Luận văn: Phát triển bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện An Dương

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Phát triển bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện An Dương hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Một số giải pháp phát triển Bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện An Dương thành phố Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài

Nền kinh tế hàng hóa càng ngày càng phát triển thì vấn đề thuê mướn nhân công càng ngày càng phổ biến chính vì thế mà mâu thuẫn giữa chủ và tớ càng có khả năng gia tăng.Đặc biệt khi người lao động không may gặp rủi ro, sự cố như: đau ốm, bệnh tật hay tai nạn lao động, mất việc làm….Khi rơi vào các hoàn cảnh này các nhu cầu phát sinh nhiều hơn như: cần được khám chữa bệnh, điều trị khi đau ốm, cần người nuôi dưỡng hay chăm sóc….Nhưng trong thời gian nghỉ việc do không làm việc nên người chủ sẽ không trả lương chính vì vậy người lao động lại càng gặp nhiều khó khăn hơn và không an tâm làm việc. Ban đầu người chủ lao động chỉ cam kết trả công lao động nhưng sau đó đã phải cam kết cả việc bảo đảm cho người lao động có 1 nguồn thu nhập nhất định để họ trang trải khi không may gặp khó khăn hay rủi ro.

Trên thực tế nhiều khi các rủi ro không xảy ra và người chủ không phải chi ra đồng nào, nhưng cũng có khi nó lại xảy ra dồn dập khiến cho họ phải bỏ ra 1 khoản tiền rất lớn mà họ không hề muốn. Chính vì thế mà vấn đề chủ và thợ càng ngày càng trở nên gay gắt hơn bao giờ hết. Mâu thuẫn càng kéo dài thì buộc nhà nước phải đứng ra can thiệp vào bằng cách buộc người chủ phải có trách nhiệm hơn đối với người lao động mà mình sử dụng, thể hiện bằng cách trích ra một phần thu nhập của mình hình thành một khoản quỹ. Sau đó chính nguồn quỹ này sẽ được dùng để trợ cấp cho người lao động và gia đình họ khi không may họ gặp rủi ro. Chính điều này đã làm cho chủ và thợ đều cảm thấy mình có lợi và tự giác thực hiện đảm bảo hơn cho cuộc sống của người lao động. Việc sản xuất kinh doanh được diễn ra bình thường tránh được những xáo trộn không cần thiết.

Mối quan hệ ba bên trên được quan niệm là bảo hiểm xã hội (BHXH) cho người lao động. Như vậy BHXH là một chế độ pháp định bảo vệ người lao động bằng cách thông qua việc tập trung nguồn tài chính được huy động từ sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động, sự tài trợ của nhà nước nhằm trợ cấp về vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình họ trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập do gặp các rủi ro như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc tử vong theo quy định của pháp luật. Từ đó BHXH ra đời như một tất yếu khách quan khi mà mọi thành viên trong xã hội đều cảm thấy phải tham gia hệ thống BHXH này. Luận văn: Phát triển bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện An Dương.

BHXH được thực hiện ở Việt Nam từ những năm 1945 và trải qua nhiều lần bổ sung sửa đổi đặc biệt vào các năm 1961, 1985 và 1995. Năm 1961 một Nghị định của Chính phủ được ban hành để cung cấp các dịch vụ phúc lợi xã hội cho các cán bộ, viên chức làm việc trong ngành nội chính, giáo dục, y tế, và các doanh nghiệp nhà nước, nội vụ. Năm 1964 Nghị định 218 thực hiện BHXH cho quân nhân, nhưng từ năm 1975 thì chính sách BHXH được thực hiện thống nhất trên cả nước.

Tháng 1 năm 1995 Bộ Luật Lao Động có hiệu lực, trong đó có chương VII quy định về BHXH. Để hướng dẫn thực hiện Bộ Luật Lao Động Chính phủ đã ban hành Nghị định số 19/CP về điều lệ BHXH đối với dân sự với 5 chế độ bảo hiểm: chế độ trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí, chế độ trợ cấp tử tuất [ 16, tr.117].

Bảo hiểm Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ có chức năng tổ chức thực hiện chế độ, chính sách BHXH. BHXH Việt Nam chịu sự quản lý của Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội về BHXH, của Bộ Y tế về BHYT, của Bộ Tài Chính về chế độ chính sách đối với các quỹ BHXH, Bảo hiểm Y tế.

BHXH huyện An Dương là đơn vị trực thuộc BHXH thành phố Hải Phòng, có chức năng giúp Bảo hiểm xã hội thành phố thực hiện chế độ chính sách BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, Bảo hiểm thất nghiệp, Bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm y tế tự nguyện, quản lý quỹ BHXH, bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện An Dương, thành phố Hải Phòng theo quy định của BHXH Việt Nam và quy định của pháp luật. Nhận thấy vai trò quan trọng của BHXH đối với đời sống của người lao động trên địa bàn huyện An Dương nên em đã mạnh dạn chọn : “Một số giải pháp phát triển Bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện An Dương thành phố Hải Phòng” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cho mình.

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.

Việc nghiên cứu đề tài này khoá luận này sẽ nhằm mục đích làm rõ hơn công tác thực hiện cũng như phát triển BHXH cũng như quản lý đối tượng tham gia BHXH, đánh giá một cách tổng quát và có hệ thống thực trạng về thực trạng về công tác phát triển BHXH trên địa bàn huyện An Dương trong giai đoạn vừa qua. Đồng thời, qua đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện cũng như BHXH thành phố Hải Phòng.

Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài: Tăng cường thu BHXH tỉnh nghệ an của tác giả Phạm Thị Phong (2022) , Chuyên ngành kinh tế phát triển- Tác giả đã chỉ ra những biện pháp tăng cường công tác thu BHXH thông qua một số đề xuất phát triển đối tượng tham gia BHXH, từ đó thúc đẩy quá trình thu BHXH trên địa bàn tỉnh Nghệ An. [ 16, tr.117]

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ về “Chiến lược phát triển BHXH phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2029” của TS. Nguyễn Huy Ban đã nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển BHXH, việc thực hiện BHXH ở một số nước trên thế giới và thực trạng chính sách BHXH ở Việt Nam, tác giả đã đưa ra những định hướng cơ bản để phát triển BHXH ở Việt Nam. Luận án Tiến sĩ của tác giả Đỗ Văn Sinh nghiên cứu vấn đề quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam, đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý quỹ ở Việt Nam. Luận văn Thạc sĩ của tác giả Trần Quốc Toàn nghiên cứu về thực trạng quản lý tài chính ở Nghệ An và đưa ra những phương hướng, mục tiêu và giải pháp tăng cường quản lý tài chính BHXH ở Nghệ An.

Như vậy, mỗi bài luận văn của các tác giả đều có những cách viết khác nhau nhưng đều hướng tới mục đích góp phần tiếp cận, mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, các đề tài trên đã đề cập đến một số lĩnh vực hoạt động của BHXH và có những liên quan nhất định đến quản lý phát triển BHXH.

Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống đến các vấn đề lý luận về BHXH và phát triển BHXH tại địa phương cũng như đưa ra các thực trạng và giải pháp để phát triển BHXH tại địa phương đó. Chính vì vậy mà tác giả đã quyết định chọn đề tài:“ Một số giải pháp phát triển BHXH trên địa bàn huyện An Dương thành phố Hải Phòng“ làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình. Đề tài này có một số điểm mới so với các đề tài trước đây đó là: tác giả sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý cũng như phát triển, hệ thống hóa các vấn đề lý luận về BHXH, cũng như đưa ra các đánh giá về thực trạng tham gia BHXH và một số giải pháp nhằm phát triển BHXH tại địa phương.

3. Mục đích nghiên cứu của luận văn Luận văn: Phát triển bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện An Dương.

Mục đích nghiên cứu của đề tài này chính là đề ra một số giải pháp nhằm góp phần phát triển BHXH tại địa bàn huyện An Dương trên cơ sở nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế xã hội của huyện An Dương và thực trạng tham gia BHXH tại địa bàn.

Đề tài sẽ phân tích và đánh giá thực trạng tham gia BHXH tại địa bàn huyện An Dương nhằm đưa gia một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý phát triển BHXH trên địa bàn.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu.

  • Hệ thống lý luận về BHXH
  • Các đối tượng tham gia BHXH trên địa bàn huyện An Dương.

