Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

4.1. Tình hình kinh tế – xã hội Việt Nam giai đoạn 2014 – 2023

Kinh tế – xã hội nước ta năm 2014 diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang hồi phục chậm sau suy thoái toàn cầu. Tốc độ tăng trưởng GDP đạt 5,98% và lạm phát đạt mức 4,09% cho thấy mục tiêu kiểm soát lạm phát của Chính phủ được thực hiện thành công.

Kinh tế thế giới năm 2015 đối mặt với nhiều rủi ro từ việc giá dầu thô giảm mạnh cũng như sự bất ổn của thị trường tài chính thế giới. Tuy nhiên, nhờ có những chính sách và giải pháp kịp thời, tốc độ tăng trưởng GDP năm 2015 tăng 6,68% so với năm 2014, cao hơn so với mục tiêu 6,2% đã đề ra. Năm 2015 lạm phát đạt mức 0,63%, là mức thấp nhất trong giai đoạn 2014 – 2023.

Năm 2016, nên kinh tế nước ta dần bình ổn. Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2016 tăng 6,21%, thấp hơn mức tăng của năm 2015. Lạm phát tăng nhẹ 2,66% nhưng vẫn thấp hơn mức mục tiêu 5% mà Chính phủ đề ra.

Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2017 tăng 6,81% so với năm 2016. Lạm phát tăng nhẹ 3,53%, cao hơn mức 2,66% của năm 2016 nhưng vẫn dưới mục tiêu 5% mà Quốc Hội đã đề ra.

Tốc độ tăng trưởng GDP cả năm 2018 tăng 7,08%, là mức tăng cao nhất kể từ năm 2014. Kinh tế Việt nam tiếp tục phát triển ổn định, lạm phát năm 2018 chỉ ở mức 3,54%.Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2019 đạt 7,017%, không biến động nhiều so với năm 2018. Lạm phát đạt 2,792%. Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.

Kinh tế Việt Nam năm 2019 diễn ra trong tình hình nền kinh tế thế giới tiếp tục tăng trưởng chậm lại. Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2019 đạt 7,02%, không biến động nhiều so với năm 2018. Lạm phát đạt 2,79%, thấp nhất trong vòng ba năm qua.

Tốc độc tăng trưởng GDP năm 2020 đạt mức 2,91%, là mức thấp nhất trong giai đoạn 2014 – 2020. Tuy là mức tăng trưởng thấp nhất nhưng trong tình hình diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 thì đây cũng được xem là thành công lớn của Việt Nam khi nằm trong nhóm có tốc độ tăng trường kinh tế năm 2020 thuộc nhóm cao nhất thế giới. Tỷ lệ lạm phát cũng được kiểm soát dưới 4%, đạt mức 3,23%.

Tình hình kinh tế Việt Nam năm 2021 tiếp tục chịu ảnh hưởng tiêu cực do dịch Covid-19, tốc độ tăng trưởng GDP đạt mức 2,58%, giảm nhẹ so với mức tăng của năm 2020. Mặc dù nền kinh tế có nhiều diễn biến phức tạp nhưng lạm phát được kiểm toán tốt ở mức 1,84%, thấp nhất kể từ năm 2016 đến thời điểm hiện tại.

Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2022 tăng mạnh, đạt mức 8,02%, cao nhất trong giai đoạn 2014 – 2023. Do ảnh hưởng từ giá xăng dầu tăng, lạm phát năm 2022 tăng, đạt mức 3,15%, đạt mục tiêu kiểm soát dưới 4% do Quốc hội đề ra.

Năm 2023, tốc độ tăng trưởng GDP đạt mức 5,05%, thấp hơn mức 8,02% của năm 2022 nhưng cao hơn mức 2,91% và 2,58% của năm 2020, 2021. Lạm phát năm 2023 đạt mức 3,25%, được kiểm soát tốt dưới mức 4,5% theo Chỉ thị số 01/CT-NHNN Về Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành ngân hàng trong năm 2023 được ban hành vào ngày 17 tháng 01 năm 2023.

4.2. Tình hình hoạt động của ngành ngân hàng giai đoạn 2014 – 2023 Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.

4.2.1. Tình hình tăng trưởng huy động

Tốc độ tăng trưởng huy động giai đoạn 2014 – 2023 có nhiều biến động với tốc độ tăng trưởng không đồng đều qua các năm. Năm 2014 tốc độ tăng trưởng huy động đạt mức 15,76%. Năm 2015, do những bất ổn của nền kinh tế cũng đã có những ảnh hưởng không tốt đến nguồn vốn huy động của ngành ngân hàng, tốc độ tăng trưởng huy động giảm còn 13,49%. Năm 2016 tốc độ tăng trưởng huy động tăng mạnh đạt mức 16,88%, là mức cao nhất trong giai đoạn 2014 – 2023. Năm 2017 tốc độ tăng trưởng giảm nhẹ còn 14,5% và tiếp túc giảm còn 11,56% vào năm 2018.

Năm 2019 và 2020, Covid-19 đã có không ít ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam, tuy nhiên dịch bệnh không làm ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng huy động vốn vủa ngành ngân hàng. Tốc độ tăng trưởng vốn năm 2019 đạt mức 12,5% và tiếp túc tăng đến mức 12,87% vào năm 2020, tăng nhẹ so với mức tăng trưởng của năm 2019. Bên cạnh những ảnh hưởng tiêu tực của dịch Covid-19, giai đoạn 2020 – 2021 cũng là thời điểm kinh tế Việt Nam dần hồi phục sau đại dịch, do đó nguồn vốn huy động của ngành ngân hàng cũng chịu nhiều ảnh hưởng. Tốc độ tăng trưởng huy động vốn giảm còn 8,44% vào năm 2021 và tiếp tục giảm sâu ở mức 5,99% ở năm 2022. Năm 2023 tốc độ tăng trưởng huy động tăng mạnh đạt mức 10,85%, là mức tăng trưởng cao nhất trong ba năm qua.

Tình hình huy động vốn tăng trưởng mạnh mẽ cho thấy các ngân hàng có nguồn vốn dồi dào để sử dụng cho hoạt động cho vay cũng như đầu tư sinh lời. Bên cạnh đó, nguồn vốn huy động tăng lên cũng tạo ra những thách thức cho ngân hàng. Nếu không sử dụng nguồn vốn một cách hiệu quả sẽ gây ảnh hưởng xấu đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

4.2.2. Tình hình tăng trưởng tín dụng Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.

Tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2014 đạt mức 14,16% và tăng mạnh đạt 17,29% vào năm 2015. Điều này cho thấy năm 2015 thị trường cần nguồn vốn đề hoạt động kinh doanh, sản xuất trong tình hình diễn biến phức tạp của nền kinh tế do ảnh hưởng của việc giá dầu thô giảm mạnh, từ đó tốc độ tăng trưởng tín dụng tăng mạnh. Giai đoạn 2016 – 2017 tốc độ tăng trưởng tín dụng có những biến động không đáng kể so với năm 2015. Năm 2016 tốc độ tăng trưởng tín dụng đạt mức 18,25% tăng nhẹ so với năm 2015 và tiếp tục tăng nhẹ vào năm 2017, đạt mức 18,28%. Vào giai đoạn 2018 – 2020 tốc độ tăng trưởng tín dụng liên tục giảm. Năm 2018 tốc độ tăng trưởng tín dụng giảm mạnh còn 13,89%, năm 2019 giảm còn 13,65% và tiếp tục giảm vào năm 2020 còn 12,13%. Đây là mức tăng trưởng thấp nhất kể từ năm 2014. Giai đoạn 2021 – 2022 tốc độ tăng trưởng tín dụng có xu hướng tăng lên, đây là giai đoạn nền kinh tế Việt Nam dần hồi phục sau những hậu quả nghiêm trọng của đại dịch Covid – 19. Tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2021 đạt mức 13,53%, tăng nhẹ so với năm 2020 và tiếp tục tăng đến mức 14,5% vào năm 2022. Năm 2023 tốc độ tăng trưởng tín dụng giảm nhẹ còn 13,71%, thấp hơn so với chỉ tiêu 14 – 15% được chỉ đạo tại Chỉ thị số 01/CT-NHNN Về Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành ngân hàng trong năm 2023 được ban hành vào ngày 17 tháng 01 năm 2023.

