Luận văn: Quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Đề tài nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho HS tại các trường THPT huyện Phú giáo, tỉnh Bình Dương, từ đó đề ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho HS tại các trường này. Người nghiên cứu sử dụng kết hợp nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận và thực tiễn để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đặt ra như sau:

Thứ nhất, đề tài góp phần làm rõ cơ sở lý luận của giáo dục sức khoẻ sinh sản và quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho HS ở các trường THPT. Trong đề tài, người nghiên cứu tìm hiểu thực trạng giáo dục SKSS trên cơ sở các nội dung như: tầm quan trọng của giáo dục SKSS cho HS; nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục SKSS cho HS. Trong đó, quy trình quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho HS được nghiên cứu theo tiếp cận chức năng quản lý bao gồm: lập kế hoạch; tổ chức; chỉ đạo thực hiện và kiểm tra, giám sát và đánh giá việc thực hiện.

Thứ hai, đề tài khảo sát và đánh giá thực trạng giáo dục SKSS và quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho HS các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Hiện nay các trường THPT huyện Phú Giáo bước đầu đã quan têm đến việc giáo dục SKSS cho HS mặc dù vậy hoạt động giáo dục SKSS cho HS vẫn chỉ được xem là hoạt động phụ trong nhà trường. Hình thức giáo dục SKSS được thực hiện tích hợp, lồng ghép vào nội dung môn học và các hoạt động của nhà trường chứ chưa được thiết kế thành một môn học độc lập. Trong đó, hình thức giáo dục SKSS thực hiện thông qua sinh hoạt ngoại khóa là phổ biến nhất.

Đối với thực trạng quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho HS: (1) Hiệu trưởng đã bắt đầu lập kế hoạch hàng năm thực hiện giáo dục SKSS cho HS thể hiện qua việc xác định mục tiêu, nội dung hình thức và phương pháp và cách thức phối hợp, tuy nhiên kế hoạch giáo dục SKSS cho HS còn chung chung, chưa cụ thể. (2) Hiệu trưởng quan tâm đến công tác tổ chức phân công phân nhiệm người thực hiện nhưng chưa chú ý đầu tư cơ sở vật chất và nguồn lực thực hiện giáo dục SKSS. (3) Hiệu trưởng chưa chú ý chỉ đạo phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường để triển khai hoạt động giáo dục SKSS cho HS. (4) Hiệu trưởng chưa xây dựng và ban hành các tiêu chí ĐG việc thực hiện giáo dục SKSS cho HS của CB, GV; chưa thường xuyên thực hiện kiểm tra, giám sát và đánh giá hoạt động giáo dục SKSS ngoài giờ lên lớp cũng như dạy tích hợp trong các môn học. Nhìn chung, hiệu quả quản lý từ khâu lập kế hoạch đến kiểm tra giám sát mới đạt được ở mức trung bình.

Từ nghiên cứu lý luận và kết quả đánh giá thực trạng giáo dục SKSS và quản lý công tác giáo dục SKSS cho HS tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, đề tài đã đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý công tác giáo dục SKSS cho HS như sau: Luận văn: Quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

Nhóm biện pháp bồi dưỡng nâng cao nhận thức và năng lực của CBQL và GV về công tác giáo dục SKSS cho HS: (a)Triển khai đến CB, GV nội dung các văn bản pháp quy, chủ trương chỉ đạo về công tác giáo dục SKSS VTN; (b) Phối hợp với các đơn vị chuyên ngành để tổ chức các lớp tập huấn về dân số, SKSS, giới tính cho đội ngũ CBQL và GV của trường; (c) Tạo cơ hội cho CB, GV tham gia các hội nghị, hội thảo trong và ngoài trường về vấn đề giáo dục giới tính, giáo dục gia đình, giáo dục SKSS VTN; (d) Tăng cường tuyên truyền để nâng cao nhận thức của CBQL, GV và HS về GDSKSS thông qua các hình thức khác nhau; (e) Khuyến khích GV tự bồi dưỡng kiến thức về GDSKSS và hỗ trợ các thầy cô tham dự các khóa học, chương trình nâng cao nhận thức, kiến thức về SKSS.

Nhóm biện pháp xây dựng kế hoạch giáo dục SKSS cho HS: Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch giáo dục SKSS của nhà trường theo năm học trên cơ sở các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của Bộ, Sở, trường về công tác giáo dục SKSS; yêu cầu GV lập kế hoạch thực hiện hoạt động giáo dục SKSS trong quá trình dạy lồng ghép vào các môn học.

Nhóm biện pháp tổ chức phân công, phân nhiệm người thực hiện công tác giáo dục SKSS cho HS: (a) hiệu trưởng phân công nhân sự phụ trách; (b) huy động nguồn lực, cơ sở vật chất; (c) xây dựng cơ chế phối hợp với các lực lượng trong và ngoài nhà trường trong việc triển khai hoạt động giáo dục SKSS cho HS.

Nhóm biện pháp chỉ đạo thực hiện công tác giáo dục SKSS cho HS: (a) chỉ đạo đa dạng hoá nội dung và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục SKSS cho HS phù hợp với đặc điểm của HS và nhà trường; (b) chỉ đạo GV tổ chức triển khai chương trình giáo dục SKSS cho HS một cách đồng bộ và thống nhất trong nhà trường, trong đó phát huy vai trò chủ thể và khả năng tự giáo dục của HS.

Nhóm biện pháp cải tiến hoạt động kiểm tra, giám sát và đánh giá công tác giáo dục SKSS cho HS: (a) xây dựng và ban hành các tiêu chí và quy trình đánh giá việc thực hiện công tác giáo dục SKSS cho HS; (b) triển khai kiểm tra, giám sát thường xuyên việc thực hiện công tác giáo dục SKSS cho HS; (c) xây dựng và ban hành các quy định về hình thức khen thưởng CB, GV và thực hiện khen thưởng kịp thời khi CB, GV thực hiện tốt công tác giáo dục SKSS cho HS.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài Luận văn: Quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

Lứa tuổi vị thành niên (VTN) là giai đoạn phát triển đặc biệt mạnh mẽ và phức tạp nhất của cuộc đời mỗi con người. Biểu hiện của nó là xảy ra đồng thời một loạt những thay đổi gồm: sự chín muồi về thể chất, sự biến đổi điều chỉnh tâm lý và các quan hệ xã hội và có nhiều rối nhiễu về tâm lý nhất so với các lứa tuổi khác. Do vậy, theo Lê Thị Hồng Anh (2011), lứa tuổi VTN dễ tiếp nhận những tinh hoa của cuộc sống, nhưng cũng rất dễ bị tác động từ những ảnh hưởng tiêu cực do lối sống và xã hội tạo ra. Trong xu thế toàn cầu hoá với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin và truyền thông, các quan niệm về tình yêu, tình dục, sinh sản, hôn nhân… cũng đang thay đổi. Lứa tuổi VTN có nhiều cơ hội để tiếp cận thông tin nhanh chóng, tham gia đa dạng vào các hoạt động xã hội, tuy nhiên nhiều vấn đề phát sinh cũng tạo ra không ít khó khăn cho lứa tuổi này trong việc định hình và lựa chọn hướng đi đúng, như HIV/AIDS, ma tuý, bệnh lây lan qua đường tình dục, có thai ngoài ý muốn… Do vậy, theo Trần Quốc Thành (2023), các em học sinh ở lứa tuổi VTN phải có hiểu biết và phải được chuẩn bị kỹ trước khi đưa ra những quyết định có ảnh hưởng đến tương lai của mình; đồng thời các em cũng cần được giáo dục một cách khoa học và sống trong một môi trường thuận lợi để có thể phát triển một cách tích cực, khoẻ mạnh.

Tại Việt Nam hiện nay, song song với việc dạy kiến thức môn học, vấn đề giáo dục sức khoẻ sinh sản (SKSS) và quản lý hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên (SKSS VTN) đã và đang được xã hội, ngành giáo dục mà cụ thể là các trường trung học phổ thông (THPT) quan tâm đặc biệt (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2013). Ở các trường THPT tại Việt Nam hiện nay chương trình giáo dục SKSS VTN được lồng ghép vào bài học ở các bộ môn dạy tích hợp như: Sinh học, Lịch sử, Địa lý hay Ngữ văn, đồng thời vấn đề SKSS VTN cũng được đan xen trong các hoạt động ngoại khoá của Đoàn thanh niên. Còn các trường THPT tại Bình Dương và các trường THPT trên địa bàn huyện Phú Giáo nói riêng thường cho học sinh tham gia nhiều hoạt động giáo dục SKSS VTN trong đó chủ yếu lồng ghép vào bài học ở các bộ môn dạy tích hợp.

Thế nhưng, có thể nói hiệu quả giáo dục SKSS VTN chưa đạt được nh mong muốn. Cụ thể, Việt Nam hiện nay đang phải đối mặt với nhiều vấn đề liên quan đến SKSS VTN (Dự án VIE, 2018). Theo bộ Y tế (2016), tình trạng nạo hút thái ở lứa tuổi VTN trong những năm gần đây có chiều hướng gia tăng. Sự phát triển nhiễm HIV/AIDS nhanh chóng tới mức báo động, 50% số người nhiễm HIV ở lứa tuổi vị thành niên, trong đó 14% là dưới 15 tuổi. Một số điều tra gần đây trên các đối tượng VTN cho thấy, các em còn thiếu kiến thức và hiểu biết về sức khoẻ sinh sản; các nguy cơ có thai ở lứa tuổi VTN do quan hệ tình dục trước hôn nhân, nguy cơ nghiện hút, các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục đang gia tăn (Trần Quốc Thành, 2023). Phùng Thị Hằng và Nguyễn Thị Chúc (2024) cho rằng, sự thiếu kiến thức về chăm sóc SKSS, sự hạn chế về kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục cùng với những biểu hiện tiêu cực như yêu sớm, có lối sống buông thả, nạo, hút, phá thai… đã ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống, hoạt động học tập và quá trình rèn luyện của một bộ phận HS ở lứa tuổi này.