4.2 Phạm vi nghiên cứu.

  • Về thời gian: Các số liệu nghiên cứu được sử dụng từ năm 2021 -2025
  • Về không gian: Luận văn nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế xã hội tại huyện An Dương và tình hình tham gia BHXH trên địa bàn huyện An Dương.

5. Phương pháp nghiên cứu

  • Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về BHXH.

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh và mô hình hóa số liệu được tổng hợp từ các báo cáo hoạt động BHXH trên địa bàn huyện An Dương trong giai đoạn 2021-2025. Ngoài ra luận văn sử dụng phương pháp phỏng vấn người lao động, cán bộ làm công tác phát triển BHXH trên địa bàn huyện An Dương làm căn cứ đánh giá thực trạng tham gia BHXH của người lao động, chủ sử dụng lao động tại các doanh nghiệp.

  • Từ đó Đưa ra những đánh giá cụ thể về thực trạng tham gia BHXH trên địa bàn huyện An Dương.
  • Đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển BHXH trên địa bàn huyện An Dương.

6. Kết cấu của luận văn Luận văn: Phát triển bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện An Dương.

Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 03 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về BHXH và phát triển BHXH.
  • Chương 2: Thực trạng phát triển BHXH tại huyện An Dương giai đoạn 2021 – 2025.
  • Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển BHXH trên địa bàn huyện An Dương thành phố Hải Phòng.

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BHXH VÀ PHÁT TRIỂN BHXH.

1.1. Khái quát về Bảo hiểm xã hội

1.1.1.Khái niệm về bảo hiểm xã hội.

Bảo hiểm xã hội là một bộ phận cấu thành quan trọng của vấn đề an sinh xã hội, là cơ chế chính trong hệ thống an sinh xã hội. Vì thế, chính sách BHXH trước tiên là một trong các chính sách an sinh xã hội [8, tr.110].

Cùng với sự phát triển kinh tế là sự lớn mạnh không ngừng của hệ thống an sinh xã hội, đặc biệt là chính sách Bảo hiểm xã hội đã phát huy vai trò trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội, góp phần tích cực vào việc ổn định xã hội, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. BHXH hiện nay là một trong những chính sách xã hội quan trọng của Đảng và nhà nước ta từ lâu đã được cụ thể hóa thực hiện theo luật. BHXH là sự chia sẻ rủi ro và các nguồn quỹ giúp người lao động đảm bảo cuộc sống của mình và gia đình khi có rủi ro xảy ra.

BHXH là sự bảo đảm bù đắp một phần hoặc thay thế thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết…trên cơ sở đóng góp quỹ BHXH do Nhà nước tổ chức thực hiện và sử dụng quỹ đó nhằm đảm bảo ổn định đời sống cho người lao động và an toàn xã hội [8, tr.110].

Người lao động và người sử dụng lao động là những đối tượng chính tham gia BHXH. Tuỳ theo sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗi nước mà các đối tượng này có thể là tất cả hoặc một bộ phận những người lao động nào đó. Dưới giác độ pháp lý, BHXH là một loại chế độ pháp định để bảo vệ NLĐ, sử dụng nguồn tiền đóng góp của NLĐ, người sử dụng lao động và sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước, nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, thất nghiệp, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật, hoặc chết [ 7, tr.110].

Như vậy, phát sinh từ nhu cầu chính đáng của người lao động, BHXH đã trở thành chính sách xã hội quan trọng của nước ta và hầu hết các nước trên thế giới. BHXH trở thành phương thức dự phòng để khắc phục hậu quả của các rủi ro xã hội, đảm bảo an toàn xã hội và tạo động lực hữu hiệu để phát triển kinh tế.

1.1.2. Vai trò của bảo hiểm xã hội. Luận văn: Phát triển bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện An Dương.

  1. Vai trò của bảo hiểm xã hội đối với người lao động và gia đình của họ.

BHXH có vai trò ổn định thu nhập cho NLĐ và gia đình họ, từ đó góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho NLĐ, đem lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc:

Khi tham gia BHXH, người lao động phải trích một khoản phí nộp vào quỹ BHXH, khi gặp rủi ro, bất hạnh như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động làm cho chi phí gia đình tăng lên hoặc phải ngừng làm việc tạm thời, thu nhập của gia đình bị giảm, đời sống kinh tế lâm vào tình cảnh khó khăn, túng quẫn. Nhờ có chính sách BHXH mà họ được nhận một khoản tiền trợ cấp đã bù đắp lại phần thu nhập bị mất hoặc bị giảm để đảm bảo ổn định thu nhập, ổn định đời sống [8, tr.110]

  1. Vai trò của BHXH đối với xã hội

Thứ nhất: BHXH tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động, mối quan hệ ràng buộc, chặt chẽ, chia sẻ trách nhiệm, chia sẻ rủi ro chỉ có được trong quan hệ của BHXH.

Thứ hai: BHXH thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp: BHXH tạo cho những người bất hạnh có thêm những điều kiện, những lực đẩy cần thiết để khắc phục những biến cố xã hội, hoà nhập vào cộng đồng, kích thích tính tích cực của xã hội trong mỗi con người giúp họ hướng tới những chuẩn mực của chân-thiện-mỹ nhờ đó có thể chống lại tư tưởng “Đèn nhà ai nhà ấy rạng”. BHXH là yếu tố tạo nên sự hoà đồng mọi người, không phân biệt chính kiến, tôn giáo chủng tộc, vị thế xã hội đồng thời giúp mọi người hướng tới một xã hội nhân ái, cuộc sống công bằng, bình yên.

Thứ ba: BHXH thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau tương thân tương ái của cộng đồng: Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là nhân tố quan trọng, giúp đỡ những người bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người, tạo điều kiện cho một xã hội phát triển lành mạnh và bền vững.

Thứ tư: BHXH góp phần thực hiện bình đẳng xã hội: trên giác độ xã hội, BHXH là một công cụ để nâng cao điều kiện sống cho người lao động. BHXH là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng.

  1. Vai trò BHXH đối với nền kinh tế thị trường Luận văn: Phát triển bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện An Dương.

Thứ nhất: Khi chuyển sang cơ chế thị trường, thì sự phân tầng giữa các lớp trong xã hội trở nên rõ rệt. Đồng thời tạo ra sự bất bình đẳng về thu nhập giữa các ngành nghề khác nhau trong xã hội. BHXH đã góp phần ổn định đời sống cho họ và gia đình họ.

Thứ hai: Đối với các doanh nghiệp, khi những người lao động không may gặp rủi ro thì đã được chuyển giao cho cơ quan BHXH chi trả. Nhờ vậy tình hình tài chính của các doanh nghiệp được ổn định hơn. Hệ thống BHXH đã bảo đảm ổn định xã hội tạo tiền đề để phát triển kinh tế thị trường.

Thứ ba: Khi tham gia BHXH cho người lao động sẽ phát huy tinh thần trách nhiệm, gắn bó tận tình của người lao động trong các doanh nghiệp làm cho mối quan hệ thị trường lao động được trở nên lành mạnh hơn, thị trường sức lao động vận động theo hướng tích cực góp phần xây dựng và có kế hoạch phát triển chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường.

Thứ tư: Quỹ BHXH do các bên tham gia đóng góp được tích tụ tập trung rất lớn, phần quỹ nhàn rỗi được đem đầu tư cho nền kinh tế tạo ra sự tăng trưởng, phát triển kinh tế và tạo công ăn việc làm cho người lao động.

Thứ năm: BHXH vừa tạo động lực cho các thành phần kinh tế phát triển nhưng mặt khác tạo ra sự bình đẳng giữa các tầng lớp dân cư thông qua hệ thống phân phối lại thu nhập góp phần lành mạnh hóa thị trường lao động.

1.1.3 Các loại hình bảo hiểm xã hội.

  1. Loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc:

Loại hình BHXH bắt buộc được áp dụng đối với doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức có sử dụng lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên và hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

Ở những doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức này, người sử dụng lao động, người lao động phải đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 149 của Bộ luật lao động và người lao động được hưởng các chế độ trợ cấp BHXH như ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, hưu trí và tử tuất [11, tr.110].

  1. Loại hình BHXH tự nguyện: Luận văn: Phát triển bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện An Dương.

Đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới ba tháng thì các khoản BHXH được tính vào tiền lương do người sử dụng lao động trả theo quy định của Chính phủ, để người lao động tham gia BHXH theo loại hình tự nguyện hoặc tự lo liệu về bảo hiểm [ 18, tr.117].