Nếu vận dụng tín dụng một cách hiệu quả thì sẽ giúp kinh tế đất nước phát triển hơn và ngành ngân hàng cũng phát triển bởi vì đây là một mối quan hệ cộng sinh – cùng nhau sinh lợi. Tín dụng chiếm phần lớn doanh thu của một ngân hàng thương mại, nhưng nó cũng là nghiệp vụ có mức độ rủi ro cao, tỷ lệ cho vay càng cao thì rủi ro càng cao vì vậy cần đặc biệt quan tâm đến quy trình tín dụng, đưa ra các phương pháp quản lý, hoàn thiện quy trình tín dụng. Đồng thời cũng có các biện pháp để xử lý nợ xấu, nợ khó đòi để có thể xử lý một cách tốt nhất. Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.

4.2.3. Tình hình tỷ lệ nợ xấu

Trong giai đoạn 2014 – 2019 tỷ lệ nợ xấu có xu hướng giảm mạnh. Năm 2014, tỷ lệ nợ xấu đạt 3,3%. Đến năm 2015 tỷ lệ nợ xấu giảm còn 2,55% và tiếp tục giảm nhẹ còn 2,46% vào năm 2016. Kết quả xử lý nợ xấu đạt được đã góp phần cải thiện khả năng thanh khoản, mở rộng quy mô tín dụng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Giai đoạn 2017-2019 có tỷ lệ nợ xấu lần lượt là 1,99%, 1,91% và 1,63%. Năm 2019 có tỷ lệ nợ xấu thấp nhất kể từ năm 2014. Tình trạng nợ xấu vẫn luôn tìm ẩn và vẫn đang được tích luỹ. Năm 2020, tỷ lệ nợ xấu không biến động nhiều so với năm 2019, đạt mức 1,69% và tăng nhẹ lên 1,9% vào năm 2021. Năm 2022 tỷ lệ nợ xấu đạt 2,03% và tăng vọt lên đến 4,55% vào năm 2023. Đây là giá trị cao nhất kể từ 10 năm trở lại đây. Những biến động tiêu cực của nền kinh tế thế giới cũng như những khó khăn của nền kinh tế trong nước đã làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp gặp nhiều trở ngại, do đó làm suy giảm khả năng trả nợ vay của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các ngân hàng thương mại cũng cần thận trọng trong việc cấp tín dụng cho khách hàng.

Việc kiểm soát tốt tỷ lệ nợ xấu sẽ là bước đệm để có thể giải quyết tình hình nợ xấu triệt để hơn và cái thiện được quy trình tín dụng ngày càng hiệu quả và chất lượng tín dụng ngày càng được nâng cao.

4.3. Thống kê mô tả Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.

Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính của 22 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 2023, riêng các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô được thu thập từ WorldBank và Tổng cục thống kê bao gồm các biến sau: “tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ”, “quy mô tiền cho vay”, “tỷ lệ dư nợ cho vay so với tiền gửi”, “tỷ lệ vốn chủ sở hữu”, “tỷ lệ chi phí trên doanh thu”, “thu nhập bình quân của nhân viên”, “quy mô  ngân hàng”, “lạm phát”, “tốc độ trăng trưởng GDP”. Số liệu được trình bày dưới dạng thống kê mô tả, mỗi biến được mô tả các nội dung như: Tên biến, Số quan sát, Giá trị trung bình, Độ lệch chuẩn, Giá trị nhỏ nhất, Giá trị lớn nhất để từ đó tiến hành phân tích một cách tổng quát nhất về các biến được đưa vào mô hình.

Bảng 4.1. Thống kê mô tả về giá trị các biến của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 2023

Tên biến Số quan sát Giá trị trung bình Độ lệch chuẩn Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất
ROA 220 0,0095033 0,0067981 0,0002669 0,0323799
NPL 220 0,0198908 0,0114385 0,0046669 0,0727063
LOAN 220 0,6211582 0,1060985 0,2252535 0,8104186
LDR 220 0,9132457 0,1538528 0,3718736 1,469094
ETA 220 0,0867835 0,0331637 0,0406177 0,2202968
TCTR 220 0,4810476 0,1232088 0,02270615 0,8744842
EAI 220 19,41159 0,3421146 18,50363 20,15411
SIZE 220 32,,975 1,236849 30,39251 35,37206
INF 220 0,02871 0,0094312 0,0063 0,0409
GDP 220 0,05901 0,017842 0,0256 0,0802

(Nguồn: Kết quả từ phần mềm Stata 17) Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.

ROA trung bình đạt 0,0095033. Ngân hàng đạt ROA thấp nhất là Sacombank năm 2016 với mức ROA là 0,0002669 và ngân hàng có ROA cao nhất là Techcombank năm 2021 với giá trị ROA đạt 0,0323799.

Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ” – NPL có giá trị trung bình là 0,0198908. Tỷ lệ nợ xấu của Techcombank năm 2020 đạt giá trị thấp nhất với NPL là 0,0046669 và ngân hàng có NPL cao nhất là BaovietBank năm 2020 với giá trị NPL đạt 0,07270603.

Giá trị trung bình của “tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản” qua các năm là 0,6211582 có nghĩa cứ 1 đồng tài sản thì dư nợ cho vay là 0,6211582 đồng. MSB năm 2014 có “tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản” nhỏ nhất là 0,2252535. “Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản” lớn nhất 0,8104186 thuộc về SHB năm 2018.

Trong giai đoạn 2014 – 2023, “tỷ lệ dư nợ cho vay so với tiền gửi” trung bình đạt 0,9132457, điều này có nghĩa là vốn huy động của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam lớn hơn cho vay. Tỷ lệ này thấp nhất là 0,3718736 thuộc về MSB năm 2014. Tỷ lệ cao nhất là 1,469094 thuộc về VPBank năm 2021.

Quy mô vốn chủ sở hữu” được thể hiện qua tỷ lệ vốn chủ sỡ hữu trên tổng tài sản của ngân hàng. Tỷ lệ này có giá trị lớn nhất là 0,2202968 (SaiGonBank năm 2014) và giá trị nhỏ nhất là 0,0406177 (BIDV năm 2017). “Quy mô vốn chủ sở hữu” của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn 2014 -2023 có giá trị trung bình là 0,0867835, có nghĩa cứ 1 đồng vốn đưa vào kinh doanh thì trung bình có 0,0867835 đồng là vốn chủ sở hữu. Vốn chủ sở hữu có vai trò rất quan trọng đối với các ngân hàng.

Tỷ lệ chi phí trên doanh thu” – TCTR có giá trị trung bình là 0,4810476. “Tỷ lệ chi phí trên doanh thu” của SHB năm 2022 đạt giá trị thấp nhất với TCTR là 0,2270615 và ngân hàng có TCTR cao nhất là KienLongBank năm 2020 với giá trị TCTR đạt 0,8744842.

Thu nhập bình quân của nhân viên” có giá trị trung bình là 19,41159 (tương đương 285.339.255 đồng). “Thu nhập bình quân của nhân viên” tại HDBank năm 2014 đạt giá trị nhỏ nhất là 18,50363 (tương đương 108.648.716 đồng) và ngân hàng có chỉ tiêu này cao nhất là Techcombank năm 2023 với giá trị 20,15411 (tương đương 566.003.875 đồng).

Quy mô của các ngân hàng” trong giai đoạn 2014 – 2023 có giá trị trung bình là 32,975, giá trị lớn nhất là 35,37206 (tương đương 2.300.869 tỷ đồng) là giá trị tài sản của ngân hàng BIDV năm 2023. Giá trị nhỏ nhất là 30,39251 (tương đương 15.823 tỷ đồng) là giá trị tài sản của ngân hàng SaiGonBank năm 2014.

