Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các Ngân Hàng

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các Ngân Hàng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các NHTMCP niêm yết trên Hose dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

4.1. Thống kê mô tả

Trong bảng 4.1 dưới đây, thể hiện kết quả phân tích thống kê mô tả của các biến có trong mô hình hồi quy:

Bảng 4. 1: Thống kê mô tả của các biến trong mô hình hồi quy

Biến Số quan sát Trung bình Độ lệch chuẩn Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất
P 204 11.258 0.680 9.019 12.903
RATE 204 14.911 7.743 1.064 62.541
CAP 204 8.978 4.082 3.820 23.840
LG 204 0.219 0.190 -0.233 1.082
RISK 204 0.024 0.014 0.001 0.088
LnSIZE 204 32.524 1.099 30.163 34.955
PE 204 13.411 4.892 4.090 38.370
CIR 204 1.659 0.554 0.583 5.196
GDP 204 5.757 1.594 2.560 8.120
INF 204 3.841 2.112 0.631 9.095

Nguồn: Tổng hợp dựa trên kết quả phân tích thông qua STATA 14

Nhìn vào bảng 4.1, sử dụng dữ liệu bảng cân bằng cho mô hình, có tổng cộng 204 quan sát từ 17 ngân hàng TMCP trong giai đoạn 2012 – 2023. Sau đây, kết quả thống kê mô tả từng sau trình bày:

Biến giá cổ phiếu (P): Nhìn vào bảng 4.1, giá trị trung bình của P của 17 NHTM tại Việt Nam 11.258. Trong đó, ngân hàng VIB năm 2020 có giá cổ phiếu cao nhất là 12.903 và giá cổ phiếu thấp nhất của ngân hàng BID năm 2018 là 9.019. Với độ lệch chuẩn của biến P là 0.680 ở mức độ thấp biểu hiện rằng mức độ chênh lệch giữa các mẫu nghiên cứu được phân bổ đồng đều, do giá cổ phiếu giữa các ngân hàng TMCP đồng đều và ổn định. Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các Ngân Hàng.

Biến thu nhập từ lãi suất (RATE): Nhìn vào bảng 4.1, giá trị trung bình của RATE của 17 NHTM tại Việt Nam 14.911. Trong đó, ngân hàng TPB năm 2013 có thu nhập từ lãi suất cao nhất là 62.541 và thu nhập từ lãi suất thấp nhất của ngân hàng HDB năm 2012 là 1.064. Với độ lệch chuẩn của biến RATE là 7.743 ở mức độ thấp biểu hiện rằng mức độ chênh lệch giữa các mẫu nghiên cứu được phân bổ đồng đều, do thu nhập từ lãnh suất giữa các ngân hàng TMCP đồng đều và ổn định.

Biến tỷ lệ vốn chủ sở hữu (CAP): Nhìn vào bảng 4.1, giá trị trung bình của CAP của 17 NHTM tại Việt Nam 8.978. Trong đó, ngân hàng VIB năm 2015 có tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao nhất là 23.840 và tỷ lệ vốn chủ sở hữu thấp nhất của ngân hàng BID năm 2019 là 3.820. Với độ lệch chuẩn của biến CAP là 4.082 ở mức độ thấp biểu hiện rằng mức độ chênh lệch giữa các mẫu nghiên cứu được phân bổ đồng đều, do tỷ lệ vốn chủ sở hữu giữa các ngân hàng TMCP đồng đều và ổn định.

Biến tốc độ tăng trưởng tín dụng (LG): Nhìn vào bảng 4.1, giá trị trung bình của LG của 17 NHTM tại Việt Nam 0.219. Trong đó, ngân hàng HDB năm 2015 có tốc độ tăng trưởng tín cao nhất là 1.082 và tốc độ tăng trưởng tín dụng thấp nhất của ngân hàng MSB năm 2014 là -0.233. Với độ lệch chuẩn của biến LG là 0.190 ở mức độ thấp biểu hiện rằng mức độ chênh lệch giữa các mẫu nghiên cứu được phân bổ đồng đều, do thu tốc độ tăng trưởng tín dung giữa các ngân hàng TMCP đồng đều và ổn định.

Biến rủi ro tín dụng (RISK): Nhìn vào bảng 4.1, giá trị trung bình của RISK của 17 NHTM tại Việt Nam 0.024. Trong đó, ngân hàng SHB năm 2014 có rủi ro tín dụng cao nhất là 0.088 và rủi ro tín dụng thấp nhất của ngân hàng SSB năm 2012 là 0.001. Với độ lệch chuẩn của biến RISK là 0.014 ở mức độ thấp biểu hiện rằng mức độ chênh lệch giữa các mẫu nghiên cứu được phân bổ đồng đều, do rủi ro tín dụng giữa các ngân hàng TMCP đồng đều và ổn định.

