Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận Văn: Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
An toàn thực phẩm (ATTP) là vấn đề y tế công cộng nổi cộm trên thế giới, đặc biệt là tại các nước đang phát triển, nơi chịu gánh nặng lớn về các bệnh truyền qua thực phẩm. Việt Nam là nước đang trong quá trình đô thị hóa nhanh chóng và là nước có mức thu nhập trung bình nên vấn đề an toàn thực phẩm đã trở thành mối quan tâm lớn của cả người tiêu dùng và các nhà hoạch định chính sách.
Chiến lược quốc gia về an toàn thực phẩm giai đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn 2030 được thủ tướng chính phủ phê duyệt đã xác định: (1) bảo đảm an toàn thực phẩm chính là bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng và sức khỏe nhân dân, là một nhiệm vụ thường xuyên cần tập trung chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, là trách nhiệm và quyền lợi của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm và của của mỗi người dân; (2) tổ chức thực hiện đồng bộ các quy định pháp luật về an toàn thực phẩm, chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra, đẩy mạnh việc áp dụng các biện pháp tiên tiến trong quản lý an toàn thực phẩm; (3) tăng cường công tác thông tin, truyền thông nhằm tạo sự chuyển biến sâu sắc trong nhận thức của người sản xuất, người tiêu dùng và toàn xã hội về giữ gìn vệ sinh, bảo đảm an toàn thực phẩm. Đến năm 2020: Về cơ bản, việc kiểm soát an toàn thực phẩm trong toàn bộ chuỗi cung cấp thực phẩm được thiết lập và phát huy hiệu quả, chủ động trong việc bảo vệ sức khỏe và quyền lợi người tiêu dùng, đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước [27].
Tuy nhiên, trong những năm gần đây lại thường xuyên xảy ra các vụ việc liên quan đến thực phẩm kém chất lượng và thực phẩm không an toàn. Cụ thể bao gồm: các báo cáo về tồn dư thuốc bảo vệ thực vật độc hại trên rau thường xuyên xảy ra, tồn dư kháng sinh và các chất cấm trong căn nuôi thường được tìm thấy trong thịt hoặc bị nghi ngờ có tồn tại trong thịt, đạm urê được sử dụng trong bảo quản cá biển, thực phẩm có nguồn gốc từ động vật bị ôi thiu được tẩm hoá chất rồi bán ra thị trường; nhiễm bẩn vi sinh với nồng độ cao cũng thường xuyên bị phát hiện. Luận văn: Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm.
Điểm mấu chốt của thực trạng an toàn thực phẩm trên là sự xiết chặt quản lý của các cơ quan chức năng nhà nước. Muốn làm tốt công tác quản lý an toàn thực phẩm thì trước tiên phải có các văn bản quy phạm pháp luật quy định rõ ràng về vấn đề này, sau đó là khâu áp dụng và thực hiện. Thực hiện pháp luật tốt, có những quy định, chế tài nghiêm minh cộng với công tác tuyên truyền và phổ biến giáo dục pháp luật đến người dân thì mới có thể đảm bảo hiệu quả của an toàn thực phẩm.
Tuy có rất nhiều văn bản, có phân công rõ ràng trách nhiệm quản lý giữa các bộ, ngành nhưng còn chồng chéo, còn thiếu sót, chưa phủ hết các lĩnh vực, có khoảng trống trong phân công trách nhiệm quản lý. Một số lĩnh vực mới phát sinh (như thực phẩm chức năng, một số độc chất và vi chất) chưa được hướng dẫn quản lý cụ thể, chi tiết nên địa phương rất khó thực hiện. Bên cạnh đó, có những quy định không phù hợp với thực tế như: hiện tuyến xã không thể nào có đủ cán bộ chuyên môn để thực hiện việc khám sức khỏe, thẩm định cơ sở, cấp giấy phép theo quy định; những thử nghiệm cho kết quả ngay thì không đủ cơ sở pháp lý để xử phạt và xử lý ngay, nhằm tránh ngộ độc thực phẩm xảy ra, còn chờ kết quả chính thức thì thực phẩm đã được tiêu thụ hết; mức xử lý vi phạm còn chưa phù hợp với quy mô của cơ sở. Vì vậy mà pháp luật về an toàn thực phẩm chưa đi sâu vào đi vào cuộc sống, chưa tạo được sự thay đổi tích cực đối với xã hội.
Ngoài ra, do nhận thức và trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh thực phẩm còn thấp, đôi khi chạy theo lợi nhuận, cố tình sản xuất, kinh doanh thực phẩm không đảm bảo an toàn, thực phẩm không đảm bảo chất lượng mà người tiêu dùng không biết hoặc biết không đầy đủ về chất lượng sản phẩm nên đã sử dụng những sản phẩm đó.
Với những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm ở thành phố Hải Phòng” làm luận văn thạc sĩ, với mục đích sẽ chỉ ra được những tồn tại, hạn chế trong hệ thống pháp luật về an toàn thực phẩm cũng như việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này tại thành phố Hải Phòng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Công tác đảm bảo an toàn thực phẩm tuy đóng vai trò rất quan trọng, song pháp luật về an toàn thực phẩm ở nước ta mới chỉ được quan tâm đúng mức và bắt đầu có một số nghiên cứu quy mô trong thời gian gần đây được công bố. Có thể nêu ra một vài công trình khoa học tiêu biểu như sau: Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về bầu cử tại Hoài Đức.
Đề tài nghiên cứu khoa học (2011): “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm và việc xây dựng chương trình giảng dạy môn học Pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm cho các hệ đào tạo tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2008 – 2011”, của TS. Vũ Quang, Đại học Quốc gia Hà Nội. Đề tài đã khẳng định việc chuyển hoạt động quản lý về an toàn thực phẩm sang cơ chế quản lý theo nhóm sản phẩm, là một chính sách quan trọng của Luật an toàn thực phẩm, theo đó, một phần của nội dung chính sách này là tư tưởng giảm số Bộ tham gia quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm từ 8 Bộ (theo Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2003) xuống chỉ còn 3 Bộ là Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Bộ Công Thương [21].
Đề tài nghiên cứu khoa học (2012): “Xây dựng hệ thống phần mềm khai thác, phân tích và dự báo về vệ sinh an toàn thực phẩm” của GS.TS. Vũ Đức Thi, Viện Công nghệ thông tin. Đề tài đã nghiên cứu hệ thống tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm (gọi tắt là VSATTP): ISO 22000, HACCP, nghiên cứu hệ thống văn bản pháp quy nhà nước về kiểm soát VSATTP, xây dựng Web portal thể hiện về hiện trạng ngộ độc thực phẩm và các phương pháp phòng chống ngộ độc thực phẩm gắn với một hệ cơ sở dữ liệu về vệ sinh an toàn thực phẩm, xây dựng hệ thống phần mềm GIS phân tích mối nguy hại, nguyên nhân và dự báo xu hướng ngộ độc thực phẩm [26].
Bản báo cáo của Ngân hàng Quốc tế được thực hiện vào năm 2017 về tái thiết và phát triển/ Ngân hàng thế giới và các đối tác về: “Quản lý nguy cơ an toàn thực phẩm ở Việt Nam, những thách thức và cơ hội”. Mục tiêu của nghiên cứu quản lý nguy cơ an toàn thực phẩm gồm: (1) mô tả thực trạng an toàn thực phẩm và các hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm tại Việt Nam, (2) phân tích các nguy cơ an toàn thực phẩm đối với một số chuỗi giá trị thực phẩm chính dựa vào các thực hành tốt nhất trên thế giới về phương pháp đánh giá nguy cơ và từ các kết quả này, (3) đưa ra các khuyến nghị để giúp cải thiện vấn đề an toàn thực phẩm tại Việt Nam [25].
