Luận văn: Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Sacombank

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Sacombank hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn Thương Tín Phòng Giao dịch Phước Long dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT

Đề án “Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn Thương Tín Phòng Giao dịch Phước Long” được thực hiện để tìm hiểu tình hình thực tế đối với các vấn đề khác nhau trong công tác quản lý rủi ro đối với hoạt động cho vaytại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Phòng Giao dịch Phước Long.

  • Bài viết được cấu trúc thành 3 nội dung lớn như sau:

Trong chương 1, nghiên cứu thể hiện các nội dung bao gồm cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại bao gồm các khái niệm, các loại rủi ro tín dụng, tác động của rủi ro tín dụng đến hiệu quả hoạt động cũng như các nội dung về rủi ro tín dụng. Ngoài ra trong chương 1 cũng đưa ra sự cấp thiết của công tác quản lý và quản trị rủi ro tín dụng, các yếu tố ảnh hưởng lên công tác quản trị rủi ro tín dụng.

Trong chương 2 đề tài trình bày thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Phòng Giao dịch Phước Long nói chung. Nội dung chi tiết chương 2 bao gồm thông tin về Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín – Phòng Giao dịch Phước Long, các tiêu chí tín dụng, rủi ro tín dụng đang diễn ra tại ngân hàng. Nội dung trong chương 2 còn đi qua việc đánh giá quy trình quản trị, nội dung quản trị do chính ngân hàng thực hiện; qua đó đánh giá được ưu nhược điểm trong quá trình quản trị rủi ro tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín Phòng Giao dịch Phước Long.

Trong chương 3, đề tài trình bày định hướng phát triển nói chung của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín –Phòng Giao dịch Phước Long trong đó chú trọng đến định hướng phát triển và quản trị rủi ro tín dụng. Thông qua những điểm chưa tốt trong công tác quản trị rủi ro tín dụng, đề án trình bày các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn Thương Tín Phòng Giao dịch Phước Long

  • Từ khóa: rủi ro, tín dụng, giải pháp. Luận văn: Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Sacombank.

ABSTRACT

The project entitled “Credit Risk Management at Sacombank – Phuoc Long Office” is undertaken for exploring the reality on many aspects of credit risk management at Sacombank – Phuoc Long offict. The Project is divided into 3 main parts including:

Chapter 1: The project presents contents regarding to theory of credit risk management in Banks systems including definition, types of credits risk, affect of credit risk on bank actitvities, P/Ls and criteria for esitiamte credit risk. Besides that, Chapter 1 also presents the necessity of credit risk mangent and factors on credit risk..

Chapter 2 presents the reality of credit risk management at Sacombank – Phuoc Long office. The contents of chapter 2 includes credit criteria, credit risk under Sacombank – Phuong Long office. Also, chapter 2 presents the processing of credit risk appraisal, the contents of credit risk management. This is a the input for evaluate the Prop and Cons of credit risk management at Sacombank – Phuoc Long office.

Chapter 3 presents the stratety development target of Sacombank as well as the Sacombank – Phuoc Long office. In chapter 3, the project is based on Prop and Cons which performed in chapter 2 to give such solution on enhancing the effective of credit risk management at Sacombank – Phuoc Long office.

Keywords: Risk – Credit – Solutions

MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề

Ngân hàng Thương mại (NHTM) trong hệ thống nền kinh tế được biết đến với vai trò là một định chế tài chính, giữ vị trí trung gian tiền tệ của của toàn bộ nền kinh tế. Trong đó, một trong những chức năng cơ bản nhưng lại vô cùng quan trọng của ngân hàng nói chung đó là giúp lưu trữ và điều phối nguồn tiền từ nơi dư thừa đến nơi cần, trong đó vai trò cốt lõi là chuyển hóa nguồn tiền nhàn rỗi thành vốn vay để đáp ứng nhu cầu của các cá nhân và tổ chức có nhu cầu phục vụ cho mục đích đời sống, thương mại. Hoạt động nêu trên được gọi là nghiệp vụ cho vay. Theo Petria và cộng sự (2015) thì nghiệp vụ cho vay là một hành động nhằm mục đích sinh lời cốt lõi trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của hệ thống các ngân hàng thương mại nói chung.

Tuy nhiên, cũng do tính chất huy động nguồn tiền và cho vay mà vô tình khiến cho các NHTM phải ở vào một vị thế rủi ro nhất định đến từ việc mất vốn hoặc thất thoát nguồn vốn. Ngày nay, theo các quy định tài chính Quốc tế cũng như chủ trương từ phía Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đưa ra đòi hỏi một yêu cầu khắt khe đối với các ngân hàng thương mại trong việc ngăn ngừa, quản trị đối với việc cho vay cũng như phương thức xử lý quyết liệt đối với các khoản vay rủi ro với mục tiêu cao nhất là đảm bảo an toàn nguồn vốn vay. Chính vì lý do như vậy mà hoạt động quản trị rủi ro (QTRR) được hình thành và là lá chắn bảo vệ cho các NHTM trước những rủi ro, hậu quả phát sinh mà hoạt động cho vay có thể mang lại. Luận văn: Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Sacombank.

Tuy nhiên, hoạt động quản trị rủi ro cũng phải đảm bảo hài hòa trong việc an toàn trước các rủi ro nhưng cũng phải đảm tính sinh lợi từ nguồn tiền, tạo ra cơ sở để ngân hàng (NH) phát triển cả về chất và lượng, qua đó giúp tăng vị thế của ngân hàng trên thị trường tài chính, qua đó gia tăng năng lực cạnh tranh. Bên cạnh đó, tầm quan trọng của quản trị rủi ro không đơn thuần xuất phát mang tính đơn lẻ từ bất kỳ một ngân hàng riêng lẽ nào mà còn hướng đến lợi ích chung cho toàn bộ thị trường tài chính Quốc gia. Tính chất “lợi ích chung” vừa nều đến từ việc thị trường tài chính nói chung và hệ thống các ngân hàng thương mại là một hệ thống đặc thù, sở hữu những tính chất đặc trưng cho các ngân hàng chính là sự kết nối và phụ thuộc tương hỗ lẫn nhau. Rõ ràng, khi một ngân hàng gặp vấn đề về dòng tiền, khả năng chi trả thì kéo theo đó là sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống tài chính Quốc gia. Trước những luận điểm vừa nêu, việc làm rõ bản chất, đặc thù cũng như những yếu tố ảnh hưởng lên hiệu quả của hoạt động quản trị rủi ro tín dụng đối với các NHTM mang ý nghĩa cần kíp không chỉ riêng đối với chính bản thân các NHTM mà còn cho cả các cơ quan quản lý.

Như đã trình bày, huy động tiền và cho vay lại chính nguồn tiền đã huy động là quá trình chính giúp tạo ra nguồn sinh lời chính cho các ngân hàng. Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh tiền tệ vừa nêu cũng tồn tại tính 2 mặt của nó khi suất sinh lợi cao cũng đồng nghĩa với rủi ro lớn và tính chất rủi ro này là không thể tránh khỏi. Rủi ro lúc này không đơn thuần xuất phát từ phía ngân hàng, phía khách hàng mà có thể đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau cả về chủ quan và khách quan. Tuy nhiên, thực sự đến nay việc làm sao quản trị cho hiệu quả, cách giảm thiểu rủi ro và phương thức xử lý rủi ro nếu xảy ra vẫn chưa có hồi kết vì bản chất đặc thù khác nhau của từng ngân hàng. Thêm vào đó, việc quản trị rủi ro còn nhiều khó khăn khi nhiều ngân hàng phải quan tâm đến áp lực doanh số, áp lực về doanh thu của mình. Chính điều này đã dẫn đến những hệ quả to lớn, dẫn đến việc khách hàng chậm trả, không trả các khoản vay đúng hợp đồng có xu hướng tăng cao. Điều này dẫn đến mức lợi nhuận của NHTM suy giảm hay nghiêm trọng hơn là mất trắng vốn. Nếu tình trạng cho vay nhưng luôn nằm ở vị thế rủi ro, mất vốn sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của ngân hàng, thua lỗ, thất thoát, suy giảm niềm tin của nhà đầu tư, khách hàng, chất lượng khoản vay không đảm bảo gây ra khả năng thua lỗ và phát sản. Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả và lành mạng hóa các khoản vay tín dụng bằng quản trị rủi ro là không thể xem thường và cần được quan tâm sát sao.

Hiện nay, việc thực hiện quản trị RRTD nói chung được nhiều NTHM thực thi. Tuy nhiên, để hoạt động quản trị rủi ro hiệu quả thì không thể chỉ đơn thuần áp dụng một phương thức mà cần những điều hành phải xem xét tới nhiều khía cạnh khác nhau trong hoạt động tín dụng, phụ thuộc vào đặc thù riêng của từng ngân hàng để có thể nhận diện, phòng ngừa và xử lý các rủi ro tiềm tàng. Riêng tại Việt Nam hiện nay, trong bối cảnh nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt. Các doanh nghiệp (DN) nói chung và các DN tài chính nói riêng không những phải cạnh tranh với các định chế tài chính khác trong nước mà còn phải cạnh tranh với các định chế tài chính Quốc tế đang hoạt động tại Việt Nam. Luận văn: Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Sacombank.

