án với thời hạn mà mỗi nhiệm vụ phải hoàn tất, sao cho mục tiêu tổng thể của dự án được thực hiện đúng theo lịch trình.

Quy trình lập kế hoạch quản lý dự án gồm 4 bước: Xác định mục tiêu, thực hiện, điều chỉnh, kiểm tra. Các bước được thực hiện, một cách tuần tự, trong đó việc xác định mục tiêu có vai trò quan trọng bởi vì nó được thực hiện theo định kỳ, còn các bước khác thì mang tính thường xuyên.

Như vậy, lập kế hoạch quản lý dự án không chỉ là lập kế hoạch mà còn là quá trình tổ chức, thực hiện và theo dõi, đánh giá kết quả. Lập kế hoạch là lựa chọn một trong những phương án hoạt động cho tương lai của toàn bộ dự án. Còn tổ chức thực hiện dự án được thể hiện bằng hệ thống các chính sách áp dụng trong các thời kỳ kế hoạch nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra một cách có hiệu quả cao nhất. Lập kế hoạch quản lý dự án thể hiện ý đồ của chủ đầu tư về sự phát triển trong tương lai của dự án và các giải pháp để thực hiện. Nó xác định xem một quá trình phải làm gì? làm như thế nào? khi nào làm và ai sẽ làm?

Việc lập kế hoạch quản lý dự án sẽ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, là công cụ động viên và kiểm soát việc thực hiện dự án; góp phần thúc đẩy mối quan hệ giữa các thành viên thực hiện dự án, giữa dự án với các đối tác và dự án với những người hưởng lợi. Bên cạnh đó còn giúp dự án hoàn thành đúng hạn, các công việc không bị gián đoạn/chậm trễ, giảm thiểu các công việc phải làm lại, hạn chế nhầm lẫn và sai lầm, tăng mức độ hiểu biết của mọi người về tình trạng của dự án. Đồng thời, đảm bảo tiến trình dự án có ý nghĩa và đúng hạn, biết được thời gian thực hiện các phần việc chính của dự án, biết được cách thức phân phối chi phí của dự án cũng như xác định rõ trách nhiệm và quyền lợi của mọi người. Biết rõ ai làm? làm gì? khi nào? và chi phí bao nhiêu. Hợp nhất các công việc để đảm bảo chất lượng dự án theo yêu cầu của chủ đầu tư.

  • Tổ chúc thực hiện

Trong giai đoạn này cần đảm bảo các hoạt động cụ thể sau:

  • Tổ chúc b máy quản lý dự án Luận văn: Công tác quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

Về nguyên tắc người quản lý dự án là chủ đầu tư được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao và là người sở hữu vốn hoặc là người được giao quản lý và sử dụng vốn để đầu tư xây dựng công trình, trên nguyên tắc:

Căn cứ vào điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân, yêu cầu của dự án người quyết định đầu tư xây dựng quyết định lựa chọn một trong hai hình thức quản lý dự án đầu tư. Nếu chủ đầu tư không đủ điều kiện về năng lực thì chủ đầu tư thuê tổ chức tư vấn quản lý dự án đầu tư. Đối với trường hợp này trách nhiệm và quyền lợi của chủ đầu tư và đơn vị tư vấn quản lý dự án được thể hiện trong hợp đồng kinh tế. Nếu chủ đầu tư có đủ điều kiện về năng lực quản lý thì trực tiếp quản lý dự án, trong trường hợp này chủ đầu tư có thể thành lập ban quản lý dự án. Ban quản lý dự án thực hiện một số nhiệm vụ do chủ đầu tư giao cho và chịu trách nhiệm trước phát luật.

  • Tổ chúc đấu thầu trong xây dựng.

Mục tiêu của đấu thầu nhằm thực hiện tính cạnh tranh, công bằng và minh bạch trong quá trình lựa chọn nhà thầu phù hợp, đảm bảo hiệu quả kinh tế của dự án.

Đấu thầu rộng rãi, là hình thức đấu thầu không hạn chế số lượng nhà thầu tham gia. Bên mời thầu phải thông báo công khai về điều kiện, thời gian dự thầu trên phương tiện thông tin đại chúng tối thiều là 10 ngày trước khi phát hành hồ sơ mời thầu, đây là hình thức chủ yếu trong đấu thầu.