Khi hết hạn hợp đồng lao động mà người lao động tiếp tục làm việc hoặc giao kết hợp đồng lao động mới, thì áp dụng chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc [18, tr.117].

1.1.4. Quỹ Bảo hiểm xã hội và nguồn hình thành quỹ.

  1. Khái niệm về quỹ BHXH

Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà nước. Quỹ này được dùng để chi trả trợ cấp cho các đối tượng hưởng BHXH và chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH ở các cấp, các nghành [ 8, tr.116].

Quỹ BHXH là tập hợp đóng góp bằng tiền của các bên tham gia BHXH: NLĐ, NSDLĐ, Nhà nước bù thiếu nhằm mục đích chi trả cho các chế độ BHXH và đảm bảo cho hoạt động của hệ thống BHXH [8,tr 110].

Quỹ BHXH là quỹ tiền tệ tập trung, hạch toán độc lập với ngân sách Nhà nước, được Nhà nước bảo hộ và bù thiếu. Quỹ BHXH hình thành và hoạt động đã tạo ra khả năng giải quyết những rủi ro của tất cả những người tham gia với tổng dự trữ ít nhất, do rủi ro được dàn trải cho số đông người tham gia. Đồng thời quỹ này cũng góp phần giảm chi ngân sách cho Nhà nước; khi có biến cố xã hội xảy ra như thiên tai, hạn hán, dịch bệnh, quỹ BHXH cũng là một khoản không nhỏ giúp Nhà nước thay cho cứu trợ xã hội, phúc lợi xã hội [ 8,tr 110].

  1. Nguồn hình thành quỹ Luận văn: Phát triển bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện An Dương.

BHXH là phạm trù kinh tế – xã hội tổng hợp, mặc dù tính xã hội được thể hiện nổi trội hơn. Theo các nhà kinh tế cho rằng, kinh tế là nền tảng của BHXH vì chỉ khi NLĐ có thu nhập đạt đến một mức độ nào đó thì việc tham gia BHXH mới thiết thực và có hiệu quả. Cũng theo các nhà kinh tế, BHXH chỉ có thể phát triển được theo đúng nghĩa trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá tức là người tham gia BHXH phải có trách nhiệm đóng góp BHXH để bảo hiểm cho mình từ tiền lương/thu nhập cá nhân, người sử dụng lao động cũng phải đóng góp BHXH cho người lao động mà mình thuê mướn từ quỹ lương của doanh nghiệp/ đơn vị đồng thời Nhà nước cũng có phần trách nhiệm bảo hộ quỹ BHXH như đóng góp thêm khi quỹ BHXH bị thâm hụt.

  1. Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau:

Người sử dụng lao động: sự đóng góp này không những thể hiện trách nhiệm của NSDLĐ đối với NLĐ đồng thời còn thể hiện lợi ích của NSDLĐ bởi đóng góp một phần BHXH cho NLĐ, NSDLĐ sẽ tránh được thiệt hại kinh tế do phải chi ra một khoản tiền lớn khi có rủi ro xảy ra đối với NLĐ của mình đồng thời cũng giảm bớt được những tranh chấp. Thông thường phần đóng góp này được xác định dựa trên quỹ lương của đơn vị, doanh nghiệp.

Người lao động: hệ thống BHXH ở các nước trên thế giới chủ yếu vẫn thực hiện trên nguyên tắc có đóng có hưởng vì vậy người tham gia phải đóng góp cho quỹ mới được hưởng BHXH. Người lao động tham gia đóng góp cho mình để bảo hiểm cho chính bản thân mình. Thông qua hoạt động này người lao động đã dàn trải rủi ro theo thời gian, khoản đóng góp vào quỹ BHXH chính là khoản để dành dụm, tiết kiệm cho về sau bằng cách là hưởng lương hưu hoặc được hưởng trợ cấp khi gặp rủi ro xảy ra. Khoản trợ cấp này được xác định một cách khoa học và có cơ sở theo nguyên nhân.

Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm: Quỹ BHXH được nhà nước bảo hộ và đóng góp khi quỹ bị thâm hụt không đủ khả năng để chi trả cho các chế độ xã hội. Nhằm mục đích đảm bảo cho các hoạt động xã hội diễn ra được đều đặn, ổn định. Nguồn thu từ sự hỗ trợ Ngân sách Nhà nước đôi khi là khá lớn, sự hỗ trợ này là rất cần thiết và quan trọng. Có thể nói hoạt động của chính sách BHXH mà không có sự hỗ trợ của Nhà nước thì chẳng khác nào đứa trẻ mới tập đi.

Các nguồn khác như sự giúp đỡ của các tổ chức từ thiện trong và ngoài nước, lãi do đầu tư phần quỹ nhàn rỗi, khoản tiền thu nộp phạt từ các đơn vị chậm đóng BHXH… Đây là phần thu nhập tăng thêm đô bộ phận nhàn rỗi tương đối của quỹ BHXH được cơ quan BHXH đưa vào hoạt động sinh lời. Việc đầu tư quỹ nhàn rỗi này cũng cần phải đảm bảo khả năng thanh khoản khi cần thiết, an toàn và mang tính xã hội [15,tr.116].

Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu cho 2 mục đích sau: Chi trả trợ cấp cho các chế độ BHXH: Đây là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn nhất của BHXH nhằm đảm bảo ổn định, duy trì cuộc sống cho NLĐ đồng thời góp phần ổn định sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp. Luận văn: Phát triển bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện An Dương.

Theo khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) quỹ BHXH được sử dụng để trợ cấp cho các đối tượng tham gia BHXH, nhằm ổn định cuộc sống cho bản thân và gia đình họ khi mà đối tượng tham gia gặp rủi ro và các chế độ được BHXH trợ cấp là 9 chế độ BHXH đã nêu trong công ước 102 tháng 6/1952 tại Giơnevơ.

Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH: Ngoài việc trợ cấp cho các đối tượng hưởng BHXH, quỹ BHXH còn được sử dụng để chi cho các khoản chi phí quản lý như: tiền lương cho cán bộ làm việc trong hệ thống BHXH, khấu hao tài sản cố định, văn phòng phẩm và một số khoản chi khác [ 2, tr.116].

  1. Phương thức đóng góp.

Căn cứ vào mức lương cá nhân và quỹ lương của cơ quan, doanh nghiệp. Căn cứ vào mức thu nhập cơ bản của NLĐ được cân đối chung trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân để xác định mức đóng góp.

Mức đóng góp BHXH: Ở một số nước quy định người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động, Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại cả NGLĐ và NSDLĐ cùng đóng góp mỗi một phần bằng nhau. Một số nước khác lại quy định quỹ BHXH do NLĐ và NSDLĐ đóng, Chính phủ sẽ bù thiếu [8, tr.116].

Quy định mức đóng bảo hiểm được áp dụng từ 1/1/2025 là:

  • Mức đóng bảo hiểm y tế: 4,5% – tỷ lệ doanh nghiệp đóng 3% – người lao động đón 1,5%.
  • Mức đóng bảo hiểm xã hội: 26% – tỷ lệ doanh nghiệp đóng 18% – người lao động đón 8%.
  • Mức đóng bảo hiểm thất nghiệp: 2% – tỷ lệ doanh nghiệp đóng 1% – người lao động đón 1%.
  • Mức kinh phí công đoàn: 2% – doanh nghiệp đóng 100%.

1.2. Lịch sử phát triển của Bảo hiểm xã hội. Luận văn: Phát triển bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện An Dương.

1.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Bảo hiểm xã hội trên thế giới.