Trong giai đoạn 2014 – 2023, “lạm phát” trung bình là 2,871%. “Lạm phát” cao nhất vào năm 2014 với mức độ lạm phát là 4,09% và thấp nhất vào năm 2015 với mức lạm phát là 0,63%. “Lạm phát” biến động mạnh mẽ trong giai đoạn 20142015.

Tốc độ tăng trưởng GDP” trong giai đoạn 2014 – 2023 có giá trị trung bình 0,05901. “Tốc độ tăng trưởng GDP” thấp nhất vào năm 2021 với giá trị 0,0256 và đạt mức tăng trưởng cao nhất là vào năm 2022 với mức tăng trưởng là 0,0802.

4.4. Ma trận tương quan giữa các biến độc lập Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.

Bảng 4.2. Kết quả hệ số tương quan giữa các biến độc lập

NPL LOAN LDR ETA TCTR EAI SIZE INF GDP
NPL 1,0000
LOAN -0,2372 1,0000
LDR -0,0883 0,5134 1,0000
ETA 0,0944 -0,1435 0,1452 1,0000
TCTR 0,2306 -0,2697 -0,5138 -0,0347 1,0000
EAI -0,3230 0,3331 0,3805 -0,1752 0,6489 1,0000
SIZE -0,2070 0,4051 0,2943 -0,4365 -,06126 0,7463 1,0000
INF 0,0776 0,0019 0,0531 -0,0327 -0,0299 0,0482 0,0323 1,0000
GDP 0,0008 -0,0310 -0,0469 -0,0030 0,1286 -0,1638 -0,0904 0,1457 1,0000

(Nguồn: Kết quả từ phần mềm Stata 17)

Sau khi thực hiện thống kê mô tả, nghiên cứu tiến hành sử dụng ma trận tương quan giữa các biến độc lập nhằm tìm ra và loại trừ hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình. Đa cộng tuyến là tình trạng mà một hoặc nhiều biến độc lập trong mô hình hồi quy có mối tương quan cao với nhau. Điều này có thể dẫn đến ước tính các hệ số hồi quy trở nên không chính xác và không ổn định, làm giảm độ tin cậy của mô hình và khó xác định được tác động riêng biệt của từng biến độc lập đến biến phụ thuộc.

Hệ số tương quan của hai biến độc lập có giá trị trong khoảng (-1,1). Hệ số tương quan của hai biến độc lập có giá trị tuyệt đối lớn hơn 0,8 có thể khẳng định có hiện tượng đa cộng tuyến xảy ra. Kết quả từ bảng 4.2 cho thấy hệ số tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình khá thấp, không có hệ số nào có giá trị tuyệt đối lớn hơn 0,8 do đó không cần loại bỏ biến.

4.5. Phân tích hồi quy mô hình nghiên cứu 

4.5.1. Kết quả hồi quy Pooled OLS Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.

Bảng 4.3. Kết quả phân tích hồi quy theo Pooled OLS

Biến độc lập Hệ số β P – value
NPL -0,1006536 0,000
LOAN -0,0189321 0,000
LDR 0,0163891 0,000
ETA 0,0688948 0,000
TCTR -0,0128181 0,000
EAI 0,0050783 0,000
SIZE 0,0010421 0,009
INF 0,0382023 0,167
GDP 0,0010057 0,946
CONSTANT -0,12561 0,000
R – SQUARE 0,7068

(Nguồn: Kết quả tính toán từ phần mềm Stata 17)

  • Mô hình nghiên cứu được trình bày dưới dạng:

ROA = – 0,12561 – 0,1006536*NPLi,t – 0,0189321*LOANi,t + 0,0163891*LDRi,t  + 0,0688948*ETAi,t – 0,0128181*TCTR + 0,0050783*EAIi,t + 0,0010421*SIZEi,t

Các biến NPL, LOAN, LDR, ETA, TCTR, EAI, SIZE có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Các biến độc lập không có ý nghĩa thống kê bao gồm INF, GDP. Giá trị của hệ số xác định R2 = 70,68% là biến động của biến phụ thuộc được giải thích bởi các biến độc lập trong mô hình hồi quy, phần còn lại là biến động của biến phụ thuộc chưa được giải thích bởi các biến độc lập trong mô hình hồi quy mà gây ra do sai số hoặc các yếu tố khác chưa đưa vào mô hình.

Các biến NPL, LOAN, TCTR có tương quan nghịch với ROA ở mức ý nghĩa 1%. Bên cạnh đó, mô hình cũng có thấy các biến LDR, ETA, EAI, SIZE có tương quan thuận với ROA ở mức ý nghĩa 1%. Biến SIZE có tác động nhỏ nhất đến biến phụ thuộc ROA. Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.

4.5.2. Kết quả hồi quy FEM (Fixed Effects Model)

Bảng 4.4. Kết quả hồi quy theo Fixed Effects Model

Biến độc lập Hệ số β P – value
NPL -0,0348549 0,161
LOAN -0,0089853 0,066
LDR 0,0144415 0,000
ETA 0,0439106 0,000
TCTR -0,018768 0,000
EAI 0,006242 0,000
SIZE -0,007479 0,469
INF 0,0341287 0,079
GDP -0,0000846 0,994
CONSTANT -0,0896741 0,000
R – SQUARE 0,6619

(Nguồn: Kết quả tính toán từ phần mềm Stata 17)

Mô hình hồi quy có dạng:

ROA =  –  0,0896741 –  0,0089853*LOANi,t  +  0,014415*LDRi,t  + 0,0439106*ETAi,t – 0,018768*TCTRi,t + 0,006242*EAIi,t + 0,0341287*INFi,t 

Kết quả mô hình hồi quy cho thấy NPL, SIZE và GDP chưa có ý nghĩa ở mức 10% đối với mô hình nghiên cứu.

Biến LDR, ETA, EAI có tác động cùng chiều với biến phụ thuộc ROA ở mức ý nghĩa 1%, biến INF có tác động cùng chiều với biến phụ thuộc ROA ở mức ý nghĩa 10%. Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.

Biến TCTR có tác động ngược chiều đến biến phụ thuộc ROA ở mức ý nghĩa 1% và LOAN có tác động ngược chiều đến biến phụ thuộc ROA ở mức ý nghĩa 10%.

Biến độc lập INF có tác động  nhỏ nhất đến biến phụ thuộc ROA.

4.5.3. Kết quả hồi quy REM (Random Effects Model)

Bảng 4.5. Kết quả hồi quy theo Random Effects Model

Biến độc lập Hệ số β P – value
NPL -0,0481871 0,034
LOAN -0,0110443 0,009
LDR  0,0143206 0,000
ETA  0,0471903 0,000
TCTR -0,0180117 0,000
EAI  0,0055677 0,000
SIZE  0,0000141 0,982
INF  0,0337133 0,079
GDP  0,0015305 0,882
CONSTANT -0,100788 0,000
R – SQUARE 0,6876

(Nguồn: Kết quả tính toán từ phần mềm Stata 17)

Mô hình hồi quy được trình bày dưới dạng:

ROA =  –  0,100788 – 0,0481871*NPLi,t  – 0,0110443*LOANi,t  + 0,0143206*LDRi,t + 0,0471903*ETAi,t – 0,0180117*TCTRi,t + 0,0055677*EAIi,t + 0,0337133*INFi,t

Kết quả từ bảng 4.5 cho thấy biến độc lập LDR, ETA, EAI tác động cùng chiều với biến phụ thuộc ROA ở mức ý nghĩa 1%, biến INF tác động cùng chiêu với biến phục thuộc ROA ở mức ý nghĩa 10%.

Biến độc lập LOAN và TCTR có tác động ngược chiều với biến phụ thuộc ROA ở mức ý nghĩa 1%. Biến NPL có tác động ngược chiều với ROA ở mức ý nghĩa 5%.

Ngoài ra, kết quả cũng đã chỉ ra rằng biến độc lập SIZE và GDP không có ý nghĩa ở mức 10%.