Bài viết: “Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm” của tác giả Bùi Hồng Nương, tạp chí Quản lý nhà nước – số 255 (4/2017). Từ thực tế hoạt động quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm, tác giả đã đề xuất một số giải pháp: (1) hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm, (2) hoàn thiện bộ máy quản lý về an toàn thực phẩm, (3) đẩy mạnh công tác tuyên truyền về an toàn thực phẩm đến mọi người dân, (4) nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, an toàn thực phẩm quản lý về an toàn thực phẩm, (5) nâng cao mức đầu tư kinh phí cho công tác quản lý an toàn thực phẩm, (6) tăng cường phối hợp một cách có hiệu quả giữa các ngành, các cấp và hợp tác quốc tế, (7) tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý, kỷ luật về an toàn thực phẩm [20]. Luận văn: Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm.
Tác giả Phạm Văn Hảo đã có bài viết: “Chế tài xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm”, tạp chí Luật học số 5/2017. Bài viết đã chỉ ra những điểm hạn chế trong hệ thống chế tài xử lý vi phạm phạm luật về bảo vệ quyền lời người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm: về chế tài hành chính, về chế tài hình sự, về chế tài dân sự, về hoạt động áp dụng các chế tài trong xử lý vi phạm pháp luật. Và tác giả cũng đã đề xuất hướng hoàn thiện hệ thống chế tài pháp luật [13].
Tạp chí khoa học pháp lý số 9/2016 có bài viết: “Cần thí điểm thành lập ban quản lý an toàn thực phẩm tại các thành phố trực thuộc trung ương” của tác giả Thái Thị Tuyết Dung. Tác giả đã chỉ ra lý do cần phải thực hiện thí điểm: các thành phố trực thuộc trung ương là các thành phố tập trung đông dân cư, khách du lịch, là các trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, đầu mối giao lưu và hội nhập quốc tế nên cũng là đầu mối lưu thông một số lượng thực phẩm trong và ngoài nước. Bài viết đề xuất mô hình Ban quản lý an toàn thực phẩm chịu sự chỉ đạo của UBND thành phố, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và thanh tra chuyên môn của 3 Bộ [10].
Cũng trên tạp chí Khoa học pháp lý số 9/2016, tác giả Cao Vũ Minh có bài viết: “Những bất cập về thời hiệu và thời hạn xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an toàn thực phẩm”. Tác giả nhận thấy rằng, vi phạm hành chính trong lĩnh vực an toàn thực phẩm tuy không nguy hiểm bằng tội phạm nhưng lại diễn ra rất phức tạp, gây thiệt hại cho nhà nước, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. [18].
Luận văn thạc sĩ luật học (2017):“Kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm theo pháp luật Việt Nam và thực tiễn thi hành tại Quảng Bình” của tác giả Hoàng Thị Thu Hà, Đại học Quốc gia Hà Nội. Đề tài luận văn thạc sĩ hướng tới nghiên cứu việc hoàn thiện pháp luật kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm tại Việt Nam. Luận văn đã đi sâu phân tích các quy định trong hoạt động kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm để từ đó thấy được thực trạng pháp luật kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm ở Việt Nam còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó đề tài cũng đưa tính hình sự hóa về vấn đề an toàn thực phẩm để nhấn mạnh hơn tính cấp thiết của việc quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm hiện nay [12]. Luận văn: Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm.
Tác giả Nguyễn Thị Minh với đề tài nghiên cứu: “Pháp luật về An toàn thực phẩm – Từ thực tiễn Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk”, luận văn chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, Học viện Hành chính Quốc gia, năm 2017. Đây là luận văn đầu tiên được nghiên cứu trên địa bàn Thành phố Buôn Ma Thuột, đề tài đã đề cập đến thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột. Đề tài cũng là cơ sở để các nhà nghiên cứu có thể vận dụng tiếp tục nghiên cứu ở mức độ cao hơn để đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về an toàn thực phẩm ngoài phạm vi thành phố Buôn Ma Thuột và tỉnh Đắk Lắk; là tài liệu để các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu, tham khảo khi sửa đổi, bổ sung Luật xử lý vi phạm hành chính, Bộ luật Hình sự hiện hành của Việt Nam [19].
Với chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, ThS. Lê Thị Linh đã nghiên cứu nội dung:“Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực an toàn vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về việc thực hiện pháp luật vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn Hà Nội trong bối cảnh chung của cả nước. Đánh giá thực trạng chung về việc thực hiện pháp luật an toàn vệ sinh thực phẩm của Việt Nam, từ đó đưa ra những giải pháp để khắc phục những hạn chế, thiếu sót của thực tại, hoàn thiện hệ thống pháp luật [16].
“Trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm” là luận văn tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Ngân Giang tại Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2012. Qua quá trình nghiên cứu, tác giả cho thấy tình trạng vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay đã và đang là vấn đề hết sức cấp thiết của xã hội, đòi hỏi sự tham gia của tất cả các cấp, các ngành và trách nhiệm đảm bảo an toàn thực phẩm không chỉ là của nhà nước mà còn là trách nhiệm của người tiêu dùng, người tham gia sản xuất, kinh doanh thực phẩm [11].
Luận án tiến sĩ “Thực trạng và hiệu quả giải pháp can thiệp thực thi pháp luật an toàn thực phẩm của một số cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống tại quận Hai Bà Trưng, Hà Nội” của tác giả Cao Thị Hoa, năm 2015, Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương. Luận án đã mô tả thực trạng thực thi pháp luật về an toàn thực phẩm của một số cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống tại quận Hai Bà Trưng, Hà Nội năm 2013. Từ đó, đánh giá hiệu quả các giải pháp can thiệp nâng cao việc thực thi pháp luật về an toàn thực phẩm của một số cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống tại quận Hai Bà Trưng, Hà Nội năm 2013-2014 [15].
Cuốn sách: “An toàn thực phẩm nông sản, một số hiểu biết về sản phẩm, hệ thống sản xuất phân phối và chính sách nhà nước” của tác giả Phạm Hải Vũ (chủ biên), Đào Thế Anh, Nxb Nông nghiệp, 2016. Trong cuốn sách này, các tác giả đã trình bày một số hiểu biết mới nhất về sản phẩm, hệ thống sản xuất nông nghiệp, tổ chức tiêu dùng và chính sách an toàn thực phẩm của Việt Nam liên quan đến các nông sản. [40].
Nhìn chung, những công trình trên đã tập trung nghiên cứu về vệ sinh an toàn thực phẩm và một số quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm; việc tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm; phân tích, làm rõ những hạn chế, bất cập trong thực thi pháp luật về an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu pháp luật về an toàn thực phẩm ở thành phố Hải Phòng. Do đó, việc tác giả lựa chọn nghiên cứu tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm trên địa bàn Thành phố Hải Phòng có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn Luận văn: Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm.
- Mục đích nghiên cứu: đưa ra những giải pháp nhằm bảo đảm tổ chức thực hiện luật an toàn thực phẩm ở thành phố Hải Phòng
- Nhiệm vụ nghiên cứu: từ mục đích nêu trên, luận văn đã xác định những nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
- Phân tích làm rõ thêm lý luận về pháp luật an toàn thực phẩm, tổ chức thực hiện pháp luật an toàn thực phẩm
- Đánh giá thực trạng pháp công tác tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm của các chủ thể trên địa bàn thành phố Hải Phòng
- Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật an toàn thực phẩm ở thành phố Hải Phòng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: những vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm ở thành phố Hải Phòng
- Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm ở thành phố Hải Phòng.