Do vậy, điều này đòi hỏi chính bản thân các ngân hàng thương mại phải có phương thức quản trị phù hợp để đảm bảo cả 2 mục tiêu lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro. Chính vì vai trò không thể thiếu của quản trị rủi ro mà hoạt động này nhận được sự chú vô cùng sát sao từ cơ quan quản lý, từ cả chính các NHTM và còn cả từ phía nghiên cứu học thuật. Nhiều nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng đã được thực hiện với nhiều phương thức khác nhau theo hướng áp dụng phân tích định lượng bằng các mô hình kinh tế lượng hay theo các kỹ thuật định tính. Xét theo hướng áp dụng kỹ thuật phân tích định lượng, đến nay nhiều đề tài đã thông qua nhiều phương thức rất đa dạng như Moment tổng quát GMM (Generalized Method of Moment) nhằm đánh giá ảnh hưởng từ các yếu tố lên rủi ro tín dụng trong nội hệ thống các NHTM từ Võ Thị Quý và Bùi Ngọc Toản (2014) hay thông qua phương pháp hồi quy Logistic như trong nghiên cứu của Đặng Thị Thu Hằng (2019) để xem xét xác suất vỡ nợ. Một số biến thế khác sử các phương pháp phân tích Panel đối với các khía cạnh vi mô, vĩ mô như trong nghiên cứu của Đặng Vân Dân (2021). Ngoài các nghiên cứu định lượng vừa nêu thì hiện nay một số nhà nghiên cứu cũng tập trung vào phương thức định tính thông qua việc đánh giá và xem xét các yếu tố của quản trị rủi ro tín dụng thông qua một khung phân tích chung. Tuy nhiên, việc sự dụng các yếu tố trong mô hình phân tích “chung” từ các nhà nghiên cứu lại không mang tính phổ quát và đại diện. Một số nghiên cứu thực hiện theo hướng này có thể kể đến như nghiên cứu của Lê Thị Huyền Diệu (2010) khi cố gắng xác định mô hình quản trị rủi ro tín dụng chung tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hay nghiên cứu của Nguyễn Quang Hiện (2016) trong việc xác định mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại một trường hợp thực tế tại ngân hàng MB.

Tuy nhiên, một điểm chung có thể thấy đối với các nghiên cứu vừa nêu đó là các mô hình phân tích rủi ro tín dụng thực hiện theo tính chất “biến số độc lập – quản trị rủi ro tín dụng” một cách đơn thuần chứ chưa thực sự lồng ghép vào được các đặc trưng vốn có trong công tác quản trị RRTD đó là áp dụng các tiêu chí, phương thức, thông lệ Quốc tế mà các ngân hàng cả trong và ngoài nước bắt buộc phải tuân thủ theo hiệp ước Basel II mà Việt Nam là Quốc gia thành viên. Ngoài ra, với vị thế là một thực thể trong hệ thống tài chính tại Việt Nam thì Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) đang được biết đến như là một ngân hàng có đặc tính rất khác khi quy mô của Sacombank về thị phần, con người…là lớn hơn nhiều so với mặt bằng chung các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Tính chất đặc thù này đòi hỏi Sacombank cũng phải có những phương thức áp dụng riêng biệt trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng hay tuân thủ theo các điều khoản trong hiệp ước Basel II.

Dù vậy, đến nay việc nghiên cứu quản trị rủi ro tín dụng trong trường hợp điển hình tại Sacombank còn khiêm tốn. Việc nghiên cứu hoạt động quản trị rủi ro tín dụng riêng cho Sacombank sẽ là kim chỉ nam định hướng không những cho các cơ quan chức năng mà còn có ý nghĩa thực tiễn cho các lãnh đạo tại Sacombank, giúp chỉ ra các tồn đọng tồn tại cũng như giúp cho Sacombank thực hiện được tốt cả 2 mục tiêu doanh thu và quản trị rủi ro. Chính vì vậy, tác giả đã tiến hành thực hiện đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín Phòng Giao Dịch Phước Long.” cho đề án thạc sỹ của mình.

2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu Luận văn: Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Sacombank.

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu tổng quát

Đề án có mục tiêu tổng quát nhằm hướng đến việc phân tích thực trạng trong công tác quản trị rủi ro cho vay tại Sacombank – phòng giao dịch (PGD) Phước Long. Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay.

2.1.2 Mục tiêu cụ thể

Đề án tiến tới việc đạt được các mục tiêu tổng quát thông qua 2 mục tiêu cụ thể bao gồm:

Mục tiêu thứ nhất, thực trạng quản trị rủi ro trong cho vay tại Sacombank – Phòng Giao Dịch Phước Long hiện nay như thế nào.

Mục tiêu thứ hai, giải pháp nào có thể đề xuất để có thể nâng cao hiệu quả của công tác quản trị rủi ro trong cho vay tại Sacombank – Phòng Giao Dịch Phước Long

2.2. Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được những mục tiêu ở trên, đề án hướng đến việc trả lời 2 câu hỏi nghiên cứu như sau:

Thứ nhất: Thực trạng hoạt động kinh doanh, kinh doanh tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng Ngân hàng Sacombank – Phòng Giao Dịch Phước Long trong thời kỳ 2020 – 2023 như thế nào? Hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Sacombank – Phòng Giao Dịch Phước Long đang có những điểm đạt, chưa đạt và nguyên nhân của các vấn đề chưa đạt là gì?

Thứ hai: Giải pháp nào có thể được dùng để nâng cao và kiện toàn công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Sacombank – Phòng Giao Dịch Phước Long? Luận văn: Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Sacombank.

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Sacombank – Phòng Giao Dịch Phước Long.

Phạm vi nghiên cứu

  • Không gian nghiên cứu: Ngân hàng Sacombank – Phòng Giao Dịch Phước Long
  • Thời gian nghiên cứu: Giai đoạn từ 07/2024 đến 09/2024.

4. Phương pháp nghiên cứu

Đề án sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp từ việc thông qua số liệu thống kê từ đó bằng việc tính toán các chỉ số thống kê, từ đó đề án thực hiện việc so sánh, phân tích các chỉ số tăng giảm và nguyên nhân của việc tăng giảm. Các số liệu thống kê được trích lọc từ số liệu được tổng hợp dựa trên các báo cáo năm của Sacombank – Phòng Giao Dịch Phước Long từ năm 2020 – 2023.

Ngoài ra, đề án cũng dựa trên việc lập luận logic từ việc kết hợp các cơ sở lý thuyết về RRTD, thực trạng trong công tác quản trị RRTD tại Ngân hàng Sacombank – Phòng Giao Dịch Phước Long từ đó phân tích và đánh giá về mức độ hiệu quả của hoạt động quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay.

5. Cấu trúc bài viết

Bài viết được cấu trúc thành 4 nội dung lớn bao gồm:

  • Mở đẩu
  • Chương 1: Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng
  • Chương 2: Thực trạng quản lý RRTD tại Sacombank – Phòng giao dịch Phước Long.
  • Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại tại Sacombank Phòng Giao Dịch Phước Long.

TÓM TẮT Luận văn: Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Sacombank.

Trong phần mở đầu, đề án đã trình bày các thông tin về đề tài nghiên cứu bao gồm tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Ngoài ra, trong nọi dung này đề án cũng trình cấu trúc của bài viết.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG

1.1 Lý thuyết về rủi ro tín dụng các các ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại

Khái niệm rủi ro tín dụng trong hoạt động tài chính tiền tệ là khái niệm tương đối mới, chỉ được đưa ra khi các NHTM mở rộng hoạt động cho vay và quản trị rủi ro đang có vai trò ngày càng quan trọng khi hoạt động cho vay đang chuyển đổi từ truyền thống sang mô hình cho vay có sự tham gia của các ứng dụng công nghệ số hiện đại trong hoạt động cho vay tiền tệ. Một trong những phát biểu sớm nhất về khái niệm rủi ro trong hoạt động cho vay đến từ nghiên cứu của Santomero (1997) khi phát biểu về định nghĩa RRTD như là “việc không sẵn sàng hoặc không có khả năng thực hiện đúng theo cam kết hợp đồng của khách hàng vay”. Khái niệm của Santomero (1997) cũng đã được Bhatore và cộng sự (2020) mở rộng ra khi đề cập như là việc “người vay không có khả năng thanh toán các khoản nợ với NHTM theo thỏa thuận trên hợp đồng khi đến hạn thanh toán”. Như vậy, có thể thấy rằng rủi ro tín dụng xuất hiện từ quá trình cho vay khi người đi vay không có ý định thiện chí hoặc mất khả năng chi trả các khoản nợ bao gồm cả gốc và lãi theo đúng như cam kết trong hợp đồng tín dụng (Bello, 2023).

Tại Việt Nam, rủi ro tín dụng đã được nêu ra trong văn bản số 11/2021/TT-NHNN ngày 30/07/2021 trong đó khái niệm rủi ro tín dụng là “khả năng xảy ra tổn thất đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không có khả năng trả được một phần hoặc toàn bộ nợ ủa mình theo hợp đồng hoặc thỏa thuận…”. Khái niệm RRTD cũng đã được hiệp ước Basel II đề cập đến như là “khả năng người vay hay đối tác thất bại trong việc đáp ứng các nghĩa vụ theo điều khoản đã được thông qua” (…as the potential that a bank borrower or counterparty fail to meets its obliations in accoirdance with agreed terms). Mở rộng hơn khái niệm về RRTD thì hiệp ước Basel cũng đề đề cập đến việc rủi ro tín dụng là một dạng thất thoát tài sản của ngân hàng và phát sinh khi đối tác, khách hàng không có khả năng thực hiện được đúng các nghĩa vụ, điều khoản tài chính mà khách hàng, đối tác đã cam kết với ngân hàng, mở rộng bao gồm cả các khoản nợ gốc và lãi đến hạn thanh toán.

