Luận văn: Thực trạng quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Đánh giá thực trạng công tác Quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Giới thiệu chung về Công ty TNHH MTV Thương mại Đầu tư Phát triển Đô thị và Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi

2.1.1. Giới thiệu chung về Công ty TNHH MTV Thương mại Đầu tư Phát triển Đô thị

Tên đơn vị: Công ty TNHH một thành viên Thương mại Đầu tư Phát triển Đô thị.

  • Địa chỉ trụ sở chính: Số 52 Điện Biên Phủ, Minh Khai, Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
  • Điện thoại: 031.3842155; Fax: 031.3747228.
  • Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh: Số 0201001661 do Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp đổi lần thứ 5 ngày 27/3/2023.

Ngành nghề kinh doanh: Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản các dự án về phát triển hạ tầng đô thị; Kinh doanh hàng công nghệ phẩm, nông sản thực phẩm, thực phẩm công nghệ, ăn uống và dịch vụ thương nghiệp; Tư vấn đầu tư; Xây dựng dân dụng, công nghiệp, giao thông, cơ sở hạ tầng kỹ thuật; Kinh doanh bất động sản, vật liệu xây dựng, thiết bị văn phòng, nguyên liệu phục vụ sản xuất công nghiệp. Kinh doanh siêu thị, trung tâm thương mại. Xuất nhập khẩu, mua bản, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và các loại có động cơ khác. Kinh doanh xăng dầu, gas và các sản phẩm liên quan; Vật liệu xây dựng, các trang thiết bị sinh hoạt, trang trí nội thất. Dịch vụ: Quảng cáo trong phạm vi toàn quốc; quảng cáo Panô ngoài trời; cho thuê văn phòng, nhà ở, hội trường, hội thảo quốc tế, nhà hàng, khách sạn, giải khát, ăn uống, quán Bar.

  • Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Luận văn: Thực trạng quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

Ngày 22/12/1995, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quyết định số 608/TTg về phát triển thành phố Hải Phòng theo quy hoạch tổng thể đến năm 2019. Theo đó thành phố phải xây dựng thêm 1 triệu m2 nhà ở mới vào năm 2009 và 3,54 triệu m2 vào năm 2019 trên cơ sở xây dựng các khu dân cư mới hiện đại với các điều kiện về cơ sở hạ tầng đồng bộ.

Ngày 17/12/1997, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 1100/TTg về việc phê duyệt Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi, thành phố Hải Phòng và giao cho Công ty Thương mại Đầu tư Phát triển Đô thị làm chủ đầu tư. Hình thức tổ chức quản lý thực hiện dự án là Chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện Dự án.

Theo lộ trình đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp, ngày 28/6/2019, doanh nghiệp được thay đổi mô hình quản lý doanh nghiệp sang Công ty TNHH và được đổi tên thành Công ty TNHH MTV Thương mại Đầu tư Phát triển Đô thị (Quyết định số 997/QĐ-UBND ngày 28/6/2019 của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng). Nhiệm vụ của Công ty là kinh doanh bất động sản, xây dựng và quản lý các Dự án đầu tư phát triển đô thị mới trên địa bàn thành phố Hải Phòng.

  • Cơ cấu tổ chúc của doanh nghiệp

Công ty TNHH MTV Thương mại Đầu tư Phát triển Đô thị hoạt động, quản lý, sản xuất kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, Điều lệ Công ty và các văn bản pháp lý hiện hành. Tổ chức quản lý theo mô hình Chủ tịch Công ty, Tổng Giám đốc và Kiểm soát viên chuyên trách.

Công ty TNHH MTV Thương mại Đầu tư Phát triển Đô thị là chủ đầu tư các dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao, trong đó có Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi, thành phố Hải Phòng được tổ chức thực hiện với hình thức chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án, cụ thể Chủ đầu tư sử dụng bộ máy chuyên môn của mình để quản lý, điều hành dự án và tự thực hiện các gói thầu xây lắp có vốn ngoài ngân sách của dự án với sơ đồ tổ chức như sau:

Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của công ty TNHH MTV Thương mại Đầu tư Phát triển Đô thị

Bộ phận giúp việc ở các phòng ban chức năng và các chi nhánh, cửa hàng trực thuộc Công ty; cụ thể như sau:

  • Phòng Tổ chức hành chính:
  • Phòng Kế toán tài vụ:
  • Phòng Kế hoạch dự án:
  • Phòng Kỹ thuật thi công:
  • Phòng Bồi thường giải phóng mặt bằng 1:
  • Phòng Bồi thường giải phóng mặt bằng 2:
  • Ban điều hành Trung tâm Thương mại Cát Bi Plaza
  • Cửa hàng kinh doanh dịch vụ.
  • Cửa hàng số 2
  • Đội thi công xây lắp số 1
  • Đội thi công xây lắp số 2
  • Đội thi công xây lắp số 3
  • Đội thi công xây lắp số 4
  • Đội thi công xây lắp số 5
  • Đội thi công phá dỡ
  • Đội thi công xây lắp đường 100m
  • Phân cấp quản lý điều hành thực hiện Dự án

Ban Giám đốc Công ty: Chịu sự điều hành trực tiếp của Chủ tịch Công ty về các chức năng, nhiệm vụ được quy định tại Điều lệ Công ty dưới sự kiểm tra giám sát của Kiểm soát viên. Luận văn: Thực trạng quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

Các phòng ban nghiệp vụ: Chịu sự điều hành trực tiếp của Tổng Giám đốc Công ty và các Phó Tổng giám đốc phụ trách.

Các Chi nhánh, cửa hàng, Trung tâm thương mại: Chịu sự điều hành trực tiếp của Tổng Giám đốc Công ty; Phó Tổng giám đốc phụ trách tài chính.

Phòng Kế toán Tài vụ kiểm tra, giám sát phương án đầu tư kinh doanh thương mại, công tác quản lý tài chính, chế độ kế toán thống kê và các nhiệm vụ quản lý khác theo quy định.

Các đội thi công: Chịu sự điều hành trực tiếp của Tổng Giám đốc Công ty; Phó Tổng giám đốc phụ trách Kỹ thuật – Dự án. Phòng Kỹ thuật Thi công kiểm tra, giám sát công tác đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý chất lượng công trình xây dựng và các nhiệm vụ quản lý khác theo quy định.

  • Nhiệm vụ có thể của các bộ phận trong công tác quản lý dự án:
  • Phòng Kế hoạch dự án:

Tổ chức thực hiện từ bước lập dự án đầu tư, thiết kế cơ sở, thỏa thuận phương án kiến trúc sơ bộ, quy hoạch tổng mặt bằng, chứng nhận đầu tư, thực hiện các thủ tục về giao đất, cấp đất.

Kiểm tra các bước thiết kế, dự toán công trình xây dựng sau khi dự án được cấp có thẩm quyền thẩm định và phê duyệt.

Lập các kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời đấu thầu và kết quả đấu thầu trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Chuẩn bị hồ sơ tài liệu, phối hợp với Phòng Kế toán tài vụ bố trí kế hoạch vốn để Chủ đầu tư ký kết hợp đồng với các nhà thầu và đơn vị tư vấn.

Phối hợp với Phòng Kế toán tài vụ thực hiện thanh quyết toán với các đơn vị tư vấn thiết kế và gói thầu liên quan đến công tác chuẩn bị đầu tư theo tiến độ hợp đồng hoặc theo Biên bản nghiệm thu.

  • Phòng Kỹ thuật thi công:

Thực hiện công tác chọn lựa nhà thầu tư vấn giám sát thi công theo kế hoạch đấu thầu đã được phê duyệt.

Tham gia các công tác Quản lý chất lượng, khối lượng, tiến độ, chi phí xây dựng, an toàn và vệ sinh môi trường của các hạng mục công trình xây dựng trong dự án. Luận văn: Thực trạng quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

Tham gia việc nghiệm thu, bàn giao công trình hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng.