- Về thời gian: từ năm 2012 – 2017.
- Về nội dung: nghiên cứu thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm ở thành phố Hải Phòng dưới góc độ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Phương pháp luận: luận văn sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật.
Phương pháp nghiên cứu: phương pháp thực chứng, phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp. Cụ thể: Luận văn: Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm.
- Chương 1: Khi nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận và pháp luật của luận văn, tác giả luận văn sử dụng phương pháp hệ thống hóa, phân tích, so sánh để đưa ra quan điểm của mình về vấn đề đó. Phương pháp nghiên cứu tại địa bàn được sử dụng khi nghiên cứu quy định của pháp luật về ATTP.
- Chương 2: Khi nghiên cứu việc tổ chức thực hiện pháp luật trong lĩnh vực an toàn thực phẩm thành phố Hải Phòng, tác giả luận văn sử dụng phương pháp thống kê, phân tích số liệu, tổng hợp nhằm đánh giá những kết quả đã đạt được, những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của thực trạng đó.
- Chương 3: Khi đề xuất giải pháp, tác giả luận văn sử dụng phương pháp phân tích, đi từ cái chung đến cái riêng, từ khái quát đến cụ thể. Qua đó, đưa ra các giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa về mặt lý luận: đề tài là một công trình mới nhất được nghiên cứu trên địa bàn Thành phố Hải Phòng từ cơ sở tổng hợp nghiên cứu pháp luật về bảo đảm an toàn thực phẩm và việc tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Do đó luận văn sẽ góp phần về mặt lý luận cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về an toàn thực phẩm.
Ý nghĩa về mặt thực tiễn: đề tài đã đưa ra được quan điểm, giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm ở Thành phố Hải Phòng, từ đó làm cơ sở cho các cấp chính quyền ở Hải Phòng có thể vận dụng để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảm bảo an toàn thực phẩm trong thời gian tới. Đề tài cũng là có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những người quan tâm đến lĩnh vực pháp luật về an toàn thực phẩm.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm
- Chương 2: Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm ở thành phố Hải Phòng
- Chương 3: Quan điểm, giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm ở thành phố Hải Phòng
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM
1.1. Pháp luật về an toàn thực phẩm
1.1.1. Khái niệm pháp luật về an toàn thực phẩm
Khái niệm an toàn thực phẩm Luận văn: Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm.
Con người tồn tại và duy trì sự sống thông qua việc nạp các nguồn năng lượng mà chủ yếu là từ nguồn thực phẩm để ăn, uống hằng ngày. Để tìm hiểu rõ khái niệm về an toàn thực phẩm trước tiên cần tìm hiểu về thực phẩm là gì.
“Thực phẩm là những đồ ăn, uống của con người ở dạng tươi, sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến bao gồm cả đồ uống, nhai, ngậm và các chất được sử dụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm” [17, tr10].
Tuy nhiên, về sau khái niệm thực phẩm như ban đầu nó không còn phù hợp nữa vì bao gồm cả đồ uống, nhai, ngậm, thuốc dùng để chữa bệnh mà đây thì không được xem là thực phẩm, mặc dù vậy nhưng nó đã phần nào khẳng định bước đầu hình thành nền pháp lý về an toàn thực phẩm ở Việt Nam. Và để loại bỏ những sai sót trên nó đã được thay thế bởi một khái niệm tương đối hoàn chỉnh hơn trong một văn bản có giá trị pháp lý cao hơn và ở đây thực phẩm được định nghĩa là: “Thực phẩm là những sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi, sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản” [39].
Khái niệm trên được nêu khá đầy đủ, được sử dụng trong khoảng thời gian qua, nhưng do xã hội ngày càng phát triển, thực phẩm cũng trở nên đa dạng và phong phú nên nó vẫn chưa được thể hiện một cách đầy đủ nhất, mà nó sẽ được thay thế bởi một khái niệm đầy đủ và có giá trị pháp lý cao hơn: “Thực phẩm là những sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi, sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản. Khái niệm thực phẩm này không bao gồm thuốc dùng cho người, các chất gây nghiện và thuốc lá” [22].
Trước tình hình sức khỏe người dân đang bị đe dọa bởi việc thực phẩm mất vệ sinh, kém chất lượng ngày càng tràn lan làm ảnh hưởng đến sức khỏe hiện nay thì việc giữ gìn an toàn thực phẩm là một điều hết sức cần thiết, vì vậy nên đảm bảo an toàn thực phẩm. “An toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại cho sức khỏe và tính mạng con người” [22].
An toàn thực phẩm được hiểu là khả năng không gây ngộ độc của thực phẩm đối với con người nói chung. an toàn thực phẩm là việc đảm bảo thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người sử dụng, bảo quản thực phẩm không bị hỏng, không chứa các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học, hoặc tạp chất quá giới hạn cho phép, không phải là sản phẩm của động vật, thực vật bị bệnh có thể gây hại cho sức khỏe của con người. Luận văn: Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm.
Khái niệm pháp luật về an toàn thực phẩm
Và ngày 17 tháng 6 năm 2010, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật an toàn thực phẩm. Pháp luật về an toàn thực phẩm là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra và bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực an toàn thực phẩm.
Pháp luật về an toàn thực phẩm ở Việt Nam, là một bộ phận trong hệ thống pháp luật hiện hành của nước ta, bao gồm các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, tham gia điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm an toàn thực phẩm; điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm, sản xuất, kinh doanh thực phẩm và nhập khẩu, xuất khẩu thực phẩm; quảng cáo, ghi nhãn thực phẩm; kiểm nghiệm thực phẩm; phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm; phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục sự cố về an toàn thực phẩm; thông tin, giáo dục, truyền thông về an toàn thực phẩm; trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm [22].
Như vậy, pháp luật an toàn thực phẩm là toàn bộ các quy tắc xử sự thể hiện ở các văn bản luật và dưới luật, các thông tư, nghị định có liên quan điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực an toàn thực phẩm. Cùng với các văn bản theo hệ thống pháp luật về an toàn thực phẩm, nhiều luật, pháp lệnh mới hoặc sửa đổi bổ sung có liên quan tới công tác quản lý an toàn thực phẩm cũng được ban hành.
1.1.2. Nội dung của pháp luật về an toàn thực phẩm
Hệ thống pháp luật đã bảo đảm an toàn thực phẩm bằng việc thể chế hóa các chính sách, kế hoạch của Đảng, nhà nước trong công tác bảo đảm an toàn thực phẩm và quy định các phương tiện, biện pháp, nhân lực, để đảm bảo thực hiện các chính sách, kế hoạch đó. Chính vì thế, pháp luật trong việc bảo đảm an toàn thực phẩm đã trở thành một công cụ hữu hiệu để quản lý lĩnh vực này. Đặc biệt, thời gian qua pháp luật về bảo đảm an toàn thực phẩm ở nước ta đã từng bước được xây dựng và hoàn thiện, góp phần điểu chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến lĩnh vực thực phẩm. Nhìn chung có thể thấy vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm an toàn thực phẩm hiện nay như sau: Luận văn: Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm.
Thứ nhất, pháp luật quy định các quy tắc xử sự chung cho mọi người trong những hoạt động ở lĩnh vực thực phẩm.