Tóm lại, dựa trên các phát biểu từ các nghiên cứu trước đây cũng như định nghĩa của hiệp ước Basel mà Việt Nam là thành viên thì khái niệm rủi ro tín dụng được phát biểu một cách khái như sau: “rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi khách hàng không có ý chí hoặc mất khả năng chi trả các một phần hoặc toàn bộ các khoản nợ gốc và lãi đúng như cam kết trong hợp đồng tín dụng đã ký kết với ngân hàng”.

1.1.2 Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng Luận văn: Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Sacombank.

Hiện nay, việc đo lường rủi ro tín dụng chủ yếu được xây dựng theo các tiêu chí mang tính chất có thể được lượng hóa. Thực tế, rủi ro tín dụng khi được đo lường sẽ phải được dựa trên những sự sai phạm không đúng hợp động tín dụng đã ký kết khi chậm trả gốc, trả lãi hay không trả gốc, không trả lãi. Theo Nguyễn Văn Tiến (2015), các chỉ tiêu tổng quát khi đánh giá mức độ rủi ro tín dụng bao gồm tỷ lệ nợ quá thời hạn thanh toán, tỷ lệ nợ có khả năng mất vốn và tỷ lệ nguồn tiền dành để dự phòng cho các khoản nọ xấu. Ngoài ra, các chỉ tiêu tín dụng cũng được quy định tai văn bản số 11/2021/TT-NHNN ngày 30/07/2021 về quy định phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng,chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Cụ thể các tiêu chí đo lường rủi ro tín dụng như sau:

Với tiêu chí nợ quá hạn thì khái niệm này được hiểu là “toàn bộ hoặc một phần nợ gốc hoặc nợ lãi” đã quá hạn trả mà KH không thể chi trả bất kỳ lý do là gì. Đây cũng chính là định nghĩa về nợ quá hạn đã được NHNN ban hành và định nghĩa tại Thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30/07/2021 khi quy định “nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được đúng hạn một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi theo thỏa thuận với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài…”. Một cách toán học, tỷ lệ nợ quá hạn được tính toán dựa trên công thức sau:

  • Tỷ lệ nợ quá hạn =
  • Nợ quá hạn
  • Tổng dư nợ

Hiện nay, việc phân tách 5 nhóm nợ đã được quy định rất kỹ càng theo hướng dẫn tại thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30/07/2021 của Ngân hàng Nhà nước. Cụ thể việc phân chia và xác định các nhóm nợ như sau:

Bảng 1.1: Phân loại nhóm nợ theo TT 11/2021/TT-NHNN Luận văn: Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Sacombank.

Về tiêu chí nợ xấu, như đã trình bày, hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh cốt lõi của các ngân hàng thương mại. Chính vì vậy, rủi ro từ hoạt động này cũng chính là rủi ro chính của các ngân hàng thương mại. Chính vì vậy, theo Nguyễn Văn Tiến (2015), RRTD cũng là một thước được sử dụng để đo lường chất lượng tín dụng. Như vậy, tỷ lệ nợ xấu có sư tương đồng khá lớn với tiêu chí nợ quá hạn. Theo thông tư 11/2021/TTNHNN do NHNN thì nợ xuất chính là khoản nợ quá hạn thuộc nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5. Về mặt số học, nợ xấu được tính toán như sau:

  • Nợ quá hạn nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5
  • Tỷ lệ nợ xấu =
  • Tổng dư nợ

Tỷ lệ nợ xấu lúc này chính là những khoản cho khách hàng vay tuy nhiên đã mất khả năng sinh lời do khách hàng không còn khả năng chi trả hay có nguy cơ mất vốn. Đặc thù của nợ xấu chính là tính chất khó khăn trong công tác thu nợ hoặc không thể thu nợ. Như vậy rõ ràng khi tỷ lệ nợ xấu cao thì xác suất ngân hàng mất một phần hoặc toàn bộ vốn cho vay sẽ tăng cao, lợi nhuận sẽ không những giảm mà sẽ âm, gây ra khó khăn về dòng tiền cho ngân hàng cho việc hoạt động, chi trả tiền tiết kiệm của khách hàng.

Ngoài 2 tiêu chí nợ quá hạn và nợ xấu, mức độ rủi ro của các NHTM còn có thể được đánh giá thông qua tiêu chí tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro. Về mặt lý thuyết, khái niệm tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro chính là những khoản chi phí tài chính mà các định chế tài chính sử dụng nhằm dự phòng cho các khoản nợ quá hạn hay nợ xấu. Theo thông tư 11/2021/TTNHNN do NHNN thì “dự phòng rủi ro là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những rủi ro có thể xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng…”. Theo tác giả Ashour và Silfverberg (2019), dự phòng rủi ro tính do là khoản chi trích trước và sẽ được ghi nhận như một khoản chi hoạt động của các NHTM. Cũng theo Ashour và Silfverberg (2019) thì mục đích của việc trích lập dự phòng rủi ro chính là dùng để dự trù chi trả đối với những mất mát có thể xảy đến đối với các khoản nợ có thể mất vốn. Trích lập dự phòng là một quy trình tương đối phức tạp do chính các NHTM phải tuân theo các quy định của NHNN cũng như dự toán được các khoản nợ mất mát có thể xảy đến. Do đó bắt buộc các ngân hàng thương mại phải có đủ khả năng để nhận định đúng các rủi ro và dự trữ đầy đủ khoản tiền dự phòng để trang trải cho những tổn thất có thể thể xảy ra.Theo quỹ tiền tệ Quốc tế (Internatioanl Monetary Fund – IMF) thì khoản trích lập dự phòng có thể được hạch toán theo 2 phương hướng đó là dự phòng cụ thể cho từng khoản nợ và dự phòng chung cho cả hệ thống. Trong đó, dự phòng chung cho cả hệ thống ngân hàng được tiến hành trích lập dựa trên căn cứ từ tổng giá trị tổng dư nợ các khoản vay dù cho không tồn tại các bằng chứng vè việc khoản vay gặp rủi ro hay sụt giảm hoạt động vay đối với KH và chỉ phục vụ cho việc giảm thiểu rủi ro có thể xuất hiện và phần dự trù này được chính các ngân hàng điều chuyển vào nguồn vốn đệm của mình. Như vậy, một cách thực tế thì các khoản trích lập dự phòng mặc dù không được tiến hành chi trực tiếp nhưng sẽ được ghi nhận như một khoản chi hoạt động và sẽ làm giảm mức sinh lời của các NTHM khi không thể tối đa hóa giá trị nguồn vốn huy động. Hiện nay tại Việt Nam theo quy định của NHNN thì các ngân hàng thương mại phải tiến hành trích lập dự phòng cho các khoản nợ xấu từ nhóm 3 đến nhóm 5.

Ngoài ra, mỗi NHTM còn phải thực hiện trích lập dự phòng với mức trích cụ thể tù trái phiếu do VAMC phát hành với lợi suất 20%. Về mặt toán học, số tiền trích lập dự phòng được tín toán dựa theo công thức sau: Luận văn: Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Sacombank.

  • n
  • R = ∑ Ri
  • i=1

Trong đó: R là tổng số tiền phải trích lập dự phòng co từng khách hàng và ∑ni=1 Ri là tổng số tiền dự phòng cụ thể của khách hàng từ số dư nợ thứ 1 đến thứ n và Ri là số tiền dự phòng cụ thể phải trích của khách hàng đối với số dư nợ gốc của khoản nợ thứ i. Chỉ số Ri cũng được Ngân hàng nhà nước xác định thông qua công thứ Ri = (Ai − Ci)xr

Trong đó: Ai là số dư nợ gốc thứ i; Ci là giá trị khấu trừ của tài sản đảm bào của khoản nợ thứ i và r là tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể theo từng nhóm nợ (Nhóm 1: 0%; nhóm 2: 5%; nhóm 3: 20%; nhóm 4: 50% và nhóm 5: 100%)

Bên cạnh đó, để đánh giá tính an toàn của khoản vay, theo Nguyễn Văn Tiến (2005) thì một chỉ tiêu định lượng có thể được sử dụng đó là thông chỉ vòng quay vốn tín dụng. Chỉ số vòng quay vốn tín dụng được tính toán như sau:

  • Vòng quay vốn tín dụng =
  • Doanh số thu nợ
  • Dư nợ bình quân

Trong đó dư nợ bình quân được tính toán dựa vào trung bình dư nợ đầu kỳ và cuối kỳ. Chỉ tiêu này đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của Ngân hàng, thời gian thu hồi nợ của Ngân hàng là nhanh hay chậm. Vòng quay vốn càng nhanh thì được coi là tốt và việc cho vay được đánh giá là an toàn và ngược lại.

1.2 Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng Luận văn: Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Sacombank.

Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến những rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại trong đó bao gồm cả những nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Trong nội dung đề án sẽ trình bày các nguyên nhân dẫn đến RRTD các NHTM như sau:

1.2.1 Nguyên nhân khách quan

Nguyên nhân khách quan dẫn đến rủi ro tín dung tại các ngân hàng thương mại thường xuất phát từ 2 nguyên nhân chính bao gồm nguyên nhân đến từ môi trường kinh tế vĩ mô và các rủi ro về pháp luật, pháp lý (Ghosh, 2012).