Một trong những nguyên nhân làm cho hiệu quả của việc giáo dục SKSS ở Việt Nam nói chung và tại các trường THPT huyện Phú Giáo tỉnh Bình Dương nói riêng chưa cao, có thể là công tác quản lý chưa tốt và chưa có hệ thống quản lý đồng bộ. Chẳng hạn như chưa có sự phối hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường hay chưa có sự phối hợp giữa các tổ chức trong và ngoài trường học, hoặc giáo viên chưa được tập huấn thường xuyên về kiến thức, kĩ năng SKSS VTN. Giáo dục SKSS VTN cho học sinh THPT hiện nay là một nhu cầu cần thiết. Trong đó, chuẩn hoá hoạt động giáo dục SKSS và quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN là một nhu cầu cấp bách trong việc đào tạo con người Việt Nam hiện đại có đầy đủ sức khoẻ, trình độ năng lực, cũng như góp phần quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Xuất phát từ những lý do trên, người nghiên cứu chọn đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương” làm đề tài để nghiên cứu.

2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận và xác định thực trạng giáo dục SKSS VTN và quản lý hoạt động hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên, đề tài đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN ở các trường THPT tại huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN tại các trường này.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

  • Phân tích, hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động giáo dục SKSS VTN cho học sinh THPT và quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN cho học sinh THPT.
  • Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động giáo dục SKSS VTN và quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương và các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng.
  • Đề xuất và khảo nghiệm một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN tại các THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1. Khách thể nghiên cứu

  • Quản lý hoạt động giáo dục cho học sinh ở các trường THPT.

4.2. Đối tượng nghiên cứu

  • Quản lý hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh ở các trường THPT tại huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

5. Phạm vi nghiên cứu

5.1. Giới hạn về thời gian:

  • Thời gian nghiên cứu 2 năm từ tháng 8 năm 2023 đến tháng 08 năm 2025.

5.2. Giới hạn về không gian:

Không gian nghiên cứu được tiến hành tại 4 trường THPT trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đó là:

  • Trường trung học phổ thông Phước Hoà, xã Phước Hoà
  • Trường trung học phổ thông Nguyễn Huệ, xã Tân Hiệp
  • Trường trung học phổ thông Phước Vĩnh, Thị trấn Phước Vĩnh
  • Trường trung học phổ thông Tây Sơn, xã Tân Long

5.3. Giới hạn về nội dung:

Đề tài tập trung nghiên cứu quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN cho học sinh tại các trường THPT huyện Phú giáo, tỉnh Bình Dương. Do vậy phạm vi nội dung nghiên cứu của đề tài tập trung vào hai khía cạnh: thứ nhất là công tác quản lý giáo dục SKSS VTN của hiệu trưởng các trường THPT, thứ hai là nghiên cứu SKSS VTN trong phạm vi là học sinh THPT, do vậy, thuật ngữ “vị thành niên” dùng trong đề tài sẽ giới hạn trong nhóm tuổi từ 15 đến 19.

6. Giả thuyết khoa học Luận văn: Quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

Hoạt động quản lý giáo dục SKSS VTN bước đầu đã được quan tâm thực hiện tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, tuy nhiên thực trạng thực hiện giáo dục và quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho HS (từ khâu lập kế hoạch, tổ chức chỉ đạo cho đến kiểm tra giám sát và cải tiến) có thể chưa triển khai thường xuyên.

Thực trạng trên có thể do nguồn lực thực hiện quản lý giáo dục SKSS còn thiếu, CBQL và GV thiếu kỹ năng thực hiện giáo dục SKSS và có thể do nhà trường thiếu sự phối với các cá nhân, tổ chức trong và ngoài trường khi thực hiện giáo dục giáo dục SKSS cho HS.

Nếu đề xuất một hệ thống các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN một cách khoa học phù hợp với đặc thù HS ở trường THPT, hữu ích, thiết thực cho HS thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục SKSS VTN tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1 Cơ sở phương pháp luận

  • Đề tài nghiên cứu dựa trên các quan điểm sau:

7.1.1. Quan điểm hệ thống-cấu trúc

Theo quan điểm hệ thống cấu trúc, tất cả các sự vật hiện tượng trong tự nhiên đều tồn tại trong một hệ thống trọn vẹn với nhiều yếu tố hợp thành. Các yếu tố này không tồn tại độc lập mà có quan hệ biện chứng với nhau và với các yếu tố, hệ thống khác trong một môi trường nhất định.

Vận dụng quan điểm này vào phạm nghi nghiên cứu của đề tài, người nghiên cứu nhận thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa công tác quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN với quản lý các hoạt động giáo dục khác trong trường. Đồng thời xem công tác quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN là một hệ thống với các yếu tố hợp thành: chủ thể, đối tượng, mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, kết quả và môi trường. Các yếu tố này có mối quan hệ thống nhất, biện chứng với nhau.

7.1.2. Quan điểm lịch sử – logic

Quan điểm lịch sử – logic giúp người nghiên cứu xác định phạm vi, không gian, thời gian và điều kiện cụ thể để điều tra, nghiên cứu và thu thập số liệu chính xác, đúng với mục đích nghiên cứu của đề tài. Đồng thời, quan điểm này giúp người nghiên cứu xem xét hoạt động quản lý giáo dục SKSS VTN như quá trình phát triển lâu dài.

7.1.3. Quan điểm thực tiễn Luận văn: Quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

Quan điểm thực tiễn đòi hỏi người nghiên cứu phải bám sát thực tiễn, phục vụ cho sự nghiệp giáo dục của đất nước. Vận dụng quan điểm này vào phạm vi đề tài có thể thấy đề tài là sự kết hợp giữa lý luận và kinh nghiệm quản lý giáo dục SKSS VTN của thế giới và Việt Nam cũng như thực tiễn quản lý hoạt động giáo dục SKSS tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Qua khảo sát, người nghiên cứu sẽ tìm ra được những mặt mạnh, mặt yếu, nguyên nhân của hạn chế trong công tác quản lý hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên, để từ đó đề ra các biện pháp mang tính khả thi và cần thiết.

7.2. Các phương pháp cụ thể

7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Mục đích: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá và khái quát hoá các tài liệu lý luận về hoạt động giáo dục SKSS VTN và quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN để xây dựng cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu của đề tài.

Công cụ: Nghiên cứu các tài liệu, các sách, các bài báo khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài, các văn bản pháp quy, nghị quyết, chủ trương của Đảng, Nhà nước, Bộ giáo dục và Đào tạo, Sở giáo dục và đào tạo liên quan đến công tác giáo dục SKSS VTN ở bậc THPT.

7.2.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.2.1.  Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Mục đích: Thu thập số lệu về thực trạng hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên và quản lý hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương; khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động SKSS VTN được đề xuất.

Đối tượng: Cán bộ quản lý (BGH), cán bộ Đoàn, giáo viên và học sinh tại 4 trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương (Gồm trường THPT Phước Hoà, trường THPT Nguyễn Huệ, trường THPT Phước Vĩnh, trường THPT Tây Sơn).

Công cụ: Phiếu trưng cầu ý kiến của cán bộ quản lý, phiếu trưng cầu ý kiến của giáo viên và phiếu trưng cầu ý kiến của học Bảng câu hỏi được thiết kế theo thang đo likert với 5 mức độ trả lời.

Phiếu trưng câu ý kiến được thiết kế gồm hai bước. Bước 1, trước khi soạn thảo phiếu, chúng tôi phỏng vấn sơ khởi một số cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh. Mục đích để tìm hiểu về công tác quản lý giáo dục SKSS VTN cho học sinh tại các trường THPT huyện Phú Giáo. Từ nội dung thu được sau khi phỏng vấn, kết hợp với nghiên cứu cơ sở lý luận, chúng tôi xây dựng thành 3 phiếu trưng cầu ý kiến hoàn chỉnh. Luận văn: Quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

Cách tiến hành: (1) thiết kế phiếu trưng cầu ý kiến; (2) phát phiếu cho từng CBQL và giáo viên và đề nghị họ trả lời; (3) Hướng dẫn cách trả lời từng nội dung trong phiếu; (4) xử lý thống kê và phân tích số liệu.

7.2.2.2. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

Phương pháp này được thực hiện thông qua việc nghiên cứu các hồ sơ liên quan đến công tác giáo dục SKSS cho HS như kế hoạch giáo dục SKSS … tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương trong năm học 2023-2024 và 2024-2025 nhằm tìm hiểu kế hoạch, mục tiêu và thực trạng quản lý giáo dục SKSS VTN của Hiệu trưởng.

7.2.2.3. Phương pháp thống kê toán học

Mục đích: Nhằm mô tả và phân tích kết quả hoạt động giáo dục SKSS VTN cho HS và quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN cho HS.

  • Công cụ: dùng phần mềm SPSS để xử lý số liệu.
  • Các phép toán thống kê được sử dụng gồm thống kê mô tả (tính trung bình, tỉ lệ phần trăm) và thống kê suy diễn (các phép kiểm nghiệm thống kê).

7.2.2.4. Phương pháp điều phỏng vấn

  • Mục đích phỏng vấn:

Thu thập những ý kiến của CBQL làm căn cứ xây dựng bảng hỏi, đồng thời phỏng vấn sâu để làm rõ ý kiến, quan điểm, niềm tin mà chưa được lý giải sâu sắc, toàn diện trong giáo dục SKSS VTN .