Về mặt này, pháp luật điều chỉnh khá đầy đủ những hành vi, hoạt động liên quan đến điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm; điều kiện đảm bảo chất lượng trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm; xuất – nhập khẩu thực phẩm; quảng cáo, ghi nhãn sản phẩm; kiểm nghiệm thực phẩm, phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm, phòng ngừa ngăn chặn và khắc phục sự cố về an toàn thực phẩm; đưa ra những hành vi bị cấm. Ví dụ trong Luật an toàn thực phẩm năm 2010 đã có những quy định như: Khoản 1 Điều 10 về điều kiện chung để đảm bảo an toàn đối với thực phẩm là “đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, tuân thủ quy định về giới hạn vi sinh vật gây bệnh, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, dư lượng thuốc thú y, kim loại nặng, tác nhân gây ô nhiễm và các chất khác trong thực phẩm có thể gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người”; Điều 43 quy định về Quảng cáo thực phẩm là “Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định cụ thể loại thực phẩm phải đăng ký quảng cáo, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xác nhận nội dung quảng cáo thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý”; Điều 5 quy định những hành vi bị nghiêm cấm trong việc bảo đảm an toàn thực phẩm [22].
Thứ hai, pháp luật quy định các chế tài ràng buộc con người thực hiện những yêu cầu của pháp luật để đảm bảo an toàn thực phẩm.
Trong thực tế các chủ thể khi tham gia hoạt động kinh doanh, sản xuất thực phẩm thường chỉ chú ý tới lợi ích của mình mà bỏ qua lợi ích của người khác, của chung cộng đồng, bỏ qua hoặc không tự giác thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm phải thực hiện với việc bảo đảm an toàn thực phẩm. Chẳng hạn, khi thực hiện nghĩa vụ đánh giá thực phẩm tiêu chuẩn, các chủ sản xuất kinh doanh thường không thấy trước được lợi ích của mình do đó luôn tìm cách lẩn tránh nghĩa vụ pháp lý với thực phẩm. Khi đó, chế tài mà pháp luật quy định đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích của chính tổ chức, cá nhân và lợi ích chung lâu dài của xã hội. Các chế tài đó không chỉ là biện pháp trừng phạt vi phạm pháp luật bảo đảm an toàn thực phẩm; ngăn ngừa, giáo dục cải tạo chủ thể vi phạm mà còn răn đe chủ thể khác để họ tự giác tuân theo các quy phạm pháp luật, qua đó ngăn ngừa và hạn chế những hành động sai trái tác động đến chất lượng thực phẩm.
Thứ ba, pháp luật quy định các tiêu chuẩn bảo đảm an toàn thực phẩm, đồng thời công nhận những thực phẩm đạt chuẩn bảo đảm an toàn. Luận văn: Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm.
Nhằm đánh giá được mức độ bảo đảm an toàn cho thực phẩm trước khi đến tay người tiêu dùng, pháp luật Việt Nam hiện nay đã đặt ra những tiêu chuẩn nhất định cho thực phẩm và cả quá trình chế biến, phân phối thực phẩm an toàn. Những tiêu chuẩn này thường do Bộ Y tế ban hành và được gọi là các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia an toàn thực phẩm. Nhờ đặt ra những quy chuẩn này, việc đánh giá mức độ an toàn của thực phẩm trở nên thuận tiện hơn rất nhiều. Cũng từ đó có thể công nhận danh hiệu cho những sản phẩm thực phẩm đạt chuẩn để chúng tạo dựng được niềm tin với người tiêu dùng; đẩy lùi những thực phẩm không rõ nguồn gốc, kém an toàn và có thể gây nguy hại đến sức khoẻ con người.
Thứ tư, pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của các cơ quan quản lý nhà nước về bảo đảm an toàn thực phẩm.
Như ta đã biết, tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội đều cần phải có sự quản lý của nhà nước và thực phẩm cũng không là ngoại lệ. Hơn thế, bảo đảm an toàn thực phẩm còn là một hoạt động, nhiệm vụ quan trọng bởi thực phẩm là vấn đề tương đối phức tạp nên rất cần có hệ thống tổ chức quản lý phù hợp, hiệu quả. Pháp luật Việt Nam hiện nay đã ngày càng thể hiện vai trò to lớn trong việc tạo ra cơ chế hoạt động cho các tổ chức, cơ quan bảo đảm an toàn thực phẩm. Việc ban hành các văn bản pháp luật tạo ra cơ sở pháp lý để các cơ quan nhà nước thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình, đảm bảo hoàn thành tốt công tác quản lý Nhà nước đối với bảo đảm an toàn thực phẩm. Nhờ sự phân chia như vậy của pháp luật đã tạo ra sự phối hợp ngày càng nhịp nhàng, đồng bộ giữa các cơ quan, nâng cao hiệu quả của quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm.
1.2. Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm Luận văn: Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm.
1.2.1. Khái niệm tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm
Tổ chức là các hoạt động cần thiết để xác định cơ cấu, hệ thống của bộ máy, xác định những công việc phù hợp với từng bộ phận, và giao trách nhiệm cho từng nhà quản lý để vận hành các bộ phận hoạt động đạt hiệu quả cao nhất có thể. Công tác tổ chức bao gồm việc thành lập nên các bộ phận trong tổ chức để đảm nhận các hoạt động cần thiết và xác định các mối quan hệ về nhiệm vụ, quyền hành và trách nhiệm giữa các bộ phận đó. Mục tiêu của công tác tổ chức là tạo nên một môi truờng nội bộ thuận lợi cho mỗi cá nhân, mỗi bộ phận phát huy đuợc năng lực và nhiệt tình của mình, đóng góp tốt nhất vào sự hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức [29].
Tổ chức thực hiện pháp luật là một chuỗi hoạt động nằm trong một chính thể thống nhất, bắt đầu từ huớng dẫn thi hành luật, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục luật, triển khai, thực hiện, cho đến kiểm tra, giám sát và đánh giá, tổng kết việc tổ chức thực hiện pháp luật. Ðể triển khai thực hiện pháp luật, Chính phủ ban hành các Nghị định; Bộ truởng, Thủ truởng các cơ quan ngang bộ ban hành các Thông tư huớng dẫn thi hành pháp luật; Chính quyền địa phương triển khai thực hiện pháp luật dựa trên các Nghị định và Thông tư huớng dẫn thi hành pháp luật.
Quốc hội:
Luật An toàn thực phẩm 2010
Chính phủ: Các Nghị định, nhiệm vụ, triển khai, tổ chức, phê duyệt
Các Bộ: Các thông tư, Quyết định, Hướng dẫn chi tiết
Hình 1.1: Các cấp pháp lý theo Luật an toàn thực phẩm 2010
Việc triển khai tổ chức thực hiện pháp luật phải được thực hiện đồng bộ, gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ trọng tâm về xây dựng và thực thi văn bản quy phạm pháp luật, khắc phục các hạn chế, thu hút sự tham gia tích cực của các thành phần có liên quan, việc triển khai thực thi pháp luật phải có sự kiểm tra, kiểm soát của các cấp các ngành có liên quan, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật. Luận văn: Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm.
Như vậy, tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm là hoạt động sắp xếp, định huớng một cách có tổ chức, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch và thuờng xuyên, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện làm cho pháp luật về an toàn thực phẩm được triển khai trong thực tiễn.
1.2.2. Nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm
Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm là hoạt động có sự tham gia của cơ quan nhà nuớc có thẩm quyền tác động tới lĩnh vực an toàn thực phẩm nhằm đạt được mục đích của cơ quan nhà nước. Do vậy, có thể nói, tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm là hoạt động có định huớng, có chủ định của các cơ quan nhà nước.