Bảo hiểm xã hội ra đời là kết quả của một quá trình đấu tranh lâu dài giữa giai cấp công nhân làm thuê với giới chủ tư bản. Các nước trên thế giới ghi nhận và đều cố gắng xây dựng cho mình một hệ thống BHXH phù hợp. Qua nhiều năm nghiên cứu về BHXH, giáo sư Henri Kliller thuộc trường đại học Sol ray của Bỉ đã khẳng định rằng nguồn gốc của BHXH xuất phát từ những vấn đề kinh tế, chính trị xã hội sau đây:

Khi nền kinh tế hàng hóa phát triển, việc thuê mướn nhân công trở nên phổ biến. Giai cấp công nhân là giai cấp làm thuê cho giới chủ và được giới chủ cam kết trả tiền lương, tiền công. Tuy nhiên, người lao động bị bóc lột tàn bạo và bị đối xử không công bằng. Giờ làm việc của họ thường bị kéo dài và cường độ lao động rất cao nhưng tiền công được trả rất thấp. Hiện tượng ốm đau, tai nạn lao động xảy ra phổ biến. Và với tiền công được trả đó họ không thể đảm bảo cuộc sống của mình cũng như gia đình mình. Thêm vào đó, nhà nước cũng như giới chủ không hề quan tâm hay giúp đỡ họ. Đứng trước tình hình đó giai cấp công nhân đã liên kết lại với nhau để tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau; lập ra các quỹ cứu trợ người ốm, người bị tai nạn; lập các tổ chức tương tế và vận động mọi người tham gia; đấu tranh tự phát với giới chủ như: đòi tăng lương giảm giờ làm; thành lập các tổ chức công đoàn và sau này là đấu tranh có tổ chức nhưng bị giới chủ đàn áp thậm tệ. Giai cấp công nhân không đòi được quyền lợi mà còn bị tổn thất nặng nề. Mâu thuẫn giữa giới chủ và thợ ngày càng trầm trọng và sâu sắc. Các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân diễn ra ngày càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội.

BHXH ra đời và lan rộng rất nhanh. Ngày 10/12/1948, Đại hội đồng liên hiệp quốc Tuyên ngôn nhân quyền và trong đó có đoạn: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội, có quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa cần cho nhân cách và sự tự do phát triển con người” [12, tr.117]. Luận văn: Phát triển bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện An Dương.

1.2.2. Lịch sử hình thành và phát triển của Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam.

Việt Nam, bảo hiểm xã hội đã có mầm mống dưới thời phong kiến Pháp thuộc. Sau cách mạng tháng 8 thành công, trên cơ sở Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ đã ban hành một loạt các sắc lệnh quy định về các chế độ trợ cấp ốm đau, tai nạn, hưu trí cho công nhân viên chức Nhà nước (có Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947; Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 và Sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950). Cơ sở pháp lý tiếp theo của BHXH được thể hiện trong Hiến pháp năm 1959. Hiến pháp năm 1959 của nước ta đã thừa nhận công nhân viên chức có quyền được trợ cấp BHXH.

Quyền này được cụ thể hóa trong Điều lệ tạm thời về BHXH đối với công nhân viên chức Nhà nước, ban hành kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 và Điều lệ đãi ngộ quân nhân ban hành kèm theo Nghị định 161/CP ngày 30/10/1964 của Chính phủ. Suốt trong những năm tháng kháng chiến chống xâm lược, chính sách BHXH nước ta đã góp phần ổn định về mặt thu nhập, ổn định cuộc sống cho công nhân viên chức, quân nhân và gia đình họ, góp phần rất lớn trong việc động viên sức người sức của cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống xâm lược thống nhất đất nước [ 20, tr.117].

1.3. Nội dung cơ bản của Bảo hiểm xã hội.

1.3.1. Nghiên cứu khả năng và nhu cầu tham gia Bảo hiểm xã hội.

Người lao động là đối tượng đóng góp vào quỹ BHXH và cũng là đối tượng được hưởng chế độ BHXH. Nhưng khả năng và nhu cầu tham gia BHXH của các đối tượng lại khác nhau [9, tr.116].

Người lao động trong quan hệ BHXH vừa là đối tượng tham gia, vừa là đối tượng được bảo hiểm và họ cũng là đối tượng được hưởng quyền lợi BHXH (chiếm phần lớn trong các trường hợp phát sinh trách nhiệm BHXH).

Đối tượng tham gia BHXH không chỉ có người lao động mà còn có người sử dụng lao động và Nhà nước. Sở dĩ người sử dụng lao động tham gia vào BHXH là vì phần họ thấy được lợi ích thiết thực khi tham gia BHXH, một phần là do sự ép buộc của Nhà nước thông qua các văn bản quy phạm pháp luật. Đối với Nhà nước thì khác, họ tham gia BHXH với tư cách là: chủ sở hữu lao động đối với tất cả công nhân viên chức và những người hưởng lương từ ngân sách. Nhà nước là người bảo hộ cho quỹ BHXH mà cụ thể là bảo hộ giá trị của quỹ BHXH, bảo hộ cho sự tăng trưởng của quỹ nhằm tạo sự ổn định cho quỹ và sự phát triển xã hội [ 9, tr.116]. Luận văn: Phát triển bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện An Dương.

Đối tượng được bảo hiểm xã hội trong quan hệ BHXH ngoài người lao động còn có người sử dụng lao động. Bởi vì, khi người lao động gặp rủi ro thì người sử dụng lao động phải có trách nhiệm giúp đỡ. Điều này có nghĩa là họ phải bỏ ra một khoản chi phí cho người lao động, nhưng thực tế chi phí này nhanh chóng được cơ quan bảo hiểm hoàn trả lại.

Đối tượng được hưởng quyền lợi BHXH là người lao động trong trường hợp họ gặp rủi ro như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí. Nhưng trong trường hợp người lao động bị tử vong hoặc sinh đẻ thì đối tượng hưởng quyền lợi bảo hiểm xã hội lại là thân nhân của người lao động như: bố, mẹ, con, vợ ( chồng) [ 9, tr.116].

Đối với những người lao động làm việc cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, lao động tự do thì việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH khá nhiều thuận lợi. Bản chất của BHXH là chính sách xã hội do đó những đối tượng này rất mong mỏi tham gia BHXH, từ đó họ tích cực giúp đỡ việc mở rộng, tích cực tham gia vào việc mở rộng [9, tr.116 ]

Đất nước ta số lượng lao động tham gia BHXH còn rất hạn chế, sự hạn chế này là do nhiều nguyên nhân khác nhau. Nhưng nguyên nhân chính là do nhận thức và thu nhập của người lao động còn thấp, không ổn định khiến cho người lao động khó tiếp cận được với BHXH tự nguyện, hay thu nhập của đối tượng này còn thấp so với mức đóng bảo hiểm, nhất là đối với khu vực miền núi và trung du [ 20, tr.117].

1.3.2. Xây dựng các chế độ bảo hiểm xã hội ( các loại hình bảo hiểm, các căn cứ đóng bảo hiểm và phí bảo hiểm). Luận văn: Phát triển bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện An Dương.

1.3.2.1. Các loại hình bảo hiểm.

Để quản lý các loại hình bảo hiểm này, người ta phân loại thành các nhóm dựa trên các tiêu chí khác nhau.

  1. Phân loại theo loại hình BHXH của người tham gia.

Bảo hiểm tự nguyện: Là những loại bảo hiểm mà hợp đồng được kết lập dựa hoàn toàn trên sự cân nhắc và nhận thức của người được bảo hiểm. Đây là tính chất vốn có của bảo hiểm thương mại khi nó có vai trò như là một hoạt động dịch vụ cho sản xuất và sinh hoạt con người [ 8, tr.116].

Bảo hiểm bắt buộc: Được hình thành trên cơ sở luật định nhằm bảo vệ lợi ích của nạn nhân trong các vụ tổn thất và bảo vệ lợi ích của toàn bộ nền kinh tế – xã hội. Các hoạt động nguy hiểm có thể dẫn đến tổn thất con người và tài chính trầm trọng gắn liền với trách nhiệm dân sự nghề nghiệp thường là đối tượng của sự bắt buộc này.

  1. Phân loại theo thời gian cân đối và hạch toán quỹ BHXH:
  • Bảo hiểm xã hội ngắn hạn: Ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe
  • Bảo hiểm xã hội dài hạn: Hưu trí, tử tuất

Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH. (Trích luật BHXH)

  1. Các cách phân loại khác:
  • Căn cứ vào các trường hợp được hưởng bảo hiểm: chế độ BHXH khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí, tử tuất
  • Căn cứ tần suất chi trả BHXH: BHXH 1 lần, BHXH thường xuyên…
  • Căn cứ vào đối tượng hưởng: BHXH cho người lao động và trợ cấp BHXH cho các thân nhân của người lao động

1.3.2.2. Căn cứ đóng bảo hiểm và phí bảo hiểm.

Quản lý tiền lương làm căn cứ đóng và mức đóng BHXH. Chính sách tiền lương chính là căn cứ đóng BHXH và là cách xác định tổng quỹ tiền lương làm căn cứ đóng. [3, tr 59] Luận văn: Phát triển bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện An Dương.