Biến quy mô (LnSIZE): Nhìn vào bảng 4.1, giá trị trung bình của RATE của 17 NHTM tại Việt Nam 32.524. Trong đó, ngân hàng BID năm 2022 có quy mô cao nhất là 34.955 và quy mô thấp nhất của ngân hàng HDB năm 2022 là 30.163. Với độ lệch chuẩn của biến LnSIZE là 1.099 ở mức độ thấp biểu hiện rằng mức độ chênh lệch giữa các mẫu nghiên cứu được phân bổ đồng đều, do quy mô giữa các ngân hàng TMCP đồng đều và ổn định.

Biến giá trên thu nhập mỗi cổ phiếu (PE): Nhìn vào bảng 4.1, giá trị trung bình của PE của 17 NHTM tại Việt Nam 13.411. Trong đó, ngân hàng CTG năm 2013 có giá trên thu nhập mỗi cổ phiếu cao nhất là 38.37 và giá trên thu nhập mỗi cổ phiếu thấp nhất của ngân hàng TPB năm 2021 là 4.090. Với độ lệch chuẩn của biến PE là 4.892 ở mức độ thấp biểu hiện rằng mức độ chênh lệch giữa các mẫu nghiên cứu được phân bổ đồng đều, do giá trên thu nhập mỗi cổ phiếu giữa các ngân hàng TMCP đồng đều và ổn định.

Biến hệ số chi phí hoạt động (CIR): Nhìn vào bảng 4.1, giá trị trung bình của CIR của 17 NHTM tại Việt Nam 1.659. Trong đó, ngân hàng TPB năm 2013 có hệ số chi phí hoạt động cao nhất là 5.196 và hệ số chi phí hoạt động thấp nhất của ngân hàng SSB năm 2013 là 0.583. Với độ lệch chuẩn của biến CIR là 0.554 ở mức độ thấp biểu hiện rằng mức độ chênh lệch giữa các mẫu nghiên cứu được phân bổ đồng đều, do hệ số chi phí hoạt động giữa các ngân hàng TMCP đồng đều và ổn định.

Biến tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) và lạm phát (INF): hai chỉ số này có giá trị trung bình lần lượt là 5.757% và 3.841% với độ lệch chuẩn là 1.594 và 2.112. Cho thấy rằng sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam không có sự biến động lớn, nền kinh tế có tốc độ phát triển ổn định trong giai đoạn nghiên cứu. Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu có diễn biến khá phức tạp.

4.2. Kết quả nghiên cứu Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các Ngân Hàng.

4.2.1. Phân tích tương quan mô hình nghiên cứu

Ma trận hệ số tương quan cho chúng ta biết mối quan hệ giữa hai biến trong mô hình. Đầu tiên là giải thích các hệ số tương quan giữa biến phụ thuộc với các biến độc lập trong mô hình. Để kiểm tra có sự tương quan giữa các biến với nhau hay không ta xem xét ma trận hệ số tương quan giữa các biến. Với nghiên cứu sử dụng biến giá cổ phiếu (P) làm biến phụ thuộc, nhóm các biến tính chất nội tại của các ngân hàng và nhóm các biến vĩ mô cũng được đưa vào mô hình thông qua vectơ X được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 4. 2: Ma trận tương quan mô hình

P RATE CAP LG RISK LnSIZE PE CIR GDP INF
P 1
P-value
RATE 0.1007 1
P-value 0.152
CAP 0.1812 0.0856 1
P-value 0.0095 0.2234
LG 0.0985 -0.0571 -0.108 1
P-value 0.1612 0.4175 0.1242
RISK -0.0874 0.1309 0.1665 0.1426 1
P-value 0.2139 0.0619 0.0173 0.0419
LnSIZE -0.147 -0.2947 -0.5781 -0.1119 0.005 1
P-value 0.0359 0 0 0.111 0.9437
PE 0.0018 0.149 0.2728 -0.1001 -0.1679 -0.3496 1
P-value 0.9795 0.0334 0.0001 0.1544 0.0164 0
CIR -0.0843 0.2121 0.2159 -0.085 0.0058 -0.0489 0.0921 1
P-value 0.2303 0.0023 0.0019 0.2267 0.9341 0.4874 0.1902
GDP -0.1603 -0.0085 0.0286 0.0401 0.1288 -0.0241 0.1377 -0.0512 1
P-value 0.022 0.904 0.6844 0.5694 0.0663 0.7322 0.0496 0.4675
INF 0.103 0.2406 0.0481 0.0883 -0.097 -0.1758 0.0594 -0.2095 0.0256 1
P-value 0.1427 0.0005 0.4943 0.209 0.1675 0.0119 0.3984 0.0026 0.716

Nguồn: Tổng hợp dựa trên kết quả phân tích thông qua STATA 14

Kết luận: Theo Kenedy (2008), hiện tượng đa cộng tuyến trở nên nghiêm trọng khi hệ số tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình từ 0.8 trở lên. Dựa vào kết quả ma trận tương quan, hệ số tương quan các biến độc lập trong mô hình đều nhỏ hơn 0.8 nên các biến đều phù hợp để đưa vào chạy mô hình hồi quy.