Theo tác giả Ghosh (2012), rủi ro tín dụng là điều mà cả phía người vay và phía ngân hàng đều không mong muốn. Tuy nhiên, khi xem xét trên khịa cạnh tổng thể nền kinh tế Quốc gia hay xa hơn là nền kinh tế Toàn cầu thì luôn luôn tồn tại những chu kỳ phát triển hay suy thoái không thể tránh khỏi. Khi nền kinh tế tăng trưởng ổn định, mức giá tiêu dùng được kiểm soát, tỷ lệ thấp nghiệp thấp, thì đời sống người dân sẽ phát triển theo, thu nhập của người lao động được bảo đảm, các doanh nghiệp làm ăn có lợi nhuận sẽ giúp giảm thiểu RRTD và ngược lại. Ngoài ra, khi xem xét trên cấp độ rộng hơn, một môi trường địa chính trị hòa hoãn, xung đột được kiềm hãm, các Quốc gia có nhiều cơ hội để làm ăn, hợp tác, kéo theo là hoạt động xuất nhập khẩu phát triển, tỷ giá hối đoái giữa các đồng bản tệ ổn định giúp tăng cường độ giao thương, trao đổi thương mại, hàng hóa lưu thông ổn định tao ra lợi nhuận cũng giảm thiểu các rủi ro tín dụng có thể xảy ra( Lâm Thị Mỹ Lan, 2023).

Đối với nguyên nhân xuất phát từ môi trường pháp lý, pháp luật thì RRTD thường xuất hiện từ chính những bất cập trong việc ban hành và thực thi pháp luật (Ghosh, 2012). Một môi trường pháp lý hợp lý, hợp thời, mềm dẻo sẽ tạo điều kiện cho các cá nhân, doanh nghiệp hoạt động trơn tru góp phần tạo ra lợi nhuận, tăng khả năng trả nợ và giảm thiểu rủi ro tín dụng.

1.2.2 Nguyên nhân chủ quan Luận văn: Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Sacombank.

Nguyên nhân chủ quan dẫn đến rủi ro tín dung tại các ngân hàng thương mại thường xuất phát từ 2 phía bao gồm phía khách hàng và cũng từ chính phía các ngân hàng thương mại (Ghosh, 2012). Cụ thể nguyên nhân có thể đến từ cả từ phía khách hàng và từ chính phía các ngân hàng.

Đối với các nguyên nhân bắt nguồn từ phía khách hàng, hiện nay có rất nhiều nguyên nhân xuất phát từ khách hàng có thể kể ra như là khách hàng sử dụng vốn không đúng cam kết với ngân hàng, năng lực quản trị của chủ doanh nghiệp còn thấp, tầm nhìn phát triển và hoạch định doanh nghiệp còn hạn chế hay cũng có thể xuất phát từ chính kết quả hoạt động của doanh nghiệp (Lâm Thị Mỹ Lan 2023).

Ngoài những nguyên nhân không mong muốn kể trên, rủi ro tín dụng còn đến từ việc nhiều khách hàng không có thiện chí trả nợ, chây lỳ bất hợp tác với ngân hàng hay thậm chí có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngoài ra, đối với các doanh nghiệp khi có nhu cầu vay vốn sẽ phải trình bày kế hoạch sản xuất, kinh doanh, phân tích khả thi, tiền khả thi kế hoạch kinh doanh, phương án trả nợ, lịch trình trả nợ tuy nhiên nếu nhân viên ngân hàng không có đủ nguồn thông tin sẽ dẫn đến những đánh giá sai lầm trong quá trình cấp vốn tín dụng. Một số doanh nghiệp thường tồn tại tình trạng kinh doanh đa ngành, đa nghề, chưa nhận thức được năng lực kinh doanh của mình, không thể theo kịp những biến động của thị trường, đầu tư kinh doanh không hiệu quả cũng là những nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro tín dụng. Ngoài những nguyên nhân chính còn xảy ra tình trạng nhiều cá nhân, tổ chức hay doanh nghiệp vay vốn đồng thời nhiều tổ chức tài chính khác nhau, khi điều không mong muốn xảy ra sẽ tạo ra sự thiếu hụt dòng tiền chi trả, chậm thanh toán tiền vay (Lâm Thị Mỹ Lan 2023). Chính vì vậy làm cho tình trạng rủi ro tín dụng càng trở nên trầm trọng. Thêm vào đó, hiện nay đa phần các doanh nghiệp chưa hoàn thiện cấu trúc quản trị tài chính một cách khoa học, coi nhẹ và chưa thông thạo các tiêu chuẩn về kế toán, quá trình nắm bắt nguồn dữ liệu, chứng từ kế toán vẫn chưa được kiện toàn, điều này đến việc các NHTM khi tác nghiệp đánh giá nguồn dữ liệu phục vụ cho việc xét cho vay thi hay xảy ra tình trạng báo cáo sai lệch, chưa thuyết phục, xa rời thực tế…và việc xảy rủi ro đối với khoản vay là điều có thể nhìn thấy được.

Ngoài những nguyên nhân từ phía khách hàng, không thể không nói đến các nguyên nhân từ chính sự chủ quan từ phía các NHTM khi xuất hiện nhiều sơ hở trong về quy trình tiến hành hoạt động cho vay, chính sách cho vay mà các NHTM đang áp dụng. Luận văn: Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Sacombank.

Thứ nhất phải kể đến chính là việc chính sách cho vay từ phía ngân hàng còn mập mờ, chưa quy củ khiến cho quá trình cho vay gặp nhiều khó khăn, sai lệch. Điều này vô hình chung tạo ra kẽ hở để khách hàng khai thác, làm sai quy định. Điều này càng trở nên trầm trọng hơn khi nhiều ngân hàng chưa thực sự chú trọng đến định hướng của hoạt động tín dụng tại ngân hàng của mình, chưa có sự rạch rồi về chính sách cho vay, tỷ trọng cho vay theo khoản vay, theo thời gian, theo tài sản đảm bảo, theo danh mục cho vay một cách phù hợp

Thứ hai, một nguyên nhân không kém phần quan trọng đó chính là xuất phát từ trình độ trình độ của đội ngũ cán bộ tín dụng. Không ít cán bộ tín dụng nắm không vững các nghiệp vụ tín dụng do ngân hàng quy định hoặc bị áp lực KPIs mà chưa tính toán đến tính hiệu quả của dự án… gây ra rủi ro vô cùng lớn cho hoạt động tín dụng. Bên cạnh đó, còn xảy ra một tình trạng dẫn đến tình trạng rủi ro tín dụng càng trầm trọng chính là đạo đức của cán bộ tín dụng. Không ít các cán bộ tín dụng đã phải vào vòng lao lý khi cố tình trục lợi cá nhân để buông lỏng công tác thẩm định. Ngoài ra còn xuất phát từ chính sự tắc trách của nhân viên ngân hàng trong quá trình cho vay, dẫn đến việc chính bản thân NHTM không nắm bắt được thực tế sử dụng nguồn vốn vay. Ngoài ra còn xuất phát từ tâm lý chủ quan của nhiều nhân viên ngân hàng khi chỉ chăm chăm vào tài sản đảm bảo mà không chú ý đến khả năng hoạt động, dòng tiều của người vay.

1.3 Hậu quả của rủi ro tín dụng Luận văn: Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Sacombank.

Theo tác giả Petria và cộng sự (2015) thì hoạt động kinh doanh tiền tệ thông qua việc cho vay chính là nguồn sống cho chính các ngân hàng, chiếm tỷ trong lớn nhất trong doanh thu của ngân hàng. Mặt khác, đúng với phát biểu “lợi nhuận cao thì rủi ro lớn”, điều này đồng nghĩa với việc các ngân hàng phải đối mặt với những rủi ro có thể thấy trước như nợ quá hạn hay nợ xấu. Như một hệ quả tất yếu, hậu quả lớn nhất và tai hại nhất cho chính các ngân hàng là gây ra tình hình kinh doanh biến chuyển xấu, doanh thu sụt giảm kéo theo lợi nhuận của chính các ngân hàng đi xuống (Ghosh, 2012). Nghiêm trọng hơn, hệ thống tài chính hiện nay mang tính chất kết nối và liên hệ rất chặt chẽ, ảnh hưởng của rủi ro tín dụng không đơn thuần gói gọi cho chính bản thể ngân hàng chịu rủi ro mà kéo theo đến các ngân hàng, định chế tài chính khác, ảnh hưởng lên toàn bộ hệ thống tài chính Quốc gia, nghiêm trọng hơn là làm suy yếu sức mạnh tài chính của nền kinh tế. Do đó, một điều rõ ràng có thể rút ra được chính là tầm quan trọng của việc ổn định rủi ro tín dụng phải là hoạt động mang tính chất lâu dài, căn cơ, tạo tiền đề ổn định cho không chỉ thị trường tài chính Quốc gia nói riêng mà còn góp phần ổn định cho tổn thể cả nền kinh tế Quốc gia. Qua đó, đề án rút ra được một số kết luận về rủi ro tín dụng như sau:

Trong tổng thể toàn bộ nền kinh tế nói chung và hệ thống định chế tài chính Quốc gia nói riêng thì rủi ro tín dụng luôn là một mối quan tâm hàng đầu, chiếm sự chú ý của cả người hoạch đính chính sách, thực hiện chính sách và hoạt động kinh doanh. Rủi ro tín dụng nguyên nhân chính quyết định đến thành bại, lợi nhuận hay thua lỗ cho phía ngân hàng, sự phát triển, tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của mỗi ngân hàng (Jorion, 2009). Điều này còn có tầm quan trọng hơn nữa khi xem xét tính chất dây chuyền và kết nối của nền kinh tế khi sự sụp độ hay phá sản của một ngân hàng, định chế tài chính sẽ kéo theo sự sụp đổ hay phát sản của các định chế tài chính khác và như một hệ quả tất yếu là sự sụ đổ của nền kinh tế Quốc gia, sự sụp đổ của thị trường tài chính, gây suy giảm nền kinh tế, tỷ lệ lạm phát gia tăng, tỷ lệ thất nghiệp tăng kéo theo sự mất ổn định của toàn xã hội hay xa hơn là sự tồn vong của cả Quốc gia. Luận văn: Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Sacombank.