Đấu thầu hạn chế, là hình thức mà bên mời thầu mời một số nhà thầu (tối thiểu là 5) có đủ năng lực tham dự. Danh sách nhà thầu tham dự phải được người có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền chấp thuận. Hình thức này chỉ được áp dụng trong những điều kiện: Chỉ có một nhà thầu có khả năng đáp ứng được yêu cầu của gói thầu; các nguồn vốn sử dụng yêu cầu phải tiến hành đấu thầu hạn chế của gói thầu mà việc đấu thầu hạn chế có lợi thế.

  • Công tác giải phóng mặt bằng xây dựng

Việc đền bù giải phóng mặt bằng xây dựng phải đảm bảo lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân có liên quan. Đối với nhà ở của tổ chức, cá nhân phải giải quyết chỗ ở mới ổn định, có điều kiện chỗ ở bằng hoặc tốt hơn chỗ ở cũ, hỗ trợ tạo việc làm, ổn định đời sống cho người phải di chuyển, trừ trường hợp có thỏa thuận khác giữa các bên có liên quan.

  • Tổ chúc thanh quyết toán

Việc thanh quyết toán công trình được thực hiện nghiêm ngặt theo quy định của pháp luật hiện hành. Việc thanh toán vốn cho các dự án được đầu tư bằng vốn NSNN được thực hiện duy nhất là hệ thống Kho bạc Nhà nước.

  • Kiểm soát

Kiểm soát trong việc thực hiện dự án đầu tư xây dựng là hoạt động nhằm mục đích soát xét lại hoạt động đầu tư đang và sẽ thực hiện nhằm đưa ra những điều chỉnh cần thiết và phù hợp với tình hình thực tiễn. Đồng thời kiểm soát còn nhằm kiểm tra việc sử dụng tiền vốn, lao động, vật tư, thiết bị, công tác kiểm soát, thiết kế và thi công xây lắp. Kiểm tra thiết bị, hàng tồn kho, ứ đọng, mất mát, nhất là đối với thiết bị chưa đưa vào sử dụng. Kiểm tra việc thực hiện các thủ tục đầu tư xây dựng cơ bản. Việc kiểm soát này tập trung vào các nội dung sau: Luận văn: Công tác quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

Một là, về chủ trương đầu tư xây dựng cơ bản cần làm rõ nguồn vốn đầu tư, nguồn vật tư, cơ quan cấp phép xây dựng, thời hạn thi công, hiệu quả đầu tư sau khi công trình hoàn thành.

Hai là, về thủ tục đầu tư xây dựng cơ bản, cần tiến hành kiểm soát để đảm bảo công trình xây dựng có đầy đủ giấy phép theo quy định của pháp luật.

Bà là, về sử dụng vốn, vật tư, thiết bị, lao động. Kiểm tra việc sử dụng các nguồn vốn trong xây dựng cơ bản để tránh những trường hợp sử dụng tùy tiện, trái quy định nguồn vốn đầu tư xây dựng. Cũng như kiểm tra nguồn lao động cũng như hiệu suất sử dụng lao động trong quá trình xây dựng công trình, đồng thời kiểm tra khối lượng và số lượng trang thiết bị, mức sử dụng vật tư so với quy định.

Đặc biệt, đối với doanh nghiệp thực hiện dự án thì trong giai đoạn quản lý thi công xây dựng công trình tập trung vào giám sát những vấn đề như:

Về chất lượng công trình: Đi sâu vào giám sát việc đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy phạm xây dựng công trình, việc cấp phối vật liệu đúng quy định ban hành tại các thời điểm thi công, thi công theo đúng kích thước được duyệt tại bản vẽ kỹ thuật thi công.

Về tiến độ thi công công trình: Tiến độ thi công phải phù hợp với tổng tiến độ của dự án đã được duyệt. Những trường hợp kéo dài thi công phải có lý do chính đáng và phải có chấp thuận của người quyết định đầu tư bằng văn bản; khuyến khích thúc đẩy nhanh tiến độ thi công nhưng phải đảm bảo chất lượng công trình.