  1. Nếu là lao động làm việc tại các doanh nghiệp:

Căn cứ để đóng BHXH, BHYT, BHTN là tiền lương tháng được ghi trong hợp đồng lao động.

Mức tiền lương tháng thấp nhất để tính mức đóng BHXH là mức lương tối thiểu vùng và mức tối đa là 20 lần mức lương cơ sở.

Mức tiền lương tháng tối đa để tính mức đóng BHYT là 20 lần mức lương cơ sở.

Mức tiền lương tháng thấp nhất để tính đóng BHTN là mức lương tối thiểu vùng và mức tối đa là 20 lần mức lương tối thiểu vùng.

  1. Nếu là lao động thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định:

Căn cứ để đóng BHXH, BHYT, BHTN là hệ số tiền lương tháng theo ngạch bậc, cấp quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có) tính theo mức lương cơ sở do Chính phủ quy định.

Mức tiền lương tháng thấp nhất để tính đóng BHXH, BHYT, BHTN là mức lương cơ sở và tối đa là 20 lần mức lương cơ sở.

Tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH, BHYT, BHTN là tiền lương theo ngạch, cấp bậc quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có). Tiền lương này được tính trên cơ sở mức lương tối thiểu chung.

Mức đóng góp BHXH thực chất là phí BHXH. Phí BHXH là yếu tố quyết định sự cân đối thu chi quỹ BHXH. Quỹ này phải được tính toán một cách khoa học. Trong thực tế, việc tính phí BHXH là một nghiệp vụ chuyên sâu của BHXH và người ta thường sử dụng các phương pháp toán học khác nhau để xác định. Khi tính phí BHXH, có thể có những căn cứ tính toán sau:

  • Dựa vào tiền lương và tháng lương để xác định mức trợ cấp BHXH, từ đó có cơ sở xác định mức phí đóng. Quy định mức phí BHXH trước rồi từ đó mới xác định mức hưởng.
  • Dựa vào nhu cầu khách quan của người lao động để xác định mức hưởng và mức hưởng BHXH này có thể xác định được mức phí phải đóng.

Mặc dù chỉ thuần tuý mang tính kĩ thuật nhưng xác định phí BHXH lại khá phức tạp vì nó liên quan cả đến NLĐ, người sử dụng lao động và nhà nước. Liên quan đến khả năng cân đối thu nhập của người lao động và điều kiện phát triển KTXH của đất nước. Tuy nhiên, khi xác định phí BHXH vẫn phải đảm bảo các nguyên tắc: cân bằng thu chi, lấy số đông bù số ít và có dự phòng. Mức phí xác định phải được cân đối với mức hưởng, với nhu cầu BHXH và điều chỉnh sao cho tối ưu nhất.

Vì vậy, số đóng góp BHXH phải đủ cho số phát sinh chi trả trong năm. Đối với chế độ BHXH dài hạn như : hưu trí, trợ cấp mất người nuôi dưỡng, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp nặng v..v…quá trình đóng và quá trình hưởng BHXH tương đối độc lập với nhau và diễn ra trong khoảng thời gian nhất định. Luận văn: Phát triển bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện An Dương.

1.3.3. Tổ chức mạng lưới phát triển Bảo hiểm xã hội.

Toàn ngành BHXH sẽ thực hiện các giải pháp mở rộng diện được tham gia và nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách BHXH. Việc triển khai hiệu quả các biện pháp phát triển bền vững đối tượng tham gia BHYT sẽ được chú trọng cùng với những giải pháp phù hợp để triển khai BHYT theo hộ gia đình. BHXH Việt Nam sẽ chỉ đạo BHXH các tỉnh điều chỉnh danh sách thành viên hộ gia đình tham gia BHYT theo diễn biến thực tế, đồng thời khai thác hiệu quả dữ liệu trong việc xác định mức đóng BHYT của từng thành viên hộ gia đình và đối tượng tuyên truyền, tư vấn, phát triển đối tượng tham gia BHYT.

Ngành BHXH thường xuyên bám sát các đơn vị đôn đốc thu nộp, tính lãi suất chậm nộp, gắn việc trích nộp BHXH, BHTN, BHYT với việc giải quyết chế độ chính sách. Chủ động đôn đốc thu nợ BHXH, BHTN, BHYT, rà soát phân loại các đơn vị nợ đọng để có kế hoạch xử lý cụ thể đối với từng đơn vị. Đặc biệt, BHXH Việt Nam sẽ mở rộng mạng lưới đại lý thu BHXH tự nguyện, có giải pháp khuyến khích các địa phương vận động, phát triển đối tượng tham gia BHXH, đặc biệt là BHXH tự nguyện.

Bên cạnh việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH, BHXH Việt Nam sẽ chú trọng tăng cường các giải pháp tổ chức chi trả, quản lý người hưởng các chế độ BHXH, BHTN theo hướng chi qua tài khoản cá nhân và thông qua tổ chức thực hiện dịch vụ công nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp, an toàn tiền mặt trong chi trả, tránh rủi ro, an toàn quỹ BHXH, BHTN. Đồng thời phối hợp chặt chẽ với các tổ chức làm đại lý để bảo đảm chi trả thuận tiện, kịp thời, đúng chế độ cho người hưởng và quản lý chặt chẽ người hưởng; báo tăng, báo giảm kịp thời. Toàn ngành sẽ đảm bảo đầy đủ và kịp thời kinh phí để các đơn vị có đủ nguồn chi trả chế độ BHXH, BHTN. Thực hiện giải quyết chính sách BHXH, BHTN đảm bảo đúng pháp luật, kịp thời, thuận tiện; hạn chế tình trạng trục lợi quỹ BHXH, BHTN.

1.3.4 Tuyên truyền và hỗ trợ Bảo hiểm xã hội.

Công tác tuyên truyền chính sách BHXH, BHYT được triển khai đồng bộ cả ở Trung ương và địa phương, qua đó góp phần nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền và các tầng lớp nhân dân về chính sách BHXH, BHYT. Nội dung và hình thức tuyên truyền ngày càng phong phú, đa dạng, nâng cao chất lượng, góp phần tăng số lượng người tham gia và được thụ hưởng chính sách BHXH, BHYT… Luận văn: Phát triển bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện An Dương.

Công tác tuyên truyền chính sách BHXH, BHYT sẽ tiếp tục được đẩy mạnh, đổi mới cả về nội dung và phương pháp tổ chức các hoạt động nhằm góp phần nâng cao hơn nữa nhận thức của cộng đồng và mỗi người dân về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi khi tham gia BHXH, BHYT; Tuyên truyền phổ biến và giải đáp những nội dung cơ bản của Luật BHXH sửa đổi và Luật BHYT sửa đổi, bổ sung; Hướng dẫn việc thực hiện các chế độ, chính sách BHXH, BHYT. Tập trung ưu tiên công tác tuyên truyền hướng về cơ sở, đến các chủ sử dụng lao động, người lao động, nhất là khu vực doanh nghiệp và người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện KTXH khó khăn… nhằm hướng đến mục tiêu BHXH cho mọi người lao động và BHYT toàn dân.

Nội dung tuyên truyền tập trung vào tuyên truyền, phổ biến Luật BHXH (sửa đổi), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT và các quy định pháp luật khác về BHXH, BHYT góp phần nâng cao nhận thức của chủ sử dụng lao động, người lao động và Nhân dân; kịp thời thông tin về chủ trương, chính sách và các hoạt động của Lãnh đạo Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực BHXH, BHYT; phản ánh các hoạt động và kết quả thực hiện nhiệm vụ của Ngành BHXH như: cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin.

Một trong những điểm đột phá của công tác tuyên truyền chính là việc, lãnh đạo Ngành đã chủ trương mở rộng và đẩy mạnh tuyên truyền qua kênh thông tin đại chúng. Không chỉ tăng số lượng, các cơ quan báo chí ký kết chương trình phối hợp tuyên truyền BHXH, BHYT, mà theo đó còn là sự tham gia của đông đảo các phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí của Trung ương, các Bộ, Ngành đã sát cánh cùng ngành BHXH .