4.2.2. Tương quan giữa các biến độc lập với nhau và kiểm định đa cộng tuyến Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các Ngân Hàng.

Nghiên cứu tiến hành sử dụng kiểm định hệ số VIF nhằm kiểm tra rằng mô hình không có sự xuất hiện của hiện tượng đa cộng tuyến có trong mô hình. Kết quả tổng hợp và sử dụng kiểm định VIF hiện tượng đa cộng tuyến được thể hiện dưới bảng 4.3.

Bảng 4. 3: Kết quả kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến

Variable VIF 1/VIF
LnSIZE 1.98 0.504416
CAP 1.9 0.526481
RATE 1.38 0.725325
PE 1.26 0.79454
RISK 1.25 0.799668
CIR 1.24 0.808206
INF 1.21 0.825887
LG 1.16 0.864185
GDP 1.05 0.948024
Mean VIF 1.38

Nguồn: Tổng hợp dựa trên kết quả phân tích thông qua STATA 14

Nhìn vào bảng 4.3 ở trên, kết quả của kiểm định VIF thấy rằng hệ số VIF dao động từ 1.98 đến 1.05, và giá trị trung bình là 1.38, kết quả của hệ số này có giá trị thấp. Trong bảng 4.4, không có giá trị VIF nào lớn hơn 10, nên có thể nói rằng giữa các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu không có tồn tại của hiện tượng đa cộng tuyến.

4.2.3. So sánh giữa các mô hình Pooled OLS, FEM và REM

Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng được tạo thành ba mô hình – Pooled OLS, FEM và REM – để xác định mô hình phù hợp sau khi thực hiện phân tích hệ số ma trận tương quan và kiểm tra tính đa cộng tuyến.

Đầu tiên, để có thể lựa chọn giữa hai mô hình là Pooled OLS và FEM, sử dụng kiểm định F-test. So sánh giữa hai mô hình Pooled OLS và mô hình FEM, khóa luận tiến hành thực hiện kiểm định F-test, và quyết định lựa chọn. Lựa chọn giữa hai mô hình FEM và mô hình REM, khóa luận tiến hành thực hiện kiểm định Hausman test đưa ra quyết định lựa chọn. Với giả thuyết như sau: Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các Ngân Hàng.

  • H0: Mô hình Pooled OLS được lựa chọn phù hợp hơn;
  • H1: Mô hình FEM được lựa chọn phù hợp hơn.

Bảng 4. 4: Kết quả của mô hình hồi quy theo Pooled OLS, FEM và REM

Biến POOL FEM REM
Hệ số t-statistic Hệ số t-statistic Hệ số t-statistic
RATE 0.0150** 2.17 0.0198** 2.62 0.0159** 2.26
CAP 0.0517*** 3.37 0.0253 1.29 0.0450** 2.73
LG 0.5708** 2.22 0.5741** 1.97 0.5381** 2.03
RISK -8.6687** -2.33 -7.7089* -1.96 -8.3471** -2.23
LnSIZE 0.0419 0.72 0.1643* 1.87 0.0558 0.87
PE -0.0085 -0.82 -0.0093 -0.84 -0.0087 -0.82
CIR -0.2108** -2.31 -0.2731** -2.53 -0.2241** -2.34
GDP -0.0641** -2.19 -0.0620** -2.17 -0.0638** -2.22
INF -0.0002 -0.01 0.0064 0.27 0.0007 0.03
_cons 10.1247 4.98 6.3593 2.14 9.7361 4.37

Ghi chú: *, **, ***: hệ số có ý nghĩa thống kê lần lượt tại mức ý nghĩa 10%, 5% và 1%.

Nguồn: Tổng hợp dựa trên kết quả phân tích thông qua STATA 14

Bảng 4. 5: Kết quả phân tích hồi quy theo Pooled OLS và FEM Kiểm định F-test

  • F (16,178) = 1.80
  • Prob > F = 0.0348

Nguồn: Tổng hợp dựa trên kết quả phân tích thông qua STATA 14

Theo bảng 4.5, nhìn thấy p-value = 0.0348 < 5% của biến phụ thuộc là P, do đó, bác bỏ giả thuyết H0, và chấp nhận giả thuyết H1 ở mức ý nghĩa 5%. Kết luận rằng, lựa chọn mô hình FEM phù hợp hơn mô hình Pooled OLS.

Thứ hai, tiếp tục dùng kiểm định Hausman để lựa chọn giữa hai mô hình là FEM và REM để chỉ ra mô hình tối ưu nhất. Với hai giả thuyết như sau: Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các Ngân Hàng.

  • Giả thuyết H0: Mô hình REM được lựa chọn phù hợp;
  • Giả thuyết H1: Mô hình FEM được lựa chọn phù hợp.