1.4 Lý thuyết về quản trị rủi ro tín dụng

1.4.1 Khái niệm và ý nghĩa của quản trị rủi ro tín dụng

Ủy ban Basel (2004) đã đưa ra các hiểu biết về rủi ro đối với việc cho vay như sau: “rủi ro khi cho vay là khả năng mà người đi vay hoặc là bên đối tác của các NHTM không thể đáp ứng những điều khoản đã thỏa thuận”. Theo khái niệm này rủi ro tín dụng có phạm vi khá rộng, không chỉ trong quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với khách hàng mà trong cả các hoạt động khác như đầu tư, phái sinh. Tuy nhiên đề án chỉ nghiên cứu rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay, vì vậy rủi ro tín dụng có thể hiểu là việc khách hàng không trả nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng

1.4.2 Ý nghĩa của quản trị rủi ro tín dụng

Hoạt động quản trị rủi ro tín dụng mang lại lợi ích rất lớn đối với các ngân hàng thương mại. Trong đó, lợi ích đầu tiên phải kể đến chính là việc giảm mức rủi ro của khoản vay, tăng khả năng sinh lời cho các NHTM.. Theo Đỗ Năng Thắng và Nguyễn Văn Huân (2019) thì khi rủi ro đối với khoản vay xuất hiện, các NHTM sẽ không thể thu nợ từ khách hàng bao gồm cả gốc và lãi, điều này dẫn đến tình trạng mất cân đối dòng tiền, dòng tiền thu vào không đủ để chi, mất đi hiệu suất sử dụng nguồn vốn huy động, suất sinh lợi tụt giảm, làm cho các NHTM mất đi tính cạnh tranh trong việc mở rộng thị phần cho vay. Nếu các NHTM không thể thu hồi được khoản nợ từ người vay trong khi vẫn phải thanh toán lãi tiền gửi của khách hàng, một khi tình trạng này cứ tiếp diễn và trở nên nghiêm trong có thể khiến cac NHTM rơi vào trạng thái mất thanh khoản (Đỗ Năng Thắng và Nguyễn Văn Huân, 2019). Hậu quả của tình trạng nên trên nếu tiếp tục kéo dài sẽ có những ảnh hưởng rất tiêu cực đến tình hình hoạt động của các NHTM, khả năng kinh doanh tiền tệ suy sút, uy tín sẽ bị ảnh hưởng, qua đó trực tiếp làm giảm sức cạnh tranh của NHTM trên thị trường tài chính, nghiêm trọng hơn là việc các NHTM sẽ rơi vào trạng thái âm vốn, lỗ kéo dài và xấu nhất là rơi vào trạng thái vỡ nợ, phát sản. Luận văn: Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Sacombank.

Bên cạnh đó, lợi ích của việc nâng cao hiệu quả của công tác quản trị rủi ro tín dụng đó là còn góp phần vào việc nâng tầm quản trị rủi ro đạt tiêu chuẩn Quốc tế. Mục tiêu của việc quản trị rủi ro trong cho vay nhằm tạo ra lợi nhuận nhiều nhất, tận dụng triệt để nguồn lực của mình trên tiêu chí đảm bảo các rủi ro hay mất mát của việc cho vay nằm ở mức ít nhất. Ngày nay khi các biến chuyển của nền kinh tế diễn ra không ngừng, rủi ro trong hoạt động cho vay theo đó cũng thay đổi theo thì yêu cầu tối quan trọng đối với các NHTM là làm sao bắt kịp những thay đổi nói trên thông qua việc tìm tòi, nâng cấp và đưa vào các kỹ thuật quản trị rủi ro các khoản vay một cách hợp lý và hiệu quả, (Bùi Diệu Anh 2013). Các NHTM ngày nay trên thế giới nói chung và tại Việt Nam đã và đang không ngừng nỗ lực để đáp ứng được các tiêu chuẩn Basel trong việc quản trị rủi ro khoản vay một cách hiệu quả trong tổng thể hoạt động quản trị kinh doanh của mình. Việc áp dụng các tiêu chuẩn Basel vào quản trị rủi ro trong cho vay sẽ giúp các NHTM đạt được nhiều lợi ích từ mặt con người, kiện toàn quy trình quản trị rủi ro, gia tăng năng lực bên trong trong việc dự phòng rủi ro, năng lực dự báo, kiểm soát tình trạng cho vay một cách an toàn. Và cuối cùng, một trong những lợi ích khác của quản trị rủi ro tín dụng mang lại cho chính các ngân hàng thương mại đó là giúp gia tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Chúng ta có thể thấy được một điều hiển nhiên trong thời đại ngày nay thì cạnh tranh là tất yếu của hoạt động sản xuất, kinh doanh. Một NHTM nếu có năng lực quản trị rủi ro cho vay hiệu quả sẽ đồng nghĩa với việc tạo được vị thế vững chắc của mình trong thị trường tài chính. Mục đích cơ bản của quản trị rủi ro trong cho vay là đảm bảo các ảnh hưởng từ việc khách hàng không đáp ứng được các nghĩa vụ trong việc trả nợ sẽ ảnh hưởng nhỏ nhất đến hoạt động quả NHTM, đảm bảo các lợi ích từ việc quản trị rủi ro khoản vay sẽ lớn hơn các chi phí thực hiện quản trị rủi ro, từ đáo tăng tiềm lực tài chính và gia tăng khả năng cạnh tranh của mình (Bùi Diệu Anh 2013). Việc quản trị rủi ro đối với các khoản vay nếu được ban lãnh đạo các NHTM chú trọng và thực thi một cách hiệu quả, khoa học thì lúc nay rủi ro trong cho vay là chấp nhận được. Hơn nữa nếu biết cách tận dụng năng lực quản trị rủi trong cho vay cũng là tiền đề để các NHTM có thể phát huy chuyển đổi thành các cơ hội trong kinh doanh tiền tệ.

1.4.3 Nội dung quản trị rủi ro tín dụng Luận văn: Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Sacombank.

Hiện nay, trong việc quản trị rủi ro tín dụng có thể được thực hiện thông qua nhiều phương thức khác nhau bao gồm: Hoạch định chiến lược quản trị rủi ro tín dụng, xác định khẩu vị rủi ro của ngân hàng, xây dựng chính sách quản lý rủi ro tín dụng thích hợp, tỗ chức bộ máy cơ cấu hoạt động tín dụng hợp lý, tổ chức thực hiện quản trị rủi ro tín dụng, giám sát – kiểm tra, điển chỉnh sau giám sát. Cụ thể như sau:

1.4.3.1 Hoạch định chiến lược quản trị rủi ro

Trong việc điều hành và quản trị, hoạch định chiến lược với rủi ro khi cho vay là điều kiện bắt buộc với mọi NHTM. Chiến lược quản trị đối với các khoản vay là một định hướng mang tính lâu dài, ảnh hưởng và tác động trực tiếp lên sự tồn vong của các NHTM. Do vậy, dưới sức ép của nền kinh tế, các biến động nhanh chóng trên thị trường tài chính đòi hỏi mỗi NHTM phải tự xây dựng được cho mình một chiến lược quản trị rủi ro trong cho vay một cách rõ ràng, hiệu quả vì vì đó là “kim chỉ nam” cho hoạt động kinh doanh nói chung và trong hoạt động cho vay. Theo tác giả Dương Hữu Hạnh (2013) thì “Một chiến lược rõ ràng, chính xác trong dự báo bảo đảm cho các ngân hàng có thể linh hoạt trong phòng ngừa và giải quyết được những rủi ro tín dụng có thể xảy ra”. Chiến lược do các NHTM định hình sẽ góp phần định hướng cho các hoạt động cho vay trong tương lai nhằm bảo đảm mục tiêu an toàn và tối đa hóa lợi nhuận nhất là trong điều kiện hội nhập nền kinh tế trong nước và thế giới, đồng thời xác định khả năng và thái độ sẵn sàng chấp nhận của ngân hàng đối với rủi ro tín dụng.

1.4.3.2 Xác định khẩu vị rủi ro Luận văn: Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Sacombank.

Khẩu vị rủi ro được hiểu chính là khả năng chấp nhận các rủi ro có thể xảy đến. Khẩu vị rủi ro trong hoạt động cho vay là khả năng chịu đựng rủi ro trên cơ sở tính toán với lợi ích mà NHTM có thể được nhận theo từng giai đoạn. Theo đó, khả năng chịu được rủi ro đối với khoản vay của các NHTM được căn cứ trên từng khoản vay theo từng nhóm khách hàng theo từng phân khúc, từng ngành nghề, theo từng ranh giới địa lý và theo từng lĩnh vực, điều khoản của khoản vay cũng như năng lực của chính các NHTM. Theo Aven (2013), khẩu vị rủi được xây dựng bằng các xác định mức tối đa rủi ro từ các giới hạn về hạn mức cho vay, giao dịch đối với từng phân khúc khách hàng với đích đến sau cùng không để các khoản vay quá mất cân đổi vào cùng một phân khúc hay một nhóm khách hàng

1.4.3.3 Xây dựng chính sách quản lý rủi ro tín dụng thích hợp

Chính sách quản lý rủi ro tín dụng trong cho vay là hệ thống các định hướng và cách thức của một NHTM trinh việc nhận dạng và quản lý rủi ro đối với khoản vay một cách hữu hiệu nhằm mục tiêu để những mất mát của khoản vay là nhỏ nhất và từ đó nâng cao chính kết quả kinh doanh của các NHTM.