Luật an toàn thực phẩm năm 2010 phân rõ trách nhiệm quản lý an toàn thực phẩm cho 3 Bộ liên quan tại cấp trung ương: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NNPTNT), Bộ Y tế (YT) và Bộ Công thương (CT). Mỗi bộ được phân công đảm bảo an toàn thực phẩm cho một số sản phẩm cụ thể trong toàn bộ chuỗi thực phẩm, bao gồm từ khâu sản xuất, sơ chế, chế biến, lưu trữ, xuất nhập khẩu cho đến khâu phân phối bán buôn bán lẻ [22].
Bộ Y tế chịu trách nhiệm chung về an toàn thực phẩm trong sản xuất thực phẩm và thuốc, vệ sinh thực phẩm đối với thị trường trong nước và thống nhất chính sách an toàn thực phẩm tại Việt Nam. Bộ Y tế thông qua Cục an toàn thực phẩm được giao chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm, điều phối chung về công tác triển khai các hoạt động quản lý nhà nước và các hoạt động đảm bảo tính thống nhất và hiệu quả của công tác quản lý an toàn thực phẩm, bao gồm tổ chức triển khai các chiến lược quốc gia và kế hoạch tổng thể về an toàn thực phẩm. Bộ Y tế cũng có vai trò cung cấp thông tin về an toàn thực phẩm tại Việt Nam. Luận văn: Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm.
Bộ NNPTNT chịu trách nhiệm quản lý an toàn thực phẩm trong suốt quá trình sản xuất, thu gom, giết mổ, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với ngũ cốc, thịt và các sản phẩm từ thịt, thủy sản và sản phẩm thủy sản, rau, củ, quả và các sản phẩm từ rau, củ, quả, trứng và các sản phẩm từ trứng, sữa tươi nguyên liệu, mật ong và các sản phẩm từ mật ong, thực phẩm biến đổi gen, muối và các nông sản thực phẩm khác theo quy định của Chính phủ. Bộ NNTPNT cũng chịu trách nhiệm về công tác đảm bảo an toàn thực phẩm trong hoạt động chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản và sản xuất nông nghiệp, kiểm tra công tác chăn nuôi, giết mổ, xử lý các sản phẩm nông sản sau thu hoạch cũng như tại các chợ bán buôn.
Bộ Công Thương quản lý an toàn thực phẩm trong suốt quá trình sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với các loại rượu, bia, nước giải khát, sữa chế biến, dầu thực vật, sản phẩm chế biến bột và tinh bột và các thực phẩm khác theo quy định của Chính phủ. Bộ cũng có trách nhiệm đối với các sản phẩm thực phẩm xuất khẩu trên phương diện thương mại. Bộ chịu trách nhiệm trực tiếp đối với vấn đề an toàn của một số sản phẩm thực phẩm công nghiệp. Vai trò pháp lí của Bộ Công thương còn liên quan đến ghi nhãn thực phẩm.
Ngoài các Bộ trên, Bộ Khoa học và Công nghệ (Bộ KHCN) chịu trách nhiệm về thủ tục đánh giá chất lượng phòng xét nghiệm, xây dựng các tiêu chuẩn và phương pháp kiểm soát chất lượng đối với các sản phẩm xuất khẩu và nhập khẩu. Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng (TCĐLCL) chịu trách nhiệm chuẩn hoá, đo lường chất lượng của hàng hóa và thực phẩm. Tổng cục đưa ra các tiêu chuẩn quốc gia và triển khai quá trình điều chỉnh phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Đánh giá và chứng nhận chất lượng phòng xét nghiệm là trách nhiệm của Văn phòng Công nhận chất lượng, thuộc Tổng cục TCĐLCL và do Tổ chức Công nhận chất lượng Phòng xét nghiệm Việt Nam thực hiện.
Quản lý an toàn thực phẩm được phân cấp quản lý từ trung ương tới địa phương theo các cấp (từ cấp tỉnh đến cấp quận, huyện và xã), đặc biệt là đối với các sản phẩm tiêu thụ trong nước. Công tác này được thực hiện thông qua sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân (UBND). Nhiệm vụ chính theo Luật quy định là xây dựng và ban hành các quy định kỹ thuật tại địa phương, xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch tổng thể cấp vùng và chịu trách nhiệm đảm bảo an toàn thực phẩm đối với các lĩnh vực chịu trách nhiệm.
1.2.3. Các giai đoạn tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm Luận văn: Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm.
1.2.3.1. Giai đoạn ban hành văn bản hướng dẫn, chỉ đạo
Muốn tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm đạt hiệu quả cần có sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ đối với công tác bảo đảm an toàn thực phẩm. Nhiều văn bản mang tính chiến lược sẽ được ban hành để chỉ đạo các bộ, ngành và địa phương triển khai đồng bộ các giải pháp bảo đảm an toàn thực phẩm. Công tác chỉ đạo, điều hành phải được tăng cường khi có dịch bệnh, các thời điểm nóng như tháng hành động về an toàn thực phẩm, Tết Trung thu, Tết Nguyên đán…
Như vậy, mới tạo được sự chuyển biến rõ rệt trong hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước và nhận thức của xã hội về bảo đảm an toàn thực phẩm. Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ cần phải thường xuyên chỉ đạo trực tiếp qua các buổi họp Ban Chỉ đạo liên ngành, giao ban trực tuyến với các địa phương về công tác an toàn thực phẩm hoặc trực tiếp thị sát, kiểm tra tình hình an toàn thực phẩm tại một số điểm nóng, qua đó để giải quyết dứt điểm các vụ việc nóng.
Đối với công tác an toàn thực phẩm tại địa phương, cần phải ban hành các văn bản chỉ đạo về việc tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm và chỉ đạo quyết liệt việc kiện toàn Ban Chỉ đạo liên ngành về VSATTP các cấp với Chủ tịch UBND làm trưởng ban nhằm nhấn mạnh vai trò và quy định trách nhiệm của người đứng đầu địa phương nếu không kiểm soát được an toàn thực phẩm.
Các bộ trong phạm vi quyền hạn của mình trình Chính phủ hoặc ban hành các văn bản chỉ đạo tầm chiến lược như Chiến lược quốc gia an toàn thực phẩm. Trên cơ sở chiến lược, các bộ sẽ xây dựng và ban hành các đề án như: Đề án đẩy mạnh hoạt động truyền thông về an toàn thực phẩm, Đề án nâng cao năng lực thanh tra chuyên ngành an toàn thực phẩm, Đề án đào tạo nguồn nhân lực bảo đảm an toàn thực phẩm. Luận văn: Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm.
1.2.3.2. Giai đoạn phổ biến, giáo dục pháp luật về an toàn thực phẩm
Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, đi trước một bước trong các hoạt động bảo đảm an toàn thực phẩm. Việc nâng cao kiến thức và thực hành về an toàn thực phẩm cho các đối tượng được các Bộ, ngành và địa phương cần phải được đẩy mạnh với nhiều hình thức đa dang, phong phú. Các hoạt động tuyên truyền giáo dục trên các phương tiện thông tin đại chúng phải được triển khai đồng bộ, bài bản, đặc biệt tập trung vào dịp Tết Nguyên đán, Tháng hành động vì an toàn thực phẩm và Tết Trung thu theo hướng dẫn của Ban Chỉ đạo liên ngành Trung ương về vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm nâng cao vai trò của UBND các cấp, vai trò quản lý của các cơ quan chức năng, trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh thực phẩm, dịch vụ ăn uống, trách nhiệm của cộng đồng trong công tác bảo đảm an toàn thực phẩm. Tháng hành động về an toàn thực phẩm phải được duy trì và tổ chức hàng năm để báo động và thức tỉnh cho toàn xã hội về những nguy cơ an toàn thực phẩm và nhờ đó huy động toàn xã hội tham gia vào các chiến dịch tuyên truyền và thanh, kiểm tra an toàn thực phẩm từ trung ương đến địa phương.