Phối hợp với Phòng Kế toán tài vụ thực hiện thanh quyết toán với các Nhà thầu thi công, Tư vấn giám sát, các đội thi công xây lắp của Công ty theo tiến độ hợp đồng hoặc theo Biên bản nghiệm thu.

  • Phòng Kế toán tài vụ:

Tham mưu, lập kế hoạch và đề xuất phương án sử dụng tiền vốn, vật tư, tài sản theo chế độ chính sách, nội quy quy chế quản lý tài chính, luân chuyển chứng từ.

Phối hợp với các Phòng Kế hoạch Dự án, Kỹ thuật thi công, Bồi thường Giải phóng mặt bằng 1, 2 thanh quyết toán chi phí đầu tư xây dựng, chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng, chi phí quản lý dự án.

Thu tiền đất nộp tái định cư, tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất các thửa đất kinh doanh trong dự án theo hợp đồng để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trong Dự án.

  • Phòng Tổ chức hành chính:

Tham mưu giúp việc cho Tổng giám đốc về công tác tổ chức, nhân sự; lao động tiền lương; văn thư lưu trữ; nội quy, kỷ luật lao động; quản lý trang thiết bị, công cụ dụng cụ, tài sản, văn phòng phẩm; lễ tân, khánh tiết, đối ngoại…

Bộ phận kinh doanh: Tiếp thị thu hút khách hàng có nhu cầu sử dụng đất trong dự án, thu hút vốn đầu tư từ các chủ đầu tư thứ phát

  • Phòng Bồi thường giải phóng mặt bằng 1, 2:

Phối kết hợp với các cơ quan quản lý nhà nước; Hội đồng bồi thường, trung tâm phát triển quỹ đất các quận Ngô Quyền, Hải An về kiểm kê, lập phương án, xác định giá trị bồi thường, thu hồi đất thực hiện dự án, bố trí giao đất tái định cư cho các hộ dân.

Phối hợp cùng Phòng Kế toán tài vụ chi trả các khoản bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho các hộ dân có đất bị thu hồi đất.

  • Các đội thi công xây lắp số 1, 2, 3, 4, 5, Đội thi công phá dỡ, Đội thi công xây lắp đường 100m:

Chịu trách nhiệm triển khai thi công các hạng mục công trình xây dựng hạ tầng kỹ thuật trong dự án đối với các gói thầu có vốn ngoài ngân sách do chủ đầu tư tự thực hiện đảm bảo đúng tiến độ, chất lượng và vệ sinh môi trường.

Lập hồ sơ nghiệm thu, hồ sơ thanh quyết toán các gói thầu xây dựng hạ tầng kỹ thuật hoàn thành chuyển Phòng kỹ thuật thi công thẩm tra, trình duyệt. Luận văn: Thực trạng quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

  • Cơ cấu lao động tại doanh nghiệp

Trong giai đoạn từ năm 2020 đến nay, tổng số lao động của doanh nghiệp từ 49 người năm 2020 đã tăng lên 80 người vào năm 2024, tăng 163%. Trong tổng số lao động hiện có tại công ty có khoảng 15% là lao động quản lý, 45% là lao động chuyên môn nghiệp vụ và 30% là lao động thừa hành phục vụ.

Về trình độ chuyên môn thì trên 50% lao động có trình độ đại học và trên đại học còn lại là trình độ từ sơ cấp đến cao đẳng. Lao động sơ cấp, chưa qua đào tạo chủ yếu là lực lượng bảo vệ an ninh tòa nhà trung tâm thương mại Cát Bi Plaza.

Có thể thấy được cơ cấu lao động của công ty qua bảng số liệu sau:

Bảng 2.1. Cơ cấu lao động của công ty trong giai đoạn 2020 -2024

  • Tài sản, nguồn vốn, cơ sở v¾t chất và kết quả hoạt đ ng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
  • Tài sản, nguồn vốn:

Hiện nay, tổng tài sản và nguồn vốn của công ty được thể hiện cụ thể qua bảng số liệu 2.3. Căn cứ vào số liệu cho thấy trong giai đoạn 2020- 2024 tình hình kinh doanh của công ty có sự phát triển khả quan khi mà tài sản dài hạn và nguồn vốn chủ sở hữu của công ty liên tục phát triển năm sau cao hơn năm trước.

  • Bảng 2.2. Tổng hợp tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp giai đoạn 2020-2024
  • Bảng 2.3. Bảng theo dõi tài sản cố định đến 31/12/2024
  • Bảng 2.4. Các thửa đất công ty đang quản lý sử dụng

Trong giai đoạn 2020-2024, cùng với sự nỗ lực của toàn thể cán bộ, nhân viên, Công ty TNHH MTV Thương mại Đầu tư Phát triển Đô thị đã đạt được những kết quả hoạt động quan trọng, góp phần thúc đẩy sự phát triển KT-XH trên địa bàn thành phố.

  • Bảng 2.5. Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty

Hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH MTV Thương mại Đầu tư Phát triển Đô thị trong giai đoạn 2020-2024 có khá nhiều biến động, được chia thành 2 giai đoạn rõ rệt. Về doanh thu thuần từ năm 2020 đến 2024 có sự tăng lên rõ rệt những lợi nhuận sau thuế lại bị giảm đi, điều này cho thấy trong thời gian này, công tác quản lý kinh doanh của công ty còn tồn tại nhiều vướng mắc dẫn đến kém hiệu quả. Đến năm tiếp theo tuy doanh thu thuần có giảm đi nhưng lợi nhuận sau thuế vẫn giữa được mức cân bằng so với năm trước đó, điều này cho thầy công ty đã có những đánh giá và định hướng lại hoạt động kinh doanh và bước đầu đạt được kết quả nhất định. Từ năm 2023- 2024 thì cả hai chỉ số doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế của công ty có sự phát triển mạnh và kế hoạch năm 2025 cũng tiếp tục tăng. Điều này chứng tỏ hướng kinh doanh của công ty đã đúng và đang phát huy hiệu quả.

  • Các dự án xây dựng công trình do Công ty TNHH MTV Thương mại Đầu tư Phát triển Đô thị làm chủ đầu tư

Tính đến thời điểm năm 2025, Công ty TNHH MTV Thương mại Đầu tư Phát triển Đô thị đang làm chủ đầu tư của 6 dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại các địa phương trên địa bàn thành phố Hải Phòng.

Bảng 2.6. Tổng hợp các Dự án công ty đang đầu tư

2.1.2. Tổng quan về Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi, thành phố Hải Phòng Luận văn: Thực trạng quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

  • Quy mô của dự án:

Theo Quyết định 1100/QĐ-TTg ngày 17/12/1997 Chủ đầu tư được Thủ tướng Chính phủ giao 304,97 ha đất tại các phường Gia viên, Lạc Viên, Đông Khê, Vạn Mỹ, Đằng Giang, Cầu Tre thuộc quận Ngô Quyền và các phường Đằng Hải, Đằng Lâm quận Hải An, thành phố Hải phòng để xây dựng mới hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi. Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi nằm ở phía Đông – Đông Nam thành phố Hải Phòng và nằm trong khu trung tâm đô thị mới Hải Phòng, dự án có điểm đầu từ Nút giao thông Ngã 5 – Lạc Viên và điểm cuối cùng là Nhà ga sân bay Cát Bi.

  • Tổng mức đầu tư của toàn dự án: 881 tỷ đồng. Trong đó:

Ngân sách nhà nước cấp: 785 tỷ đồng đầu tư xây dựng đồng bộ hạ tầng kỹ thuật và chi phí đền bù tuyến đường trục 64m kéo dài từ Nút giao thông Ngã 5 – Lạc Viên tới Nhà ga sân bay Cát Bi và các khu tái định cư lô 9, lô 26, lô 22. Xây dựng Nút giao vành khuyên Ngã 6 ( mới).

Nguồn vốn khác: 1.096 tỷ đồng huy động từ các nguồn vốn góp của các chủ đầu tư thứ phát đóng góp xây dựng hạ tầng sau này sẽ được chuyển giao đất để đầu tư xây dựng mạng lưới hạ tầng kỹ thuật tuyến đường nhánh, đường nội bộ tại các lô đất kinh doanh hai bên tuyến đường trục 64m.