  • Đối tượng: Cán bộ quản lý (BGH) của 4 trường trung học phổ thông huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Mỗi trường, người nghiên cứu sẽ phỏng vấn 3 cán bộ quản lý.
  • Nội dung: Phỏng vấn thực trạng quản lý hoạt động giáo dục về sức khoẻ sinh sản vị thành niên.
  • Thời gian phỏng vấn: 30 phút/ người.
  • Công cụ: Bảng câu hỏi phỏng vấn dành cho (phụ lục 3)

8. Bố cục của luận văn Luận văn: Quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

  • Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
  • Chương Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN cho HS tại các trường THPT.
  • Chương 2. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN cho HS tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
  • Chương 3. Biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN cho HS tại các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC SỨC KHOẺ SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Tổng quan về các nghiên cứu ở nước ngoài

Trên thế giới, vấn đề giáo dục SKSS VTN đã được đề cập rất sớm với nhiều tên gọi khác nhau như giáo dục giới tính, giáo dục dân số, giới tính tình dục thanh thiếu niên… Chẳng hạn, vấn đề giáo dục giới tính (GDGT) đã được nghiên cứu từ thời xa xưa, trong nền văn minh cổ đại trung Hoa đã có những tác phẩm đề cập một cách sâu sắc đến vấn đề tình dục, đó là Tố Nữ Kinh (khoảng hơn 2600 năm) hoặc Kmasutra (khoảng 200 – 300 năm trước công nguyên). Tuy nhiên do vấn đề đạo đức tôn giáo thời đó tình dục vẫn là vấn đề cấm kỵ và chỉ bước sang thế kỷ XX vấn đề tình dục hoặc giới tính mới được các nước châu Âu quan tâm. Thụy Điển là nước đầu tiên nghiên cứu vấn đề này và cũng bắt đầu từ năm 1942 đến 1946, bộ GD Thụy Điển chính thức đưa GDGT vào dạy phổ cập trong toàn thể các cấp học từ tiểu học đến THPT. Sau Thụy điển là Hoa Kỳ, nhu cầu giáo dục giới tính rất được chú ý và đề cao. Trong khi đó, ở các nước với nền văn hóa phương Đông do ảnh hưởng của chế độ phong kiến và tôn giáo nên GDGT được coi như điều tối kỵ. Việc GDGT hầu như bị né tránh, ít được nghiên cứu và giáo dục một cách bài bản và có hệ thống (Lam Thi, 2012). Luận văn: Quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

Theo Bùi Ngọc Oánh (2013), việc nghiên cứu về SKSS được quan tâm nhiều từ khoảng thập niên 90 của thế kỉ XX, do yêu cầu của việc giáo dục dân số, sự phát triển của các khoa học nghiên cứu về giới tính, đặc biệt là do tình hình phức tạp của đời sống xã hội về các tệ nạn xã hội, về sự bùng nổ dân số, về sự phát triển của những lối sống không lành mạnh trong thanh thiếu niên. Việc nghiên cứu SKSS thường được tiến hành theo góc độ Dân số học và Giáo dục dân số. Các công trình nghiên cứu thường đi vào những phương thức điều chỉnh sự phát triển dân số, hoạt động kế hoạch hoá gia đình, căn cứ để xây dựng các chính sách dân số và Giáo dục dân số, xây dựng chương trình, nội dung giáo dục dân số, giáo dục giới tính và đời sống gia đình.

Năm 1994 tại hội nghị ICPD (Interntional Conference on Population development) với sự tham gia của 197 quốc gia tại thủ đô Cairo của Ai Cập đã đánh dấu một mốc quan trọng trong sự thay đổi chính sách dân số ở các quốc gia. Nếu như trước đây GDDS nhấn mạnh đến các nội dung về dân số và phát triển dân số thì sau hội nghị ICPD, GDDS lại nhấn mạnh đến nội dung GD SKSS VTN như là một vấn đề ưu tiên quan trọng nhất. Cũng từ lần hội nghị này, vấn đề GDSKSS và GD SKSS VTN chính thức được công nhận, GDSKSS và GD SKSS VTN được coi là định hướng chỉ đạo của gần như toàn bộ các chương trình dân số của thế giới. Cũng tại hội nghị này một khái niệm mới về GDSKSS bao gồm tất cả các nội dung liên quan đến tình trạng sức khỏe, quá trình sinh sản và chất lượng cuộc sống được nghiên cứu và đưa vào thực hiện (Lê Nguyễn, 2012).

Nhân dịp ngày dân số thế giới 11/07/1998, UNFPA đã gửi thông điệp tới các nước trên thế giới tuyên bố “những quan tâm hàng đầu hiện nay được tập trung vào các vấn đề SKSS VTN” (Ủy ban dân số KHHGĐ, 1999). Theo Trần Thị Loan (2021), tại Châu Phi, giáo dục SKSS tập trung chủ yếu vào đẩy lùi dịch HIV/AIDS. Tại Ai Cập, học sinh từ 12 – 14 tuổi được học những kiến thức giải phẫu sinh học như cấu tạo cơ quan sinh dục nam nữ, cơ chế hoạt động, quan hệ tình dục, nguyên nhân có thai, các bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục. Tại Nhật Bản, giáo dục giới tính là bắt buộc từ 11 tuổi, chủ yếu đề cập tới các chủ đề sinh học như kinh nguyệt và xuất tinh. Vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX ở Đan Mạch đã có chương trình truyền hình được Chính phủ tài trợ đã trở thành kênh thông tin quen thuộc về giới tính và sức khỏe sinh sản cho lứa tuổi vị thành niên. Đan Mạch là nước có tỷ lệ trẻ vị thành niên mang thai thấp nhất thế giới và là hình mẫu “lý tưởng” cho các nước khác học tập cách thức giáo dục giới tính trong trường học. Các trường học tại các quốc Gia Châu Mỹ đều đưa giáo dục giới tính vào chương trình học của học sinh lớp 7-12. Học sinh tiếp cận kiến thức giới tính theo 2 kiểu: toàn diện kiến thức chung 58% hoặc kiến thức sâu về một khía cạnh một vấn đề chiếm 34%. Sơ lược bức tranh trên cho thấy, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều rất quan tâm tới các vấn đề liên quan tới SKSS nhất là SKSS VTN và có thể coi nó là chiến lược quốc gia. Đặc biệt, tất cả các quốc gia này đều chú trọng vào phương pháp giáo dục SKSS và tuyên truyền về kiến thức SKSS cho người học.

1.1.2. Tổng quan về các nghiên cứu ở trong nước Luận văn: Quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

Vấn đề GD SKSS VTN được bắt đầu nghiên cứu và triển khai ở Việt Nam vào những năm cuối thế kỷ XX. Trước đây, do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng phong kiến từ xa xưa nhất là của các quốc gia phương Đông, việc GDGT ở Việt Nam chỉ được truyền miệng dân gian như “nữ thập tam, nam thập lục.” Khi nói về SKSS thì chỉ được quan tâm ở khía cạnh đạo đức, hầu như tất cả mọi người không dám nghiên cứu hoặc né tránh (Chẩn Tự, 2012). Sau năm 1954, vấn đề GDDS, GDGT, GDKHHGĐ được Đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm, trong đó việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em và sự tiến bộ của phụ nữ được đặt lên hàng đầu. Cụ thể, ngày 26/12/1961, Hội đồng Chính phủ đã ra quyết định số 216/CP, về việc sinh đẻ có hướng dẫn, xuất phát từ thực tế về sự gia tăng dân số quá nhanh, gây cản trở đối với sự phát triển kinh tế – xã hội. Đây là một văn bản đánh dấu sự ra đời của công tác Dân số và kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) được triển khai thực hiện ở nước ta. Quyết định 216/CP nêu rõ mục tiêu của việc hướng dẫn sinh đẻ là vì sức khỏe của người mẹ, vì hạnh phúc và hòa thuận gia đình, để cho việc nuôi dạy con cái được chu đáo, việc sinh đẻ của nhân dân cần được hướng dẫn một cách thích hợp (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2018).

Công tác giáo dục dân số và sức khỏe sinh sản trong nhà trường được Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng quan tâm đặc biệt. Trong Chỉ thị số 176A ngày 24/12/1974 do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng kí đã nêu rõ: “Bộ giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên giùm xây dựng chương trình chính khoá và ngoại khoá nhằm bồi dương cho học sinh những kiến thức về khoa học giới tính, về hôn nhân gia đình và nuôi dạy con cái”. Bộ Giáo dục đã đưa ra Chỉ thị về việc giáo dục dân số và giáo dục giới tính trong toàn bộ hệ thống trường học các cấp và các ngành học của cả nước (Nguyễn Mạnh Hùng, 2022).

Đặc biệt từ năm 1988, một đề án quốc tế với quy mô lớn nghiên cứu về giáo dục đời sống gia đình và giới tính cho học sinh có tên gọi: “Giáo dục dân số và đời sống gia đình”, kí hiệu VIE/88/P09 đã được Hội đồng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam thông qua và cho phép thực hiện với sự tài trợ của UNFPA và UNESCO. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Giáo sư Trần Trọng Thuỷ, Giáo sư Đặng Xuân Hoài và PGS.TS. Nguyễn Đức Minh, đề án đã được tiến hành rất thận trọng và khoa học, nghiên cứu khá sâu rộng nhiều vấn đề như: quan niệm về tình bạn, tình yêu, hôn nhân; nhận thức về giới tính và giáo dục giới tính của giáo viên, học sinh, phụ huynh… ở nhiều nơi trong cả nước. Đây cũng lần đầu tiên, một chương trình giáo dục giới tính và đời sống gia đình đã được nghiên cứu, soạn thảo và đưa vào nhà trường phổ thông ở Việt Nam (Đào Thị Oanh, 1995). Sau đề án VIE/88/P09, các đề án thực nghiệm giáo dục dân số mang các mã hiệu VIE/88/P10, VIE/97/P13, VIE/01/P11 tiếp tục được triển khai. Các đề án tập trung nghiên cứu có hệ thống các vấn đề tâm lý giáo dục, giáo dục dân số, giáo dục giới tính, tình dục và mối quan hệ với người khác giới cho HS trong nhà trường phổ thông ở nước ta. Kết quả thực nghiệm của những công trình này đã tạo ra tiền đề và điều kiện thuận lợi để ngành giáo dục tiến hành triển khai đại trà về giáo dục DS/SKSS cho mọi nhà trường, cấp học, ngành học (Bộ GDĐT – Dự án VIE/98/P09).

Tháng 5/1998 ủy ban quốc gia dân số kế hoạch hóa gia đình đã thông qua dự án “tăng cường giáo dục dân số cho học sinh lứa tuổi trung học từ 12 tuổi đến 18 tuổi” dự án tập trung vào việc nâng cao nhận thức cho học sinh về giới tính, đời sống gia đình, SKSS, SKSS – VTN, môi trường, phòng chống tệ nạn xã hội và nâng cao chất lượng dân số. Từ đó giúp cho học sinh có thái độ đúng, có lối sống lành mạnh hình thành phát triển nhân cách, thực hiện tốt những qui định của nhà nước về DS – KHHGĐ (Nguyễn Mạnh Hùng, 2022). Luận văn: Quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

Ngày 28/11/2000, Thủ tướng chính phủ phê duyệt “Chiến lược quốc gia về chăm sóc SKSS” giai đoạn 2001 – 2017 tại nghị quyết số 136/2000/QĐ- TTg nêu rõ quan điểm: đảm bảo sự công bằng, làm cho mọi người đều được tiếp cận với các thông tin và dịch vụ chăm sóc SKSS, công tác chăm sóc SKSS cho đối tượng thanh niên được qui định rõ tại mục tiêu 6 của chiến lược: “Cải thiện tình hình SKSS, sức khỏe tình dục VTN thông qua việc giáo dục, tư vấn và cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS phù hợp với lứa tuổi”. Ngoài ra, Chiến lược còn yêu cầu: “Mở rộng nội dung và thực hiện đổi mới phương pháp giáo dục DS SKSS/KHHGĐ, giới và giới tính trong và ngoài nhà trường ở mọi cấp học và ngành học của hệ thống giáo dục quốc dân với những hình thức thích hợp theo hướng cung cấp kiến thức, tạo nhận thức và hành vi đúng đắn, xây dựng kỹ năng sống phù hợp về DS và phát triển bền vững, SKSS/KHHGĐ, giới và giới tính. Khuyến khích các hình thức giáo dục đồng đẳng và mở rộng các hình thức tư vấn về các vấn đề trên phù hợp với đặc điểm của từng nhóm tuổi”.