Về quản lý khối lượng thi công xây dựng công trình: Thi công xây dựng phải theo khối lượng của thiết kế được duyệt hay khối lượng trúng thầu. Giám sát nghiệm thu khối lượng giữa chủ đầu tư và đơn vị thi công phải dựa trên nguyên tắc khối lượng thực tế có trên hiện trường. Trường hợp khối lượng thực tế vượt khối lượng trúng thầu hoặc khối lượng trong bản vẽ thiết kế được duyệt phải được phê duyệt của cấp có thẩm quyền.

1.4. Các hình thức quản lý thực hiện dự án Luận văn: Công tác quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

1.4.1. Chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án

Đây là mô hình QLDA mà chủ đầu tư hoặc tự thực hiện dự án (tự sản xuất, tự xây dựng, tự tổ chức giám sát và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật) hoặc chủ đầu tư lập ra ban QLDA để quản lý việc thực hiện các công việc dự án theo sự uỷ quyền. Mô hình này thường được áp dụng cho các dự án quy mô nhỏ , đơn giản về kỹ thuật và gần với chuyên môn của chủ dự án , đồng thời CĐT có đủ năng lực chuyên môn kỹ năng và kinh nghiệm QLDA.

Đối với mô hình này chủ đầu tư thành lập ban quản lý dự án để giúp chủ đầu tư làm đầu mối quản lý dự án. Ban quản lý dự án phải có năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ QLDA theo yêu cầu của chủ đầu tư. Ban QLDA có thể thuê tư vấn quản lý, giám sát một số phần việc mà Ban QLDA không có đủ điều kiện, năng lực để thực hiện nhưng phải được sự đồng ý của CĐT.

Đối với dự án có quy mô nhỏ, đơn giản có tổng mức đầu tư dưới 7 tỷ đồng thì chủ đầu tư có thể không lập Ban quản lý dự án mà sử dụng bộ máy chuyên môn của mình để quản lý, điều hành dự án hoặc thuê người có chuyên môn, kinh nghiệm để giúp quản lý thực hiện dự án.

Sơ đồ 1.2: Hình thức chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án

1.4.2. Chủ đầu tư thuê tổ chức tư vấn quản lý điều hành dự án

Trong trường hợp này, tổ chức tư vấn phải có đủ điều kiện năng lực tổ chức quản lý phù hợp với quy mô, tính chất của dự án. Trách nhiệm, quyền hạn của tư vấn quản lý dự án được thực hiện theo hợp đồng thoả thuận giữa hai bên. Tư vấn quản lý dự án được thuê là tổ chức, cá nhân tư vấn tham gia quản lý nhưng phải được chủ đầu tư chấp thuận và phù hợp với hợp đồng đã ký với chủ đầu tư. Khi áp dụng hình thức thuê tư vấn quản lý dự án, chủ đầu tư vẫn phải sử dụng các đơn vị chuyên môn thuộc bộ máy của mình hoặc chỉ định đầu mối để kiểm tra, theo dõi việc thực hiện hợp đồng của tư vấn QLDA.

Sơ đồ 1.3: Chủ đầu tư thuê tổ chức tư vấn quản lý điều hành dự án

  • Bên cạnh hai mô hình quản lý dự án nêu trên còn có một số mô hình quản lý khác như:

Mô hình chìa khoá trao tay: Mô hình này là hình thức tổ chức trong đó nhà quản lý không chỉ là đại diện toàn quyền của chủ đầu tư – chủ dự án mà còn là “chủ” của dự án. Hình thức chìa khoá trao tay được áp dụng khi chủ đầu tư được phép tổ chức đấu thầu để chọn nhà thầu thực hiện tổng thầu toàn bộ dự án từ khảo sát thiết kế, mua sắm vật tư, thiết bị, xây lắp cho đến khi bàn giao công trình đưa vào khai thác, sử dụng. Tổng thầu thực hiện dự án có thể giao thầu lại việc khảo sát, thiết kế hoặc một phần khối lượng công tác xây lắp cho các nhà thầu phụ. Luận văn: Công tác quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

Đối với các dự án sử dụng các nguồn vốn ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, khi áp dụng hình thức chìa khoá trao tay chỉ thực hiện đối với các dự án nhóm C, các trường hợp khác phải được Thủ tướng Chính phủ cho phép. Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức nghiệm thu và nhận bàn giao khi dự án hoàn thành đưa vào sử dụng.