4.5.4. Kiểm định lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.

  • So sánh giữa mô hình Pooled OLS và Fixed Effects Model

Bảng 4.6. Kết quả so sánh giữa mô hình Pooled và FEM

Chỉ số Kết quả
F (21,189) 11,80
Prob > F 0,0000
Kết luận FEM là mô hình phù hợp hơn

(Nguồn: Kết quả tính toán từ phần mềm Stata 17)

So sánh giữa mô hình Pooled OLS và Fixed Effects Model với giả thuyết:

  • H0: Chọn mô hình Pooled OLS
  • H1: Chọn mô hình Fixed Effects Model

Với mức ý nghĩa 5%, Pvalue = 0.0000  <  5% nên bác bỏ giả thuyết H0, chấp nhận giả thuyết H1. Vậy chọn mô hình Fixed Effects Model.

  • So sánh giữa mô hình Fixed Effects Model và Random Effects Model

So sánh giữa mô hình Fixed Effects Model và Random Effects Model với giả thuyết:

  • H0: Chọn mô hình Random Effects Model
  • H1: Chọn mô hình Fixed Effects Model

Bảng 4.7. Kết quả kiểm định Hausman

Chỉ số Kết quả
Chi2(9) 5,26
Prob > chi2 0,8106
Kết luận REM là mô hình phù hợp hơn

(Nguồn: Kết quả tính toán từ phần mềm Stata 17)

Qua kiểm định Hausman, với mức ý nghĩa 5%, Pvalue = 0,8106 > 5% nên nên bác bỏ giả thuyết H1, chấp nhận giả thuyết H0. Vậy chọn mô hình Random Effects Model.

Với kết quả trên bảng 4.5, mô hình hồi quy được viết lại dưới dạng:

ROA =   –  0,100788 –  0,0481871*NPLi,t   – 0,0110443*LOANi,t + 0,0143206*LDRi,t + 0,0471903*ETAi,t – 0,0180117*TCTRi,t + 0,0055677*EAIi,t + 0,0337133*INFi,t

4.6. Kiểm định các khuyết tật của mô hình Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.

4.6.1. Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 

VIF (Variance Inflation Factor) là kiểm định được dùng để phát hiện hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình hồi quy. Mức giá trị VIF thường được sử dụng để xác định hiện tượng đa cộng tuyến là 10.Nếu VIF của một biến độc lập có giá trị lớn hơn 10 có thể khẳng định rằng biến độc lập này có hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng.

Bảng 4.8. Kết quả kiểm định đa cộng tuyến của các biến độc lập trong mô hình

Variable VIF 1/VIF
SIZE 3,76 0,266168
EAI 2,91 0,344178
TCTR 2,51 0,398513
LDR 1,90 0,526543
LOAN 1,66 0,603450
ETA 1,58 0,632181
NPL 1,21 0,825895
GDP 1,07 0,938166
INF 1,04 0,957885
Mean VIF 1,96

(Nguồn: Kết quả tính toán từ phần mềm Stata 17)

Với kết quả tính toán từ bảng 4.8 có thể thấy các biến độc lập của mô hình đều có giá trị nhỏ hơn 10, do đó có thể kết luận không có hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng xảy ra trong mô hình.

4.6.2. Kiểm định phương sai thay đổi Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.

Kiểm định phương sai thay đổi nhằm phát hiện tình trạng phương sai của sai số trong mô hình không đồng nhất. Mô hình có hiện tượng phương sai thay đổi sẽ làm ảnh hưởng đến kết quả ước lượng, làm cho nó không còn hiệu quả. Bên cạnh đó, các sai số chuẩn được ước tính sẽ không chính xác, dẫn đến các sai lầm trong các kiểm định thống kê và khoảng tin cậy. Do đó, việc kiểm định và xử lý hiện tượng phương sai thay đổi có vai trò rất quan trọng. Nghiên cứu tiến hành kiểm định phương sai thay đổi bằng kiểm định Breusch – Pargan Test với giả thuyết:

  • H0: Không có hiện tượng phương sai thay đổi
  • H1: Có hiện tượng phương sai thay đổi

Bảng 4.9. Kết quả kiểm định Modified Wald Test

Chỉ số Kết quả
Chi2 (01) 221,66
Prob>chi2 0,0000

(Nguồn: Kết quả tính toán từ phần mềm Stata 17)

Với mức ý nghĩa 5%, mô hình có Pvalue = 0,0000 < 5% nên bác bỏ H0, chấp nhận H1: Mô hình có hiện tượng phương sai thay đổi.

4.6.3. Kiểm định hiện tượng tự tương quan

Kiểm định hiện tượng tự tương quan trong mô hình hồi quy là một phép kiểm định thống kê nhằm xác định có hiện tượng tự tương quan giữa các sai số trong mô hình hay không. Tự tương quan là hiện tượng các sai số trong mô hình hồi quy không độc lập với nhau, mà có mối tương quan theo thời gian hoặc không gian. Hiện tượng tự tương quan tồn tại trong mô hình sẽ làm kết quả ước lượng không còn đáng tin cậy. Nghiên cứu tiến hành kiểm định Wooldridge Test với giả thuyết:

  • H0: Mô hình không có hiện tượng tự tương quan
  • H1: Mô hình có hiện tượng tự tương quan

Bảng 4.10. Kết quả kiểm định Wooldridge Test

Chỉ số Kết quả
F(1, 21) 5,526
Prob > F 0,0286

(Nguồn: Kết quả tính toán từ phần mềm Stata 17)

Với mức ý nghĩa là 5%, Kiểm định mô hình cho kết quả Pvalue = 0,0286 < 0,05 nên bác bỏ giả thuyết H0, chấp nhận giả thuyết H1: Mô hình có hiện tượng tự tương quan. Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.

4.6.4. Tổng hợp kết quả kiểm định

Qua kết quả kiểm định từng phần, có thể thấy: Mô hình không có hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng. Tuy nhiên, mô hình có hiện  tượng phương sai thay đổi và có hiện tượng tự tương quan. Hiện tượng này sẽ làm cho  các ước lượng thu được bằng phương pháp hồi quy thông thường trên dữ liệu bảng không còn đáng tin. Do vậy, cần phải sử dụng phương pháp Feasible Generalized Least Square (FGLS) để khắc phục hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi để đảm bảo ước lượng thu được đáng tin cậy.

4.7. Khắc phục các khuyết tật trong mô hình hồi quy

Mô hình có hiện tượng tự tương quan và hiện tượng phương sai thay đổi, do đó tiến hành khắc phục các khuyết tật trong mô hình bằng phương pháp Feasible Generalized Least Square (FGLS).

Bảng 4.11. Kết quả khắc phục hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi bằng phương pháp FGLS

  Wald chi2(9) = 291,43, Prob > chi2 = 0,0000
Tên biến Hệ số Sai số chuẩn z P>|z|
NPL -0,0457548 0,0203629 -2,25 0,025
LOAN -0,0110313 0,0031492 -3,50 0,000
LDR 0,0076539 0,0022783 3,36 0,001
ETA 0,0833656 0,0118757 7,02 0,000
TCTR -0,0147486 0,0024586 -6,00 0,000
EAI 0,0046414 0,0010738 4,32 0,000
SIZE 0,0009276 0,0003952 2,35 0,019
INF 0,0266439 0,01194 2,23 0,026
GDP 0,0110737 0,0069244 1,60 0,110
Constant -0,1123261 0,0174846 -6,42 0,000

(Nguồn: Kết quả tính toán từ phần mềm Stata 17) Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.

Qua kết quả của mô hình, ta thấy các biến độc lập NPL, LOAN, LDR, ETA, TCTR, EAI, SIZE, INF đều có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%. Biến GDP không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 10%.

Kết quả mô hình hồi quy cho thấy “tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản” – LOAN và “tỷ lệ chi phí trên doanh thu” – TCTR có tác động ngược chiều đến biến phụ thuộc ROA ở mức ý nghĩa 1%, “tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ” – NPL có tác động ngược chiều với biến phụ thuộc ROA ở mức ý nghĩa 5%. Trong đó, biến độc lập TCTR có tác động lớn nhất và biến độc lập NPL có tác động nhỏ nhất đến biến phụ thuộc ROA.