Để nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác an toàn thực phẩm từ Trung ương đến cơ sở, các bộ ngành sẽ thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo chứng chỉ, các lớp tập huấn về an toàn thực phẩm. Cùng với đó, việc nâng cao nhận thức cho người tiêu dùng và toàn xã hội nói chung qua các hình thức như nói chuyện, hội thảo, tọa đàm, phát thanh, truyền hình, báo chí, các cuộc thi, các sản phẩm truyền thông như tờ gấp, poster, các băng đĩa hình… cũng cần được chú ý phát triển.
1.2.3.3. Giai đoạn tổ chức bộ máy, chuẩn bị nhân lực, vật lực phục vụ thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm
- Về tổ chức bộ máy phục vụ thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm
Tại Trung ương: Theo Luật an toàn thực phẩm, quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm được phân công cho ba Bộ: Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Công Thương tại Điều 62, 63, 64 của Luật theo nguyên tắc quản lý theo chuỗi cung cấp thực phẩm với từng nhóm thực phẩm, ngành hàng cụ thể. Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm. Tại mỗi Bộ có đơn vị giúp Bộ trưởng trong thực hiện chức năng quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm. Ban Chỉ đạo liên ngành Trung ương về VSATTP (cơ quan thường trực là Bộ Y tế) được thành lập do một Phó Thủ tướng làm trưởng ban để chỉ đạo việc phối hợp hoạt động giữa các Bộ trong các vấn đề liên ngành.
Tại địa phương: UBND các cấp thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trong phạm vi địa phương. Ban Chỉ đạo liên ngành về VSATTP các cấp (được thành lập tới cấp xã và đang được kiện toàn theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ với Chủ tịch UBND là trưởng ban) có trách nhiệm chỉ đạo, phối hợp hoạt động liên ngành tại địa phương.
Tuyến tỉnh: UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm trước Chính phủ về an toàn thực phẩm tại địa phương. Tham mưu giúp UBND tỉnh là Sở Y tế, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công Thương. Sở Y tế (Thường trực Ban Chỉ đạo liên ngành về VSATTP) chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn. Các Sở đều có đơn vị giúp Giám đốc Sở trong thực hiện chức năng quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn. Luận văn: Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm.
Tuyến huyện: UBND quận, huyện chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về an toàn thực phẩm trên phạm vi địa bàn. Tham mưu giúp UBND huyện có các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện gồm: Phòng Y tế; Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Kinh tế/ Phòng Kinh tế hạ tầng.
Tuyến xã: UBND xã, phường chịu trách nhiệm trước UBND quận, huyện về an toàn thực phẩm trên phạm vi địa bàn. Trạm Y tế xã, phường, thị trấn hiện nay chỉ có cán bộ chuyên môn làm chung các lĩnh vực y tế, trong đó có an toàn thực phẩm. Cấp xã có công chức văn hóa – xã hội kiêm nhiệm nhiệm vụ theo dõi công tác an toàn thực phẩm, chưa có chuyên trách trong lĩnh vực an toàn thực phẩm.
- Về nhân lực:
Tại Trung ương, ngoài các cán bộ, công chức tham gia trực tiếp công tác quản lý an toàn thực phẩm sẽ có các cán bộ kiêm nhiệm thuộc các đơn vị của Bộ Y tế, Bộ NNPTNT, Bộ Công Thương.
Tại tuyến tỉnh: nhân lực sẽ là các cán bộ tại Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm, Chi cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản.
Điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật an toàn thực phẩm: các trụ sở làm việc sẽ được trang thiết bị đầy đủ, điều kiện làm việc tốt để triển khai nhiệm vụ. Các phòng kiểm nghiệm chuyên ngành được đầu tư, nâng cấp cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Đầu tư ngân sách nhà nước về xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng về an toàn thực phẩm.
Công tác phối hợp liên ngành về thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm là hoạt động phối hợp liên ngành về quản lý an toàn thực phẩm được thực hiện thống nhất dưới sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo liên ngành Trung ương về VSATTP do đồng chí Phó Thủ tướng làm Trưởng ban, tập trung vào hoạt động thanh tra, kiểm tra liên ngành về an toàn thực phẩm, xử lý sự cố an toàn thực phẩm, giải quyết các vướng mắc trong phân công, phân cấp. Luận văn: Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm.
1.2.3.4. Giai đoạn thực hiện trong thực tế pháp luật về an toàn thực phẩm
Đây là giai đoạn quan trọng nhất trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật an toàn thực phẩm. Bởi lẽ, muốn thực hiện được pháp luật an toàn thực phẩm thì phải để pháp luật được sử dụng, được áp dụng trong thực tế. Ở giai đoạn này, nhà nước sẽ thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật về an toàn thực phẩm thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào những quy định của pháp luật an toàn thực phẩm để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật về an toàn thực phẩm cụ thể.
Tổ chức thực hiện pháp luật an toàn thực phẩm trong thực tế là giai đoạn luôn luôn đòi hỏi phải có sự tham gia của các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền. Ngoài ra, thực hiện pháp luật an toàn thực phẩm còn là hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức có thẩm quyền thực hiện thông qua các công cụ hữu ích, các quy định của luật nhằm làm cho các chủ thể thực thi nêu cao ý thức trách nhiệm trong thực hiện pháp luật an toàn thực phẩm. Trên thực tế, khi triển khai thực hiện pháp luật trong thực tiễn, không phải bộ phận nào cũng làm tốt, làm nhanh như nhau, vì thế cần phải đôn đốc để vừa thúc đẩy các chủ thể nỗ lực nhiều hơn để hoàn thành nhiệm vụ, vừa phòng, chống những hành vi vi phạm quy định trong pháp luật an toàn thực phẩm.
1.2.3.5. Giai đoạn kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm
Công tác thanh, kiểm tra về an toàn thực phẩm sẽ thực hiện theo kế hoạch của Ban Chỉ đạo liên ngành Trung ương về vệ sinh an toàn thực phẩm, trong đó sẽ tập trung nhiều vào dịp Tết Nguyên đán và Tháng hành động vì an toàn thực phẩm và Tết Trung thu. Cùng với việc xử phạt hành chính, các đoàn của Trung ương và các địa phương sẽ áp dụng biện pháp xử lý tiêu hủy đối với sản phẩm không đảm bảo an toàn thực phẩm cũng như thu hồi các loại giấy phép. Ngoài việc thanh, kiểm tra theo kế hoạch, các Bộ, ngành đã tiến hành nhiều đợt thanh, kiểm tra đột xuất theo chuyên ngành đã phát hiện và xử lý nhiều vụ vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm.
Việc thanh tra, kiểm tra tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu thực phẩm, dịch vụ ăn uống, thức ăn đường phố được phân cấp rõ cho từng ngành, từng cấp, sẽ hạn chế sự chồng chéo trong thực hiện. Trong quá trình thanh tra, kiểm tra, các trường hợp vi phạm được phát hiện sẽ xử lý bằng nhiều hình thức khác nhau, đảm bảo đúng pháp luật, được công khai kịp thời trên phương tiện thông tin đại chúng giúp người dân có thông tin để lựa chọn thực phẩm an toàn.
1.2.3.6. Giai đoạn tổng kết, đánh giá Luận văn: Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm.
Hàng năm, các tỉnh, thành phố sẽ thực hiên công tác tổng kết, đánh giá tình hình thực thi chính sách, pháp luật về an toàn thực phẩm và triển khai nhiệm vụ của những năm tiếp theo. Trong quá trình đánh giá, tổng kết, đối tượng được xem xét, đánh giá tổng kết về chỉ đạo tổ chức thực hiện pháp luật là các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương, mà cụ thể ở đây là cơ quan thuộc 3 Bộ: Bộ Y tế, Bộ NNPTNT, và Bộ Công thường, ngoài ra còn có một số bộ, ban ngành có liên quan.