  • Thời gian thực hiện dự án: từ năm 1998 đến năm
  • Mục tiêu của dự án:

Chuẩn bị nền, phát triển mạng lưới hạ tầng kỹ thuật của khu đô thị mới (đường giao thông, cấp điện, cấp thoát nước, hệ thống thông tin liên lạc…), hiện đại, đáp ứng yêu cầu về nhà ở, nhà làm việc, các công trình công cộng… để phục vụ yêu cầu phát triển KT-XH của thành phố trên cơ sở đề án quy hoạch tổng thể đã được Chính phủ phê duyệt; Thoả mãn yêu cầu về giao thông đối nội và đối ngoại của khu vực gắn kết giữa sân bay với trung tâm, giữa các khu công nghiệp với khu vực cảng, giữa quốc lộ 5 với khu vực dự án và các khu vực khác của thành phố.

Cung cấp hạ tầng đầy đủ trên 1,3 triệu m2 đất để xây dựng 1,02 triệu m2 nhà ở cho thành phố, góp phần mang lại nhà ở cho trên 17.000 hộ dân. Luận văn: Thực trạng quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

Biến khu vực đồng ruộng với năng suất thấp, dân cư thưa thớt thành một khu đô thị hiện đại hạ tầng đầy đủ góp phần mở rộng diện tích thành phố về phía Đông – Đông Nam, tạo ra một khu đô thị mới là nơi tiềm năng để thực hiện chính sách dãn dân của Thành phố Hải Phòng.

Góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, thu hút đầu tư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang dịch vụ.

Quy hoạch sử dụng đất: Theo Quyết định số 1285/QĐ-UBND ngày 27/7/1998 của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng; quy hoạch chi tiết sử dụng đất của dự án như sau:

  • Bảng 2.7. Quy hoạch sử dụng đất Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi
  • Hình 2.1. Biểu đồ quy hoạch sử dụng đất Dự án Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi

Dự án Khu đô thị mới Ngã 5- sân bay Cát Bi đã được phê duyệt quy hoạch sử dụng 7 loại đất khác nhau. Trong đó đất xây dựng hạ tầng giao thông chiếm diện tích lớn nhất với 44%, đất ở đô thị chiếm 34%, tiếp đó là các loại đất trồng cây xanh, mương nước; đất chuyên dùng; đất xây dựng các công trình công cộng; đất chỉnh trang đô thị và đất dành cho các công trình tôn giáo lần lượt chiếm từ 1% đến 8%.

Các đặc điểm chính của cơ cấu quy hoạch đã hoạch định:

  • Hệ thống giao thông tổ chức hợp lý và thuận tiện, các tuyến vuông góc với trục chính hạn chế điểm giao cắt.
  • Mật độ xây dựng các loại hình công trình, các chức năng công trình được bố trí trên tuyến, xen kẽ nhau để tạo sự phong phú cho đường phố, yếu tố công viên và cây xanh được cân nhắc kỹ tham gia vào trục chính làm cho đô thị mới có nét riêng.
  • Hệ thống giao thông ô cờ chia lô dễ dàng thuận lợi cho việc đi lại.
  • Hệ thống tiện ích công cộng phù hợp cho sự phục vụ công đồng dân cư mà không bị giao cắt hệ thống dịch vụ trung tâm và các đường giao thông.
  • Tình hình thực hiện dự án Luận văn: Thực trạng quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

Tính tới thời điểm hiện nay, dự án Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi đã hoàn thiện toàn bộ 5,2 km tuyến đường trục chính rộng 64 m kết nối từ Ngã 5 (cũ) đến Sân bay Cát Bi và các khu tái định cư lô 9, lô 26, lô 22 đúng theo tiến độ duyệt. Riêng nút giao vành khuyên Ngã 6 (mới) đang thi công dở dang chưa hoàn thành do vướng đền bù giải phóng mặt bằng.

Các lô, thửa đất phát triển đô thị hoàn thành khoảng 75% khối lượng. Hầu hết là chưa hoàn thành dứt điểm lô nào; Mạng lưới các tuyến đường nhánh, đường nội bộ các lô có chiều rộng từ 15 – 40 m được thực hiện khoảng 70% khối lượng công việc và cũng chưa hoàn thành dứt điểm, chưa kết nối được toàn bộ các tuyến đường với nhau, các lô với nhau trong khu đô thị. Số liệu cụ thể được thể hiện ở bảng dưới đây:

  • Bảng 2.8. Báo cáo tình hình thực hiện Dự án Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi đến 31/12/2024

Như vậy Dự án bắt đầu được triển khai từ cuối năm 1998 cho đến nay đã vượt tiến độ cho phép 7 năm nhưng vẫn chưa kết thúc. Trong đó 05 hạng mục đã hoàn thành đúng theo tiến độ ( tuyến đường 64m, lô 9, lô 22, lô 26, lô 12) được bàn giao đưa vào khai thác sử dụng đạt chất lượng tốt; 24 hạng mục thực hiện dở dang vượt quá tiến độ cho phép được tạm thời kết nối hệ thống hạ tầng kỹ thuật đưa vào khai thác kinh doanh để thu hút vốn đầu tư của các chủ đầu tư thứ phát có nhu cầu sử dụng đất trong dự án; 03 hạng mục ( lô 4& 5, lô 23, lô 24&25) mới dừng ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư chưa tiến hành công tác bồi thường giải phóng mặt bằng để triển khai xây dựng.

Vốn đầu tư cho dự án Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi từ khi khởi công cho tới ngày 31 tháng 12 năm 2024 được thể hiện cụ thể như sau:

  • Bảng 2.9. Tình hình sử dụng vốn đầu tư Dự án Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi từ khởi công đến 31/12/2024

2.2. Đánh giá thực trạng công tác quản lý Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi ở Công ty TNHH MTV Thương mại Đầu tư Phát triển Đô thị

2.2.1. Giai đoạn chuẩn bị đầu tư

Trong những năm qua công tác chuẩn bị đầu tư đối với các dự án ĐTXD công trình, trong đó có dự án Khu đô thị Ngã 5 – Sân bay Cát Bi đã được thành phố Hải Phòng và công ty thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Để đảm bảo quá trình chuẩn bị đầu tư đạt hiệu quả cao, chính quyền Thành phố đã quan tâm chỉ đạo việc xác định chủ trương đầu tư, đảm bảo dự án được duyệt phù hợp trong qui hoạch, cân đối chung về kế hoạch đầu tư phát triển KT-XH của địa phương trong từng thời kỳ, đảm bảo sử dụng hiệu quả các nguồn lực của nhà nước, phát huy các nguồn lực đầu tư xã hội, của doanh nghiệp tuân thủ theo quy định của pháp luật về ĐTXD và pháp luật liên quan, bảo đảm an ninh, an toàn, trật tự xã hội và bảo vệ môi trường. Luận văn: Thực trạng quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

Trên cơ sở kế hoạch đầu tư hàng năm của thành phố và các thủ tục đầu tư theo qui định của Nhà nước, chủ đầu tư đã triển khai thực hiện dự án, tiến độ hoàn thành thủ tục triển khai dự án chuẩn bị đầu tư được tập trung chỉ đạo, đôn đốc thường xuyên. Việc triển khai công tác chuẩn bị đầu tư có những chuyển biến bước đầu nhưng so với yêu cầu vẫn còn một số nội dung cần được hoàn thiện tiếp: Công tác quy hoạch cần được chủ động đi trước một bước và đồng bộ; khắc phục tình trạng ghi kế hoạch chuẩn bị đầu tư phân tán, coi trọng công tác chuẩn bị đầu tư ở nhiều lĩnh vực; năng lực chủ đầu tư cần được nâng cao.