Nghị định số 104/2010/NĐ-CP ngày 16/9/2010 của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh dân số tại Điều 29 đã giao trách nhiệm: “Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Ủy ban Dân số, Gia đình và trẻ em. Bộ Y tế và các Bộ, ngành có liên quan xây dựng gia đình, bình đẳng giới; chỉ đạo và tổ chức công tác giảng dạy về dân số, sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình, bình đẳng giới; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên về nội dung giáo dục dân số, SKSS, KHHGĐ, bình đẳng giới phù hợp với yêu cầu sư phạm của từng ngành học, cấp học, bậc học.”

Năm 2011, Ủy ban Dân số gia đình và trẻ em triển khai đề án “Mô hình cung cấp thông tin và dịch vụ SKSS/KHHGĐ cho VTN và thanh niên” tại 10 tỉnh thành phố và mở rộng ra 28 tỉnh thành trong cả nước vào năm 2013. Mục tiêu chính của đề án nhằm nâng cao nhận thức về SKSS/KHHGĐ, bao gồm các vấn đề liên quan về giới, giới tính, tình dục an toàn bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS góp phần làm giảm các hành vi gây tác hại đến SKSSVTN. Tiếp sau đó, “Chiến lược Dân số và SKSS Việt Nam” giai đoạn 2018-2020 được Thủ tướng chính phủ phê duyệt tại quyết định số 2020/QĐ-TTg ngày 14/11/2018, trong đó công tác chăm sóc SKSS cho đối tượng thanh niên được quy định rõ tại mục tiêu 8 “Cải thiện SKSS của thanh niên, với các chỉ tiêu cụ thể: tăng số điểm cung cấp dịch dụ chăm sóc SKSS thân thiện cho VTN và thanh niên, giảm tỉ lệ phá thai và tỷ lệ có thai ngoài ý muốn ở vị thành niên và thanh niên” (Hoàng Bá Thịnh, 1999).

Trong dự thảo chiến lược dân số Việt Nam đến năm 2017 và định hướng 2020 (Ủy ban dân số/KHHGĐ, 1999), Thủ tướng Chính phủ đã kí Quyết định phê duyệt Chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khoẻ sinh sản giai đoạn 2017 – 2020. Việc chuyển trọng tâm từ kế hoạch hoá gia đình sang chăm sóc sức khoẻ sinh sản sẽ góp phần điều chỉnh quy mô dân số hợp lý, thúc đẩy kế hoạch hoá gia đình bền vững. Kế hoạch hoá gia đình sẽ là một trong những nội dung của sức khoẻ sinh sản. Do đó, thực hiện có hiệu quả chương trình chăm sóc SKSS chính là đảm bảo giảm sinh vững chắc, góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng dân số và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Trong một cuốn sách khác: “Sức Khỏe Sinh Sản và Sức Khỏe Tình Dục dành cho tuổi Vị Thành Niên” (2019), bác sĩ Đào Xuân Dũng trình bày về sự phát triển tâm lý và thể chất của lứa tuổi VTN, những sai lầm của lứa tuổi VTN liên quan đến vấn đề sức khoẻ, quan hệ tình dục sớm và hậu quả của nó. Từ đó giúp HS tuổi VTN có những hiểu biết đúng đắn về sự phát triển sinh lý, tâm lý và thể chất của bản thân. Tác giả cung cấp những hướng dẫn giúp tuổi VTN biết tự bảo vệ mình trong mối quan hệ nam nữ, hiểu biết về các phương pháp tránh thai cho tuổi VTT và hiểu biết về sức khỏe tình dục cho tuổi VTN.

Ngoài ra, còn có rất nhiều tác giả với nhiều cuốn sách nghiên cứu về GD SKSS hay tâm lý VTN như “Một số nghiên cứu về SKSS ở Việt Nam sau Cairo” (1999) của Trung tâm nghiên cứu Giới, gia đình và môi trường trong phát triển (CGFED) do Hoàng Bá Thịnh chủ biên, “Nhu cầu giáo dục SKSS VTN của học sinh THPT” (2014) của tác giả Nguyễn Hoàng Anh, sách “Sức khoẻ vị thành niên” (2012) của Trung tâm Bảo vệ bà mẹ trẻ em kế hoạch hoá gia đình Việt Nam và “Tư vấn tâm lý tuổi vị thành niên” của Nguyễn Công Khanh và Nguyễn Minh Đức (2023). Các nghiên cứu và sách trên không chỉ thiết thực, hữu ích với việc giáo dục SKSS VTN trong nhà trường, mà còn giúp HS ở lứa tuổi vị thành niên và các bậc phụ huynh có thêm kinh nghiệm để cùng con cái vượt qua giai đoạn phát triển đầy khó khăn này. Luận văn: Quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

Vấn đề giáo dục SKSS cho học sinh trường THPT và quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN tại các trường THPH cũng đã được nghiên cứu trong rất nhiều luận văn thạc sỹ của nhiều tác giả khác nhau. Một số nghiên cứu tiêu biểu của các tác giả như: “Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh trung học phổ thông tỉnh Kontum” của Cao Hoài Thương (2021), “Quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh trường THPT Marie Curie quận 3, thành phố Hồ Chí Minh” của Nguyễn Mạnh Hùng (2022), “ Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh các trường trung học cơ sở ở tỉnh Thái Nguyên” của Phùng Thị Hằng và Nguyễn Thị Chúc (2024), “Một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh trung học phổ thông” của Nguyễn Thị Hồng Hoa (2025). Các công trình nghiên cứu trên đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN, đánh giá tổng quan thực trạng hoạt động giáo dục SKSS cho HS và công tác quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN ở trường THCS, THPT tại Việt Nam. Các đề tài nghiên cứu cũng tổng kết các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý động giáo dục SKSS VTN ở trường THPT, đồng thời đề xuất các biện pháp để nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN tại nhà trường.

Có thể nói, những nghiên cứu của các tác giả trên đã xây dựng một nền tàng vững chắc để các đề tài nghiên cứu sau này tiếp tục kế thừa và phát triển liên quan đến lĩnh vực quản lý giáo dục SKSS. Cụ thể, các đề tài đã góp phần hoàn thiện hệ thống cơ sở lý luận của hoạt động quản lý SKSS VTN và khẳng định tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động giáo dục SKSS cho HS THPT tại Việt Nam. Tuy nhiên hiện nay tại huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương chưa có đề nào nghiên cứu cụ thể về công tác quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN ở các trường THPT. Là một cán bộ giảng viên công tác tại trường THPT nhiều năm, người nghiên cứu mong muốn góp phần từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý công tác này và mong muốn giúp HS phát triển tối ưu về mặt thể chất và tinh thần vì sự phát triển tương lai của đất nước, do vậy đã chọn đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên tại các trường trung học phổ thông huyện Phú Giáo tỉnh Bình Dương” để nghiên cứu.

1.2. Một số khái niệm cơ bản Luận văn: Quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

1.2.1. Khái niệm quản lý

Trong lịch sử phát triển của loài người, từ khi có sự phân công lao động đã xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù, đó là tổ chức, điều khiển các hoạt động lao động theo những yêu cầu nhất định. Dạng lao động mang tính đặc thù đó được gọi là hoạt động quản lý (Nguyễn Lộc (2017).

Khái niệm “quản lý” được định nghĩa khác nhau dựa trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên một số định nghĩa sau được sử dụng thường xuyên trong các nghiên cứu và bài viết tạp chị. Chẳng hạn, theo từ điển Tiếng Việt thông dụng (1998), thuật ngữ quản lý được định nghĩa là  quá trình tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan”. Theo Trần Kiểm (2015), quản lý được xem là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể lao động nói chung (khách thể quản lý), nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến.

Như vậy, có thể nói quản lý là tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý) tới khách thể quản lý (người bị quản lý), trong một tổ chức về mặt chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội … bằng một hệ thống các luật lệ, chính sách, nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể, … nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt mục tiêu của tổ chức… Ngày nay, việc quản lý các tổ chức trong thời đại công nghệ thông tin ngày càng phức tạp và khó khăn hơn vì cả thế giới đang trải qua cuộc cách mạng công nghệ cao, xã hội trở nên có học vấn cao hơn. Do đó, việc quản lý các tổ chức hiện đại đòi hỏi nhà quản lý cần có cấp độ kỹ năng cao hơn trước.

1.2.2. Khái niệm quản lý giáo dục Luận văn: Quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

Khái niệm quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo cho sự phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng” (Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo, 2013).

1.2.3. Khái niệm quản lý nhà trường

Trường học là đơn vị cơ sở nằm trong hệ thống giáo dục và để tiến hành quá trình giáo dục đào tạo nhà trường là một thiết chế đặc biệt của xã hội. Thực hiện chức năng đào tạo nguồn nhân lực theo yêu cầu của xã hội, đào tạo các công dân cho tương lai. Trường học với tư cách là một tổ chức giáo dục cơ sở vừa mang tính giáo dục vừa mang tính xã hội, trực tiếp đào tạo thế hệ trẻ, là tế bào quan trọng của bất kỳ hệ thống giáo dục nào từ Trung ương đến địa phương.

Theo Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo (2013), quản lý nhà trường là những hoạt động của chủ thể quản lý nhà trường đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường. Như vậy “Quản lý nhà trường” chính là bộ phận của “Quản lý giáo dục”. Có thể thấy công tác quản lý trường học bao gồm xử lý các tác động qua lại giữa trường học và xã hội đồng thời quản lý chính nhà trường.