Việc phối hợp với các Bộ, Ngành, Tổ chức chính trị – xã hội cũng có nhiều đổi mới về hình thức. Hầu hết các đơn vị đã bám sát định hướng tuyên truyền của BHXH Việt Nam, đẩy mạnh hình thức tuyên truyền trực tiếp, về tận cơ sở để đối thoại với người dân, chủ sử dụng lao động, người lao động. Qua mỗi cuộc đối thoại cơ quan BHXH cũng như các ngành Lao động, Y tế, Công đoàn… đã kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện chính sách để từ đó các đơn vị, đối tượng hiểu về ý nghĩa nhân văn của chính sách và chủ động tham gia BHXH, BHYT.

Tại các địa phương, công tác tuyên truyền cũng có nhiều đổi mới; nhiều cơ quan BHXH tỉnh, thành phố đã tham mưu cho cấp ủy đảng, chính quyền trong việc chỉ đạo các Sở, ngành liên quan phối hợp tuyên truyền về chế độ, chính sách BHXH, BHYT, BH thất nghiệp cho đơn vị sử dụng lao động, người lao động và nhân dân trên địa bàn. Chủ động phối hợp với các cơ quan báo, đài địa phương đa dạng hóa hình thức tuyên truyền để phù hợp với tình hình thực tế địa phương và đối tượng tham gia BHXH, BHYT như tổ chức các cuộc đối thoại chính sách trực tiếp, xây dựng phóng sự, các buổi tọa đàm, chuyên mục.

Việc đổi mới và đa dạng các hình thức tuyên truyền bước đầu đã tạo điều kiện và giúp các ngành, các địa phương, chủ sử dụng lao động và các tầng lớp nhân dân hiểu rõ hơn mục đích, ý nghĩa và tính nhân văn của chính sách BHXH, BHYT trong hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta. Kết quả công tác tuyên truyền cũng đã góp phần rất lớn làm thay đổi và nâng cao nhận thức về quyền và trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, hội đoàn thể các cấp và mọi người dân trong việc thực thi, chấp hành các quy định của Luật BHXH, Luật BHYT, để thực hiện tốt mục tiêu “BHXH cho mọi người lao động” và “Lộ trình tiến tới BHYT toàn dân”. Cụ thể, Truyền hình Thông tấn đã xây dựng chuyên mục “Vì an sinh cuộc sống”; kênh truyền hình Nhân Dân xây dựng chuyên mục “Điểm tựa tương lai”, kênh truyền hình Quốc hội xây dựng “ Điểm tựa an sinh xã hội” đã giới thiệu, tuyên truyền các nội dung về chính sách BHXH, BHYT cũng như quảng bá, giới thiệu hình ảnh và hoạt động của BHXH Việt Nam trên các chuyên mục nói trên.

1.3.5. Tổ chức thực hiện BHXH Luận văn: Phát triển bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện An Dương.

Theo nghị định 19/CP ngày 16/2/1995 của Chính phủ, hệ thống BHXH được thành lập đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ, sự quản lí Nhà nước của Bộ lao động- thương binh xã hội và các cơ quan quản lí Nhà nước có liên quan, sự giám sát của tổ chức công đoàn.

BHXH Việt Nam là cơ quan nhà nước thuộc Chính phủ, có chức năng tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT); tổ chức thu, chi chế độ bảo hiểm thất nghiệp (BHTN); quản lý và sử dụng các quỹ: BHXH, BHTN, BHYT; thanh tra chuyên ngành việc đóng BHXH, BHTN, BHYT theo quy định của pháp luật. [11,tr49].

BHXH Việt Nam được tổ chức và quản lý theo hệ thống dọc, tập trung, thống nhất từ trung ương đến địa phương, gồm có:

  1. Ở Trung ương là BHXH Việt Nam.

Ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là BHXH tỉnh) trực thuộc BHXH Việt Nam. Ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là BHXH huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là BHXH huyện) trực thuộc BHXH tỉnh.

BHXH Việt Nam chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về BHXH, BHTN; của Bộ Y tế về BHYT; của Bộ Tài chính về chế độ tài chính đối với các quỹ BHXH, BHTN, BHYT.

Tổng Giám đốc chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng quản lý và thành viên Chính phủ được phân công phụ trách Bảo hiểm xã hội Việt Nam về tổ chức thực hiện các chế độ BHXH, BHTN, BHYT; quản lý và sử dụng các quỹ BHXH, BHTN, BHYT theo quy định của pháp luật… Giúp Tổng Giám đốc có các Phó Tổng Giám đốc; Phó Tổng Giám đốc được Tổng Giám đốc phân công chỉ đạo một số mặt công tác và chịu trách nhiệm trước Tổng Giám đốc về nhiệm vụ được phân công.

Khi Tổng Giám đốc vắng mặt, một Phó Tổng Giám đốc được Tổng Giám đốc ủy nhiệm lãnh đạo, điều hành hoạt động của BHXH Việt Nam. Các Phó Tổng Giám đốc do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Hội đồng quản lý và Tổng Giám đốc . Luận văn: Phát triển bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện An Dương.

Cơ cấu BHXH Việt Nam như sau:

Sơ đồ 1.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy BHXH Việt Nam

Sơ đồ 1.2: Cơ cấu tổ chức bộ máy giúp Tổng giám đốc BHXH Việt Nam

  1. Bảo hiểm xã hội tỉnh:

BHXH tỉnh thực hiện các nhiệm vụ về BHXH trên địa bàn tỉnh theo quy định của Tổng giám đốc bảo hiểm xã hội Việt Nam. Bảo hiểm xã hội tỉnh do một giám đốc quản lí và điều hành.

Cơ cấu tổ chức của BHXH tỉnh như sau:

Sơ đồ 1.3: Cơ cấu tổ chức bộ máy BHXH tỉnh

  1. Bảo hiểm xã hội quận, huyện

Sơ đồ 1.4: Cơ cấu tổ chức bộ máy BHXH huyện

Bảo hiểm xã hội quận, huyện do một giám đốc quản lí và điều hành. Các quận, huyện có khối lượng công việc nhiều có phó giám đốc giúp việc do giám đốc BHXH thành phố bổ nhiệm và miễn nhiệm theo phân cấp của Tổng giám đốc BHXH Việt Nam. Bảo hiểm xã hội quận huyện không có cơ cấu tổ chức phòng. Biên chế của BHXH quận huyện do giám đốc BHXH tỉnh quyết định trong phạm vi tổng biên chế của BHXH tỉnh được Tổng GĐ phân bổ.

Việc thành lập BHXH quận huyện do Tổng giám đốc BHXH Việt Nam quy định căn cứ vào khối lượng công việc, số lượng người và đơn vị tham gia BHXH trên địa bàn. Tại những nơi chưa có đủ điều kiện thành lập BHXH quận huyện thì giám đốc BHXH Tỉnh cử người đại diện tại quận huyện để thực hiện việc chi trả và đôn đốc theo dõi việc thu chi, nộp BHXH trên địa bàn.

1.3.6. Quản lý nợ đọng và trốn đóng. Luận văn: Phát triển bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện An Dương.

Nợ đọng BHXH là do các công ty không thực hiện nghĩa vụ đóng BHXH theo quy định của pháp luật, điều này ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động và an sinh xã hội.

Trốn đóng BHXH là việc không đóng hoặc đóng không đủ cho số lao động tham gia tại đơn vị. Tình hình nợ đọng trốn đóng BHXH sẽ ảnh hưởng đến người lao động cũng như cơ quan BHXH.

Để tránh nộp BHXH các doanh nghiệp không kí hợp đồng hoặc ký hợp đồng ngắn hạn ( dưới 3 tháng). Điều này ảnh hưởng đến sự ổn định công việc của người lao động , gây tâm lý không tốt trong quá trình tham gia sản xuất. Doanh nghiệp không đóng BHXH đồng nghĩa với việc không đóng BHYT, vì thế các quyền lợi thai sản, hưu trí, tử tuất, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp… của NLĐ coi như mất trắng.

Khi doanh nghiệp nợ đọng, chiếm dụng tiền đóng BHXH của NLĐ thì quyền lợi của họ mất đi trong khi đó họ vẫn phải đóng BHXH tại DN, lương của họ đã bị trích ra để đóng BHXH. BHXH không có quỹ để đền bù cho NLĐ khi họ gặp rủi ro mặc dù họ đã đóng BHXH. Gây hiểu lầm về chính sách bồi thường cho NLĐ khi không giải quyết bồi thường đúng thỏa thuận.