Tuy nhiên, thông qua việc thực hiện quản lý dự án đầu tư hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới Ngã 5- sân bay Cát Bi mặc dù công tác chuẩn bị đầu tư đã có sự chuyển biến những vấn tồn tại một số bất cập như:

Chất lượng công tác quy hoạch chưa cao, chưa đủ căn cứ khoa học để làm cơ sở cho kế hoạch đầu tư phát triển; do đó phải điều chỉnh quy hoạch nhiều lần, gây lãng phí cả thời gian và tiền của. Các quy hoạch thiếu gắn kết với nhau và không căn cứ vào nhu cầu thị trường gây khó khăn trong quá trình thực hiện dự án của doanh nghiệp. Một số quy hoạch chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu, thiếu đồng bộ. Một số quy hoạch ngành, lĩnh vực chậm được bổ sung, điều chỉnh như: quy hoạch cấp nước, thoát nước,… dẫn đến việc triển khai các dự án đầu tư cụ thể gặp nhiều khó khăn và thiếu thống nhất. Quy hoạch thường chạy theo dự án do đó việc thực hiện chuẩn bị đầu tư gặp rất nhiều khó khăn, mất thời gian xin thoả thuận về định hướng, quy hoạch hay hướng tuyến…

  • Bảng 2.10. Bảng thống kê các quyết định điều chỉnh quy hoạch Dự án

Việc xây dựng nhiệm vụ và thực hiện chuẩn bị đầu tư còn dàn trải.

Chất lượng của công tác chuẩn bị đầu tư chưa cao, vẫn xẩy ra hiện tượng phải điều chỉnh tổng mức đầu tư, phải bổ sung, điều chỉnh hạng mục công trình.

  • Bảng 2.11. Một số hạng mục phải điều chỉnh bổ sung

Như vậy, nhìn vào bảng số liệu trên cho thấy dự án này có khá nhiều hạng mục công trình có điều chỉnh mức vốn đầu tư. Trong đó đáng lưu ý có một số hạng mục như Hạ tầng kỹ thuật lố sô 11 có mức điều chỉnh vốn đầu tư lên tới 306%, tiếp đó là hạng mục Hạ tầng kỹ thuật lố sô 13, lô số 7 có tổng mức vốn điều chỉnh là trên 268 và 262%, còn lại là điều chỉnh ở mức từ 100-trên 200% so với mức vốn ban đầu. Việc điều chỉnh mức vốn đầu tư này do đây là dự án đầu tư hạ tầng kỹ thuật được thực hiện trong thời gian khá dài nên có sự biến động rất lớn về chế độ chính sách, giá cả nguyên vật liệu, nhân công, thiết bị, giá đất bồi thường và các khoản hỗ trợ…

2.2.2. Giai đoạn thực hiện đầu tư Luận văn: Thực trạng quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

  • Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng

Đây là công tác tiên quyết, chiếm giữ vị trí quan trọng quyết định rất lớn đến tiến độ thực hiện dự án, có mặt bằng được giải phóng mới có thể triển khai thực hiện được các công tác trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư tiếp theo. Trong thời gian qua trên địa bàn thành phố Hải Phòng đã có bước chuyển biến khá lớn về công tác này. Thành phố đã ban hành quy định chi tiết một số điều về bồi thường hỗ trợ, tái định cư và đơn giá bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố. Bên cạnh đó, Thành phố Hải Phòng đã thành lập Ban GPMB và phát triển quỹ đất, chủ động phân cấp cho các quận, huyện trong việc xử lý, giải quyết các phương án đền bù, tích cực xây dựng kế hoạch GPMB, xây dựng quỹ đất có hạ tầng, lập quỹ nhà phục vụ tái định cư…. Đối với công tác này, Hải Phòng luôn xác định đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công tác quản lý đất đai và quản lý ĐTXD trên địa bàn. Chính bởi những chuyển biến tích cực trong công tác GPMB nói chung mà việc GPMB cho dự án Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi mặc dù còn chậm so với kế hoạch song cũng đã triển khai thực hiện đạt hiệu quả góp phần thúc đẩy tiến độ cho toàn dự án.

Khi tiến hành dự án, dưới sự chỉ đạo của UBND thành phố, Hội đồng bồi thường quận Ngô Quyền, quận Hải An đã tổ chức thông báo công khai quy hoạch chi tiết dự án trên hệ thống báo, đài và tại trụ sở UBND các phường nơi triển khai dự án. Bên cạnh đó, còn thành lập tổ công tác kiểm đếm, tổ công tác dân vận xuống tận nhà dân để tuyên truyền, vận động nhân dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của dự án đối với sự phát triển của địa phương; cơ chế, chính sách hỗ trợ, bồi thường GPMB. Quá trình kiểm đếm được giám sát chặt chẽ, chi tiết; bản dự thảo áp giá đền bù được thực hiện công khai, gửi xuống từng hộ để các hộ xem và ký xác nhận. Cùng với đó, Hội đồng bồi thường tập trung tháo gỡ những vướng mắc, tồn tại theo đề nghị của các địa phương. Qua đó, kịp thời phát hiện những bất hợp lý, những vấn đề mới phát sinh trong công tác GPMB để đề xuất với thành phố hướng xử lý. Tuy nhiên, do một số cơ chế, chính sách trong việc triển khai GPMB thiếu đồng bộ, chưa nhất quán, giá bồi thường chưa phù hợp với giá trị thị trường, chế độ tái định cư còn cứng nhắc…nên trong quá trình GPMB còn gặp rất nhiều khó khăn ảnh hưởng tới tiến độ dự án.

Tình hình bồi thường giải phóng mặt bằng trong quá trình thực hiện dự án Khu đô thị mới Ngã 5- Sân bay Cát Bi, Thành phố Hải Phòng như sau: Luận văn: Thực trạng quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

  • Bảng 2.12. Tình hình bồi thường, GPMB giai đoạn 2020 – 2024
  • Hình 2.3. Biểu đồ số tiền bồi thường được duyệt qua các năm

Từ số liệu trên cho thấy, từ năm 2022 trở về sau, chỉ trên dưới 50% các hộ dân chấp thuận phương án bồi thường của cơ quan có thẩm quyền theo đó đồng ý nhận tiền bồi thường; số còn lại không chấp hành nhận tiền đồng thời có nhiều kiến nghị, khiếu nại, đòi hỏi với nhiều lý do; về cơ bản có 2 lý do chính là mức giá bồi thường và chế độ tái định cư. Số liệu kinh phí bồi thường được duyệt mỗi năm không cân đối, cả năm 2020 thì chỉ có 29,4 tỷ đồng, trong khi đó năm 2022 lên tới trên 200 tỷ đồng; điều đó chứng tỏ rằng khi Hội đồng bồi thường thực sự vào cuộc thì hiệu quả trong công tác bồi thường sẽ được cải thiện rõ rệt.

  • Công tác lập kế hoạch đấu thầu và tổ chúc đấu thầu:

Thông qua tình hình triển khai thực hiện kế hoạch đấu thầu và hoạt động thực tế của các cuộc đấu thầu thực hiện dự khu đô thị mới Ngã 5 – sân bay Cát Bi trong thời gian qua có thể rút ra một số nhận xét:

Công tác xây dựng hồ sơ mời thầu, kế hoạch đấu thầu và phê duyệt kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời thầu được các cơ quan chức năng như Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Xây dựng, Sở Giao thông vận tải, các cơ quan chuyên ngành hướng dẫn triển khai cũng như quy trình quản lý nên công tác đấu thầu đã được cụ thể hoá, tạo thuận lợi cho công tác tổ chức đấu thầu phát huy hiệu quả ở mức độ nhất định.

Quá trình thẩm định, phê duyệt các gói thầu đã được thực hiện một cách khoa học giúp giảm chi phí thực hiện dự án.

  • Tuy nhiên, đây vẫn là công tác còn tồn tại khá nhiều vấn đề:

Quá trình chuẩn bị đấu thầu thường kéo dài; hồ sơ mời thầu không rõ ràng, có nhiều lỗi, các tiêu chí thường mâu thuẫn lẫn nhau, khó hiểu gây nhầm lẫn trong quá trình lập hồ sơ dự thầu, cũng như trong quá trình xét thầu.