Xét trên một góc độ nhỏ hơn thì chính sách quản lý rủi ro trong cho vay là 1 phương thức và chính sách xác định nhằm kiểm soát và quản trị rủi ro các khoản vay theo một hệ thống xác định và phải đảm bảo tính hiệu quả, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh trong NTHM, (Nguyễn Đăng Đờn và cộng sự, 2012). Trong đó, khi xem xét đến chính sách quản lý rủi ro tín dụng sẽ phải bao gồm 5 yếu tố bao gồm quy mô – tốc độ tăng trưởng tín dụng, lĩnh vực cấp tín dụng, loại hình tín dụng, quy định đảm bảo an toàn trong quá trình cấp tín dụng và giá cả tín dụng (Bùi Diệu Anh 2013) 5 yếu tố vừa nêu không tách rời với nhau trong quá trình xem xét chính sách quản lý rủi ro tín dụng không thể đi đơn lẻ rời rạc với nhau mà phải luôn được xem xét đồng thời cùng nhau. Luận văn: Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Sacombank.

Thông thường, yếu tố đầu tiên khi xem xét chính sách tín dụng sẽ phải chú ý đến đầu tiên là quy mô và tốc độ tăng trưởng trong hoạt động cho vay của các NHTM. Yếu tố này thể hiện mức độ cho vay chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng giá trị tài sản mà NHTM sở hữu, cũng như mức tăng trưởng cho vay so với giai đoạn trước đó. Một ngân hàng có tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nhanh sẽ có khả năng gặp nhiều vấn đề về rủi ro tín dụng hơn do yêu cầu phát triển về số lượng sẽ có xác suất bỏ qua các yếu tố về tính an toàn cao hơn (Nguyễn Đăng Đờn và cộng sự, 2012). Tiếp theo sau đó sẽ phải cần xem xét đến lĩnh vực mà các khoản tín dụng đang cấp tín dụng hướng đến. Khái niệm lĩnh vực ở đây không đơn thuần bao gồm chỉ là khối ngành, lĩnh vực mà ngân hàng cấp tín dụng mà còn thể hiện thông qua ranh giới địa lý, hành chính mà ngân hàng đang hoạt động. Một lĩnh vực có dư nợ cấp tín dụng cao cũng là một trong những cảnh báo sớm thể hiện tính rủi ro cho các khoản vay tăng cao. Tiếp đến, việc xem xét chính sách quản lý rủi ro tín dụng cũng phải xem xét đến chính các yếu tố nội bộ của ngân hàng nhằm nắm rõ hình thức cho vay nào là phù hợp nhất với trình độ, kinh nghiệm của nhân viên, năng lực đội ngũ kiểm soát nội bộ bên trong các NHTM và đặc trưng của nguồn vốn ngân hàng huy động được. Thêm vào đó, yếu tố tiếp theo cũng theo nội bộ quy định cho vay của ngân hàng cũng phải quan tâm đến các quy định riêng về đảm bảo an toàn trong quá trình xét duyệt vay sao cho phù hợp với đặc thù của từng ngân hàng. Các quy định an toàn đối với tín dụng phải được xây dựng trên cơ sở các quy định của cơ quan giám sát ngân hàng quốc gia/ngân hàng Trung Uơng. Trong đó, khi xem xét tính phù hợp về chính sách cần phải tính toán đến nhiều yếu tố liên quan như giới hạn tín dụng, các quy định về quy trình cấp tín dụng, quy trình xử lý nợ có vấn đề trong nội bộ ngân hàng, các quy định về hình thức/biện pháp bảo đảm tín dụng. Cuối cùng, chính sách tín cũng còn thể hiện thông qua yếu tố giá cả tín dụng. Sau khi xác định được năng lực vay của khách hàng, thông thường các ngân hàng sẽ công bố mức lãi suất và các chi phí đi kèm khoản vay để công khai cho khách hàng vay cùng biết. Một ngân hàng có lãi suất cao cũng đồng nghĩa với rủi ro cho khoản tín dụng cũng cao theo đó, (Bùi Diệu Anh 2013)

1.4.3.4 Tổ chức bộ máy quản trị rủi ro tín dụng Luận văn: Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Sacombank.

Mọi chiến lược, chính sách quản trị rủi ro trong cho vay sẽ trở nên vô nghĩa nếu thiếu một cơ cấu bộ máy tổ chức hợp lý. Vấn đề đặt ra cho ngân hàng là làm thế nào thiết lập hay tổ chức các bộ phận trong ngân hàng đảm nhận việc quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay một cách thích hợp và đem lại hiệu quả cao. Mục tiêu này chỉ có thể đạt được thông qua việc ngân hàng tự lựa chọn cho mình mô hình tổ chức bộ máy phù hợp và phân định rõ chức năng nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của từng bộ phận trong bộ máy đó, đảm bảo các bộ phận này vừa độc lập vừa có sự liên kết chặt chẽ. Hiện nay, các ngân hàng đang quản trị rủi ro tín dụng theo hai mô hình quản trị rủi ro tín dụng phổ biến đó là: mô hình quản trị rủi ro tín dụng tập trung và mô hình quản trị rủi ro tín dụng phân tán (Nguyễn Văn Tiến 2015). Mô hình quản trị rủi ro tập trung tách biệt một cách độc lập giữa ba khối (ba chức năng) bao gồm khối kinh doanh (front office) ,khối quản lý rủi ro (middle office) và Khối xử lý nội bộ (back office).

Hiện nay, đa phần các NHTM đều đang được xây dựng dựa trên mô hình quản trị rủi ro khoản vay phân tán nhưng thực tế chưa cho thấy được sự tách biệt giữa 3 khối Trong đó, phòng tín dụng thực hiện đầy đủ ba chức năng và chịu trách nhiệm với mọi khâu cho một khoản vay. Các ngân hàng thương mại hiện đại theo chuẩn mực quốc tế có xu hướng chuyển từ quản trị rủi ro tín dụng phân tán sang xu hướng quản trị rủi ro tín dụng tập trung. Theo đó, sẽ hình thành một mô hình tổ chức quản trị rủi ro thống nhất từ Hội đồng quản trị cấp cao có sự tư vấn của ủy ban quản trị rủi ro đến bộ phận quản trị rủi ro trực thuộc Ban điều hành, cùng với đó là sự hỗ trợ của Ban kiểm soát của ngân hàng thương mại.

1.4.3.4 Tổ chức thực hiện quản trị rủi ro

Tổ chức thực hiện quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay là một nội dung quan trọng và được xem là khâu phức tạp nhất với sự tham gia của nhiều bộ phận, phòng ban trong ngân hàng. Trên thực tế, nếu sự phối hợp giữa các bộ phận được thực hiện một cách thiếu nhịp nhàng, bỏ qua các thủ tục kiểm soát cần thiết, vi phạm nguyên tắc phê duyệt tín dụng … thì rủi ro tín dụng VN sẽ tất yếu xảy ra. Để khắc phục việc này, các ngân hàng thường đưa ra các quy định có tính chất bắt buộc về quy chế và quy trình cấp tín dụng đối để các bộ phận, phòng ban và các cá nhân phối hợp thực hiện một cách nhuần nhuyễn, tránh sự chồng chéo, rườm rà. Luận văn: Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Sacombank.

1.4.3.5 Giám sát và kiểm tra quản trị rủi ro

Giám sát và kiểm tra quá trình thực hiện để đảm bảo thực hiện đúng theo chiến lược, kế hoạch quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay, kịp thời phát hiện được những rủi ro tiềm ẩn, các dấu hiệu của các khoản nợ xấu, nợ có vấn đề, giúp ngân hàng phát hiện và xử lý kịp thời những khoản nợ có vấn đề thông qua đó ngân hàng có thể hạn chế được những rủi ro trong cho vay không cần thiết nếu có. Quá trình giám sát và quản trị rủi ro đối với các khoản vay tại các NHTM trong thời đại ngay nay đòi hỏi phải được thực thi liên tục và theo sát từng diễn biến của thị trường cũng như hoạt động cho vay đang diễn. Việc giám sát và kiểm tra cho phép các NHTM luôn luôn ở vị thế chủ động và sẵn sàng xử lý với tất cả các rủi ro có thể xảy đến.

1.4.3.6 Điều chỉnh sau giám sát quản trị rủi ro tín dụng

Đây là nội dung cuối cùng trong tiến trình quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng. Nếu quá trình giám sát quản trị rủi ro tín dụng thể hiện rằng rủi ro nếu có thể xử lý được thì không thiết phải thực hiện điều chỉnh sau giám sát. Tuy nhiên, nếu kết quả cho vay thể hiện tình trạng tỷ lệ nợ xấu, nợ có vấn đề tăng quá cao, danh mục cho vay không lành mạnh thì ngân hàng phải lập tức áp dụng các biện pháp điều chỉnh kịp thời. Ngân hàng có thể áp dụng các biện pháp điều chỉnh sau: xử lý nợ thông qua công cụ khởi kiện khách hàng, bán nợ cho bên thứ 3, điều chỉnh và thắt chặt danh mục cho vay, chứng khoán hoá khoản vay của khách hàng …. Mục đích của tất cả các phương thức xử lý rủi ro của khoản vay như trên đều hướng đến mục đích cùng là dẫn dắt việc đảm bảo các khoản vay sẽ luôn nằm trong ranh giới an toàn và trong tầm kiểm soát của các NHTM

1.5. Các tiêu chí đánh giá hoạt động quản trị rủi ro tín dụng Luận văn: Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Sacombank.