1.2.4. Khái niệm sức khoẻ sinh sản vị thành niên

1.2.4.1. Khái niệm tuổi vị thành niên

Năm 1998, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Quỹ nhi đồng liên hiệp quốc (UNICEF) và Quỹ dân số liên hiệp quốc (UNFPA) thống nhất định nghĩa vị thành niên là lứa tuổi từ 10 đến 19 tuổi, chiếm 20% dân số thế giới (Lê Thị Hồng Anh (2011). Trong phạm vi của đề tài, lứa tuổi VTN được giới hạn là lứa tuổi các em học sinh trường THPH. Do vậy, trong đề tài, đội khi người nghiên cứu dùng cụm từ học sinh THPT thay cho cụm từ VTN.

1.2.4.2. Khái niệm sức khoẻ sinh sản Luận văn: Quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

Theo Bùi Ngọc Oánh (2013), trước đây, người ta cho rằng, “sức khoẻ sinh sản” chỉ là những vấn đề về tình trạng sức khoẻ và khả năng sinh sản của người phụ nữ, về kế hoạch hoá gia định với việc thực hiện các biện pháp tránh thai và một số vấn đề liên quan tới việc thụ thai và sinh nở. Nội dung của khái niệm “sức khoẻ sinh sản” dần dần được hiểu rộng hơn, bao gồm cả hoạt động tình dục, những quan niệm về lối sống, về thái độ và cảm xúc yêu đương trong đời sống tình dục của cả nam lẫn nữ, những vấn đề bệnh lí về mặt tình dục, hoạt động của các cơ quan sinh dục, về quá trình thụ thai và mang thai, về tri thức và nghệ thuật sinh nở, nuôi dạy con cái.

Hội nghị Quốc tế về dân số và phát triển (ICPD) và Tổ chức Y tế thế giới đã định nghĩa SKSS là một trạng thái sức khỏe mạnh hài hòa về thế chất, tinh thần và xã hội trong tất cả các khía cạnh liên quan đến hệ thống sinh sản, các chức năng và quá trình sinh sản chứ không phải là không có bệnh tật hay tổn thương bộ phận sinh sản (Lê Thị Hồng Anh, 2011; Bùi Ngọc Oánh 2013; Hoàng Bá Thịnh, 2024). Do vậy, nói đến “sức khoẻ sinh sản” là đề cập đến toàn bộ những vấn đề về cấu tạo, về chức năng, về tình trạng hoạt động của hệ cơ quan sinh dục, về nhiều vấn đề tâm sinh lí nảy sinh trong đời sống sinh lí giới tính và cả một số vấn đề về tâm lí xã hội giới tính, trong đó có đời sống tình dục và nếp sống sinh hoạt liên quan đến vấn đề tình dục, thái độ và trách nhiệm của người nam và người nữ trong đời sống giới tính, trong việc thụ thai, khả năng sinh nở, kế hoạch hoá sinh nở và nuôi con, về mối quan hệ giới tính giữa hai giới (Bùi Ngọc Oánh, 2013).

1.2.4.3. Khái niệm sức khoẻ sinh sản vị thành niên

Hội nghị Quốc tế về dân số và phát triển (ICPD) và Tổ chức Y tế thế giới cũng đã định nghĩa SKSS VTN là trạng thái khoẻ mạnh, hoàn hảo về thể chất, tinh thần và xã hội trong tất cả mọi khía cạnh liên quan đến hệ thống sinh sản, chức năng sinh sản và quá trình sinh sản chứ không phải chỉ là không có bệnh tật hay khuyết tật bộ máy sinh sản ở tuổi VTN (Lê Thị Hồng Anh, 2011). SKSS ảnh hường mạnh đến sức khoẻ, đến sự phát triển sinh lí cơ thể, đến đời sống tâm lí, và qua đó ảnh hưởng mạnh đến sự phát triển toàn bộ của nhân cách của lứa tuổi VTN (Bùi Ngọc Oánh, 2013). Vì vậy lứa tuổi VTN nếu không được giáo dục kịp thời sẽ gây ra những hậu quả khó lường.

Đối với HS THPT, khi có kiến thức về SKSS nghĩa là các em có những hiểu biết nhất định về cách thức hoạt động của cơ thể bao gồm cả các cơ quan sinh sản và các chức năng của nam giới, nữ giới, chấp nhận và tôn trọng cơ thể mình cũng như cơ thể của người khác Luận văn: Quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

1.2.5. Giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên

Theo Bùi Ngọc Oánh (2013), giáo dục sức khoẻ sinh sản là hoạt động giáo dục trang bị cho con người tri thức và những kĩ năng giữ gìn, bảo đảm cho sức khoẻ sinh sản ở tình trạng tốt, giúp cho con người có sức khoẻ, có đời sống tình dục an toàn, yêu đương lành mạnh, gia đình hạnh phúc, có tri thức đầy đủ về sức khoẻ sinh sản, bảo đảm được sự sinh nở bình thường, nuôi con khoẻ mạnh, thông minh và phát triển. Giáo dục SKSS phải gắn liền với giáo dục dân số. Giáo dục SKSS cũng là một bộ phận của giáo dục giới tính, có ý nghĩa quan trọng trong giáo dục giới tính. Việc giáo dục sức khoẻ sinh sản phải được tiến hành toàn diện và rộng rãi trong toàn xã hội cho mọi đối tượng, đặc biệt là đối với trẻ VTN.

Theo Lê Thị Hồng Anh (2011), giáo dục SKSS VTN được hiểu là quá trình cung cấp các thông tin thích hợp bằng mọi phương tiện nhằm mục đích chính là nâng cao nhận thức và sự hiểu biết của VTN đối với một số vấn đề về sức khoẻ nhất định nhằm động viên họ chấp nhận các hành vi lành mạnh để ngăn chặn nguy cơ như: có thai ngoài ý muốn, các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục.

Dựa trên những cách hiểu trên, trong phạm vi đề tài này, giáo dục SKSS VTN hay giáo dục SKSS cho HS THPT được xem là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của các lực lượng giáo dục nhằm giúp học sinh THPT có kiến thức, hiểu biết và có kĩ năng giữ gìn, bảo đảm cho SKSS ở tình trạng tốt, hiểu biết để ngăn chặn nguy cơ có thai ngoài ý muốn, các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục…Nói cách khác, hoạt động giáo dục SKSS giúp học sinh lứa tuổi VTN có thái độ và hành vi SKSS phù hợp đúng đắn để đảm bảo sự khoẻ mạnh về thể chất và tinh thần có liên quan đến hoạt động và chức năng của cơ quan sinh sản.

1.2.6. Quản lý hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên

Dựa trên khái niệm về quản lý, quản lý giáo dục, SKSS VTN và giáo dục SKSS VTN, khái niệm quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN có thể được hiểu là một quá trình tác động có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đẩy mạnh công tác GDSKSS – VTN đạt hiệu quả cao nhất mà tổ chức đã đề ra” (Nguyễn Mạnh Hùng (2022)

1.3. Lý luận về giáo dục SKSS VTN ở trường THPT. Luận văn: Quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

1.3.1. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lứa tuổi THPT

Lứa tuổi học sinh THPT hay tuổi VTN là một giai đoạn đặc biệt của đời sống con người. Đây là giai đoạn dậy thì, chín muồi giới tính, những chức năng sinh sản của hệ cơ quan sinh dục bắt đầu hoạt động và ảnh hưởng mạnh đến sự phát triển cơ thể và nhân cách. Đây cũng là lứa tuổi có nhiều biến động mạnh về tâm sinh lí, bắt đầu có những biểu hiện quan trọng và điển hình của đời sống tính dục, đã xuất hiện những rung cảm yêu đương, bắt đầu hình thành tình yêu… đồng thời có những biến đổi đặc biệt về mặt tâm lí, nhất là những biểu hiện tâm lí giới tính, tính xúc động mạnh của thời kì dậy thì, sự biến động mạnh và thất thường trong đời sống tâm lí, thậm chí cớ sự khủng hoảng tâm lí trong mối quan hệ với người lớn, với bạn bè khác giới (Bùi Ngọc Oánh, 2013).

Về mặt phát triển thể chất của tuổi VTN: Bước vào tuổi VTN, tuyến yên tiết ra những lượng lớn hormone FSH (follicle stimulating hormone) và hormone LH (lutein hormone) có tác dụng kích thích hoạt động của buồng trứng (nếu là nữ), tinh hoàn (nếu là nam). Khi nhận được lệnh của tuyến yên, buồng trứng của nữ giới tăng cường sản xuất 2 hormone là 4 estrogen và progesteron; còn tinh hoàn của nam giới sẽ sản xuất hoocmon testosterone. Các hormone này khiến cho cơ thể có những biến đổi sinh học cả bên trong và bên ngoài thật kỳ diệu: biến đổi nhanh về vóc dáng cơ thể, cơ quan sinh dục phát triển, các đặc điểm giới tính khác như lông, râu, ngực trở nên rõ rệt, các em gái bắt đầu có kinh nguyệt, em trai có hiện tượng xuất tinh trùng. Sự phát triển đó đưa trẻ bước vào một cuộc sống mới của tuổi vị thành niên. Sự đột biến về chiều cao và hành động cụ thể là do sự phát triển nhanh của các xương dài ở chân tay. Chiều cao có khác nhau giữa nam và nữ. Ở thời kỳ này giữa các phần của cơ thể như thân mình, chân, tay, vai có tỷ lệ cân đối hơn. Ở các em gái bắt đầu có sự tiết mỡ ở ngực, chậu hông và đằng sau vai, ở các em trai có sự phát triển và tiết mỡ ở các khối cơ. Đến cuối tuổi dậy thì, các em đó trở thành những chàng trai, cô gái với vóc dáng, khả năng thể chất và sức mạnh khác nhau ( Dự án VIE/98/P09, giáo dục SKSSVTN).

Những biến đổi về tâm lý lứa tuổi VTN: Với hầu hết các em gái, giai đoạn tuổi dậy thì, ngoài sự thay đổi về tâm lý (dễ xúc động, hay mơ mộng, vui buồn vô cớ, tâm trạng lo âu…), các em còn phải đối mặt với những stress và rối loạn, căng thẳng tâm lý mà nguyên nhân không chỉ xoay quanh áp lực học hành, mối quan hệ bạn bè, gia đình… mà còn đến từ những thay đổi của hormon ảnh hưởng đến tâm lý. Do vậy, c ác em gái dễ bị stress, rối loạn tâm lý và hành vi hoặc nặng hơn là trầm cảm ( Dự án VIE/98/P09, giáo dục SKSSVTN).