1.3.7. Khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm về BHXH.

  1. Khiếu nại về Bảo hiểm xã hội

Người lao động, người đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng, người đang bảo lưu thời gian đóng BHXH và những người khác có quyền khiếu nại quyết định, hành vi của NSDLĐ, tổ chức BHXH khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó vi phạm pháp luật về BHXH, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Người sử dụng lao động có quyền khiếu nại quyết định, hành vi của tổ chức bảo hiểm xã hội khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó vi phạm pháp luật về BHXH, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

  1. Thẩm quyền, trình tự thủ tục giải quyết khiếu nại

Trường hợp 1: Việc giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính về BHXH được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Luận văn: Phát triển bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện An Dương.

Trường hợp 2: Việc giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi về BHXH không thuộc trường hợp 1 thì được thực hiện như sau:

Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu về BHXH là người có quyết định, hành vi về BHXH bị khiếu nại.

Trong trường hợp người có quyết định, hành vi về BHXH bị khiếu nại không còn tồn tại thì cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện có thẩm quyền giải quyết.

Trong trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Toà án hoặc khiếu nại đến cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh.

Trong trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Tòa án. Thời hiệu khiếu nại, thời hạn giải quyết khiếu nại được áp dụng theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

  1. Tố cáo, giải quyết tố cáo về BHXH.

Việc tố cáo và giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

1.3.8. Công tác nhân sự bảo hiểm xã hội.

Những năm qua, BHXH Việt Nam đã nỗ lực đổi mới, kiện toàn hệ thống tổ chức, chuẩn hóa nhân sự; đặc biệt là nâng cao đạo đức công vụ, nghề nghiệp và thực hiện chuyển đổi tác phong làm việc từ hành chính thụ động sang phục vụ. Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của Ngành và chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về cải cách thể chế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

BHXH Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ. Hoạt động nghiệp vụ của Ngành vừa có yếu tố quản lý nhà nước, vừa mang tính sự nghiệp công lập, thực hiện chế độ chính sách BHXH, BHYT cho hơn 12,9 triệu người tham gia BHXH và hơn 75 triệu người tham gia BHYT ( tính hết năm 2025); gắn với công tác quản lý tài chính, thu- chi, quản lý và sử dụng quỹ BHXH, BHYT, BH thất nghiệp… Để thực hiện tốt nhiệm vụ phục vụ nhân dân, người lao động, đòi hỏi ngành BHXH phải có đội ngũ cán bộ viên chức đủ về số lượng, nắm chắc chuyên môn nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị vững vàng, có ý thức trách nhiệm và tinh thần phục vụ cao. Điều đó đặt ra công tác xây dựng, phát triển nguồn nhân lực cũng như công tác cán bộ phải đặc biệt được coi trọng…

Nguồn nhân lực của BHXH Việt Nam hiện nay có trình độ khá cao; cơ cấu nguồn nhân lực trẻ là những điều kiện nền tảng để Ngành phát huy sức mạnh trong thực hiện các nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận, đội ngũ nhân lực trẻ thường thiếu kinh nghiệm, không thích làm việc cố định một nơi; trong điều kiện cơ chế chính sách về tiền lương, thu nhập chưa đủ sức hấp dẫn đối với nguồn nhân lực chất lượng cao.

Việc phát triển nguồn nhân lực ngành BHXH là nhiệm vụ của các cấp, các ngành và toàn xã hội, nhất là phải có tính chiến lược lâu dài. Do đó, BHXH Việt Nam cũng cần phải đặc biệt chú trọng đến việc nâng cao nhận thức cho lãnh đạo các đơn vị trong toàn hệ thống về vai trò của công tác đào tạo, bồi dưỡng CCVC; có cơ chế đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ quản lý các cấp một cách khoa học, hợp lý, phù hợp. Dùng tiền lương, tiền thưởng và các khoản thu nhập chính đáng làm đòn bẩy, kích thích tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động.

1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển bảo hiểm xã hội. Luận văn: Phát triển bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện An Dương.

1.4.1. Các yếu tố bên ngoài

  1. Chính trị – pháp lý , thể chế của Việt Nam

Đóng vai trò định hướng, hướng dẫn tạo khung khổ cho việc tổ chức vận hành phát triển BHXH. Kiến tạo nền tảng kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia. Nền tảng đó là các luật về BHXH, các Nghị định, thông tư hướng dẫn dưới Luật và các quy định, chính sách về BHXH.

Là chủ thể quản lý xã hội và xác lập các công cụ quản lý xã hội hữu hiệu tạo nền tảng phát triển BHXH.

Đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì một chính quyền tốt, hạn chế tham nhũng. Góp phần tạo ra những tiền đề điều kiện hạn chế những khuyết tật của tiến trình phát triển BHXH.

Đóng vai trò kiểm soát các nguồn lực trong xã hội. Đảm bảo các chủ thể xã hội thực hiện được các quyền và nghĩa vụ của mình.

Việc ban hành văn bản quy định chi tiết các điều khoản được giao theo Luật BHXH, Luật Việc làm, Luật An toàn, vệ sinh lao động đảm bảo tính hợp pháp và tính thống nhất trong hệ thống pháp luật.

  1. Kinh tế
  • Tốc độ phát triển kinh tế

Tạo điều kiện cho người dân có cuộc sống tốt hơn, tạo ra nhiều việc làm mới, thu hút nhiều lao động tham gia vào các hoạt động kinh tế. Người lao động có thu nhập càng cao và ổn định càng có điều kiện tốt hơn tham gia BHXH.

Kinh tế phát triển, Nhà nước và các doanh nghiệp có điều kiện để đầu tư thêm trang thiết bị hiện đại, cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động. Luận văn: Phát triển bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện An Dương.

Kinh tế tăng trưởng, môi trường kinh tế càng được hoàn thiện, việc đầu tư vào quỹ BHXH càng tốt hơn, an toàn hơn, tránh được những rủi ro từ kinh tế, góp phần tăng trưởng quỹ BHXH.

Điều kiện về kinh tế là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của BHXH Việt Nam. Kinh tế phát triển, khả năng chi trả cho bảo hiểm xã hội của người lao động và doanh nghiệp càng cao.

  • Lạm phát

Ngược lại nếu kinh tế kém phát triển, lạm phát gia tăng, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sẽ bị đình trệ, mức thu nhập của người lao động sẽ không ổn định dẫn đến nhu cầu tham gia BHXH giảm.

  1. Dân cư

Việt Nam là một trong những nước đông dân trên thế giới, với dân số hơn 94 triệu người ( tính đến ngày 16/01/2026). Hơn nữa Việt Nam lại đang ở thời kỳ “dân số vàng”, tỷ lệ lao động cao, kéo theo tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội tăng theo.

Việt Nam là nước có quy mô dân số lớn nên lực lượng lao động dồi dào là động lực tích cực thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Khi nền kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện tốt tăng sức tham gia BHXH.

Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay, với dân số “trẻ” đang có lợi thế về nguồn lực lao động tham gia đóng góp vào quỹ BHXH tạo điều kiện cho BHXH phát triển [ 7,tr.118].

Trình độ của dân số Việt Nam ngày càng được nâng cao tạo điều kiện thuận lợi về nhận thức của mỗi người về tầm quan trọng của BHXH, khi nhận thức được nâng lên thì nhu cầu tham gia BHXH cũng theo đó tăng theo.

Thu nhập bình quân đầu người tại Việt Nam đang tăng lên nhanh chóng, nhu cầu tiết kiệm có xu hướng tăng và BHXH cũng chính là 1 khoản tiết kiệm lâu dài, chính vì vậy mà nhu cầu tham gia BHXH của người dân có xu hướng tăng cùng với thu nhập.

  1. Văn hoá Luận văn: Phát triển bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện An Dương.

Văn hoá Việt Nam được hình thành và phát triển trong mối quan hệ cộng đồng, xuất phát từ lòng nhân ái, tình yêu thương con người đùm bọc lẫn nhau. Đặc điểm này tạo nên nét văn hoá trong cộng đồng Nền văn hoá và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Văn hóa nằm trong mọi lĩnh vực hoạt động. Đối với hoạt động của ngành Bảo hiểm xã hội cũng không ngoài mục đích góp phần đạt đến mục tiêu phát triển hoàn thiện nhất.