  • Mô hình quản lý dự án đầu tư theo chúc năng: Mô hình quản lý này có đặc điểm:
  • Dự án đầu tư được đặt vào một phòng chức năng nào đó trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp (tuỳ thuộc vào tính chất của dự án)
  • Các thành viên quản lý dự án được điều động tạm thời từ các phòng chức năng khác nhau đến và họ vẫn thuộc quyền quản lý của phòng chức năng nhưng lại đảm nhận phần việc chuyên môn của mình trong quá trình quản lý điều hành dự án
  • Mô hình tự thực hiện dự án: Chủ đầu tư có đủ khả năng hoạt động sản xuất xây dựng phù hợp với yêu cầu của dự án thì được áp dụng hình thức tự thực hiện dự án. Hình thức tự thực hiện dự án chỉ áp dụng đối với các dự án sử dụng vốn hợp pháp của chính chủ đầu tư (vốn tự có, vốn vay, vốn huy động từ các nguồn khác). Khi thực hiện hình thức tự thực hiện dự án (tự sản xuất, tự xây dựng), chủ đầu tư phải tổ chức giám sát chặt chẽ việc sản xuất, xây dựng và chịu trách nhiệm trước pháp luật về chất lượng sản phẩm, chất lượng công trình xây dựng.
  • Mô hình quản lý dự án theo ma tr¾n: Mô hình này kết hợp giữa mô hình quản lý dự án theo chức năng và mô hình quản lý chuyên trách dự án. Từ sự kết hợp này hình thành hai loại ma trận: ma trận mạnh và ma trận yếu.

Những mô hình trên có những điểm mạnh và điểm yếu nhất định, do đó để lựa chọn được mô hình phù hợp cần lựa chọn trên những căn cứ rõ ràng.

1.4.3. Căn cứ để lựa chọn mô hình quản lý dự án

Để lựa chọn mô hình quản lý dự án cần dựa vào những nhân tố cơ bản như quy mô dự án, thời gian thực hiện, công nghệ sử dụng, độ bất định và rủi ro của dự án, địa điểm thực hiện dự án, nguồn lực và chi phí cho dự án, số lượng dự án thực hiện trong cùng thời kỳ và tầm quan trọng của nó. Ngoài ra cũng cần phân tích các tham số quan trọng khác là phương thức thống nhất các nỗ lực, cơ cấu quyền lực, mức độ ảnh hưởng và hệ thống thông tin.

1.5. Các chủ thể tham gia quản lý dự án đầu tư xây dựng

Quá trình quản lý đầu tư và xây dựng của một dự án có sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau. Có thể khái quát mô hình các chủ thể tham gia quản lý dự án đầu tư như sau:

Sơ đồ 1.4. Các chủ thể tham gia quản lý dự án

1.5.1. Thẩm quyền quyết định đầu tư xây dựng công trình Luận văn: Công tác quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

  • Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước:
  • Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư các dự án quan trọng quốc gia theo Nghị quyết của Quốc hội và các dự án quan trọng khác;
  • Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan cấp Bộ quyết định đầu tư các dự án nhóm A, B, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan cấp Bộ được uỷ quyền hoặc phân cấp quyết định đầu tư đối với các dự án nhóm B, C cho cơ quan cấp dưới trực tiếp;
  • Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp quyết định đầu tư các dự án nhóm A, B, C trong phạm vi và khả năng cân đối ngân sách của địa phương sau khi thông qua Hội đồng nhân dân cùng cấp. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện được uỷ quyền hoặc phân cấp quyết định đầu tư đối với các dự án nhóm B, C cho cơ quan cấp dưới trực tiếp;
  • Tùy theo điều kiện cụ thể của từng địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã được quyết định đầu tư các dự án có sử dụng nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách cấp trên.
  • Các dự án sử dụng vốn khác, vốn hỗn hợp chủ đầu tư tự quyết định đầu tư và chịu trách nhiệm.