Xem xét cả vai trò, chức năng của các tổ chức chính trị, chính trị – xã hội trong việc tham gia tổ chức thực hiện pháp luật an toàn thực phẩm. Cơ sở để đánh giá, tổng kết công tác chỉ đạo, điều hành thực hiện pháp luật an toàn thực phẩm trong cơ quan nhà nước là các kế hoạch được giao và những quy định, quy tắc được đề ra. Đồng thời còn kết hợp sử dụng các văn bản liên tịch giữa cơ quan nhà nước đối với các tổ chức xã hội và các văn bản quy phạm khác để xem xét tình hình phối hợp chỉ đạo, điều hành tổ chức thực hiện pháp luật an toàn thực phẩm.
Bên cạnh đó, việc đánh giá tổng kết còn bao gồm cả việc thực hiện pháp luật của các đối tượng tham gia: tổ chức, cá nhân, các doanh nghiệp, các cơ sở kinh doanh ăn uống…Thước đo đánh giá kết quả việc tổ chức thực hiện pháp luật của các đối tượng này chính là tinh thần hưởng ứng với mục tiêu chính sách và ý thức chấp hành những quy định mà pháp luật an toàn thực phẩm đã đề ra.
1.3. Các yếu tố tác động đến tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm Luận văn: Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm.
1.3.1. Mức độ hoàn thiện của pháp luật về an toàn thực phẩm
Ðây là yếu tố đầu tiên tác động rất lớn đến tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm, bởi các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm là cơ sở pháp lý cho quá trình tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm, để các cơ quan nhà nước và các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có liên quan tới lĩnh vực này tuân thủ trong quá trình thực thi pháp luật.
Có nhiều tiêu chuẩn để xác định mức độ hoàn thiện của một hệ thống pháp luật trong đó có bốn tiêu chuẩn cơ bản là: tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp và trình độ kỹ thuật pháp lý của hệ thống pháp luật.
Thứ nhất, tính toàn diện là tiêu chuẩn đầu tiên thể hiện mức độ hoàn thiện của pháp luật về an toàn thực phẩm. Có thể nói đây là tiêu chuẩn để định lượng pháp luật về an toàn thực phẩm. Nếu pháp luật mà toàn diện thì tính hiệu quả sẽ rất cao, và việc tổ chức thực hiện nó cũng đơn giản hơn, gặp ít vướng mắc, khó khăn hơn.
Thứ hai, tính đồng bộ của pháp luật thể hiện sự thống nhất của nó. Khi xem xét mức độ hoàn thiện của pháp luật an toàn thực phẩm cần phải chú ý xem giữa các bộ phận của hệ thống pháp luật an toàn thực phẩm đó có trùng lặp, chồng chéo hay mâu thuẫn không.
Thứ ba, tính phù hợp của pháp luật thể hiện sự tương quan giữa trình độ của pháp luật an toàn thực phẩm với trình độ phát triển của kinh tế xã hội. Pháp luật an toàn thực phẩm phải phản ánh đúng trình độ phát triển của kinh tế xã hội, nó không thể cao hơn hoặc thấp hơn trình độ phát triển đó. Tính phù hợp của hệ thống pháp luật thể hiện nhiều mặt. Khi xem xét tiêu chuẩn này cần chú ý đến các mặt và giải quyết tốt mối quan hệ giữa pháp luật an toàn thực phẩm với kinh tế, chính trị, đạo đức, tập quán, truyền thống và các quy phạm xã hội khác. Luận văn: Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm.
Thứ tư, trình độ kỹ thuật pháp lý: kỹ thuật pháp lý là một vấn đề rộng lớn, phức tạp trong đó có ba điểm quan trọng, cần thiết phải chú ý khi xây dựng và hoàn thiện pháp luật, gồm (1) kỹ thuật pháp lý thể hiện ở những nguyên tắc tối ưu được vạch ra để áp dụng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật; (2) trình độ kỹ thuật pháp lý thể hiện ở việc xác định chính xác cơ cấu của pháp luật; và (3) cách biểu đạt bằng ngôn ngữ pháp lý phải đảm bảo tính cô đọng, lô gíc, chính xác và một nghĩa.
Hệ thống pháp luật về an toàn thực phẩm càng toàn diện, mức độ hoàn thiện của pháp luật càng cao thì giúp cho hoạt động tổ chức thực hiện luật về an toàn thực phẩm càng hiệu quả, góp phần mang lại lợi ích cho Nhà nuớc, lợi ích của các tổ chức và cá nhân. Nguợc lại, với một hệ thống pháp luật an toàn thực phẩm ở mức hoàn thiện thấp sẽ ảnh huởng tiêu cực đến quá trình tổ chức thực hiện luật an toàn thực phẩm, làm cho hoạt động của các tổ chức, cá nhân bị trì trệ, ảnh huởng đến hiệu quả hoạt động của tổ chức, cá nhân đó. Tuy nhiên, để pháp luật đi vào đời sống của nguời dân không chỉ đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật hoàn thiện mà phải có sự kết hợp giữa nhiều yếu tố với nhau.
1.3.2. Văn hóa pháp luật về an toàn thực phẩm
Văn hóa pháp luật về an toàn thực phẩm được hình thành từ tổng thể các hoạt động xã hội – pháp luật trên cả phương diện lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực an toàn thực phẩm. Luận văn: Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm.
Đó chính là hệ thống các giá trị, chuẩn mực pháp luật được kết tinh từ trí thức pháp luật, tình cảm, niềm tin đối với pháp luật về an toàn thực phẩm và hành vi pháp luật trong lĩnh vực an toàn thực phẩm; có ảnh hưởng sâu rộng tới các hình thức pháp luật từ tuân thủ, chấp hành, sử dụng, cho tới áp dụng pháp luật về an toàn thực phẩm. Văn hóa pháp luật được thể hiện ra trong đời sống pháp luật thông qua quá trình thực hiện pháp luật (hành vi pháp luật và lối sống theo pháp luật của các chủ thể). Giữa văn hóa pháp luật và hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Văn hóa pháp luật là cơ sở nền tảng khuôn mẫu tư duy và chuẩn mực hành của hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật, có định hướng đúng đắn. Ngược lại hoạt động thực hiện pháp luật có tác dụng bổ sung làm phong phú sâu sắc thêm cho các giá trị chuẩn mực của văn hóa pháp luật.
Văn hoá pháp luật là một bộ phận hợp thành của nền văn hoá dân tộc và hàm chứa trong nó ba yếu tố: ý thức pháp luật; hệ thống pháp luật và trình độ, kỹ năng, nghệ thuật áp dụng pháp luật trong đời sống xã hội.
Như vậy, văn hoá pháp luật an toàn thực phẩm là một thể thống nhất bao gồm các thành tố cơ bản, giữa chúng vừa có mối liên hệ hữu cơ, chịu sự tác động thường xuyên của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa của quốc gia, dân tộc và thời đại. Hệ thống thống pháp luật an toàn thực phẩm được thể hiện với ý nghĩa là các sản phẩm vật chất của ý thức pháp luật an toàn thực phẩm, của trình độ nhận thức, hiểu biết về pháp luật an toàn thực phẩm của cán bộ, công chức công tác trong lĩnh vực an toàn thực phẩm và của cả các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân chịu sự kiểm soát của pháp luật an toàn thực phẩm.