  1. Hội nhập quốc tế

Hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một trong những động lực quan trọng để phát triển kinh tế – xã hội, làm tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia; thúc đẩy hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu, tranh thủ được khối lượng lớn vốn đầu tư, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý và các nguồn lực quan trọng khác; tạo thêm nhiều việc làm; nâng cao dân trí và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác hội nhập quốc tế từ Trung ương đến địa phương được nâng lên một bước; tổ chức, bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước được củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động. Đội ngũ doanh nhân Việt Nam có bước trưởng thành đáng kể.

Hội nhập quốc tế mang lại cơ hội như mở rộng thị trường, khách hàng, đối tác, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, tăng cơ hội huy động, đầu tư và phân bổ vốn hiệu quả, tạo áp lực cải cách. Tuy nhiên cũng mang lại nhiều thách thức cho các doanh nghiệp cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn. Trong quá trình hội nhập quốc tế, cũng như các nước đang phát triển khác, nước ta phải chịu sự ràng buộc của các quy tắc kinh tế, thương mại, tài chính – tiền tệ, đầu tư… chủ yếu do các nước phát triển áp đặt; phải chịu sức ép cạnh tranh bất bình đẳng và sự điều tiết vĩ mô bất hợp lý.

Theo đó, mục tiêu của hội nhập quốc tế là phát huy tối đa nguồn lực và điều kiện thuận lợi của hội nhập quốc tế góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội Việt Nam bền vững, hiệu quả, hiện đại; xây dựng chính sách, tổ chức thực hiện chính sách về BHXH, BHYT phù hợp với các chuẩn mực, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

1.4.2. Các yếu tố bên trong. Luận văn: Phát triển bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện An Dương.

  1. Lãnh đạo – chỉ đạo
  • Nhận thức của người lãnh đạo ngày càng được nâng cao.

Việc đôn đốc thu, phát triển đối tượng, cắt giảm thủ tục, quy trình thu, nộp BHXH, BHYT, BHXH Việt Nam, bên cạnh đó tập trung chỉ đạo xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện tăng cường các nhóm giải pháp phát triển đối tượng tham gia BHXH được diễn ra mạnh mẽ.

Chủ động triển khai công tác thanh tra chuyên ngành đóng BHXH; phối hợp với cơ quan Thuế tăng cường công tác quản lý, tập hợp thông tin về đơn vị, cá nhân nộp thuế, nộp BHXH nhằm ngăn ngừa tình trạng chiếm đóng, nợ đọng BHXH, BHYT…

Chỉ đạo việc giao ban, tập trung đẩy mạnh công tác phát triển đối tượng tham gia BHXH. Tuy nhiên vẫn còn 1 số bất cập trong công tác quản lý điều hành tại địa phương.

  • Quy trình thủ tục – tổ chức thực hiện ngày càng được hoàn thiện.

Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp đã được đổi mới với nhiều hình thức tổ chức phong phú, có hiệu quả với sự tham gia của nhiều cơ quan, đoàn thể chính trị – xã hội và địa phương để thực hiện mục tiêu, chỉ tiêu về BHXH, BHTN được Đảng, Nhà nước giao; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính về bảo hiểm xã hội, triển khai thực hiện giao dịch điện tử, chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH thông qua hệ thống bưu điện.

  1. Tổ chức bộ máy

BHXH Việt Nam được tổ chức và quản lý theo hệ thống dọc, tập trung, thống nhất từ trung ương đến địa phương, giúp quá trình thực hiện cũng như chỉ đạo được dễ dàng và thống nhất. Tổ chức quản lý và thành viên được phân công phụ trách , tổ chức thực hiện các chế độ BHXH, BHYT, BHTN theo đúng pháp luật.

Công tác thanh tra, kiểm tra tiếp tục được quan tâm thực hiện.

  1. Nhân sự
  • Tuyển dụng: Luận văn: Phát triển bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện An Dương.

Những năm qua, BHXH Việt Nam đã nỗ lực đổi mới, kiện toàn hệ thống tổ chức, chuẩn hóa nhân sự; đặc biệt là nâng cao đạo đức công vụ, nghề nghiệp và thực hiện chuyển đổi tác phong làm việc từ hành chính thụ động sang phục vụ.

Ngành BHXH ngày càng được kiện toàn, tăng cường đội ngũ cán bộ cả về số lượng và chất lượng nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ được giao.

  • Đào tạo

Nguồn nhân lực của BHXH Việt Nam hiện nay có trình độ khá cao; cơ cấu nguồn nhân lực trẻ là những điều kiện nền tảng để Ngành phát huy sức mạnh trong thực hiện các nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận, đội ngũ nhân lực trẻ thường thiếu kinh nghiệm, không thích làm việc cố định một nơi; trong điều kiện cơ chế chính sách về tiền lương, thu nhập chưa đủ sức hấp dẫn đối với nguồn nhân lực chất lượng cao.

  1. Công nghệ và cơ sở vật chất.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin đã cho phép ngành bảo hiểm vi tính hoá quá trình dịch vụ, giảm bớt tính cồng kềnh của cơ cấu tổ, đa dạng hoá kênh phân phối và các hình thức dịch vụ, tăng cường dịch vụ khách hàng bằng các dịch vụ phụ trợ kỹ thuật cao,…

Ngoài ra, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin tạo ra một thói quen tiêu dùng mới cho khách hàng. Khách hàng ngày càng có nhu cầu tìm hiểu thông tin qua các phương tiện thông tin hiện đại như qua: Internet, điện thoại, email…được cung cấp các dịch vụ tối ưu nhất….[ 19, tr.118].

1.5. Tiêu chí đánh giá công tác phát triển bảo hiểm xã hội

Để đánh giá công tác phát triển BHXH tại một địa phương cụ thể chúng ta cần đi phân tích một số chỉ tiêu sau:

Thứ nhất là chỉ tiêu liên quan đến số lượng lao động tham BHXH hàng năm với số lao động mới tham gia BHXH của năm kế tiếp. Nghiên cứu khả năng và nhu cầu tham gia bảo hiểm xã hội

Tiêu chí này gồm tiêu chí: số lao động mới tham gia BHXH, tổng số lao động tham gia BHXH, số doanh nghiệp tham gia BHXH.

Trong đó tiêu chí

  • Số đơn vị tăng thêm = Tổng số đơn vị năm trước – Tổng số đơn vị năm nay
  • số đơn vị tăng thêm= Tổng số đơn vị năm nay/Tổng số đơn vị năm trước

Thứ hai: Tiêu chí Tổ chức mạng lưới phát triển BHXH

Số đại lý phát triển mới hàng năm: thống kê số lượng đại lý tham gia cung ứng dịch vụ đóng, tham gia BHXH tự nguyện và BHXH bắt buộc.

Thứ ba là Tiêu chí Công tác tuyên truyền BHXH:

Số hội thảo, hội nghị hàng năm mà BHXH tại quận huyện tổ chức để tuyên truyền, phổ biến kiến thức BHXH cho doanh nghiệp và người lao động tham gia.

Thứ tư: Tiêu chí quản lý nợ động

  • Nợ đọng= số liệu phải thu (kế hoạch)- số thực thu trong năm.
  • %Nợ đọng = Nợ đọng/Số thu thực tế

Thứ năm là Tiêu chí liên quan đến Khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm về BHXH

Số hoạt động công tác xử lý số lượng hồ sơ khiếu nại, tỗ cáo cũng như số lượng vi phạm liên quan đến hoạt động đóng BHXH tại các doanh nghiệp và hồ sơ vi phạm BHXH của người lao động.

  • Số hồ sơ xử lý = Tổng số hồ sơ tiếp nhận/Tổng số hồ sơ xử lý

Thứ sáu: Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực phục vụ hoạt động BHXH

Với nhân sự tham gia quản lý hoạt động BHXH = Tổng số cán bộ của BHXH tại địa phương và đại lý/tổng số lao động tham gia BHXH Luận văn: Phát triển bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện An Dương.

Tổng hợp tiêu chí này làm căn cứ đánh giá tình hình phát triển BHXH trên địa bàn huyện An Dương trong giai đoạn 2021-2025 mà tác giả sẽ tiến hành phân tích thực trạng trong chương 2 của luận văn.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng phát triển BHXH tại huyện An Dương

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Phát triển bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện An Dương […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993