Hội đồng xét thầu yếu chuyên môn lẫn kinh nghiệm, làm chất lượng bị hạn chế, đánh giá sai các nhà thầu tham gia.

Do Luật Đấu thầu cũng như Nghị định hướng dẫn của chính phủ chưa có quy định giá “sàn” nên có nhiều nhà thầu khi tham gia đấu thầu bỏ giá quá thấp nên khi thi công chất lượng công trình không đảm bảo.

Thời gian xét thầu, thẩm định, phê duyệt kết quả đấu thầu đôi lúc vượt thời gian theo quy định của luật Đấu thầu và Nghị định hướng dẫn, làm cho các nhà thầu thiệt hại không nhỏ do phải trả một khoản chi phí trong thời gian làm bảo lãnh thầu và kéo dài tiến độ thực hiện dự án. Luận văn: Thực trạng quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

Đội ngũ những người làm công tác tư vấn đấu thầu trên địa bàn không những ít về số lượng, năng lực kinh nghiệm còn hạn chế mà tinh thần trách nhiệm còn thấp, chưa phát huy được vai trò của tư vấn, như: chất lượng các sản phẩm tư vấn đấu thầu luôn phải chỉnh sửa nhiều lần, làm kéo dài thời gian thẩm định.

Chủ đầu tư, Ban QLDA và bên mời thầu còn hạn chế về trình độ chuyên môn, đùn đẩy trách nhiệm cho tư vấn và cơ quan thẩm định, thiếu tính chuyên nghiệp trong quản lý thực hiện hợp đồng, như: không kiểm tra, rà soát kỹ chất lượng của sản phẩm tư vấn trước khi trình duyệt; không thể hiện và bảo vệ quan điểm khi đánh giá xét thầu; quản lý hợp đồng còn tuỳ tiện và dễ dãi.

Công tác thẩm định các nội dung trong đấu thầu: Chưa đánh giá hết các sai sót của các hồ sơ dự thầu; chậm phát hiện và chưa mạnh dạn, kiên quyết trong việc đề xuất xử lý các sai phạm của chủ đầu tư, bên mời thầu và tư vấn đấu thầu; còn có sự châm chước, nể nang khi thẩm định kế hoạch đấu thầu và hồ sơ mời thầu.

Công tác báo cáo về đấu thầu còn yếu kém trong nhiều năm, chất lượng nội dung báo cáo sơ sài, số liệu không đảm tính đầy đủ và trung thực, báo cáo không kịp thời hoặc không làm báo cáo.

  • Tình hình thi công xây lắp

Trong giai đoạn từ năm 2020 đến 2024, dự án Khu đô thị mới Ngã 5- Sân bay Cát bi đã đạt sản lượng thi công xây lắp được thực hiện theo đúng kế hoạch và đảm bảo đúng tiến độ quy định. Trong hai chỉ tiêu về sản lượng xây lắp thì đối với những công trình sử dụng nguồn vốn khác luôn đạt sản lượng vượt trội so với những công trình sử dụng nguồn vốn NSNN, điều này thể hiện sự linh hoạt huy động các nguồn vốn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện dự án, còn so với các dự án sử dụng nguồn vốn NSNN sẽ gặp phải những khó khăn nhất định trong quá trình giải ngân nguồn vốn khiến sản lượng xây lắp cũng hạn chế.

Tổng sản lượng thi công tăng dần từ năm 2020-2023 từ 71,3 tỷ đồng lên tới 214,6 tỷ đồng, tuy nhiên năm 2024 lại có sự giảm sản lượng đột biến xuống ngang với năm 2020 là 79,0 tỷ đồng. Qua phân tích tổng hợp một số nguyên nhân thì nguyên nhân cơ bản nhất là khó khăn trong việc thu hồi đất, dự án không có mặt bằng sạch để thi công; các nhà thầu xây dựng chỉ thi công cầm chừng, có mặt bằng đến đâu thi công đến đó và thi công theo kiểu xôi đỗ nên gây khó khăn cho công tác nghiệm thu khối lượng xây lắp hoàn thành.

Số liệu cụ thể được thể hiện ở bảng và biểu đồ dưới đây:

  • Bảng 2.13. Giá trị sản lượng thi công xây lắp giai đoạn 2020 – 2024
  • Hình 2.4. Biểu đồ giá trị sản lượng thi công xây lắp từ 2020 – 2024
  • Thực hiện, đánh giá, giám sát đầu tư: Luận văn: Thực trạng quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

Trong quá trình dự án đầu tư đã được thực hiện theo đúng quy định và nội dung đã được phê duyệt. Đồng thời, triệt để thực hiện công tác giám sát, đánh giá đầu tư đã góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách đầu tư và xây dựng làm cho các qui định phù hợp hơn với yêu cầu thực tế quản lý ở địa phương. Đồng thời, thông qua giám sát định kỳ, các cơ quan có thẩm quyền đã kịp thời phát hiện và giải quyết các tồn tại, tháo gỡ vướng mắc giúp cho chủ đầu tư để thúc đấy tiến độ triển khai của dự án. Mặc dù vậy, công tác này cũng vẫn chưa đạt được kết quả như mong muốn:

Các phòng ban đơn vị chức năng chưa quan tâm đúng mức đến công tác giám sát, đánh giá đầu tư, thể hiện qua việc chậm tổ chức chỉ đạo thực hiện giám sát, thanh tra đánh giá đầu tư.

Năng lực chủ đầu tư, cán bộ giám sát còn hạn chế về chuyên môn, thiếu kinh nghiệm tổ chức thực hiện công việc.

Việc giám sát chưa kịp thời, thiếu chủ động nên khi thực hiện có sai sót không được các cơ quan quản lý xử lý kịp thời, thường là đặt các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt điều chỉnh dự án vào tình thế đã rồi; gây lãng phí và thất thoát trong đầu tư xây dựng.

Việc thực hiện giám sát chưa thường xuyên, còn thụ động; nhiều dự án triển khai chậm dẫn đến tăng vốn, giảm hiệu quả nhưng không báo cáo, chỉ khi dự án cần phê duyệt điều chỉnh thì mới tiến hành giám sát, đánh giá đầu tư.

Hệ thống thông tin phục vụ giám sát, đánh giá dự án chưa tốt. Cho đến nay, vẫn chưa tổ chức được cơ sở dữ liệu về hoạt động giám sát, chưa chủ động trong việc tổ chức giám sát, đánh giá.

2.2.3. Giai đoạn kết thúc đầu tư, đưa công trình vào khai thác sử dụng Luận văn: Thực trạng quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

  • Nghiệm thu chất lượng công trình

Công tác nghiêm thu chất lượng công trình của dự án Khu đô thị mới Ngã 5 – sân bay Cát Bi đã được thực hiện đúng theo các bước:

Một là, Kiểm tra vật liệu, cấu kiện, thiết bị xem có phù hợp với hồ sơ chất lượng vật liệu, cấu kiện, thiết bị: trước khi tiến hành công tác xây lắp, mà nhà thầu xây lắp đã trình cho chủ đầu tư; Kiểm tra chất lượng vật liệu, cấu kiện, thiết bị trước khi đưa vào công trường. Các vật liệu, cấu kiện, thiết bị trước khi đưa vào công trường đều được kiểm tra về chủng loại, quy cách, xuất xứ theo hồ sơ chất lượng đã được chủ đầu tư chấp thuận. Kết quả kiểm tra được lập thành biên bản, ghi rõ chủng loại, quy cách, số lượng vật liệu, cấu kiện, thiết bị đưa vào công trường từng đợt, có ký xác nhận của đại diện bên B và đại diện bên A (hoặc tư vấn giám sát).