Các nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng của ủy ban Basel được ghi nhận trong bản nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng được ban hành lần đầu vào tháng 9/2000. Theo đó, các nội dung cơ bản của nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng theo tinh thần của Ủy ban Basel gồm 16 nguyên tắc chia thành 4 nhóm như sau:

1.5.1. Chính sách quản trị rủi ro tín dụng

Đánh giá môi trường quản trị rủi ro tín dụng hiện nay phụ thuộc vào tần suất, yêu cầu trong quản trị rủi ro của từng ngân hàng, từ yêu cầu của NHNN và phải theo các điều khoản trong hiệp ước Basel II. Trong đó chính sách quản trị rủi ro tín dụng sẽ hướng đến hành động từ 3 chủ thể bao gồm hội đồng quản trị, ban điều hành và từ chính sác đơn vị ngân hàng hoạt động. Đối với hội đồng quản trị, nhiệm vụ và trách nhiệm của hội đồn quản trị sẽ phải định kỳ (tối thiểu hàng năm) rà soát chiến lược và chính sách rủi ro tín dụng trọng yếu. Chiến lược này phải phản ánh sức chịu đựng rủi ro của ngân hàng và mức sinh lời mà ngân hàng dự tính đạt được trong mối tương quan với các mức độ rủi ro tín dụng khác nhau. Nhóm thứ hai cần xét đến chính là ban điều hành, nhóm đối tượng có trách nhiệm chính trong việc triển khai thực hiện chiến lược rủi ro tín dụng do HĐQT phê duyệt, xây dựng chính sách và quy trình để nhận diện, đo lường, giám sát và kiểm soát rủi ro tín dụng. Những chính sách quy trình này phải chỉ ra rủi ro tín dụng trong toàn bộ hoạt động của ngân hàng ở từng khoản tín dụng riêng lẻ cũng như ở cấp độ danh mục tín dụng. Cuối cùng, đối với các đơn vị ngân hàng phải thực hiện đúng trách nhiệm của mình trong việc nhận diện và quản lý rủi ro tín dụng phát sinh trong tất cả các sản phẩm và hoạt động mà họ đang cung cấp. Ngân hàng phải đảm bảo rủi ro đối với sản phẩm và hoạt động mới phải tuân thủ đầy đủ quy trình và sự kiểm soát rủi ro trước khi thực hiện giới thiệu hay triển khai thực hiện, và phải được phê duyệt trước bởi HĐQT hoặc một ủy ban thích hợp.

1.5.2. Đánh giá hiệu quả tiến trình cấp tín dụng Luận văn: Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Sacombank.

Khi tiến hành đánh giá hiệu quả của tiến trình cấp tín dụng thì cần phải đảm bảo các ngân hàng hoạt động trong phạm vi các tiêu chí cấp tín dụng rõ ràng và hiệu quả (Lương Hải Sinh, 2023). Những tiêu chí này phải bao gồm các chỉ số rõ ràng về thị trường mục tiêu của ngân hàng và sự hiểu biết thấu đáo người vay hoặc đối tác cũng như mục đích, cấu trúc tín dụng và nguồn trả nợ. Hiệu quả của quá trình cấp tín dụng còn biểu hiện ở việc mỗi khách hàng, đối tác, nhóm khách hàng sẽ phải có một hạn mức tín dụng khác nhau (Trần Việt Hưng, 2020). Sự khác nhau cho từng nhóm đối tượng phụ thuộc vào mức độ rủi ro, loại rủi ro. Bên cạnh đó, phía ngân hàng cũng phải tiến hành thiết lập quy trình rõ ràng trong việc phê duyệt tín dụng mới cũng như việc bổ sung, gia hạn hoặc tái tài trợ cho các khoản tín dụng hiện hành. Và sau cùng, việc cấp tín dụng từ phía ngân hàng dành cho khách hàng phải được dựa trên nguyên tắc khách quan. Cụ thể, tín dụng cho các công ty và các cá nhân có mối quan hệ thì phải được ủy quyền trên nguyên tắc đặc biệt, được giám sát với sự quan tâm đặc biệt và với những biện pháp thích hợp để kiểm soát và giảm thiểu rủi ro khi cho vay người có quan hệ.

1.5.3. Đánh giá sự phù hợp của quá trình theo dõi, đo lường và quản lý rủi ro tín dụng

Để đánh giá công tác quản trị rủi ro tín dụng thì cũng cần phải xem xét đến tính phù hợp của quá trình quản trị rủi ro tín dụng theo các tiêu chí về mức độ theo dõi, đo lường. Một hệ thống quản trị rủi ro tín dụng có hiệu quả phải đánh bảo tính liên tục của quá trình quản trị rủi ro tín dụng thể hiện qua việc “liên tục” đánh giá các danh mục tín dụng có rủi ro (Lương Hải Sinh, 2023). Việc đánh giá các khoản tín dụng rủi ro bao gồm việc xem xét điều kiện cấp tín dụng có đáp ứng hay không, giá trị khoản tín dụng có nằm trong giới hạn phê duyệt cũng như cũng phải xác định mức trích lập dự phòng rủi ro yêu cầu. Ngoài ra, việc đánh giá tính phù hợp của hệ thống quản trị rủi ro tín dụng còn thể hiện qua việc định hướng, áp dụng các tiêu chí xếp hạng rủi ro do nội bộ ngân hàng phát triển, trong đó phải đảm bảo yêu cầu hệ thống xếp hạng tín dụng nội bổ phải tương thích với bản chất, quy mô, tình hình hoạt động của mỗi ngân hàng hay định chế tài chính. Để có thể thực hiện được yêu cầu vừa nêu thì bản thân các ngân hàng phải đảm bảo riêng mình có một hệ thống công nghệ thông tin đồng bộ cũng như áp dụng các kỹ thuật phân tích chính xác, nhanh chóng và hiệu quả trong việc đo lường rủi ro tín dụng phát sinh trong hoạt động nội và ngoại bảng cân đối kế toán. Trong đó, một yêu cầu cấp thiết đó là hệ thống thông tin quản lý phải cung cấp thông tin về cấu trúc danh mục tín dụng, gồm cả việc nhận diện bất kỳ rủi ro tập trung tín dụng nào có thể phát sinh (Lương Hải Sinh, 2023).

1.5.4. Đánh giá hiệu quả môi trường kiểm soát Luận văn: Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Sacombank.

Việc đánh giá hiệu quả môi trường kiểm soát rủi ro tín dụng cũng là một trong những nội dung bắt buộc đối với các ngân hàng thương mại khi áp dụng tiêu chuẩn Basel. Trong đó quá việc xây dựng hệ thống đánh giá quy trình quản lý rủi ro tín dụng phải được thực hiện một cách độc lập và liên tục, các kết quả rà soát quy trình đánh giá này phải được báo cáo trực tiếp cho HĐQT và Ban điều hành. Bên cạnh đó, các ngân hàng thương mại cũng phải đảm bảo rằng chức năng cấp tín dụng được quản lý đúng mức và rủi ro tín dụng được kiểm soát nhất quán với các chuẩn mực thận trọng và các giới hạn nội bộ. Ngân hàng phải thiết lập và thực thi kiểm soát nội bộ và các thông lệ khác để đảm bảo rằng các trường hợp ngoại lệ so với chính sách, quy trình và hạn mức được báo cáo một cách kịp thời tới cấp quản lý thích hợp để xử lý (Lương Hải Sinh, 2023). Cuối cùng, việc duy trì duy trì hệ thống cảnh báo sớm đối với các khoản tín dụng đang xấu đi, quản lý các khoản cho vay có vấn đề và các trường hợp xấu tương tự cũng là một yêu cầu phải có đối với các ngân hàng.

1.6 Một số nghiên cứu có liên quan Luận văn: Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Sacombank.

Một trong những nghiên cứu sớm nhất về đề tài rủi ro tín dụng là nghiên cứu của Macaulay (1938) trong việc đo lường vai trò của rủi ro tín dụng đối với lĩnh vực tài chính. Kết quả của Macaulay (1938) đã chỉ ra rằng việc quản lý rủi ro tín dụng là phương pháp tốt nhất trong hệ thống các NHTM và hơn 90% các NHTM hiện nay đã áp dụng phương pháp này. Chính sách tín dụng bất cập vẫn là nguyên nhân chính gây ra vấn đề nghiêm trọng trong ngành tài chính do đó việc quản lý rủi ro tín dụng một cách hiệu quả hiệu quả đã được chú trọng. Quản lý hiệu quả rủi ro tín dụng là một thành phần quan trọng của phương pháp tiếp cận toàn diện để quản lý rủi ro và rất cần thiết cho sự thành công lâu dài của bất kỳ tổ chức NHTM nào. Tiếp đến, 2 tác giả Nelson và Schwedt (2006) đã thực hiện nghiên cứu của mình nhằm xem xét làm thế nào để quản trị rủi ro một cách hiệu quả. Kết quả của Nelson và Schwedt (2006) đã phát biểu rằng hiên nay các ngân hàng thương mại cũng đã đạt được những bước tiến trong việc quản lý rủi ro tín dụng. Hoạt động quản lý rủi ro tín dụng lúc này bao quát cả việc xem xét các khoản vay và phân tích danh mục đầu tư. Hơn nữa, sự phát triển của các công nghệ mới để mua và bán rủi ro đã cho phép nhiều NHTM chuyển đổi từ việc cho vay truyền thống bằng việc áp dụng phương thức cho vay công nghệ nhằm tìm kiếm sự kết hợp tốt nhất của các loại tài sản trong bối cảnh môi trường tín dụng ngày càng phổ biến. Việc áp dụng các tiến bộ công nghệ đã thay đổi cả phương thức quản lý và kiểm soát mức độ tập trung, kỳ hạn và quy mô khoản vay của người có nghĩa vụ và danh mục đầu tư, đồng thời giải quyết và thậm chí loại bỏ các tài sản có vấn đề trước khi chúng tạo ra tổn thất. Để làm rõ tầm quan trọng của quản trị rủi ro tín dụng có thay đổi trước những biến cố trên thị trường không, 2 tác giả Kaur và cộng sự (2021) đã phân tích vai trò của quản trị rủi ro tín dụng đối với thị trường tài chính sau khủng hoảng kinh tế từ giai đoạn 2009 đến 2019. Kết quả của Kaur và cộng sự (2021) thực sự đã chỉ ra rằng việc quản lý rủi ro tín dụng có ý nghĩa quan trọng không chỉ do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong những năm gần đây mà còn là nguyên nhân ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tài chính, sự phát triển và tồn tại của các ngân hàng. Vì vậy, Kaur và cộng sự (2021) đưa ra khuyến nghị rằng các NHTM phải đẩy mạnh hoạt động quản trị RRTD cho mục tiêu kép là đảm bảo doanh thu và giảm tỷ trọng nợ xấu. Tại Việt Nam đã xuất hiện nhiều đề tài liên quan đến quản trị rủi ro tín dụng.