Người có thẩm quyền quyết định đầu tư chỉ được quyết định đầu tư khi đã có kết quả thẩm định dự án. Riêng đối với các dự án sử dụng vốn tín dụng, tổ chức cho vay vốn thẩm định phương án tài chính và phương án trả nợ để chấp thuận cho vay hoặc không cho vay trước khi người có thẩm quyền quyết định đầu tư.

1.5.2. Chủ đầu tư

Tuỳ theo đặc điểm tính chất công trình, nguồn vốn mà chủ đầu tư được quy định cụ thể như sau:

Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước thì chủ đầu tư xây dựng công trình do người quyết định đầu tư quyết định trước khi lập dự án đầu tư xây dựng công trình phù hợp với quy định của Luật Ngân sách nhà nước cụ thể như sau: [4]

Đối với dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư thì chủ đầu tư là một trong các cơ quan, tổ chức sau: Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương (gọi chung là cơ quan cấp Bộ), Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và doanh nghiệp nhà nước.

Đối với dự án do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan cấp Bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp quyết định đầu tư thì chủ đầu tư là đơn vị quản lý, sử dụng công trình.

Trường hợp chưa xác định được đơn vị quản lý, sử dụng công trình hoặc đơn vị quản lý, sử dụng công trình không đủ điều kiện làm chủ đầu tư thì người quyết định đầu tư lựa chọn đơn vị có đủ điều kiện làm chủ đầu tư. Trong trường hợp đơn vị quản lý, sử dụng công trình không đủ điều kiện làm chủ đầu tư, người quyết định đầu tư giao nhiệm vụ cho đơn vị sẽ quản lý, sử dụng công trình có trách nhiệm cử người tham gia với chủ đầu tư để quản lý đầu tư xây dựng công trình và tiếp nhận, quản lý, sử dụng khi công trình hoàn thành.

  • Các dự án sử dụng vốn tín dụng thì người vay vốn là chủ đầu tư.
  • Các dự án sử dụng vốn khác thì chủ đầu tư là chủ sở hữu vốn hoặc là người đại diện theo quy định của pháp luật.
  • Đối với các dự án sử dụng vốn hỗn hợp thì chủ đầu tư do các thành viên góp vốn thoả thuận cử ra hoặc là người có tỷ lệ góp vốn cao nhất.

1.5.3. Doanh nghiệp xây dựng và tổ chức tư vấn đầu tư xây dựng. Luận văn: Công tác quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

Doanh nghiệp xây dựng: Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, có đăng ký kinh doanh về xây dựng. Doanh nghiệp xây dựng có mối quan hệ với rất nhiều đối tác khác nhau nhưng trực tiếp nhất là chủ đầu tư. Doanh nghiệp chịu sự kiểm tra giám sát thường xuyên về chất lượng công trình xây dựng của chủ đầu tư, tổ chức thiết kế, cơ quan giám định Nhà nước theo phân cấp quản lý.

Tổ chức tư vấn: Là tổ chức nghề nghiệp có tư cách pháp nhân, có đăng ký kinh doanh về tư vấn đầu tư và xây dựng theo quy định của pháp luật. Tổ chức tư vấn chịu sự kiểm tra thường xuyên của chủ đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước.

1.5.4. Mối quan hệ của chủ đầu tư đối với các cơ quan chủ thể liên quan

Chủ đầu tư dự án là chủ thể chịu trách nhiệm xuyên suốt trong quá trình hình thành và quản lý dự án đầu tư xây dựng, có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan tổ chức tham gia quản lý và chịu sự quản lý của nhiều Bộ, ngành, các cơ quan liên quan mà trực tiếp là người quyết định đầu tư.

Đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình nói chung thì mối quan hệ đối với các chủ thể liên quan được thể hiện cụ thể như sau:

Đối với cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng: Trong lĩnh vực đầu tư xây dựng có khá nhiều cơ quan quản lý nhà nước tham gia vào quá trình quản lý như Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Bộ Xây dựng; Bộ Tài chính và các Cơ quan quản lý chuyên ngành. Mỗi cơ quan sẽ có những chức năng và nhiệm vụ khác nhau. Như Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ quyết định Chủ đầu tư và quy định nhiệm vụ, quyền hạn và chỉ đạo Chủ đầu tư trong quá trình quản lý. Hay Bộ Xây dựng sẽ có chức năng và nhiệm vụ quản lý lĩnh vực liên quan đến chất lượng, quy trình xây dựng cơ bản, Bộ Tài chính sẽ quản lý vấn đề liên quan đến giá cả xây dựng, ngân sách….hoặc các bộ quản lý chuyên ngành sẽ quản lý vấn đề liên quan đến ngành, lĩnh vực do mình quản lý. Còn Chủ đầu tư có trách nhiệm báo cáo với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về hoạt động của mình;