Bảng 4. 6: Kết quả kiểm định lựa chọn mô hình REM và FEM

Kiểm định Hausman

  • chi2(9) = 10.60
  • Prob > chi2 = 0.3040

Nguồn: Tổng hợp dựa trên kết quả phân tích thông qua STATA 14

Nhìn vào Bảng 4.6, kết quả của kiểm định Hausman, cho thấy p-value của biến phụ thuộc P là 0.3040 lớn hơn 5%. Vậy, bác bỏ giả thuyết H1, và chấp nhận H0 lựa chọn mô hình REM phù hợp hơn FEM.

4.2.4. Kiểm định các tật khuyết tật trong mô hình nghiên cứu

4.2.4.1. Kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi

Nghiên cứu sử dụng kiểm định Breusch and Pagan Lagrangian nhằm phát hiện ra hiện tượng phương sai sai số thay đổi trong mô hình. Với gồm hai giả thuyết như sau:

  • Giả thuyết H0: Mô hình không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi,
  • Giả thuyết H1: Mô hình có hiện tượng phương sai sai số thay đổi

Bảng 4. 7: Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi

Kiểm định phương sai sai số thay đổi

Breusch and Pagan Lagrangian multiplier test for random effects

chibar2(01) = 2.676 Prob > chibar2 = 0.2288

Nguồn: Tổng hợp dựa trên kết quả phân tích thông qua STATA 14 Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các Ngân Hàng.

Dựa vào Bảng 4.7, kết quả của kiểm định cho thấy p-value = 0.2288 > 5% nên bác bỏ H1, chấp nhận H0. Do đó, kết luận được mô hình nghiên cứu không có hiện tượng phương sai thay đổi.

4.2.4.2. Kiểm định hiện tượng tự tương quan

Tiến hành sử dụng kiểm định Wooldridge trong nghiên cứu nhằm giúp phát hiện ra hiện tượng tự tương quan trong mô hình. Với giả thuyết như sau:

  • Giả thuyết H0: Mô hình không có hiện tượng tự tương quan trong mô hình.
  • Giả thuyết H1: Mô hình có hiện tượng tự tương quan trong mô hình.

Bảng 4. 8: Kết quả kiểm định tự tương quan Wooldridge

Kiểm định Wooldridge

H0: no first-order autocorrelation

F (1, 16) = 2.676 Prob > F = 0.1214
Nguồn: Tổng hợp dựa trên kết quả phân tích thông qua STATA 14

Dựa vào bảng 4.8, kết quả của kiểm định Wooldridge, thấy rằng p-value là 0.1214 lớn hơn 5%, nên bác bỏ H1, và chấp nhận H0. Kết luận được mô hình nghiên cứu không có hiện tượng tự tương quan. Dựa vào kết quả của các kiểm định trên bảng 4.7 và 4.8, có thể thấy mô hình không bị hiện tượng phương sai sai số thay đổi và hiện tượng tự tương quan. Vì vậy, mô hình không bị khuyết tật và kết quả mô hình theo phương pháp ước lượng REM là đáng tin cậy.

4.3. Thảo luận kết quả nghiên cứu Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các Ngân Hàng.

Dựa trên kết quả kiểm định mô hình REM, phương trình hồi quy mô hình nghiên cứu có dạng:

P = 9.7361 + 0.0159*RATE + 0.0450*CAP + 0.5381*LG – 8.3471*RISK – 0.2241*CIR – 0.0638*GDP

Kết quả phân tích cho thấy, yếu tố LnSIZE, PE và INF có giá trị P-value đều lớn hơn 0.05 nên các yếu tố này không có ý nghĩa thống kê ở mức 5%. Các yếu tố còn lại đều tác đến P với mức ý nghĩa 5%. Bên cạnh đó, với hệ số hồi quy mang dấu âm ở yếu tố RISK, GDP tác động ngược chiều đến giá cổ phiếu của 17 ngân hàng TMCP trong giai đoạn 2012 – 2023. Các yếu tố còn lại có hệ hồi quy mang dấu dương nên đều tác động cùng chiều đến giá cổ phiếu của 17 ngân hàng TMCP trong giai đoạn 2012 – 2023. Cụ thể:

RATE: Có hệ số hồi quy 0.0159, cho thấy khi lãi suất (RATE) tăng thêm 1 đơn vị, giá cổ phiếu dự kiến sẽ tăng thêm 0.0159 đơn vị, giữ nguyên các yếu tố khác.

CAP và LG: Đều có tác động tích cực đến giá cổ phiếu với hệ số lần lượt là 0.0450 và 0.5381, điều này phù hợp với kỳ vọng lý thuyết.

RISK và GDP: Có hệ số hồi quy âm, với RISK giảm giá cổ phiếu đi 8.3471 đơn vị và GDP giảm 0.0638 đơn vị khi tăng thêm 1 đơn vị.