Các biến “tỷ lệ dư nợ cho vay do với tiền gửi” – LDR, “quy mô vốn chủ sở hữu” – ETA và “thu nhập bình quân của nhân viên” – EAI có tác động cùng chiều với biến phụ thuộc ROA ở mức ý nghĩa 1%, “quy mô ngân hàng” – SIZE và “lạm phát” – INF có tác động cùng chiều với biến phụ thuộc ROA ở mức ý nghĩa 5%. Trong đó, các biến độc lập ETA, EAI có tác động lớn nhất đến biến phụ thuộc ROA và biến INF có tác động nhỏ nhất đến ROA.

Bảng 4.12. So sánh dấu kỳ vọng với kết quả mô hình hồi quy

STT Tên biến hiệu Cách đo lường Kỳ vọng dấu Kết quả mô hình hồi quy
Biến phụ thuộc
1 Tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản ROA Lợi nhuận sau thuế/ Tổng tài sản
Biến độc lập
1 Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ NPL Nợ xấu/  Dư nợ cho vay
2 Quy mô tiền cho vay LOAN Cho vay/ Tổng tài sản
3 Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tiền gửi LDR Dư nợ cho vay/ Tiền gửi + +
4 Tỷ lệ vốn chủ sở hữu ETA Vốn chủ sở hữu/ Tổng tài sản + +
5 Tỷ lệ chi phí trên doanh thu TCTR Tổng chi phí/ Doanh thu
6 Thu nhập bình quân của nhân viên EAI Chi phí nhân viên/Số nhân viên bình quân + +
7 Quy mô  ngân hàng SIZE Logarit cơ số tự nhiên của tổng tài sản + +
8 Lạm phát INF Mức độ lạm phát + +
9 Tốc độ tăng trưởng GDP GDP Tốc độ tăng trưởng GDP +

(Nguồn: Tác giả tổng hợp)

4.8. Phân tích kết quả hồi quy Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.

  • Mô hình hồi quy:

ROA = – 0,1123261 – 0,0457548*NPLi,t  – 0,0110313*LOANi,t + 0,0076539*LDRi,t + 0,0833656*ETAi,t – 0,0147486*TCTRi,t + 0,0046414*EAIi,t + 0,0009276*SIZEi,t + 0,0266439*INFi,t

Bảng 4.13. Bảng kết quả hồi quy

Tên biến Coef. P > |z|
NPL – 0,0457548 0,025**
LOAN – 0,0110313 0,000***
LDR 0,0076539 0,001***
ETA 0,0833656 0,000***
TCTR – 0,0147486 0,000***
EAI 0,0046414 0,000***
SIZE 0,0009276 0,019**
INF 0,0266439 0,027**
GDP 0,0110737 0,110
_cons – 0,1123261 0,000***

(Nguồn: Kết quả khắc phục hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi bằng phương pháp FGLS từ phần mềm Stata 17)

Trong đó: Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.

  • *** : biến độc lập có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1%
  • ** : biến độc lập có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5%
  • *: biến độc lập có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 10%

Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ” (NPL) luôn là tỷ lệ nhận được sự quan tâm của các ngân hàng cũng như công tác điều hành quản lý nền kinh tế quốc gia. Theo kết quả ước lượng, “tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ” có hệ số hồi quy = – 0,0457548, có dấu âm phù hợp với kỳ vọng phân tích của mô hình và nghiên cứu trước đây của tác giả Đặng Thị Minh Nguyệt cùng cộng sự (2021), Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013). Khi nợ xấu tăng thêm một đơn vị thì sẽ làm “hiệu quả hoạt động giảm” đi 0,0457548 đơn vị. Kết quả này cho thấy, ngân hàng có khả năng kiểm soát tốt nợ xấu thì “tỷ lệ nợ xấu” giảm, “hiệu quả hoạt động của ngân hàng” sẽ được nâng cao. Điều này cho thấy, để tăng “hiệu quả hoạt động”, các ngân hàng không chỉ tập trung phát triển quy mô mà cần phải quan tâm chú ý đến chất lượng sản phẩm dịch vụ, hạn chế nợ xấu vì đây là yếu tố có thể phá hủy thành quả hoạt động của ngân hàng nếu thiếu sự kiểm soát một cách hệ thống, thường xuyên và liên tục. Dựa trên bảng kết quả hồi quy có thể thấy mối tương quan nghịch giữa “tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ” NPL và “hiệu quả hoạt động” ROA có ý nghĩa thống kê. Đề tài chấp nhận giả thuyết H1 ở mức ý nghĩa 5%.

Quy mô tiền cho vay” (LOAN) có ảnh hưởng đến “hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam”. LOAN có hệ số hồi quy là – 0,0110313 và nó tác động ngược chiều đến ROA. Điều này cho thấy “tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản” càng cao thì “hiệu quả hoạt động” càng giảm. Khi ngân hàng gia tăng “quy mô tiền cho vay” quá nhanh mà không có biện pháp quản lý rủi ro phù hợp, sẽ dẫn đến việc chất lượng tín dụng giảm sút. Tỷ lệ nợ xấu có thể tăng cao, ảnh hưởng đến lợi nhuận và vốn của ngân hàng. Vì vậy, các ngân hàng cần cân bằng giữa việc mở rộng quy mô tín dụng và quản lý rủi ro, đảm bảo tăng trưởng lành mạnh của ngân hàng. Kết quả từ mô hình hồi quy đúng với kỳ vọng của nghiên cứu và giống với kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình cùng cộng sự (2021). Kết quả hồi quy cho thấy mối tương quan nghịch giữa “tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản” LOAN và “hiệu quả hoạt động” ROA có ý nghĩa thống kê. Đề tài chấp nhận giả thuyết H2 ở mức ý nghĩa 1%.

Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tiền gửi” (LDR) có hệ số hồi quy là 0,0076539 có tương quan thuận với ROA, đúng với kỳ vọng phân tích. Dựa trên bảng kết quả hồi quy có thể thấy mối tương quan thuận giữa “tỷ lệ dư nợ cho vay so với tiền gửi” LDR và “hiệu quả hoạt động” ROA có ý nghĩa thống kê. Đề tài chấp nhận giả thuyết H3 ở mức ý nghĩa 1%. Lợi nhuận chủ yếu mà ngân hàng thu được đến từ khoảng cách lãi suất giữa huy động và cho vay. Khi LDR ở mức hợp lý cho thấy ngân hàng sử dụng nguồn vốn huy động một cách hiệu quả, có thể tối ưu hóa việc sử dụng nguồn vốn huy động từ khách hàng để cho vay và thu lãi. Điều này giúp tăng thu nhập lãi thuần, nâng cao lợi nhuận. Như vậy nếu LDR càng cao thì “hiệu quả hoạt động của ngân hàng” càng cao. Điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu của các tác giả Bùi Văn Trịnh cùng cộng sự (2023), Đào Mỹ Hằng cùng cộng sự (2023), Nguyễn Thị Thanh Bình cùng cộng sự (2021). Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.

Hệ số hồi quy của biến ETA là 0,0833656. Kết quả này cho thấy “tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản” có tác động cùng chiều với “hiệu quả hoạt động”. Khi “tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản” tăng thêm 1 đơn vị thì ROA sẽ tăng thêm 0,0833656 đơn vị. Chỉ số ETA cao cho phép ngân hàng có thể chịu đựng được những tổn thất lớn hơn mà không bị phá sản. Điều này giúp tăng cường khả năng chống chịu rủi ro của ngân hàng. Với “tỷ lệ vốn chủ sở hữu” cao các ngân hàng sẽ nhận được lòng tin từ khách hàng và nhà đầu tư, từ đó có thể huy động thêm nguồn vốn, nguồn vốn được tiếp cận một cách dễ dàng hơn. Bên cạnh đó, với chỉ số ETA hợp lý cho phép ngân hàng tối ưu hóa việc sử dụng vốn, giảm chi phí vốn và tăng lợi nhuận. Điều này góp phần cải thiện hiệu quả hoạt động chung của ngân hàng. Dựa trên bảng kết quả hồi quy có thể thấy mối tương quan thuận giữa “tỷ lệ vốn chủ sở hữu” ETA và “hiệu quả hoạt động” ROA có ý nghĩa thống kê. Đề tài chấp nhận giả thuyết H4 ở mức ý nghĩa 1%. Kết quả nghiên cứu phù hợp với kỳ vọng và giống với nghiên cứu của Bùi Văn Trịnh cùng cộng sự (2023), Đào Mỹ Hằng cùng cộng sự (2023), Nguyễn Chí Đức cùng cộng sự (2023), Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013).