Hai là, các bước nghiệm thu công trình xây dựng; Nghiệm thu đã được thực hiện qua bước như sau:

  • Nghiệm thu công việc xây dựng. Nội dung công việc xây dựng tập trung vào nghiệm thu cốp pha, cốt thép, bê tông, khối xây, cấu kiện, bộ phận kết cấu công trình, lắp đặt thiết bị và chạy thử không tải.
  • Kiểm tra hiện trạng đối tượng nghiệm
  • Kiểm tra hệ thống chống đỡ tạm, giàn giáo và các giải pháp bảo đảm an toàn.
  • Kiểm tra các kết quả thử nghiệm, đo lường để xác định chất lượng và khối lượng của vật liệu, cấu kiện xây dựng, kết cấu, bộ phận công trình, máy móc thiết bị, trong đó đã kiểm tra bắt buộc đối với:
  • Kết quả thử nghiệm chất lượng về biện pháp gia cố nền, sức chịu tải của cọc móng
  • Kết quả thí nghiệm đất (đá) đắp.
  • Kết quả thí nghiệm bê tông, cốt thép, kết cấu thép.
  • Kết quả thí nghiệm liên kết hàn, kết cấu thép.
  • Kết quả kiểm tra ứng suất, biến dạng của cốt thép ứng suất trước.
  • Kết quả thử nghiệm kết cấu: vì kèo thép, kết cấu chịu lực…
  • Kết quả kiểm tra khối lượng của kết cấu, bộ phận hoặc công trình.

Đồng thời đối chiếu và so sánh những kết quả kiểm tra nêu trên với thiết kế được duyệt, quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng, chỉ dẫn kỹ thuật của nhà sản xuất.

Nhìn chung, công tác nghiệm thu đã được thực hiện theo đúng quy trình, tuy nhiên công tác nghiệm thu chất lương công trình vẫn còn một vài thiếu sót như:

Nghiệm thu chưa đúng khối lượng, định mức, đơn giá, xuất xứ, chủng loại vật tư, vật liệu; một số hạng mục là nghiệm thu trên giấy tờ và theo dự toán ban đầu duyệt. Luận văn: Thực trạng quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

Trong một số giai đoạn chủ đầu tư còn thiếu kiểm tra giám sát thường xuyên, liên tục nhằm ngăn ngừa những sai phạm kỹ thuật, đảm bảo nghiệm thu khối lượng, chất lượng của công tác xây lắp của các nhà thầu thực hiện theo thiết kế được duyệt, tiêu chuẩn kỹ thuật và quy chuẩn xây dựng.

Nhà thầu thiếu các biện pháp tự kiểm tra chất lượng về vật liệu, cấu kiện sản phẩm đưa vào xây lắp công trình. Thiếu chứng chỉ về chất lượng vật tư, vật liệu xây dựng.

Một số bước quy trình nghiệm thu chưa được tuân thủ một cách chặt chẽ, cập nhật hồ sơ nghiệm thu còn thiếu và chậm.

  • Công tác thanh quyết toán vốn đầu tư:

Thanh toán và quyết toán vốn đầu tư là khâu quan trọng của quá trình thực hiện và hoàn thành đối với dự án đầu tư xây dựng công trình. Công tác này tại dự án khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi, thành phố Hải Phòng đã đạt một số kết quả sau:

Kho bạc nhà nước thành phố có sự tập trung chỉ đạo về chất lượng và qui trình của Kho bạc trong kiểm soát thẩm định và thanh quyết toán vốn. Chất lượng và quy trình của Kho bạc trong kiểm soát thẩm định và thanh quyết toán vốn đã từng bước được nâng cao, cải tiến thủ tục hồ sơ, giảm thiểu thời gian giải quyết hồ sơ khi tạm ứng vốn, thanh toán sớm so với quy định từ 1-3 ngày.

Kết quả thanh quyết toán vốn đầu tư hàng năm đã giải quyết từ 70-90% khối lượng thực hiện trong năm. Kho bạc đã góp phần kiểm soát, phát hiện loại trừ các dự toán, phiếu giá, bảng kê, hàng năm kho bạc đã từ chối thanh toán các khoản không đúng chế độ, vượt định mức đơn giá, vượt dự toán, đảm bảo quy định và nguyên tắc tài chính.

  • Tuy nhiên trong công tác thanh quyết toán cũng còn những hạn chế, thiếu sót cần chú ý:

Thời gian lập báo cáo quyết toán thường chậm, đồng thời cơ quan thẩm định phê duyệt phải kiêm nhiệm nhiều việc nên chưa đáp ứng được thời gian theo quy định.

Chất lượng của công tác thẩm tra quyết toán chưa cao, ít đi kiểm tra thực tế và không kiểm tra các phần khuất của công trình mà chỉ dựa vào hồ sơ, sổ sách, chứng từ các đơn vị trình lên, nên ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của công tác thanh quyết toán. Luận văn: Thực trạng quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

2.2.4. Theo các tiêu chí đánh giá công tác quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi

Nhìn chung, dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát bi đã đạt được mục tiêu ban đầu đề ra là:

Đã tạo được mạng lưới hạ tầng kỹ thuật của một khu đô thị hiện đại, đồng bộ, đáp ứng nhu cầu về nhà ở, nhà làm việc, các công trình công cộng…Thoả mãn yêu cầu về giao thông đối nội và đối ngoại của khu vực phía Đông Nam thành phố Hải Phòng, gắn kết giữa sân bay với trung tâm thành phố, giữa các khu công nghiệp với khu vực cảng, giữa quốc lộ 5 với khu vực dự án và các khu vực khác của thành phố. Trong tương lai gần sẽ kết nối trực tiếp với cầu Nguyễn Trãi vượt sông Bạch Đằng tới trung tâm hành chính mới của thành phố Hải Phòng (huyện Thủy Nguyên). Cụ thể đã cung cấp hạ tầng đầy đủ trên 900.000 m2 đất để xây dựng 000 m2 nhà ở cho thành phố, góp phần mang lại nhà ở cho trên 12.700 hộ dân.

Thu hút được rất nhiều nguồn vốn từ các chủ đầu tư thứ phát đầu tư vào xây dựng công trình phục vụ đa mục đích khác nhau như giáo dục, vui chơi giải trí, trung tâm thương mại, hành chính công… với số vốn lên đến hàng ngàn tỷ đồng như Trường Trung học phổ thông năng khiếu Trần Phú, Trung tâm thương mại TD Plaza, Big C, khu trung tâm hành chính quận Hải An, Khu liên cơ quan Tài chính – Xây dựng, Trụ sở làm việc Cục Hải Quan thành phố, Kho bạc nhà nước thành phố, Tòa án, Viện kiểm sát thành phố…; Cụ thể tổng mức đầu tư của một số dự án thứ phát như sau:

  • Bảng 2.14. Bảng thống kê tổng mức đầu tư của một số dự án thứ phát đầu tư vào Dự án Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi

Ngoài ra còn rất nhiều dự án, công trình khác đã và đang đầu tư vào dự án. Như vậy, với số vốn NSNN đã đầu tư để xây dựng tuyến đường trục chính và các khu tái định cư tính đến thời điểm này là 652 tỷ đồng nhưng đã huy động được các nguồn lực khác của xã hội cùng tham gia lên tới trên 2 ngàn tỷ đồng cho thấy dự án đã phát huy được hiệu quả sử dụng vốn từ đó là tiền đề kích thích sự phát triển kinh tế, thu hút, tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động trên địa bàn. Mặt khác NSNN hàng năm cũng thu thêm được số tiền không nhỏ từ tiền sử dụng đất của dự án và các loại thuế, phí khác của các nhà đầu tư, các hộ kinh doanh trong khu vực.

Môi trường sinh thái, cảnh quan được cải thiện rõ rệt, chất lượng công trình xây dựng tương đối được đảm bảo, đáp ứng được tiêu chuẩn TKKT.