1.3.2. Mục đích và ý nghĩa của giáo dục SKSS cho học sinh THPT Luận văn: Quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

Như được trình bày ở trên, lứa tuổi các em HS THPT dễ bị kích thích bởi những rung cảm về tình dục và những biểu hiện sớm của đời sống tính dục, ngoài ra còn có nhiều những biến đổi khác về tâm sinh lí. Những yếu tố trên ảnh hưởng mạnh đến lối sống, nếp sinh hoạt, quan hệ xã hội và sự phát triển nhân cách. Theo Bùi Ngọc Oánh (2013), ở lứa tuổi này, các em dự bị lôi cuốn và bị sa ngã bởi văn hoá phẩm đồi trụy, bởi những nếp sinh hoạt không lành mạnh, ăn chơi nghiện hút, ma tuý và thuốc lắc, dễ bị xâm hại tình dục… Do đó, vấn đề giáo dục sức khoẻ sinh sản cho lứa tuổi vị thành niên có ý nghĩa quan trọng đặc biệt.

Học sinh THPT hay lứa tuổi VTN là nguồn nhân lực chủ yếu của đất nước trong tương lai. Vì vậy, nếu HS tuổi VTN được bắt đầu cuộc sống một cách tốt đẹp, các em sẽ có được một sức sống và một ý chí để học tập, để lao động. Ngược lại, nếu các em mắc sai lầm trong thời kỳ này thì sẽ bị tổn thương lớn về thể chất, tinh thần mà có thể không bao giờ hồi phục lại được. Do vậy, các em cần được sống an toàn, cần sự hỗ trợ và giúp đỡ của người lớn (Trần Mai Hương, 2010).

Mục đích giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên là nhằm trang bị những kiến thức về giới, giới tính, về sức khỏe sinh sản; giúp vị thành niên hình thành thái độ và hành vi đúng đắn trong các mối quan hệ bạn bè khác giới, biết cách giải quyết các vấn đề liên quan đến tình bạn, tình yêu, hôn nhân, giúp họ vượt qua những khó khăn trong tuổi vị thành niên một cách an toàn để xây dựng cuộc sống lành mạnh, có văn hóa và hướng tới cuộc sống hạnh phúc trong tương lai. Giáo dục sức khoẻ sinh sản cho học sinh lứa tuổi THPT là nhằm củng cố và nâng cao kiến thức, hình thành thái độ và hành vi đúng đắn cho học sinh THPT trong các mối quan hệ với bạn bè khác giới và trong đời sống xã hội.

1.3.3. Nội dung chủ yếu của giáo dục SKSS cho học sinh THPT

Theo Bùi Ngọc Oánh (2013) và Trần Quốc Thành (2023), giáo dục SKSS cho lứa tuổi VTN là một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong chiến lược bảo vệ và chăm sóc SKSS VTN của cả hệ thống giáo dục nói chung cũng như của từng đơn vị trường THPT nói riêng. Để giáo dục sức khoẻ sinh sản có hiệu quả, cần phải có chương trình, nội dung cụ thể, phù hợp cho từng đối tượng.

Ở trường THPT, chương trình giáo dục SKSS có thể bao gồm những nội dung cụ thể như: (1) tâm sinh lý của tuổi VTN; (2) tình bạn; (3) tình yêu; (4) tình dục; (5) kế hoạch hoá gia đình; (6) giảm nạo hút, phá thai và ngăn ngừa có thai ngoài ý muốn; (7) giới tính và sức khoẻ VTN; (8) các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản và các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục; (9) sàng lọc và chẩn đoán ung thư vú và các ung thư bộ máy sinh dục; (10) Các quyền và thông tin pháp luật về SKSS; (11) Đời sống gia đình.

Các nội dung giáo dục SKSS VTN được mô tả cụ thể như sau:

  • Đối với tâm sinh lý tuổi VTN: giáo dục những tri thức về sự dậy thì, về việc giữ gìn vệ sinh cho hệ cơ quan sinh sản, đặc biệt là tri thức về cấu trúc và chức năng hoạt động của hệ cơ quan sinh dục, hiện tượng kinh nguyệt, hiện tượng mộng tinh và di tinh, hiện tượng thủ dâm, sự phát triển bất bình thường của hệ cơ quan sinh dục (nam hoặc nữ), các bệnh lí liên quan đến cơ quan sinh dục… Luận văn: Quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.
  • Đối với tình dục: giáo dục về hoạt động tình dục, tác hại của hoạt động tình dục sớm, những bệnh lí tình dục, bệnh tâm thần tình dục, hiện tượng đồng tính luyến ái, những dấu hiệu của hiện tượng lạm dụng tình dục và của các hành vi cưỡng dâm.
  • Đối với kế hoạch hoá gia đình: Giáo dục kế hoạch hoá gia đình, trang bị các tri thức khoa học về các biện pháp tránh thai, giúp cho các em nhận thức được hậu quả nguy hiểm của việc có thai sớm, việc nạo phá thai…
  • Đối với nội dung tình bạn tình yêu: Giáo dục về tình bạn khác giới, về tình yêu trong sáng, về sự tôn trọng đối với người khác giới, đặc biệt là tôn trọng phụ nữ. Giáo dục thái độ tôn trọng và bảo vệ các bạn nữ, sự trân trọng đối với tình bạn khác giới, tình yêu nam nữ.
  • Đối với giáo dục gia đình: Giáo dục về đời sống gia đình, về quan hệ giữa con cái với cha mẹ và ý thức trách nhiệm đối với việc xây dựng gia đình hạnh phúc và phát triển.
  • Đối với các bệnh lây qua đường sinh sản và tình dục: gồm giáo dục các bệnh thường gặp nhất ở phụ nữ, nó có ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ bản thân người phụ nữ đó, nó cũng ảnh hưởng trực tiếp đến thế hệ tương lai khi người phụ nữ có thai và những bệnh lây truyền chủ yếu bằng cách tiếp xúc trực tiếp lên thân thể đặc biệt là quá trình sinh hoạt tình dục.
  • Đối với sàng lọc và chẩn đoán ung thư vú và các ung thư bộ máy sinh dục: đây là các loại bệnh thường gặp nó rất rễ nhận biết và phòng ngừa qua các biểu hiện khác thường, giúp người phụ nữ biết để phòng ngừa hiệu quả.
  • Ngoài ra còn giáo dục các quyền và thông tin pháp luật về SKSS, giáo dục về nếp sống lành mạnh, văn hoá, văn minh.

1.3.4. Phương pháp giáo dục SKSS VTN

Phương pháp giáo dục SKSS VTN có thể chia thành 3 nhóm. Nhóm phương pháp hình thành ý thức cá nhân, gồm phương pháp đàm thoại, phương pháp nêu giương và phương pháp giảng giải. Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động xã hội và hình thành kinh nghiệm xã hội: phương pháp giao việc, tập luyện và rèn luyện. Nhóm phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi ứng xử của HS, gồm nêu gương, khen thưởng và trách phạt.

1.3.5. Hình thức tổ chức giáo dục SKSS VTN Luận văn: Quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

Việc cung cấp thông tin, truyền thông giáo dục sức khoẻ và đáp ứng các dịch vụ sức khoẻ vị thành niên ở mỗi nước có cách làm riêng phù hợp với lối sống, phong tục tập quán, văn hoá xó hội cũng như luật pháp của từng nước.

Theo Trần Quốc Thành (2023), tổng kết kinh nghiệm và thực tiễn của một số nước cho thấy, có 3 hình thức chính thực hiện giáo dục SKSS cho HS, bao gồm: (1) xây dựng môn học về giáo dục SKSS đưa vào chương trình học tập của HS; (2) lồng ghép các nội dung giáo dục SKSS vào các môn học có ưu thế và các hoạt động giáo dục khác; (3) tích hợp giáo dục SKSS vào các môn học và các hoạt động giáo dục. Riêng hình thức lồng ghép hoạt động giáo dục SKSS vào các hoạt động giáo dục khác, có thể bao gồm: thông qua các hoạt động xã hội, các hoạt động ngoại khoá, các buổi sinh hoạt văn hoá gia đình và hình thức tự giáo dục của cá nhân học sinh.

Giáo dục sức khoẻ sinh sản phải được tiến hành ở nhiều hình thức giáo dục phong phú và đa dạng, có thể thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi, bằng các phương tiện thông tin đại chúng (phát thanh, quyền hình, quảng cáo tuyên truyền, các hình thúc hoạt động văn hoá nghệ thật…), đặc biệt là giáo dục trực tiếp cho thanh niên, học sinh, trẻ vị thành niên trong nhà trường qua các giờ chính khoá, ngoại khoá và các hoạt động vui chơi, giải trí (Bùi Ngọc Oánh, 2013).

1.3.6. Các lực lượng tham gia giáo dục SKSS VTN

Theo nguyên lý giáo dục thì bất kỳ hoạt động giáo dục nào diễn ra để đạt được hiệu quả cao cũng cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó nhà trường đóng vai trò chính thống triển khai các hoạt động giáo dục nói chung và hoạt động giáo dục SKSS cho HS nói riêng một cách bài bản, với mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tố chức cụ thể.

Trong công tác GD SKSS, nhà trường cần phối hợp chặt chẽ với Sở Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT), Sở Y tế, Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình (DS- KHHGĐ), Trung tâm bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em, Uỷ ban Dân số gia đình và trẻ em… để triển khai chương trình sinh hoạt ngoại khóa về giáo dục dân số/sức khỏe sinh sản vị thành niên tại các điểm trường THPT trên địa bàn tỉnh nhằm trang bị kiến thức cho học sinh (HS) trong việc chăm SKSS của bản thân và rèn luyện các kỹ năng ứng xử, thực hành đúng đắn trước các vấn đề về SKSS.