Hệ số hồi quy của TCTR là – 0,0147486. “Tỷ lệ chi phí trên doanh thu” (TCTR) càng cao thì “hiệu quả hoạt động” càng thấp, nó thể hiện ở dấu âm của biến TCTR trong mô hình hồi quy. Dựa trên bảng kết quả hồi quy có thể thấy mối tương quan nghịch giữa “tỷ lệ chi phí trên doanh thu” TCTR và “hiệu quả hoạt động” ROA có ý nghĩa thống kê. Đề tài chấp nhận giả thuyết H5 ở mức ý nghĩa 1%. Kết quả của nghiên cứu phù hợp với kỳ vọng và giống với kết quả nghiên cứu của Bùi Văn Trịnh cùng cộng sự (2023), Elouali Jaouad và Oubdi Lahsen (2018), Nguyễn Thị Thanh Bình cùng cộng sự (2021), Nicholas Mbugua Njoki & Dr. Winnie Nyamute (2023), Nguyễn Chí Đức cùng cộng sự (2023), Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013). Các ngân hàng lớn với nhiều chi nhánh, phòng giao dịch sẽ phải chịu một khoản chi phí lớn. Chi phí tăng cao hơn so với thu nhập là nguyên nhân gây ra ảnh hưởng tiêu cực đến “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Như vậy, “hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại” sẽ tăng khi kiểm soát tốt chi phí hoạt động của ngân hàng.

Hệ số hồi quy của “thu nhập bình quân của nhân viên” (EAI) là 0,0046414. Biến độc lập EAI có tương quan cùng chiều với “hiệu quả hoạt động của ngân hàng” ROA ở mức ý nghĩa 1%. Đề tài chấp nhận giả thuyết H6. Nghiên cứu cho thấy yếu tố quản trị nguồn nhân lực có tác động đến “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Kết quả nghiên cứu phù hợp với kết quả nghiên cứu của tác giả HUỳnh Minh Tâm (2023).Mặc dù cách đo lường về sự tác động của yếu tố quản trị nguồn nhân lực là khác nhau nhưng sự tác động cùng chiều này phù hợp với kết quả nghiên cứu của tác giả Đặng Thị Minh Nguyệt cùng cộng sự (2021). Quản trị nguồn nhân lực cso vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát triển “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Đãi ngộ nhân sự là một trong những hoạt động quản trị nhân sự quan trọng, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hiệu quả làm việc của người lao động cũng như quyết định kết quả thực hiện mục tiêu của mỗi ngân hàng. Đãi ngộ của nhân viên tốt sẽ giúp họ có động lực phát huy và cống hiến hết sức mình, từ đó góp phần nâng cao “hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

Hệ số hồi quy của biến SIZE là 0,0009276. Nó cho thấy “quy mô ngân hàng” có tác động tích cực tới “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Kết quả này phù hợp với kỳ vọng của tác giả và được sự ủng hộ của Bùi Văn Trịnh cùng cộng sự (2023), Đào Mỹ Hằng cùng cộng sự (2023), Elouali Jaouad và Oubdi Lahsen (2018), Nguyễn Phúc Quý Thạnh (2019), Nguyễn Thị Thanh Bình cùng cộng sự (2021), Nicholas Mbugua Njoki & Dr. Winnie Nyamute (2023), Nguyễn Chí Đức cùng cộng sự (2023). Như vậy, tổng tài sản của ngân hàng góp phần nâng cao “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”, theo kết quả mô hình thì khi biến SIZE tăng thêm 1 đơn vị thì ROA tăng thêm 0,0009276 đơn vị. Ngoài ra, mối tương quan này còn thể hiện hiệu quả hoạt động tăng khi các ngân hàng càng mở rộng quy mô. Dựa trên bảng kết quả hồi quy có thể thấy mối tương quan thuận giữa “quy mô ngân hàng” SIZE và “hiệu quả hoạt động” ROA có ý nghĩa thống kê. Giả thuyết H7 được chấp nhận ở mức ý nghĩa 5%. Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.

Biến INF có tác động cùng chiều đến ROA và có hệ số hồi quy là 0,0266439, kết quả nghiên cứu của Ehsan Waquar Ahmad cùng cộng sự (2022), Đào Mỹ Hằng cùng cộng sự (2023), Nguyễn Chí Đức cùng cộng sự (2023) cùng đưa ra kết luận: “lạm phát” có tác động tích cực đến “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Khi “lạm phát” tăng, lãi suất thường tăng lên. Điều này giúp ngân hàng có thể tăng lãi suất cho vay, từ đó gia tăng thu nhập lãi thuần. Bên cạnh đó, “lạm phát” cũng làm tăng giá trị của các tài sản như bất động sản, chứng khoán mà ngân hàng đang sở hữu. Điều này giúp tăng giá trị tài sản và vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Tuy nhiên, sự tăng lên của “lạm phát” cũng sẽ làm gia tăng rủi ro tín dụng do khách hàng khó trả nợ. Do đó, ngân hàng cần theo dõi sát diễn biến “lạm phát” và có chiến lược quản lý phù hợp để tận dụng tối đa những tác động tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực. Việc quản lý hiệu quả các tác động của lạm phát sẽ giúp ngân hàng cải thiện “hiệu quả hoạt động” và tăng cường sức cạnh tranh. Dựa trên bảng kết quả hồi quy có thể thấy mối tương quan thuận giữa “lạm phát” INF và “hiệu quả hoạt động” ROA có ý nghĩa thống kê. Đề tài chấp nhận giả thuyết H8 ở mức ý nghĩa 5%.

Nghiên cứu cho thấy không có tương quan giữa “tốc độ tăng trưởng GDP” (GDP) và “hiệu quả hoạt động ngân hàng” (ROA) ở mức ý nghĩa 10%. Kết quả này đồng nhất với nghiên cứu của Elouali Jaouad và Oubdi Lahsen (2018), Nguyễn Chí Đức cùng cộng sự (2023) và không đồng nhất với nghiên cứu Ehsan Waquar Ahmad cùng cộng sự (2022), Đào Mỹ Hằng cùng cộng sự (2023). Nghiên cứu không chấp nhận giả thuyết H9: “Tốc độ tăng trưởng GDP” có tác động cùng chiều với “hiệu quả hoạt động” ROA.

Tóm lại, theo kết quả của mô hình thì các biến độc lập LDR, ETA, EAI, SIZE, INF có mối tương quan cùng chiều với “hiệu quả hoạt động” của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2014 -2023, trong khi đó NPL, LOAN, TCTR có tác động ngược chiều đến ROA. Điều này chứng tỏ rằng khi “tỷ lệ dư nợ cho vay trên tiền gửi”, “tỷ lệ vốn chủ sở hữu”, “thu nhập bình quân của nhân viên”, “quy mô ngân hàng” và “làm phát” tăng thì “hiệu quả hoạt động” của 22 ngân hàng được nghiên cứu trong vòng 10 năm có xu hướng tăng. Và khi “tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ”, “tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản” và “tỷ lệ chi phí trên doanh thu” tăng thì “hiệu quả hoạt động của ngân hàng” có xu hướng giảm. Bên cạnh đó, bài nghiên cứu của tác giả chưa đủ cơ sở để tìm ra mối tương quan giữa GDP đối với “hiệu quả hoạt động” của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2014 – 2023.

TÓM TẮT CHƯƠNG 4

Tác giả đã tiến hành phân tích các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của 22 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 2023 thông qua việc thống kê mô tả, phân tích ma trận tương quan, kiểm định đa cộng tuyến và sử dụng các mô hình hồi quy thông qua sự hỗ trợ của phần mêm Stata 17.  Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.