Biến khu vực đồng ruộng với năng suất thấp, dân cư thưa thớt thành một khu đô thị hiện đại hạ tầng đầy đủ góp phần mở rộng diện tích thành phố về phía Đông – Đông Nam, tạo ra một khu đô thị mới là nơi tiềm năng để thực hiện chính sách dãn dân của Thành phố Hải Phòng. Luận văn: Thực trạng quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

Đại đa số người dân nằm trong diện di dời giải tỏa có mức sống cao, ổn định hơn trước, được hưởng nhiều tiện ích mà dự án đem lại như hạ tầng giao thông, hệ thống điện, nước, an ninh trật tự, vui chơi giải trí…

Tuy nhiên ngoài những hiệu quả đã đạt được thì Dự án Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi do Công ty TNHH MTV Thương mại Đầu tư Phát triển Đô thị làm chủ đầu tư vẫn còn những kết quả không như kỳ vọng của dự án đã đề ra ban đầu; Cụ thể:

Đầu tiên phải thừa nhận là hiện tại dự án vẫn chưa thể hoàn thành, chậm so với tiến độ tính đến nay là 7 năm; Căn cứ tình hình thực tế thì thời gian thực hiện vẫn tiếp tục có thể còn kéo dài nhiều năm nữa.

Công tác bồi thường GPMB gặp quá nhiều nan giải, một số ít người dân lợi dụng chính sách bồi thường của nhà nước còn chưa chặt chẽ liên tục khiếu nại đòi hỏi lợi ích cá nhân; Trên thực tế đã có trường hợp đạt được mục đích nên tạo tiền lệ xấu tới ý thức người dân là càng kiện, càng đòi hỏi sẽ càng có nhiều lợi ích.

Do nhiều nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan của chủ đầu tư, Dự án Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi vẫn còn để tồn tại nhiều khiếu nại kéo dài của các hộ dân liên quan đến đất đai như đơn giá bồi thường không thỏa đáng, hạn mức cũng như vị trí tái định cư, giấy tờ về chứng nhận quyền sử dụng đất…

Nguồn vốn NSNN cấp cho dự án không đáp ứng đủ nhu cầu, mang tính nhỏ giọt, cùng với vướng mắc trong việc bồi thường giải tỏa là nguyên nhân rõ nhất gây ảnh hưởng đến chậm tiến độ dự án như đã nêu ở trên.

Quá trình bồi thường giải phóng mặt bằng không triệt để nên không có mặt bằng sạch để triển khai gây khó khăn cho việc thi công, nhà thầu phải thi công theo kiểu da báo (có mặt bằng chỗ nào, thi công chỗ đó) cùng với năng lực tài chính của nhà thầu thi công bộc lộ nhiều yếu kém, có những thời điểm khi các Ngân hàng thắt chặt hạn mức tín dụng là nhà thầu không có khả năng tiếp tục thi công và thi công chỉ cầm chừng.

2.2.5. Đánh giá nguyên nhân tác động đến công tác quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi

  • Về cơ chế chính sách:

Trên thực tế cơ chế, chính sách chung của nước ta và của từng địa phương cụ thể vẫn còn rất nhiều hạn chế, bất cập, chưa thống nhất; Từ Luật đến Nghị định, Thông tư và các văn bản hướng dẫn khác có phạm vi áp dụng lớn, đôi khi không rõ ràng gây khó khăn cho người thực hiện (kể cả những cơ quan nhà nước, các địa phương hiểu và áp dụng mỗi nơi một khác) ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động của các CĐT và cũng cho chính bản thân cơ quan quản lý.

  • Tác động của cơ quan quản lý nhà nước tới doanh nghiệp

Tác động của cơ quan quản lý nhà nước tới doanh nghiệp hay cụ thể là những cách thức quản lý, phương tiện quản lý mà trực tiếp nhất là các thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư xây dựng công trình có tác động trực tiếp tới hoạt động của doanh nghiệp nói chung và hiệu quả quản lý các dự án mà doanh nghiệp đang thực hiện. Nếu các cơ quan quản lý nhà nước áp dụng cơ chế linh hoạt, uyển chuyển hỗ trợ tối đa cho các doanh nghiệp trong các thủ tục hành chính thì hoạt động của doanh nghiệp sẽ trở nên hiệu quả hơn và ngược lại.

  • Tác đ ng của cơ quan quản lý nhà nước trong công tác bồi thường, thu hồi đất

Tiến độ giải phóng mặt bẳng phụ thuộc vào một số vấn đề như:

  • Thực trạng quản lý đất đai, hay nói đúng hơn là hiệu lực pháp lý về quản lý đất đai của nơi có dự án;
  • Khả năng tổ chức thực hiện lập, thẩm định giá, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của Hội đồng bồi thường. Luận văn: Thực trạng quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.
  • Thái độ và năng lực của cán bộ, công chức của cơ quan có thẩm quyền khi tiếp xúc với dân trong quá trình giải quyết các chế độ, chính sách triển khai công tác GPMB.
  • Khả năng hoàn thành khu tái định cư, và khu tái định cư được xây dựng có điều kiện bằng hoặc tốt hơn khu dân cư có đất bị thu hồi.
  • Khả năng tài chính và năng lực quản lý, điều hành của chủ đầu tư trong quá trình tham gia triển khai công tác GPMB với tư cách là một thành viên trong Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;
  • Công tác tuyên truyền chính sách về pháp luật, về đất đai, bồi thường, giải tỏa khi nhà nước thu hồi đất.

Có thể thấy trong các nhân tố nêu trên thì đa số là các nhân tố thuộc về cơ quan quản lý nhà nước. Điều này cho thấy việc giải phóng mặt bằng nhanh hay chậm phụ thuộc rất nhiều vào các cơ quan này.

  • Năng lực của chủ đầu tư

Trong những yếu tố còn tồn tại tác động đến công tác quản lý dự án Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi ở Công ty TNHH MTV Thương mại Đầu tư Phát triển Đô thị thì yếu tố năng lực chủ đầu tư được coi là yêu tố chủ quan duy nhất có tính quyết định đến công tác quản lý dự án đầu tư. Điều này có nghĩa là nếu năng lực chủ đầu tư không tốt, không đảm bảo được thì dù các yếu tố khách quan bên ngoài có thuận lợi đến đâu, có sự hỗ trợ tối đa từ phía cơ quan quản lý nhà nước đi nữa thì công tác QLDA đầu tư vẫn bị hạn chế.

Công tác lập kế hoạch chưa xuất phát từ thực tế, còn chạy theo chỉ tiêu, nên kế hoạch sản xuất kinh doanh còn chưa có tính khả thi cao, chưa có biện pháp tháo gỡ khó khăn hữu hiệu. Quá trình báo cáo, phản hồi và nắm bắt các khó khăn phát sinh còn chưa kịp thời để từ đó đề xuất biện pháp giải quyết hợp lý. Quá trình phối hợp xử lý, giải quyết công việc giữa các bộ phận, phòng ban chức năng trong công ty chưa thường xuyên, chưa triệt để và tích cực dẫn đến bị động hoặc chồng lấn khi giải quyết các yêu cầu công việc thực tế phát sinh

  • Một số nguyên nhân khác

Vài năm trở lại đây, nền kinh tế có nhiều biến động, giá cả nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào thay đổi là một trở ngại lớn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản vì giá dự toán đã được phê duyệt bị lạc hậu rất nhiều so với mặt bằng giá thực tế, từ đó hàng loạt các công trình phải điều chỉnh tổng mức đầu tư, điều chỉnh dự toán xây dựng và giá trị bồi thường giải phóng mặt bằng.

Dự án trải dài trên diện rộng, qua nhiều địa bàn phức tạp, thời gian triển khai kéo dài; Chính sách bồi thường còn nhiều bấp cập không ổn định, luôn điều chỉnh, chưa đồng bộ gây nhiều khó khăn cho công tác lập và trình duyệt phương án đền bù. Mặt khác giá cả leo thang dẫn đến các chế độ áp dụng bồi thường không phù hợp với mặt bằng thị trường đã gây ra tình trạng người dân không cho kiểm kê tài sản hoặc có đơn thư khiếu nại. Bên cạnh đó là sự tham gia thiếu tích cực của các cấp chính quyền, các ban ngành chức năng nên thời gian triển khai công việc kéo dài mất nhiều thời gian, hiệu quả đạt được rất thấp.