Bảng 4. 9: Kết quả kiểm định theo phương pháp ước lượng REM

Biến Dấu kỳ vọng Kết quả nghiên cứu
RATE (+) Đúng dấu (+), có ý nghĩa thống kê ở mức
CAP (+) Đúng dấu (+), có ý nghĩa thống kê ở mức
LG (+) Đúng dấu (+), có ý nghĩa thống kê ở mức
RISK (-) Đúng dấu (-), có ý nghĩa thống kê ở mức
LnSIZE (+) Đúng dấu (+), không có ý nghĩa thống kê
PE (-) Đúng dấu (-), không có ý nghĩa thống kê
CIR (-) Đúng dấu (-), có ý nghĩa thống kê ở mức
GDP (-) Đúng dấu (-), có ý nghĩa thống kê ở mức
INF (-) Đúng dấu (-), không có ý nghĩa thống kê

Nguồn: Tổng hợp dựa trên kết quả phân tích thông qua STATA 14 Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các Ngân Hàng.

Kết quả nghiên cứu phù hợp với kỳ vọng lý thuyết đối với tất cả các yếu tố trong mô hình nghiên cứu. Điều này có thể do bối cảnh kinh tế đặc thù của Việt Nam trong giai đoạn 2012 – 2023 hoặc các yếu tố khác chưa được kiểm soát trong nghiên cứu này.

Các biến LnSIZE, PE và INF không có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, cho thấy có thể có các yếu tố khác ngoài mô hình ảnh hưởng đến giá cổ phiếu hoặc do kích thước mẫu không đủ lớn. Kết quả này nhấn mạnh rằng việc chỉ dựa vào các biến này có thể không đủ để giải thích sự biến động của giá cổ phiếu. Nguyên nhân yếu tố PE (Giá trên thu nhập mỗi cổ phiếu) không ảnh hưởng đến giá cổ phiếu là do nhà đầu tư hiện nay mua cổ phiếu, đầu tư vào TTCK không còn chú trọng vào giá trên mỗi cổ phần như trước đây mà căn cứ vào tỷ suất lợi nhuận mà mỗi CP mang lại và căn cứ vào thị trường kinh doanh.

Những yếu tố có ý nghĩa thống kê như RATE, CAP, LG, RISK, và CIR có thể được các nhà quản lý ngân hàng và nhà đầu tư sử dụng để đưa ra các quyết định chiến lược. Ví dụ, nhận thức về sự tác động ngược chiều của RISK có thể giúp các ngân hàng cải thiện quản lý rủi ro và tối ưu hóa chiến lược đầu tư.

Nghiên cứu trong tương lai có thể mở rộng bằng cách bao gồm các yếu tố kinh tế vĩ mô khác hoặc sử dụng dữ liệu từ giai đoạn kinh tế khác nhau để kiểm tra tính ổn định của các kết quả. Ngoài ra, việc nghiên cứu sâu hơn về vai trò của GDP trong bối cảnh kinh tế Việt Nam cũng có thể mang lại những kết quả thú vị.

CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1 Kết luận Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các Ngân Hàng.

Trên cơ sở nghiên cứu đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các NHTMCP niêm yết trên Hose” Bài đề án tốt nghiệp của tác giả đã hệ thống hóa các cơ sở lý thuyết, lược khảo các công trình nghiên cứu của các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính – kinh tế đã trình bày ở các chương trước. Từ đó, xây dựng các kiểm định, phương pháp, và mô hình nghiên cứu phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm đã chọn phương pháp phương pháp hồi quy REM được lựa chọn cho kết quả cuối cùng để hoàn tất kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.

Bảng 5. 1: Tổng hợp kết quả mô hình nghiên cứu (P)

Thứ nhất “Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các NHTMCP niêm yết trên Hose” với 9 yếu tố ảnh hưởng gồm: RATE; CAP; LG; RISK; SIZE; P/E; CIR; GDP & INF. Sau khi thu thập dữ liệu được tổng hợp từ 17 NHTM Việt Nam niêm yết trên Hose với khoảng thời gian thu thập dữ liệu từ năm 2012 – 2023. Tác giả đã sử dụng phần mềm Stata phiên bản 14.0 để thực hiện thống kê mô tả mẫu dữ liệu, phân tích tương quan, phần tích hồi quy theo ba phương pháp gồm: mô hình hồi quy OLS, mô hình ảnh hưởng cố định FEM, mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên REM. Sau đó tác giả sẽ tiến hành so sánh 3 mô hình này với nhau để lựa chọn mô hình tối ưu về các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các NHTMCP niêm yết trên Hose. Và mục tiêu thứ hai là “Đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến giá cổ phiếu của các NHTMCP niêm yết trên Hose” thì thông qua kết quả nghiên cứu được trình bày ở chương 4 cho thấy mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu của các NHTMCP niêm yết trên Hose giai đoạn 2012-2023 theo thứ tự giảm dần như sau: RISK – Rủi ro tín dụng (β = -8.3471); LG – Tốc độ tăng trưởng tín dụng (β = 0.5381); CIR – Hệ số chi phí hoạt động (β = -0.2241); GDP – Tốc độ tăng trưởng kinh tế (β = -0.0638); *CAP – Tỷ lệ vốn chủ sở hữu (β = 0.0450); RATE – Thu nhập từ lãi suất (β = 0.0159). LnSIZE, PE và INF không có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, cho thấy có thể có các yếu tố khác ngoài mô hình ảnh hưởng đến giá cổ phiếu hoặc do kích thước mẫu không đủ lớn. Kết quả này nhấn mạnh rằng việc chỉ dựa vào các biến này có thể không đủ để giải thích sự biến động của giá cổ phiếu. Mục tiêu cuối cùng là “Đề xuất các kiến nghị giúp các NHTMCP niêm yết trên Hose gia tăng giá cổ phiếu của các NHTMCP niêm yết trên Hose trong thời gian tới”. Dựa vào kết quả nghiên cứu ở chương 4, chương 5 của đề án tốt nghiệp tác giả đã đề xuất các kiến nghị giúp các NHTMCP niêm yết trên Hose gia tăng giá cổ phiếu của các NHTMCP niêm yết trên Hose trong thời gian tới xoay quanh 6 yếu tố còn lại ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các NHTMCP niêm yết trên Hose.