Kết quả cuối cùng của mô hình FGLS cho thấy: các biến độc lập LDR, ETA, EAI, SIZE, INF có mối tương quan cùng chiều với “hiệu quả hoạt động” của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2014 -2023, trong khi đó NPL, LOAN, TCTR có tác động ngược chiều đến ROA. Bên cạnh đó, nghiên cứu của tác giả chưa đủ cơ sở để tìm ra mối tương quan giữa GDP đối với “hiệu quả hoạt động” của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2014 – 2023.

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

5.1. Kết luận

Đề  tài “Các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam” đã tập trung vào phân tích và đánh giá sự tác động của các nhân tố có tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay. Kết quả nghiên cứu hi vọng sẽ phần nào thể hiện cũng như giúp các ngân hàng có hướng đi đúng đắn trong thời gian sắp tới để đạt được tối ưu hiệu quả hoạt động.

Để phân tích tác động của các yếu tố nội tại cũng như các yếu tố vĩ mô đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2014 – 2023, tác giả đã sử dụng dữ liệu bảng gồm 22 ngân hàng ở Việt Nam giai đoạn 2014 – 2023.

Tác giả đã trình bày các nội dung cơ bản về đề tài trong chương 1 và các lý thuyết liên quan đến chủ đề cũng như các bằng chứng thực nghiệm thông qua các nghiên cứu trước ở chương 2. Tại chương 3 tác giả tiến hành xây dựng mô hình, thực hiện hồi quy và thu kết quả mô hình nghiên cứu ở chương 4. Trong chương 5, luận văn nghiên cứu đã trả lời các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra ban đầu như sau:

Câu hỏi thứ nhất: Những yếu tố nào sẽ tác động đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam?

Hiệu quả hoạt động của ngân hàng” được đo lường bằng lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản. Thông qua kết quả hồi quy và phân tích ở các chương trước, tác giả kết luận rằng có tám yếu tố tác động đến “hiệu quả hoạt động” của ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2014 – 2023 gồm: “tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ”, “quy mô tiền cho vay”, “tỷ lệ dư nợ cho vay so với tiền gửi”, “tỷ lệ vốn chủ sở hữu”, “tỷ lệ chi phí trên doanh thu”, “thu nhập bình quân của nhân viên”, “quy mô ngân hàng” và “lạm phát”. Tác giả chưa tìm thấy tác động của “tốc độ tăng trưởng GDP” đến “hiệu quả hoạt động” của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2014 – 2023.

Câu hỏi thứ hai: Mức độ tác động và chiều hướng tác động của các yếu tố này đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam như thế nào? Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.

Sau khi xác định được các yếu tố tác động đến “hiệu quả hoạt động” của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2014 – 2023, tác giả tiến hành phân tích mức độ và chiều hướng tác động của các biến độc lập đến các biến phụ thuộc.

Nghiên cứu cho thấy “hiệu quả hoạt động của ngân hàng” tỷ lệ nghịch với “quy mô tiền cho vay” và “tỷ lệ chi phí trên doanh thu” ở mức ý nghĩa 1%, “tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ” có tác động ngược chiều đến “hiệu quả hoạt động của ngân hàng” ở mức ý nghĩa 5%. Điều này cho thấy nợ xấu và chi phí càng cao thì “hiệu quả hoạt động” càng giảm và quy mô tiền cho vay càng cao thì rủi ro tín dụng càng lớn, ảnh hưởng không tốt đến “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”.

Bên cạnh đó, “hiệu quả hoạt động của ngân hàng” tỷ lệ thuận với “tỷ lệ dư nợ cho vay so với tiền gửi”, “tỷ lệ vốn chủ sở hữu” và “thu nhập bình quân của nhân viên” ở mức ý nghĩa 1%, “quy mô ngân hàng” và “lạm phát” có tác động cùng chiều lên “hiệu quả hoạt động của ngân hàng” ở mức ý nghĩa 5%. Điều này cho thấy, khi vốn chủ sở hữu, tổng tài sản và thu nhập của nhân viên tăng lên và khi ngân hàng sử dụng tốt nguồn vốn huy động để cho vay cùng với sự tăng lên có kiểm soát của lạm phát thì “hiệu quả hoạt động của ngân hàng” cũng sẽ tăng lên.

Câu hỏi thứ ba: Những hàm ý chính sách liên quan đến nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam là gì?

Những hàm ý chính sách liên quan đến nâng cao “hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam” được trình bày trong phần 5.2.

5.2. Hàm ý chính sách

5.2.1. Quản lí hiệu quả chi phí hoạt động 

Kết quả của mô hình thể hiện mối tương quan nghịch chiều cực kì mạnh mẽ của “tỷ lệ chi phí trên thu nhập” đối với “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Thực tế, xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức cho ngành ngân hàng Việt Nam. Nền kinh tế thời gian qua gặp nhiều bất ổn, hoạt động của ngành ngân hàng cũng không còn dễ dàng như thời gian trước. Do đó, để cải thiện hiệu quả hoạt động, các ngân hàng Việt Nam cần cắt giảm tối đa các chi phí không mang lại hiệu quả cho ngân hàng. Thực tế việc mở và duy trì quá nhiều kênh phân phối của các ngân hàng thương mại trong gia đoạn khó khăn đã làm gia tăng đáng kể chi phí hoạt động qua đó làm sụt giảm lợi nhuận của ngân hàng.Bên cạnh đó cần hạn chế tối đa việc phát sinh những chi phí không cần thiết, từ đó cải thiện hiệu quả hoạt động của ngân hàng, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam.

5.2.2. Xử lý và ngăn ngừa nợ xấu  Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.

Nghiên cứu cho thấy nợ xấu trong có tác động tiêu cực đến “hiêu quả hoạt động của các ngân hàng”. Thời gian qua, nợ xấu được xử lí thông qua các giải pháp kinh tế như sử dụng ngân sách hoặc các giải pháp để xoá nợ. Tuy nhiên việc này chỉ xử lý được phần nổi mà không giải quyết triệt để vấn đề nợ xấu của các ngân hàng. Nguyên nhân từ phía các ngân hàng là do có nhiều bất cập trong hoạt động quản lí rủi ro, chính sách còn lỏng lẻo, thiếu minh bạch trong việc làm hồ sơ cũng như đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận cán bộ ngân hàng suy giảm trầm trọng. Việc ngăn ngừa nợ xấu phần nào chịu sự tác động từ chất lượng hoạt động tín dụng. “Xử lý và ngăn ngừa nợ xấu” là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các ngân hàng nhằm bảo đảm an toàn và hiệu quả trong hoạt động. Vì vậy, để “xử lý và ngăn ngừa nợ xấu” hiệu quả, các ngân hàng cần cần kiểm soát tốt rủi ro tín dụng bằng cách xây dựng quy trình thẩm định, phê duyệt và giám sát tín dụng chặt chẽ, đánh giá và phân loại nợ định kỳ, kịp thời phát hiện các khoản nợ có dấu hiệu suy giảm, tăng cường giám sát, quản lý và thu hồi nợ đối với các khoản nợ có nguy cơ trở thành nợ xấu. Bên cạnh đó, cần áp dụng các biện pháp thu hồi nợ như thương lượng, tái cơ cấu nợ, xử lý tài sản đảm bảo, thành lập các đơn vị chuyên trách về thu hồi nợ xấu, tăng cường năng lực và kinh nghiệm của đội ngũ cũng như  hợp tác với các cơ quan pháp luật để xử lý các trường hợp nợ xấu khó thu hồi. Các ngân hàng cũng cần đa dạng hóa danh mục tín dụng, tránh tập trung quá nhiều vào một số lĩnh vực rủi ro cao và tăng cường kiểm soát và quản lý chất lượng tín dụng, hạn chế việc phát sinh nợ xấu mới. Các ngân hàng thương mại cần nghiêm túc trong việc tự xử lí nợ xấu của ngân hàng mình để nâng cao “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”, tạo lòng tin với khách hàng, bên cạnh đó góp phần ổn định hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam.