Trong đó, một số nghiên cứu nổi bật có thể được kể đến như sau: Luận văn: Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Sacombank.

Tác giả Lê Thị Huyền Diệu (2010) với nghiên cứu “Luận cứu khoa học về xác định mô hình quả lý rủi ro tín dụng tại hệ thống NHTM Việt Nam” đã tập trung nghiên cứu về rủi ro tín dụng, các nguyên nhân, các dấu hiệu, các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng trong của các NHTM. Đồng thời, nghiên cứu cũng đã tiếp cận, luận giải một cách có hệ thống và làm rõ thêm những vấn đề cơ bản về quản lý rủi ro tín dụng và mô hình quản lý rủi ro tín dụng. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích thống kê so sánh, để phân tích thực trạng mô hình quản lý rủi ro tín dụng của hệ thống các NHTM Việt Nam. Về thực tiễn, nghiên cứu đã tìm kiếm và đề xuất một mô hình quản lý RRTD thích hợp với điều kiện của các NHTM tại Việt Nam.

Sau đó 4 năm, 2 tác giả Quý và Toản (2014) đã thực hiện “Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của hệ thống các NHTM Việt Nam” bằng phương pháp định lượng, Quý và Toản (2014) đã ứng dụng kỹ thuật GMM để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của hệ thống NHTM Việt Nam. Thực vậy, kết quả của Quý và Toản (2014) đã chỉ ra rằng GDP giảm, tăng trưởng trong cho vay, kết hợp với những khoản cho vay chất lượng thấp trước đó sẽ làm gia tăng RRTD của các NHTM. Đây là một nghiên cứu tương quan nhằm chỉ ra mối quan hệ giữa RRTD NHTM với tốc độ tăng trưởng tín dụng, tình hình nợ xấu của năm trước đó, và tốc độ tăng trưởng GDP cả nước.

2 tác giả Phước Minh Hiệp và Kiên Xanh (2019) đã thực hiện đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank Trà Vinh” nhằm đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại NHTM cổ phần Công thương Việt Nam (VietinBank) Trà Vinh. Tác giả đã đánh giá trong hoạt động tín dụng, công tác quản trị rủi ro tín dụng có vai trò rất quan trọng, giúp Ngân hàng quản lý tốt nguồn vốn cho vay, đảm bảo số tiền cho vay được an toàn và hiệu quả. VietinBank Trà Vinh đã tích cực triển khai công tác quản trị RRTD và đạt được một số kết quả khả quan. Tuy nhiên, quy trình cấp tín dụng còn bất cập, hệ thống thông tin tín dụng còn hạn chế, công tác xử lý thu hồi nợ xấu còn tồn tại những mặt hạn chế. Từ đó tác giả đã đưa ra các nhóm giải pháp cải tiến trong thời gian tới như nhận diện rủi ro tín dụng, kiểm soát rủi ro tín dụng, đo lường rủi ro tín dụng, tài trợ rủi ro tín dụng.

Năm 2020, 2 tác giả Đặng Văn Tú và Bùi Diệu Anh (2020) đã thực hiện nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến khả năn trả nợ của khách hàng cá nhân tại Agribank Bến Cát” của tác giả Đặng Văn Tú và Bùi Diệu Anh (2020). Trong đó, 2 tác giả đã phát biểu rằng đối với quản trị rủi ro hiện đại, rủi ro chính là những khả năng bất thường xảy ra., trong đó các NHTM là một doanh nghiệp hoạt động trong một lĩnh vực đa dạng và có độ nhạy cảm cao, nên rủi ro rất đa dạng và có thể phát sinh từ bất kỳ giao dịch hoặc những quyết định kinh doanh nào của NHTM. Do vậy, mọi giao dịch/hoạt động đều góp phần hình thành nên rủi ro tổng thể. Luận văn: Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Sacombank.

Nghiên cứu “Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín – Chi Nhánh Vĩnh Long” của Cao Hồng Sơn và Nguyễn Ngọc Minh (2023). Các tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính nhằm tìm hiểu và đưa ra phương án nhằm nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng TPCM Sài Gòn Thương Tín – Chi Nhánh Vĩnh Long. Bằng khung phần tích thông qua 6 yếu tố đánh giá các yếu tố bao gồm chính sách và quy trình tín dụng – thông tin khách hàng – trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng – đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng – kiểm tra, giám sát sau vay và kiểm soát nội bộ. Thông qua việc phân tích 6 yế tố vừa nêu, Cao Hồng Sơn và Nguyễn Ngọc Minh (2023) đã đi đến nhận định việc nhận định và phân loại rủi ro tín dụng, xây dựng chính sách tín dụng phù hợp với rủi ro tín dụng thấp, kiểm soát rủi ro tín dụng, nâng cao chất lượng nhân sự và hiện đại hóa công nghệ thông tin trong kinh doanh tín dụng là những phương thức hiệu quả có thể giúp cho ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Vĩnh Long nâng cao hiệu quả trong công tác quản trị rủi ro tín dụng.

Như vậy, các nghiên cứu trước đây về quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại đã được thực hiện trên cả bình diện Quốc tế lẫn Việt Nam tương đối sâu rộng. Tất cả các nghiên cứu nói trên đều đưa ra một kết luận chung về tâm quan trọng của việc quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay cũng như tầm quan trọng của nó đối với hoạt động tài chính ngân hàng. Quản trị rủi ro tín dụng chính là một phương pháp đúng đắn trong việc định hướng hoạt động, đảm bảo hoạt động cho vay được an toàn như Macaulay (1938), Nelson và Schwedt (2006). Tầm quan trọng của việc quản trị rủi ro tín dụng trong thời đại số cũng đã được nêu ra trong nghiên cứu của Kaur và cộng sự (2021). Luận văn: Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Sacombank.

Riêng tại Việt Nam, hoạt động nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng cũng đã được thực hiện với nhiều trường hợp đặc thù tại nhiều ngân hàng thương mại. Lê Thị Huyền Diệu (2010) đã khái quát nên các đặc trưng, hình thái cũng như phương thức cơ bản của hoạt động quản trị rủi ro tín dụng. 2 tác giả Quý và Toản (2014) cũng đã chỉ ra tầm quan trọng của quản trị rủi ro tín dụng đối với hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại. Các nghiên cứu tiếp theo của Phước Minh Hiệp và Kiên Xanh (2019), Đặng Văn Tú và Bùi Diệu Anh (2020), Cao Hồng Sơn và Nguyễn Ngọc Minh (2023) cũng đã đưa ra các yếu tố cần phải quan tâm trong quá trình quản trị rủi ro tín dụng theo đặc thù của từng ngân hàng khác nhau. Như vậy, đến nay nhìn chung các nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng đã được các nhà nghiên cứu trước tiến hành rất kỹ càng. Riêng về nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng đối với Sacombank nói chung cũng như Sacombank – Phòng giao dịch Phước Long nói riêng vẫn còn khiêm tốn và chưa tương xứng. Do đó, đề tài khi thực hiện kỳ vọng sẽ là góp một phần nhỏ nhoi và cơ sở lý luận chung về quản trị rủi ro tín dụng cũng như đóng góp những thông tin có ích riêng đối với ngân hàng Sacombank.

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Trong chương 1, đề án đã trình bày các khái niệm cơ sở lý thuyết về nghiệp vụ quản trị rủi ro tín dụng nói chung tại các NHTM. Nội dung chương 1 bao gồm các khái niệm về rủi ro tín dụng, phương thức đo lường rủi ro tín dụng và các nội dung trong quá trình quản trị rủi ro tín dụng. Trong nội dung chương 1 cũng trình bày về các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, tác động của rủi ro tín dụng lên hoạt động của các NHTM. Bên cạnh đó, đề tài cũng đã đưa ra được một số nghiên cứu có liên quan đến công tác quản trị rủi ro tín dụng trên Thế giới cũng như tại Việt Nam. Luận văn: Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Sacombank.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY: 

===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Sacombank

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Quản trị rủi ro tí dụng tại Ngân hàng Sacombank […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0877682993