5.2 Kiến nghị cải thiện các yếu tố trong mô hình nghiên cứu Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các Ngân Hàng.

Về RISK- Rủi ro tín dụng (β = – 8.3471) ảnh hưởng mạnh nhất đến giá cổ phiếu của các NHTMVN. Theo đó, các NHTM phải quan tâm hơn tới việc nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng, công tác thẩm định, quản lý tốt RRTD nhằm hạn chế tối đa chi phí dự phòng, sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để đưa tỷ lệ nợ xấu xuống mức thấp nhất. Ngoài ra, khi phát sinh bất kỳ khoản nợ xấu nào NHTM phải có biện pháp và thiết lập phương án giải quyết kịp thời để hạn chế thấp nhất tỷ lệ nợ xấu, tăng khả năng thu hồi vốn, không để tồn đọng vốn làm ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các NHTMVN. Mặt khác, các NHTM cần tuân thủ đúng nội dung của chính sách phân loại, trích lập và dự phòng rủi ro, thể hiện rõ chất lượng tín dụng và trích lập dự phòng dựa trên mức độ rủi ro. Bên cạnh đó, cần xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng đồng bộ và hiệu quả, sử dụng phương pháp phân loại rủi ro dựa trên các thông lệ, tiêu chuẩn của quốc tế.

Về LG- Tốc độ tăng trưởng tín dụng (β = 0.5381) ảnh hưởng mạnh thứ hai đến giá cổ phiếu của các NHTMVN. Nên tập trung vào những ngành nghề có mức tăng trưởng cao như bưu chính viễn thông, Fintech, trung gian thanh toán; dược, trang thiết bị y tế…Theo đó, các NHTM cần đưa ra mức lãi suất ưu đãi cho từng tác giả KH riêng biệt, cụ thể như lãi suất năm 1: cố định 8,5%/năm. Lãi suất năm cố định 9,5%/năm tính theo dư nợ giảm dần, bắt đầu từ năm thứ 3: 7,5%/năm theo góp đều. Các NH phải có chính sách cho vay hợp lý và phù hợp với từng KH, đưa ra nhiều sản phẩm tín dụng khác nhau, cân đối lại nguồn vốn để phát triển gói sản phẩm cho vay tiêu dùng, phục vụ nhu cầu sinh hoạt của KH giúp hạn chế tín dụng đen; thay đổi thời gian thanh toán nợ nếu KH gặp khó khăn và có lý do chính đáng, nhờ vậy mà KH không phải đi vay lãi cao để kịp thanh toán đúng hạn cho NH. Những KH mới cần được trích hoa hồng môi giới dành cho các đơn vị liên kết khi giới thiệu KH cho NH. Có thêm nhiều dịch vụ NH đa dạng để phù hợp với nhu cầu của KH, hạn chế các thủ tục, giấy tờ không cần thiết trong quy trình vay vốn, giảm thời gian xử lý hồ sơ vay xuống còn 3 ngày, tiết kiệm tối đa thời gian và chi phí cho KH. Đổi mới và tăng cường công tác thẩm định để rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ vay vốn, giúp KHCN và DN dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn ưu đãi của NH. Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các Ngân Hàng.

Về CIR- Hệ số chi phí hoạt động (β = – 0.2241) ảnh hưởng mạnh thứ ba đến giá cổ phiếu của các NHTMCP niêm yết trên Hose giai đoạn 2012-2023. Đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế cũng như hoạt động của ngành NH, nhưng mức lợi nhuận mà các NHTM thu được vẫn có sự tăng trưởng so với năm trước. Điều này có được là nhờ vào sự linh động trong công tác tín dụng bán lẻ của các NH, ngoài ra việc tăng cường hoạt động phi tín dụng như dịch vụ, đầu tư chứng khoán, phân phối bảo hiểm, kinh doanh ngoại hối, thu hồi được nợ xấu và hoàn nhập dự phòng…cùng với đó là công tác giám sát và sử dụng chi phí một cách hiệu quả cũng góp phần đưa mức cổ phiếu của các NHTMVN tăng lên. Điều này cũng có nghĩa là mọi hoạt động và chi phí cần được kiểm soát chặt chẽ, giúp kiểm soát chi phí trên thu nhập (CIR) tốt đây được xem là chỉ sổ giúp đo lường hiệu quả kinh doanh của NH. Về nguyên tắc, nếu tỷ lệ CIR nằm ở mức thấp chứng tỏ NH đang hoạt động hiệu quả, vì không tốn nhiều chi phí để tạo ra một đồng doanh thu. Ngoài ra, chi phí chiếm tỷ trọng cao nhất đó là quỹ lương. Vì vậy, các NHTM phải tận dụng tối đa công tác chuyển đổi số, nâng cao chất lượng NNL và hạn chế những chi phí trong hoạt động đầu tư theo mô hình NH truyền thống như trước đây (nhất là về hạ tầng mạng lưới CN mới).