5.2.3. Tận dụng nguồn tài trợ từ tiền gửi khách hàng

Tiền gửi của khách hàng là nguồn vốn quan trọng của các ngân hàng. Để tăng cường khả năng sinh lời, các ngân hàng cần tận dụng tốt nguồn tài trợ này. Đây là nguồn tài trợ với chi phí thấp và mang tính ổn định cao. Ngoài ra, ngân hàng còn có thể chủ động trong việc sử dụng và trả phí cho nguồn tài trợ này.

Để thu hút nguồn tài trợ từ tiền gửi khách hàng, các ngân hàng thương mại nên đa dạng hoá các sản phẩm tiền gửi, cung cấp các sản phẩm tiền gửi kinh hoạt cùng với lãi suất hấp dẫn để đáp ứng như cầu của khách hàng. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng cần phải sử dụng một cách hiệu quả nguồn vốn huy động. Để tận dụng nguồn vốn huy động, các ngân hàng cần phải cung cấp đa dạng các hình thức, cách thức cho vay cũng như đa dạng hoá về các hình thức cho vay và các ngành nghề cho vay để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng cũng như giúp khách hàng có thể dễ dàng tiếp cận với các sản phẩm tín dụng. Qua đó, ngân hàng có thể điều tiết cũng như xoay vòng nguồn vốn để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng.

5.2.4. Đa dạng hoá dịch vụ và hướng đến khách hàng

Kết quả nghiên cứu cho thấy mối tương quan ngược chiều giữa “tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản” và “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Qua đó có thể thấy, mặc dù tín dụng là hoạt động sinh lời chủ yếu của ngân hàng, tuy nhiên hoạt động này cũng mang lại nhiều rủi ro cho ngân hàng. Do đó, các ngân hàng cần phải đa dạng các hoạt động kinh doanh, nghiên cứu và phát triển thêm nhiều sản phẩm mới nhằm phân tán nguồn thu nhập, tăng tối đa nguồn thu nhập và hạn chế rủi ro, tránh tình trạng “bỏ hết trứng vào một giỏ”. Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.

Đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ” là chiến lược quan trọng giúp các ngân hàng nâng cao “hiệu quả hoạt động”. Để phát triển bền vững trong môi trường cạnh tranh và có nhiều rủi ro, ngoài việc tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ truyền thống, các ngân hàng thương mại còn cần phải phát triển nhanh các dịch vụ ngân hàng hiện đại và kịp thời cung cấp thêm những sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. Trên cơ sở đẩy mạnh hiện đại hoá công nghệ gắn với quản lý rủi ro hoạt động, cần mở rộng  phạm vi và quy mô hoạt động ngân hàng ở khu vực nông thôn, rà soát mạng lưới, đóng cửa các đơn vị hoạt động kém hiệu quả. Bên cạnh đó cần xây dựng hệ thống thu thập dữ liệu đảm bảo các thông tin cung cấp là đáng tin cậy. Những thông tin công bố công khai cần đảm bảo tính minh bạch, đảm bảo tính cập nhật và độ chuẩn xác để củng cố được niềm tin của khách hàng. Chỉ khi có được hệ thống thông tin tốt, minh bạch với nguồn nhân lực có chất lượng, có tính chuyên nghiệp, cải thiện được uy tín, lòng tin giữa doanh nghiệp với ngân hàng, khi đó ngân hàng mới có điều kiện phát triển ổn định. Bên cạnh đó cần quan tâm đến chất lượng phục vụ của nhân viên đối với khách hàng.

Để ngân hàng có thể phát triển tốt thì việc thu hút và giữ chân được khách hàng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngân hàng. Khi đã xác định “khách hàng làm trung tâm” cần phải sắp xếp mô hình kinh doanh, thiết lập và vận hành các công cụ phân tích khách hàng hiện tại. Kết quả phân tích khách hàng sẽ giúp cho các nhà quản trị ngân hàng có cái nhìn sâu hơn để đánh giá tình hình khách hàng hiện tại cũng như nắm bắt những nhu cầu của khách hàng. Từ đó có thể kịp thời đáp ứng được các nhu cầu của khách hàng và dự đoán được những tình huống có thể xảy ra để hiệu quả hoạt động của ngân hàng đạt được kết quả tốt nhất có thể. Sự hiểu biết sâu sắc này, cùng với kiến thức và kinh nghiệm của nhà quản trị, điều hành ngân hành sẽ giúp tối ứu hoá hiệu quả kinh doanh, giảm nợ xấu phát sinh. Ngoài ra cũng cần tạo lập cho cán bộ nhân viên ngân hàng một tác phong làm việc hướng đến khách hàng, điều này sẽ giúp các ngân hàng thương mại Việt Nam khẳng định được thương hiệu của mình với khách hàng. Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.

5.2.5. Xây dựng chính sách đãi ngộ tốt

Nghiên cứu đã cho thấy mối tương quan cùng chiều của “thu nhập bình quân của nhân viên” đến “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Chính sách phúc lợi tốt cùng với thu nhập hấp dẫn là yếu tố chủ lực trong việc thu hút cũng như giữ chân các nhân tài và phát triển nguồn nhân lực. Ngoài ra, việc ngân hàng đầu tư vào các chính sách hấp dẫn và phúc lợi cho nhân viên sẽ giúp người lao động cảm thấy được quan tâm, qua đó có thêm động lực để trau dồi năng lực bản thân, nâng cao chất lượng lao động, phát huy tối đa khả năng sáng tạo và công hiến hết mình cho công việc góp phần nâng cao “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Bên cạnh các chính sách đãi ngộ tốt, ngân hàng cần thường xuyên tạo ra những chương trình thi đua, khen thưởng dành cho cán bộ nhân viên nhằm nâng cao tinh thần sáng tạo cũng như thúc đẩy cán bộ nhân viên có thể phát huy tối đa khả năng làm việc của mình. Qua đó, các nhà quản trị có thể đánh giá một cách chính xác năng lực làm việc cũng như mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ nhân viên. Bên cạnh những chính sách khen thưởng, ngân hàng cũng cần xây dựng cơ chế xử phạt nhằm răn đe các cán bộ nhân viên có hành vi sai phạm, suy thoái về đạo đức và có lối sống ảnh hưởng đến ngân hàng.

5.3. Hạn chế của nghiên cứu Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.

Đề tài được thực hiện với dữ liệu được thu thập từ 22 ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2014 -2023, chưa bao quát được tất cả các ngân hàng thương mại để có một kết quả bao quát và chính xác hơn đối với hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Nghiên cứu chỉ đưa ra chín yếu tố tác động đến “hiệu quả hoạt động ngân hàng”, chưa thể hiện được hết các yếu tố sẽ có tác động đến “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Vì vậy, có thể thấy các biến của mô hình chưa thể phản ánh toàn bộ các yếu tố tác động đến “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”

Mô hình chưa làm rõ được tác động của nhóm yếu tố chính sách lên “hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại tại Việt Nam”. Lý do là các chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước thay đổi linh hoạt trong năm, không có tính cố định nên rất khó trong việc lựa chọn biến phù hợp để đưa vào mô hình.

Bài nghiên cứu chưa sử dụng biến công nghệ để áp dụng và đưa được vào mô hình. Nguyên nhân là yếu tố công nghệ là một lĩnh vực khó có thể dùng số liệu cụ thể để đo lường và phương thức đo lường dữ liệu cũng khá phức tạp. Do đó, tác giả chưa đưa được yếu tố công nghệ vào mô hình nghiên cứu.

TÓM TẮT CHƯƠNG 5

Căn cứ vào kết quả nghiên cứu ở chương 4, tại chương 5 luận văn cung cấp một số khuyến nghị và giải pháp nhằm hạn chế những yếu tố có tác động tiêu cực đến “hiệu quả hoạt đông của ngân hàng” cũng như góp phần nâng cao “hiệu quả hoạt động của ngân hàng”. Trong chương 5, tác giả cũng đưa ra một số hạn chế còn tồn tại của đề tài nghiên cứu. Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: KQNC tác động đến hiệu quả hoạt động của các NH […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993