Trong nhà trường THPT, các lực lượng có thể tham gia GD SKSS cho HS bao gồm: lực lượng giáo viên dạy bộ môn, giáo viên chủ nhiệm và cán bộ Đoàn. Các lực lượng này có thể triển khai nhiều hoạt động thiết thực để giáo dục lồng ghép nội dung SKSSVTN trong chương trình học chính khóa, thông qua các môn học như: Ngữ văn, Địa lý, Giáo dục công dân, Sinh học, thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp, tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, các cuộc thi tìm hiểu hoặc tuyên truyền về SKSS VTN. Luận văn: Quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

1.4. Lý luận về quản lý họat động giáo dục SKSS VTN ở trường THPT

1.4.1 Vai trò của trường THPT với hoạt động GD SKSS VTN

Thanh thiếu niên là một lực lượng xã hội to lớn, là chủ nhân của đất nước hôm nay và ngày mai, đầu tư vào thanh thiếu niên hôm nay sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và coi trọng các quyền được chăm sóc sức khỏe của thanh thiếu niên. Chăm sóc SKSSVTN, SKTD và phòng chống HIV cho thanh thiếu niên được coi là một yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của toàn xã hội, là một trong những mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển con người của Đảng và Nhà nước. Vấn đề chăm sóc sức khỏe nói chung và SKSS, SKTD, phòng chống HIV cho thanh thiếu niên đã được thể hiện trong nhiều chủ trương của Đảng và văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước ta (Ủy ban dân số/KHHGĐ, 1999).

Giáo dục nhà trường đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong công tác GD SKSS VTN vì nhà trường có vai trò chính thống va có nhiều ưu thế trong việc thực hiện GD thông qua nhiều hình thức, nhiều con đường và phương pháp khác nhau. Do vậy QL công tác giáo dục SKSS VTN là một nhiệm vụ không thể tách rời trong công tác QLGD của người HT.

1.4.2. Chức năng của trường THPT với hoạt động GD SKSS VTN

Chức năng của nhà trường trong việc quản lý hoạt động giáo dục SKSS – VTN với hướng tiếp cận là xây dựng một bộ môn khoa học về giới tính để HS các trường THPT có những kiến thức, kỹ năng, thái độ phòng chống các vấn đề xã hội , vì nếu không GDSKSS – VTN thì các vấn nạn của xã hội sẽ trở thành gánh nặng trực tiếp ảnh hưởng đến lao động, kinh tế của đất nước trong tương lai không xa. Trong nhà trường, những kiến thức về GD SKSS VTN được trang bị sẽ giúp cho HS THPT nâng cao hiểu biết về sự phát triển của tâm sinh lý bản thân, có thêm kỹ năng sống và tự chăm sóc, tự bảo vệ bản thân trước các vấn đề liên quan đến SKSSVTN.

1.4.3. Hiệu trưởng nhà trường THPT với hoạt động GD SKSS VTN Luận văn: Quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

Theo Điều 18, Điều lệ trường trung học cơ sở, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học thì mỗi trường trung học có HT và một số PHT. Nhiệm kỳ của HT là 5 năm, thời gian đảm nhận chức vụ HT không quá 2 nhiệm kỳ ở một trường trung học

Hiệu trưởng là người đứng đầu nhà trường với nhiệm vụ quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh đồng thời phối hợp với cha mẹ học sinh cùng các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường. Trong vai trò là người QL, HT quản lý quá trình sư phạm; QL các hoạt động mang tính điều kiện và phương tiện cho hoạt động dạy học và các hoạt động GD trong nhà trường.

Để QL hoạt động giáo dục SKSS VTN ở trường THPT, HT vừa phải có tư duy về QL, vừa phải có kiến thức, kỹ năng về giáo dục SKSS VTN. HT thực hiện quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN theo một quy trình quản lý chung bao gồm: (1) Lập kế hoạch thực hiện hoạt động giáo dục SKSS VTN ở trường THPT; (2) Tổ chức phân công phân nhiệm cho các thành viên trong trường thực hiện; (3) Chỉ đạo triển khai công tác giáo dục SKSS VTN hiệu quả; (4) Kiểm tra giám sát và đánh giá việc thực hiện giáo dục SKSS VTN của GV trong thực tiễn có phù hợp với mục tiêu thiết lập và định hướng chung của nhà trường.

1.4.4. Quy trình quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN ở trường THPT

Quy trình quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN được xây dựng dựa trên các chức năng cơ bản của công tác QL, quy trình này gồm các bước: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, giám sát và điều chỉnh việc thực hiện công tác giáo dục SKSS VTN.

1.4.4.1. Lập kế hoạch giáo dục SKSS VTN

Lập kế hoạch là phương pháp tiếp cận hợp lý để đạt những mục tiêu định trước, là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng quản lý vì nó gắn liền với việc lựa chọn chương trình hành động trong tương lai. Kế hoạch là văn bản trong đó xác định mục tiêu, mục đích của một tổ chức và những con đường, các biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó.

Nội dung chủ yếu của bước lập kế hoạch mà HT cần thực hiện khi lập kế hoạch giáo dục SKSS VTN bao gồm: thiết lập các mục tiêu; xác định nội dung, nhận diện các nguồn lực để thực hiện mục tiêu; quyết định về cách thức, PP hoạt động cần tiến hành để đạt mục tiêu.

  • Bước 1. Thiết lập các mục tiêu: Luận văn: Quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

Trước khi thiết lập mục tiêu quản lý hoạt động GD SKSS VTN, Hiệu trưởng cần: (1) nghiên cứu để quán triệt kỹ lưỡng các văn bản chỉ đạo của cấp trên liên quan đến hoạt động giáo dục SKSS VTN nhằm bảo đảm mục tiêu kế hoạch QL hoạt động GD SKSS VTN của nhà trường phù hợp với định hướng chung, với tình hình chung của cả tỉnh, cả nước; (2) phân tích và đánh giá điều kiện của nhà trường về các mặt như số lượng, chất lượng đội ngũ CB, GV, nhân viên, đặc điểm của HS, CSVC, thực trạng công tác QL và tổ chức hoạt động giáo dục SKSS VTN tại trường, truyền thống của nhà trường để từ đó HT có thể thiết lập các mục tiêu phù hợp với thực tế và mang tính khả thi với các chỉ tiêu cụ thể và có thể đo lường được và đảm bảo mục tiêu GD SKSS VTN được thực hiện thống nhất qua các hoạt động giáo dục của nhà trường.

Bước 2. Xác định nội dung QL hoạt động GD SKSS VTN

  • Thứ nhất là quản lý việc xây dựng kế hoạch giáo dục SKSS VTN:

Trong quá trình lập kế hoạch, cần phải có sự thống nhất giữa các cấp lập kế hoạch, gồm kế hoạch giáo dục SKSS VTN của trường và kế hoạch giáo dục SKSS VTN của GV chủ nhiệm và giáo viên bộ môn. Trên cơ sở kế hoạch giáo dục SKSS của nhà trường, HT yêu cầu GV xây dựng kế hoạch giáo dục SKSS trong công tác chủ nhiệm và trong quá trình dạy các môn học tích hợp nội dung giáo dục SKSS VTN. Mỗi môn học đều có các mục đích, yêu cầu, nội dung, phương pháp, cách tích hợp nội dung giáo dục SKSS cho học sinh khác nhau, do vậy HT yêu cầu các GV kiêm nhiệm hoặc dạy tích hợp nội dung giáo dục SKSS phải thảo luận thống nhất để xây dựng kế hoạch giáo dục SKSS VTN cho phù hợp với đặc điểm HS và tình hình thực tế của nhà trường.

  • Thứ hai, HT quản lý mục tiêu và nội dung giáo dục SKSS:

HT cần đảm bảo mục tiêu giáo dục SKSS VTN được hiểu rộng rãi bởi toàn thể CBQL, GV và HS, đồng thời GV thực hiện đồng bộ và thống nhất mục tiêu GD SKSS thông qua các hoạt động của nhà trường, thông qua dạy tích hợp ở các môn học, thông qua các hoạt động NGLL hoặc hoạt động ngoại khoá. Bên cạnh đó, HT cần đảm bảo nội dung chương trình GD SKSS được lựa chọn phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, khả năng tiếp nhận của HS, phù hợp với nhu cầu của HS và sự phát triển của xã hội. Nội dung GD SKSS phải là những tri thức khoa học, phù hợp với văn hoá xã hội Việt Nam và phải mang tính ứng dụng cũng như tính thực tiễn cao (Lê Thị Hồng Anh, 2011; Bùi Ngọc Oánh, 2013; Nguyễn Công Khanh, 2023)

  • Thứ ba, HT quản lý các hình thức và phương pháp thực hiện hoạt động giáo dục SKSS:

Trước hết, HT cần QL công tác GD SKSS VTN thông qua dạy tích hợp ở các môn học, thứ hai là quản lý công tác GD SKSS VTN thông qua thực hiện hoạt động ngoài giờ lên lớp và HT quản lý công tác GD SKSS VTN thông qua các hoạt động sinh hoạt ngoại khoá. Với những hình thức GS SKSS VTN khác nhau, HT cần quản lý thời điểm thực hiện GD SKSS thông qua các hoạt động trong từng học kỳ và trong năm học; các nội dung GD SKSS được thực hiện trong từng hình thức và sự đa dạng các hình thức cũng như phương pháp GD SKSS VTN. Luận văn: Quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

Cụ thể, tùy theo điều kiện của nhà trường, HT có thể yêu cầu lập kế hoạch tổ chức GD SKSS cho HS qua nhiều hình thức khác nhau, trong đó có kế hoạch triển khai tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền về SKSSVTN cho HS trong các tiết sinh hoạt chủ nhiệm, sinh hoạt dưới cờ, đồng thời tổ chức nhiều mô hình, hoạt động như: tổ chức phòng truyền thông, hòm thư tư vấn, câu lạc bộ tự quản của HS; hội thi vẽ tranh, áp phích nội dung về SKSS, thanh niên với phòng, chống HIV/AIDS; diễn đàn về SKSSVTN với sự tham gia của các bác sĩ, giáo viên để tư vấn cho HS kiến thức về chăm sóc SKSS cho bản thân.