Về GDP- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (β = -0.0638) ảnh hưởng mạnh thứ tư đến giá cổ phiếu của các NHTMVN. VN đang trong giai đoạn pháp triển nên các DN trong nước có nhiều cơ hội đầu tư kinh doanh với các DN trong khu vực cũng như thế giới, đây được xem là cơ hội tốt để DNVN dễ dàng tiếp cận với chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu. Từ những nghiên cứu đã chỉ ra, tăng trưởng kinh tế tác động không nhỏ tới giá cổ phiếu của các NHTMVN. Do đó, nhằm nâng cao hơn nữa những hoạt động tích cực để tăng trưởng kinh tế và hạn chế tối đa những tiêu cực nên HĐKD thì các NHTM cần đưa ra chiến lược kinh doanh hợp lý dựa trên định hướng kinh tế thị trường. Khi nền kinh tế mở cửa và hội nhập sâu với thế giới đã đem lại nhiều thách thức lớn cho hệ thống NHTMVN, điều này kéo theo các NH phải tăng cường hoạt động hơn nữa để đáp ứng tối đa nhu cầu về tài chính cho nền KT-XH. Hoạt động này đã khiến các NHTM đối mặt với nhiều khó khăn và rủi ro lớn như RRTD và rủi ro thanh khoản. Vì vậy, yêu cầu đặt ra cho các NHTM là vừa phải đảm bảo đưa mức lợi nhuận lên cao kết hợp với việc giữ an toàn cho hệ thống NH và tuân thủ đúng thông lệ quốc tế. Mặt khác, NHNN cũng phải thường xuyên kiểm tra, giám sát và đưa ra biện pháp xử lý đối với những trường hợp vi phạm để làm trong sạch môi trường đầu tư, cho vay của các NH. Song song với đó là xây dựng một quy trình kiểm soát, quản lý thanh khoản để phục vụ tốt công tác thanh toán khi tới kỳ hạn, giữ an toàn cho mọi hoạt động và hạn chế rủi ro thanh khoản. Thiết lập các quy định chung để các NHTM cùng tuân thủ nhằm đem lại sự phát triển bền vững và ổn định khi nền kinh tế ngày càng hội nhập như hiện nay. Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các Ngân Hàng.

Về CAP- Tỷ lệ vốn chủ sở hữu (β = 0.0450) ảnh hưởng mạnh thứ năm đến giá cổ phiếu của các NHTMVN. Với kết quả tương quan thuận chiều giữa giá trên thu nhập mỗi cổ phiếu và giá cổ phiếu của các NHTMVN, khuyến nghị rằng các NHTM Việt Nam cần mạnh dạn gia tăng quy mô trong thời gian tới. Bởi điều này vừa phù hợp với chủ trương của Chính phủ đã ghi trong Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2023 – 2025” là “phấn đấu đến năm 2023, Tỷ lệ vốn chủ sở hữu của các NHTM đạt tối thiểu 10 – 11%; đến năm 2025, đạt tối thiểu 11 – 12%”, “Phấn đấu có ít nhất từ 2 – 3 NHTM nằm trong top 100 ngân hàng lớn mạnh nhất (theo tiêu chí sức mạnh) trong khu vực châu Á”.

Về RATE- Thu nhập từ lãi suất (β = 0.0159) ảnh hưởng mạnh thứ sáu đến giá cổ phiếu của các NHTMVN. Các TCTD đưa ra các chính sách hỗ trợ nhằm giảm mức lãi suất vay và tăng cường SX-KD; làm đúng theo cam kết giảm lãi suất cho vay đối với nền kinh tế. Theo đó, NHNN vẫn giữ nguyên mức lãi suất điều hành, theo dõi mọi biến động của dịch bệnh cũng như sự thay đổi của nền kinh tế vĩ mô và thị trường nhằm điều chỉnh mức lãi suất cho phù hợp nhất. Những TCTD thay đổi thời gian thanh toán nợ, miễn, giảm, lãi, phí và vẫn giữ nguyên tác giả nợ đối với các KH bị tác động nặng nề bởi dịch COVID-19 theo Thông tư 01/2020/TT-NHNN và Thông tư 03/2021/TT-NHNN, Thông tư 14/2021/TT-NHNN sửa đổi bổ sung Thông tư 01/2020/TT-NHNN…Ngoài ra, NHNN cũng thận trọng hơn trong việc quản lý chất lượng tín dụng, đánh giá các khoản nợ của KH dựa trên tỷ lệ nợ xấu hiện tại có trong BCTC được công bố theo niên độ. Bên cạnh đó, các NHTM phải quyết liệt hơn trong việc trích lập dự phòng RRTD sát với thực tế các khoản nợ đã được cơ cấu lại.