Đồng thời cả ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức; của cộng đồng và chất lượng của hệ thống văn bản pháp luật chính là những tiền đề quan trọng bảo đảm cho hoạt động thực hiện và áp dụng pháp luật an toàn thực phẩm đạt được kết quả cao trong thực tiễn. Sự hiểu biết pháp luật an toàn thực phẩm của cán bộ, công chức; người dân trong lĩnh vực này càng đầy đủ, sâu sắc, toàn diện, hệ thống văn bản pháp luật càng đúng đắn, nhân văn, tiến bộ thì hoạt động thực thi pháp luật an toàn thực phẩm, bảo vệ pháp luật an toàn thực phẩm càng trở nên chủ động, tự giác, tích cực. Và việc tổ chức thực hiện pháp luật an toàn thực phẩm, áp dụng pháp luật an toàn thực phẩm của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và mỗi cá nhân cán bộ, công chức hoạt động trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, cũng như lối sống theo pháp luật, trình độ vận dụng pháp luật trong quá trình quản lý xã hội là một kết quả tất yếu của quá trình nhận thức, nắm bắt kiến thức pháp luật và là yếu tố không thể thiếu được của văn hoá pháp luật an toàn thực phẩm. Luận văn: Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm.
Tóm lại, nếu như văn hóa pháp luật an toàn thực phẩm cao thì việc tổ chức thực hiện pháp luật an toàn thực phẩm cũng sẽ đạt hiệu quả hơn và được diễn ra chủ động và tích cực hơn. Ngược lại, nếu như văn hóa pháp luật an toàn thực phẩm thấp thì hoạt động thực thi pháp luật an toàn thực phẩm được diễn ra sẽ không toàn diện, sẽ mang tính tiêu cực nhiều hơn.
1.3.3. Năng lực tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm của các chủ thể có thẩm quyền
Năng lực tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm của các chủ thể có thẩm quyền trước hết là việc đảm bảo điều kiện thi hành văn bản quy phạm pháp luật an toàn thực phẩm. Đó là năng lực tuyên truyền, phổ biến pháp luật đối với chủ thể pháp luật, nhất là chủ thể thực hiện là người dân, doanh nghiệp. Và quan trọng nhất trong thực hiện pháp luật nói chung và pháp luật an toàn thực phẩm nói riêng, chính là khả năng theo dõi, đánh giá thi hành pháp luật, trong đó quan trọng là khả năng xây dựng khung theo dõi thi hành pháp luật và hệ thống thu thập dữ liệu về theo dõi thi hành pháp luật.
Như vậy, nếu như chủ thể có thẩm quyền trong pháp luật an toàn thực phẩm có năng lực tổ chức thực hiện pháp luật thì pháp luật an toàn thực phẩm sẽ được tuyên truyền và phố biến rộng rãi tới mọi người dân, mọi doanh nghiệp, tổ chức. Và khi các chủ thể có thẩm quyền theo dõi và đánh giá được thi hành pháp luật an toàn thực phẩm thì sẽ cho ra được những thông số có ý nghĩa quan trọng giúp các nhà làm luật xây dựng và điều chỉnh kịp thời các vấn đề phát sinh trong thực tiễn.
Ngược lại, nếu như năng lực tổ chức thực hiện pháp luật an toàn thực phẩm kém thì pháp luật an toàn thực phẩm chỉ là ở trên trang giấy, là lời nói suông; nguy cơ các hành vi phạm pháp luật an toàn thực phẩm sẽ diễn ra thường xuyên hơn hoặc sẽ không được xử lý, không được phòng ngừa. Và thực trạng các văn vản pháp luật của lĩnh vực an toàn thực phẩm lõi thời, không hợp lý hoặc chồng chéo, mâu thuẫn không được phản ánh với các cơ quan có thẩm quyền để được sửa đổi kịp thời.
Hay nói một cách khác, năng lực tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm còn phụ thuộc vào chính tổ chức bộ máy. Vai trò của tổ chức bộ máy thực hiện pháp luật nói chung và pháp luật an toàn thực phẩm nói riêng, hay chính xác hơn là cơ quan chịu trách nhiệm bảo đảm thực hiện văn bản, là rất quan trọng, đặc biệt là trong hoàn cảnh ý thức tuân thủ pháp luật của các đối tượng có trách nhiệm thực hiện pháp luật chưa cao
1.3.4. Sự phát triển của khoa học, công nghệ trong lĩnh vực an toàn thực phẩm Luận văn: Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm.
Đây là một yếu tố mới nhưng hết sức cần thiết trong tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm. Với đóng góp tích cực của các chuyên gia, nhà khoa học; sự phát triển của khoa học, công nghệ sẽ góp phần thiết thực vào việc tạo lập cơ sở lý luận và thực tiễn đồng thời đưa ra những giải pháp mang tính khoa học hỗ trợ cơ quan tổ chức hữu quan trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, thiết lập cơ chế hữu hiệu bảo đảm an toàn thực phẩm.
Hệ thống kiểm nghiệm, phân tích thực phẩm, hay như một hệ thống tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm mang tính khả thi và có hiệu quả cao phần lớn là phụ thuộc vào các ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến. Một hệ thống tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm cần phải lấy chuẩn quốc tế làm cơ sở để từng bước điều chỉnh quy định trong nước, nhất là các quy định liên quan đến thực phẩm xuất khẩu và kiểm soát nhập khẩu. Một hệ thống kiểm nghiệm, phân tích thực phẩm chính xác, khoa học thì các phòng thí nghiệm phân tích cần phải nâng cấp, trang bị máy móc hiện đại và nâng cao năng lực của cán bộ, công chức trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, như vậy khả năng kiểm nghiệm các chỉ tiêu sẽ tăng.
Ngoài ra, ứng dụng khoa học công nghệ sẽ khuyến khích phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ sản xuất sản phẩm sạch, an toàn; khuyến khích đầu tư sản xuất, chế biến thực phẩm với quy mô lớn theo chuỗi, bảo đảm an toàn thực phẩm; đổi mới công nghệ sản xuất, chế biến thực phẩm, xây dựng thương hiệu, phát triển hệ thống cung cấp thực phẩm an toàn; thúc đẩy việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm tiên tiến như VietGap, GMP, HACCP, ISO22000.
Như vậy, khi ứng dụng khoa học công nghệ phát triển, việc tổ chức thực hiện pháp luật an toàn thực phẩm sẽ hiệu quả hơn, hoạt động kiểm soát an toàn thực phẩm sẽ hoàn thiện và khép kín, theo chu trình “từ trang trại tới bàn ăn”.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 Luận văn: Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm.
Trong chương 1, cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật an toàn thực phẩm, luận văn đã tập trung làm rõ:
Một số khái niệm cơ bản của pháp luật về an toàn thực phẩm như: khái niệm an toàn thực phẩm, pháp luật về an toàn thực phẩm, tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm.
Những nội dung tổ chức thực hiện của pháp luật về an toàn thực phẩm, tập trung phân tích quá trình tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm, gồm: ban hành các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo pháp luật an toàn thực phẩm; thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về an toàn thực phẩm; công tác chuẩn bị nhân lực, vật lực phục vụ thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm, công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm, công tác tổng kết đánh giá và làm rõ 04 yếu tố tác động tới việc tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm.
Với những lý luận cơ bản và thực tiễn của pháp luật về an toàn thực phẩm và tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm được trình bày ở chương 1, tác giả lấy đó làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm ở thành phố Hải Phòng trong chương 2. Luận văn: Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://hotrovietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: hotrovietluanvan24@gmail.com

[…] ===>>> Luận văn: Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn thực phẩm […]