Bộ máy nhân sự của chính quyền các cấp liên tục biến động, công việc kiêm nhiệm, còn thiếu sự chuyên nghiệp trong khi đó vai trò của chủ đầu tư trong công tác kiểm kê, thu hồi đất cũng như tổ chức chi trả tiền bồi thường cho dân thường xuyên bị động trong quá trình thực hiện nhiệm vụ dẫn tới sự phối hợp giữa chủ đầu tư với Hội đồng bồi thường quận chưa được xuyên suốt, nhất quán, thiếu tập trung gây ảnh hưởng tới tiến độ, tính chính xác trong việc định giá bồi thường.

2.3. Những ưu điểm và hạn chế về công tác quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi của Công ty TNHH MTV Thương mại Đầu tư Phát triển Đô thị Luận văn: Thực trạng quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

2.3.1. Những ưu điểm

Công tác quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị mới Ngã 5- Sân bay Cát Bi, thành phố Hải phòng trong quá trình thực hiện đã thể hiện được một số ưu điểm sau:

  • Lãnh đạo đơn vị cũng như các cán bộ công nhân viên hầu hết là những người có năng lực, được đào tạo bài bản, nhiệt tình với công việc; Người lao động được phân công đúng người, đúng việc, đúng chuyên ngành.
  • Quy trình thực hiện dự án từ khâu chuẩn bị dự án, thực hiện dự án đến khâu kết thúc đưa dự án vào sử dụng với những công tác cụ thể như thẩm định, phê duyệt dự án, thiết kế dự toán, kết quả đấu thầu, thanh quyết toán đã tuân thủ theo các quy định hiện hành về công tác ĐTXD công trình.
  • Việc giải ngân nguồn vốn luôn đảm bảo tuân thủ các quy định về trình tự và thủ tục trong quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản;
  • Công tác kiểm tra để chỉ đạo tiến độ và chất lượng công trình đã được lãnh đạo đơn vị quan tâm hơn, cơ bản chất lượng công trình đáp ứng được yêu cầu thiết kế.
  • Kinh nghiệm quản lý dự án ĐTXD công trình của công ty đã có nhiều tiến bộ và dần đi vào nề nếp, hiệu quả, chất lượng công trình ngày một tăng.
  • Phát triển được mạng lưới hạ tầng kỹ thuật của một khu đô thị mới hiện đại, đồng bộ, đáp ứng nhu cầu về nhà ở, nhà làm việc, các công trình công cộng…
  • Thu hút được rất nhiều nguồn vốn từ các chủ đầu tư thứ phát đầu tư vào xây dựng công trình phục vụ đa mục đích khác nhau như giáo dục, vui chơi giải trí, trung tâm thương mại, hành chính công…

Nhìn chung, hoạt động quản lý dự án ĐTXD cơ sở hạ tầng kỹ thuật khu đô thị Ngã 5- Sân bay Cát Bi, trong thời gian qua đã đạt được những ưu điểm nhất định, phát huy được hiệu quả sử dụng vốn, bước đầu đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ thành phố giao góp phần thúc đẩy sự phát triển KT-XH trên địa bàn thành phố.

2.3.2. Những hạn chế Luận văn: Thực trạng quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

Bên cạnh những ưu điểm trong công tác quản lý dự án ĐTXD cơ sở hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị mới Ngã 5- Sân bay Cát Bi thì vẫn còn những hạn chế nhất định và những hạn chế này cũng là hạn chế của phần lớn các dự án ĐTXD đang được thực hiện trên địa bàn thành phố nói riêng và cả nước nói chung, cụ thể:

Giải pháp tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội của chính phủ trong những năm trở lại đây là chủ trương lớn, đúng đắn của Đảng và nhà nước nhằm giữ nền kinh tế phát triển bền vững; Tuy nhiên đây lại là nguyên nhân gây nên sự hạn chế lớn nhất đối với Công ty TNHH MTV Thương mại Đầu tư Phát triển Đô thị khi nguồn vốn kế hoạch cấp phát từ ngân sách cho Dự án Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi chỉ đáp ứng được phần nhỏ so với nhu cầu. Số liệu về nhu cầu sử dụng vốn đối với các công trình sử dụng vốn NSNN và nguồn vốn kế hoạch cấp phát từ ngân sách giai đoạn 2020-2024 được thể hiện dưới đây:

  • Bảng 2.15. Bảng tổng hợp giá trị sản lượng công trình sử dụng vốn NSNN và nguồn vốn kế hoạch cấp phát từ ngân sách giai đoạn 2020 – 2024
  • Hình 2.5. Biểu đồ giá trị sản lượng và nhu cầu sử dụng vốn NSNN

Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng vẫn là một trong những hạn chế lớn nhất, hạn chế này xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân và cơ bản là nằm ngoài tầm kiểm soát của chủ đầu tư như chính sách bồi thường bất cập, chưa hoàn chỉnh; đơn giá đền bù đất đai, nhà cửa, hoa màu, vật kiến trúc trên đất chưa xác định theo cơ chế thị trường cùng với sự thiếu quyết liệt từ các cơ quan chịu trách nhiệm thu hồi đất dẫn tới sự chống đối, không hợp tác từ một bộ phân không nhỏ người dân có đất bị thu hồi.

Tiến độ thực hiện dự án cũng như công tác thanh quyết toán công trình đã hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng còn chậm, chưa đáp ứng được thời gian theo quy định.

Chất lượng quy hoạch còn thấp, chưa phù hợp, phải điều chỉnh lại, duyệt lại hoặc trong quá trình lập dự án do khảo sát không kỹ, lựa chọn địa điểm chưa thích hợp, đầu tư không đồng bộ giữa các hạng mục… Xác định quy mô công trình vượt quá hoặc không có nhu cầu sử dụng. Sự phối hợp với các cơ quan hữu quan về quản lý quy hoạch còn lỏng lẻo; các công trình xây dựng sai quy hoạch vẫn còn diễn ra; nhiều chủ đầu tư thứ phát còn để đất trống, không xây dựng công trình theo cam kết.

Công tác đấu thầu trong xây dựng mới trong một số trường hợp chỉ là hợp thức hóa thủ tục,tính cạnh tranh chưa cao. Vai trò quản lý, giám sát của chủ đầu tư đối với một số công trình làm chưa chặt chẽ, cụ thể. Chưa có phương pháp khoa học trong việc quản lý chất lượng công trình dẫn đến một số công trình còn tồn tại về mặt chất lượng.

Sự phối hợp với chính quyền địa phương trong công tác quản lý xây dựng còn chưa được triệt để; Tình trạng xây dựng trái phép, tái chiếm mặt bằng đã được giải phóng còn diễn ra. Luận văn: Thực trạng quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

Dự án Khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi vẫn còn tồn tại nhiều đơn thư khiếu nại kéo dài của các hộ dân liên quan đến lĩnh vực đất đai, đơn giá bồi thường, tái định cư …

Tổ chức bộ máy quản lý dự án còn chưa khoa học, cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều vị trí, vai trò khác Bố trí, phân công lao động đôi khi chưa phù hợp dẫn tới người thì làm không hết việc còn có người thì có quá nhiều thời gian rảnh rỗi.

KẾT LUẬN

Mở đầu Chương 2 giới thiệu chung về Công ty TNHH MTV Thương mại Đầu tư Phát triển Đô thị cùng với cơ cấu tổ chức bộ máy trực tiếp thực hiện quản lý dự án đầu tư, tổng quan về Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi và các mục tiêu thực hiện dự án. Tác giả đã trình bày kết quả thực hiện dự án cho đến nay để trên cơ sở đó phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý dự án trong các quá trình chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, kết thúc đầu tư, đánh giá theo các tiêu chí đánh giá công tác quản lý dự án đã được xây dựng ở chương 1 về tiến độ, hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường, chất lượng công trình. Tìm ra các nguyên nhân tác động đến công tác quản lý dự án và rút ra được những ưu điểm và hạn chế. Phân tích làm rõ các hạn chế tồn tại để làm cơ sở đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới Ngã 5 – Sân bay Cát Bi sẽ được nêu trong Chương 3. Luận văn: Thực trạng quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Giải pháp quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý dự án xây dựng cơ sở hạ tầng […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993