5.3 Kiến nghị đối với Cơ quan chức năng

5.3.1 Đối với cơ quan quản lý Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh

Các đơn vị quản lý Nhà nước phải thiết lập quy trình kiểm tra, giám sát nội dung của BCTC để hạn chế tình trạng làm sai BCTC nhằm thay đổi thông tin và lừa gạt những nhà đầu tư làm ảnh hưởng tới toàn thị trường chứng khoán. Mặt khác, TTCKVN cần hoàn thiện hệ thống công nghệ tích hợp giống như các nước phát triển trên thế giới để kết nối giữa Trung tâm Lưu ký chứng khoản, UB Chứng khoán tới Sở và các thành viên thị trường nhằm giám sát và điều hành thị trường một cách tốt nhất.

Ngoài ra, Nhà nước cần đưa ra chính sách giúp nâng mức tài sản nội địa để tăng lượng KH đầu tư cho thị trường trứng khoán.

5.3.2 Đối với nhà đầu tư Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các Ngân Hàng.

Trước khi đưa ra quyết định, các nhà đầu tư cần xem xét, đánh giá đúng các chỉ số tài chính của DN như mức chi trả cổ tức hàng năm, các chỉ số EPS tại mỗi kỳ công bố thông tin, mức sinh lời trên mỗi cổ phiếu nhằm đưa ra đánh giá đúng nhất về sự thay đổi của giá chứng khoán và cổ phiếu trong thời gian tới. Mặc dù vậy, cũng phải cân nhắc kỹ trước khi quyết định đầu tư vì giá chứng khoán thay đổi liên tục, đôi khi những biến động về giá chứng khoán được thể hiện ở những giai đoạn trước hoặc sau khi thông tin đó được công bố.

Ngoài ra, trước khi đi tới quyết định đầu tư vào cổ phiếu niêm yếu trên TTCKVN thì các nhà đầu tư cần đánh giá, xem xét kỹ những thay đổi trong thị trường kinh doanh, biến động kinh tế và kết quả kinh doanh của DN. Song song với đó là so sánh chỉ số của các DN thuộc nhiều ngành nghề khác nhau và mức bình quân ngành để đo lường tỷ lệ rủi ro có thể gặp phải khi đầu tư.

Hầu hết các nhà đầu tư đều quan tâm tới tình hình lạm phát, vì đây là yếu tố cho thấy “sức khỏe” của nền kinh tế và ảnh hưởng trực tiếp tới giá cổ phiếu trên thị trường. Khi lạm phát nằm ở mức cao chứng tỏ nền kinh tế đang gặp vấn đề, điều này sẽ làm các nhà đầu tư cảm thấy lo lắng, do đó để giữ an toàn nhiều nhà đầu tư đã quyết định rút vốn và lựa chọn kênh đầu tư khác an toàn hơn. Điều này làm cho giá cổ phiếu giảm mạnh.

Các thông tin liên quan tới tình hình vĩ mô như GDP, CPI hàng năm cũng hỗ trợ rất nhiều cho các nhà đầu tư trong việc đưa ra dự đoán về sự tăng giảm giá cổ phiếu niêm yết nói chung và cổ phiếu riêng trong danh mục đầu tư của mình. Có thể thấy, nếu thông tin vĩ mô đưa ra là tốt sẽ làm giá cổ phiếu trên thị trường tăng lên.

5.4 Hạn chế của đề án và hướng nghiên cứu tiếp theo Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các Ngân Hàng.

Hạn chế về thời gian và nguồn lực nên nghiên cứu của tác giả thực hiện tại 17 NHTMCP niêm yết trên Hose với khoảng thời gian thu thập dữ liệu từ năm 2012 – 2023 (12 năm) với cỡ mẫu N = 204. Nếu tăng kích thước mẫu thì độ tin cậy của nghiên cứu sẽ cao hơn.

Nghiên cứu xác định 9 yếu tố độc lập ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các NHTMVN gồm: RATE; CAP; LG; RISK; SIZE; P/E; CIR; GDP & INF. Còn nhiều yếu tố khác mà nghiên cứu của tác giả chưa xét tới.

Những hạn chế nêu trên cũng là hướng gợi mở cho các tác giả nghiên cứu về sau thực hiện khắc phục những hạn chế mà đề án tốt nghiệp của tác giả gặp phải. Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các Ngân Hàng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các Ngân Hàng

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của các Ngân Hàng […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993