  • Bước ba. QL nguồn lực và các điều kiện phục vụ hoạt động GD SKSS VTN:

Trong quá trình xây dựng kế hoạch QL hoạt động GD SKSS VTN, HT phải xác định rõ các nguồn lực để thực hiện khả thi mục tiêu. Trước hết phải xác định nguồn lực con người. HT cần đảm bảo GV có hiểu biết và NL tổ chức, thực hiện hoạt động GD SKSS VTN; GV nhiệt huyết, chủ động, sáng tạo và biết tự học. Bên cạnh đó, HT quản lý công tác cử CBQL, GV tham gia bồi dưỡng học tập nâng cao kiến thức, kỹ năng và nghiệp vụ GS SKSS VTN để giúp CBQL và GV nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của việc trang bị cho HS kiến thức về SKSSVTN. Ngoài ra, HT cần quản lý việc trang bị CSVC, quản lý nguồn kinh phí đầu tư trang bị CSVC, trang thiết bị phục vụ cho triển khai hoạt động GD SKSS VTN của GV; huy động thêm ngân sách từ đóng góp của xã hội để tăng cường mua sắm, tu sửa trang thiết bị, CSVC; đồng thời HT quản lý việc sử dụng, bảo quản và sửa chữa trang thiết bị, CSVC.

  • Bước 4. QL công tác phối hợp các lực lượng giáo dục để thực hiện thành công hoạt động GD SKSS VTN:

HT cần có cơ chế và chiến lược phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong công tác GD SKSS VTN. Cụ thể, nhà trường cần phối hợp chặt chẽ với Sở Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT), Sở Y tế, Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ), Trung tâm bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em, Uỷ ban Dân số gia đình và trẻ em… Trong nhà trường, HT huy động các lực lượng có thể tham gia GD SKSS cho HS bao gồm: lực lượng giáo viên dạy bộ môn, giáo viên chủ nhiệm và cán bộ Đoàn, tổ tư vấn tâm lý học đường…

  • Bước 5. Xác định các phương pháp quản lý việc thực hiện hoạt động GD SKSS VTN:

HT cần xác định các PP để tiến hành quản lý tốt việc thực hiện hoạt động GD SKSS VTN của GV như: PP hành chính, PP tâm lý và PP tổ chức. PP hành chính có thể là: ra mệnh lệnh bằng văn bản; PP tâm lý gồm có xây dựng tập thể đoàn kết, tin tưởng lẫn nhau, thuyết phục GV làm theo những giá trị cốt lõi mà nhà trường theo đuổi; PP tổ chức có thể là: dự giờ, thăm lớp, sinh hoạt tổ chuyên môn, tổ chức giao lưu- tham quan để học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm, tạo điều kiện vật chất và tinh thần để GV tự học- tự bồi dưỡng hoặc đi bồi dưỡng học tập. Luận văn: Quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

1.4.4.2. Tổ chức thực hiện kế hoạch GD SKSS VTN

Tổ chức là quá trình phân phối và sắp xếp nguồn nhân lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu đề ra. Với chức năng này đòi hỏi người Hiệu trưởng nắm được tính cách và trạng thái tâm lý của từng các bộ trong nhà trường hay nói một cách khác là phải hiểu được cán bộ của mình quản lý từ đó có sự sắp xếp, bố trí một cách hợp lý giữa các cá nhân, các bộ phận nhằm phát huy tối đa sức mạnh tập thể cũng như sức mạnh của từng cá nhân họ trong khi thực hiện công việc được phân công. Theo Bùi Minh Hiền và Nguyễn Vũ Bích Hiền (2022), để tổ chức thực hiện kế hoạch đã đề ra, người HT cần:

  • Thành lập ban QL hoạt động GD SKSS VTN của nhà trường gồm HT, các phó HT, tổ trưởng CM, GV cốt cán, bí thư Đoàn thanh niên, chủ tịch Hội phụ huynh HS.
  • Phân công nhiệm vụ các thành viên ban QL phải rõ ràng, hợp lý, phù hợp với quyền hạn, nhiệm vụ được giao của mỗi thành viên trong nhà trường. Từng thành viên có nhiệm vụ riêng nhưng tất cả phải quán triệt kế hoạch tổng thể để có thể phối hợp đồng bộ và hỗ trợ nhau trong thực hiện kế hoạch KTĐG.
  • HT cần triển khai các quy định, văn bản hướng dẫn CB, GV thực hiện GD SKSS VTN trong thực tiễn.

1.4.4.3. Chỉ đạo thực hiện kế hoạch

Chỉ đạo là quá trình tác động, liên kết các thành viên trong tổ chức, tập hợp, động viên họ hoàn thành những công việc nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức. Trong quá trình chỉ đạo triển khai hoạ động GD SKSS VTN, HT cần chỉ đạo thống nhất mục tiêu GD SKSS trong nhà trường, chỉ đạo sử dụng đa dạng các nội dung, phương pháp, hình thức GDSKSS cho HS; chỉ đạo lồng ghép nội dung GDSKSS vào các môn học theo quy định của Bộ GD&ĐT; quy định cụ thể số tiết lên lớp, thảo luận, làm bài tập của môn học có lồng ghép nội dung GDSKSS; chỉ đạo triển khai nội dung GDSKSS thông qua một số chủ đề về hoạt động NGLL; chỉ đạo các tổ chuyên môn lồng ghép nội dung hoạt động giáo dục SKSS vào các buổi sinh hoạt chuyên môn.

1.4.4.4. Kiểm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch Luận văn: Quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

Để hoàn thành chức năng lãnh đạo, HT cần thiết và phải thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát và đánh đánh giá mức độ hoàn thành của từng công việc cụ thể trên cơ sở đó giúp cho việc hiệu chỉnh và cải tiến việc thực hiện các hoạt động hiệu quả hơn ở những lần sau.

Chức năng này kiểm tra giám sát và đánh giá đòi hỏi HT phải thực hiện các hoạt động theo dõi, kiểm tra, giám sát một cách chủ động đối với việc thực hiện GD SKSS VTN của GV từ đó tìm ra, khẳng định những ưu điểm, phát hiện những hạn chế, sai sót, để tiến hành đôn đốc, uốn nắn nhằm thực hiện điều chỉnh kịp thời và cần thiết để hoạt động đi đúng hướng, đảm bảo thực hiện mục tiêu QL đã xác định. Do vậy, trong quá trình quản lý, HT cũng cần phải thường xuyên theo dõi sâu sát, kiểm tra quá trình thực hiện kế hoạch để kịp thời chỉ đạo, điều chỉnh việc thực hiện để bảo đảm tất cả nội dung của kế hoạch được thực hiện theo đúng mục tiêu GD SKSS cho HS mà nhà trường đã xác định. HT có thể quy định chế độ báo cáo định kỳ (tuần, tháng, học kỳ, năm học) để nắm được tiến độ thực hiện các nội dung của kế hoạch để kịp thời chỉ đạo, điều chỉnh việc thực hiện.

Nhằm giúp hoạt động kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện công tác GD SKSS VTN có hiệu quả, HT phải: (1) ban hành các tiêu chí, quy định về việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện GD SKSS cho HS của GV; (2) xác định thời điểm kiểm tra, giám sát và đánh giá, có thể thường xuyên hoặc đột xuất hoặc định kỳ; (3) ban hành các quy định về hình thức khen thưởng, kỷ luật liên quan đến công tác GD SKSS VTN.

1.4.5. Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên tại các trường THPT

1.4.5.1. Yếu tố khách quan ảnh hưởng hoạt động GD SKSS VTN

Theo Nguyễn Thị Hồng Hoa (2025), các yếu tố khách quan ảnh hưởng hoạt động GD SKSS VTN ở trường THPT bao gồm: ảnh hưởng từ môi trường kinh tế xã hội; mạng internet, sách báo, phim ảnh; sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ GD & ĐT; chế độ chính sách đối với hoạt động GD SKSS cho HS; ảnh hưởng từ văn hoá, bản sắc của vùng miền; sự phối hợp giữa các lực lượng thực hiện GD SKSS VTN.

1.4.5.2. Yếu tố chủ quan ảnh hưởng tới hoạt động SKSS VTN ở trường THPT

Cũng theo Nguyễn Thị Hồng Hoa (2025), các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến hoạt động GD SKSS VTN bao gồm: sự quan tâm và nhận thức của CBQL, GV, HS, phụ huynh và các lực lượng GD khác; đặc điểm tâm sinh lý của HS; hiểu biết và năng lực của đội ngũ làm công tác quản lý hoạt động GD; trình độ và năng lực của GV.

TIỂU KẾT CHƯƠNG I Luận văn: Quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

Trong chương 1, người nghiên cứu đã khái quát những vấn đề lý luận về quản lý giáo dục SKSS VTN ở trường THPT, cụ thể:

Qua nghiên cứu và hệ thống hóa lý luận về giáo dục SKSS VTN người nghiên cứu đã xây dựng được các khái niệm công cụ cho đề tài như: VTN, SKSS, SKSS VTN, Giáo dục SKSS VTN, đặc điểm tâm sinh lý của HS lứa tuổi VTN, mục đích ý nghĩa của công tác giáo dục SKSS VTN; nội dung, phuong pháp và hình thức giáo dục SKSS VTN.

Về quản lý giáo dục SKSS VTN, người nghiên cứu đã xây dựng các khái niệm công cụ về quản lý bao gồm: quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường THPT, quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN cho HS THPT, hiệu trưởng trường THPT với việc quản lý SKSS VTN, ý nghĩa và mục đích việc quản lý giáo dục SKSS VTN ở trường THPT.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN, người HT phải nắm vững các nhiệm vụ, mục tiêu, chức năng quản lý nhà trường, đồng thời nắm vững nội dung quản lý hoạt động giáo dục SKSS. Cụ thể, HT quản lý mục tiêu, các nội dung giáo dục SKSS; QL các hình thức phương pháp tổ chức giáo dục SKSS; QL việc lập kế hoạch giáo dục SKSS của GV; quản lý CSVC và các điều kiện phục vụ cho công tác giáo dục SKSS và QL việc bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho CBQL, GV; QL việc phối hợp giữa các lực lượng tham gia vào công tác giáo dục SKSS; quản lý các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN. Quá trình QL được thực hiện theo một quy trình bắt đầu từ việc lập kế hoạch, đến việc tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra giám sát việc thực hiện các nội dung quản lý giáo dục SKSS VTN ở trường THPT, sau cùng là điều chỉnh những thiếu sót, tồn tại cần thiết để đạt được hiệu quả QL.

Dựa vào CSLL đã được hệ thống hoá trong chương này, người nghiên cứu tiến hành khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục SKSS VTN ở các trường THPT huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Nội dung khảo sát được trình bày ở chương 2 của luận văn. Luận văn: Quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng QL giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Quản lý giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993