Đối với tổ chức tư vấn đầu tư và xây dựng: Ngoài việc tuân thủ các quy định, quy chuẩn, tiêu chuẩn của chuyên ngành, lĩnh vực mà mình đang thực hiện, tư vấn còn có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ mà Chủ đầu tư giao thông qua hợp đồng; đồng thời đề xuất những ý kiến phù hợp, hiệu quả trong việc thực hiện hợp đồng với Chủ đầu tư.

Đối với doanh nghiệp xây dựng: Đây là mối quan hệ Chủ đầu tư trực tiếp điều hành quản lý, doanh nghiệp có nghĩa vụ thực hiện các nội dung trong hợp đồng đã ký kết với Chủ đầu tư.

1.6. Các tiêu chí đánh giá công tác quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi

Tùy vào từng công trình xây dựng cơ bản cụ thể mà có những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả dự án cũng như chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý dự án khác nhau; Đối với dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi, ngoài tiêu chí then chốt là đáp ứng tiến độ theo kế hoạch thì cần phải đảm bảo các tiêu chí cơ bản như sau:

1.6.1. Tiêu chí về hiệu quả kinh tế Luận văn: Công tác quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

  • Đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thành phố Hải Phòng trong từng thời kỳ;
  • Tạo thành hệ thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, hiện đại, phù hợp với sự phát triển KT-XH;
  • Có hiệu quả kinh tế, huy động được nhiều nguồn vốn từ các thành phần kinh tế khác nhau.

1.6.2. Tiêu chí về mặt xã hội

  • Phát triển công trình kết cấu hạ tầng đi đôi với công bằng xã hội, giảm đói nghèo, nâng cao mức sống cho người dân;
  • Sử dụng hợp lý tài nguyên, quỹ đất cho phát triển cơ sở hạ tầng;
  • Tái định cư giải phóng mặt bằng hợp lý nhằm hạn chế thấp nhất sự ảnh hưởng tiêu cực đến cư dân có đất bị thu hồi.

1.6.3. Tiêu chí về môi trường

  • Hạn chế tác động môi trường: không khí, nước, tiếng ồn;
  • Bảo vệ môi trường sinh thái, cảnh

1.6.4. Tiêu chí khác

  • Đảm bảo chất lượng công trình xây dựng;
  • Quản lý khai thác của các doanh nghiệp tham gia đầu tư – quản lý – khai thác hệ thống công trình kết cấu hạ tầng.

KẾT LUẬN

Trong chương 1 đã đưa ra các cơ sở lý luận về Dự án đầu tư và quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình. Trong đó nêu các khái niệm về Dự án đầu tư xây dựng công trình, vai trò của Dự án đầu tư trong nền kinh tế đất nước, trình tự các bước tiến hành thực hiện một dự án đầu tư xây dựng từ các giai đoạn chuẩn bị đầu tư, giai đoạn thực hiện đầu tư đến giai đoạn kết thúc đầu tư đưa công trình vào khai thác sử dụng. Nêu rõ vai trò, nhiệm vụ của Chủ đầu tư trong công tác quản lý thực hiện dự án với hai hình thức Chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án và Chủ đầu tư thuê tổ chức tư vấn quản lý điều hành dự án. Luật xây dựng số 16/2012/QH11 đã chỉ rõ Người quyết định đầu tư có thẩm quyền quyết định hình thức quản lý dự án trong dự án đầu tư xây dựng. Cuối Chương 1 đã đưa ra các tiêu chí (về tiến độ thực hiện, về hiệu quả kinh tế, về mặt xã hội, về môi trường, về chất lượng công trình) để làm cơ sở đánh giá thực trạng công tác quản lý dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi sẽ được trình bày cụ thể tại Chương 2. Luận văn: Công tác quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Công tác quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993